1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN GIÁM ĐỊNH PHÂN cấp NĂNG SUẤT SINH sản HEO NGOẠI tại TRUNG tâm GIỐNG vật NUÔI TỈNH sóc TRĂNG

45 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 392,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

7 Bảng 2.1: Số con/ổ của nái qua các lứa Lưu kỷ, Phạm Hữu Doanh, 2004 2.4 CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ KỸ THUẬT TRONG CHĂN NUÔI HEO NÁI SINH SẢN 2.4.1 Số con sơ sinh trên ổ Đây là chỉ tiêu h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

MSSV: 3052485 Lớp: CN K31

Cần Thơ, 2009

Trang 3

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN GIÁM ĐỊNH PHÂN CẤP NĂNG SUẤT SINH SẢN HEO NGOẠI TẠI TRUNG TÂM GIỐNG VẬT NUÔI TỈNH

SÓC TRĂNG

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2009 Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2009

NGUYỄN MINH THÔNG

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2009

DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công tình luận văn nào trước đây

Cần Thơ, ngày 20 tháng 05 năm 2009

Chữ Ký

Thái Bích Tuyền

Trang 5

Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Nguyễn Minh Thông, Người đã hết lòng chỉ dạy, động viên giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành tốt luận văn này

Luôn thương nhớ: các bạn cùng khóa chăn nuôi thú y k31 đã cùng tôi chia sẽ vui buồn trong quãng đời đầy kỷ niệm

Cần Thơ, Ngày 04 Tháng 05 Năm 2009

Thái Bích Tuyền

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM TẠ ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ vii

TÓM LƯỢC viii

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ KHÍ HẬU TỈNH SÓC TRĂNG 2

2.1.1 Vị trí 2

2.1.2 Khí hậu 2

2.2 GIỐNG HEO NGOẠI 2

2.2.1 Heo Yorkshire 2

2.2.2 Heo Landrace 3

2.2.3 Heo Duroc 4

2.2.4 Heo Pietrain 4

2.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN 5

2.3.1 Con giống 5

2.3.2 Thức ăn 5

2.3.3 Ngoại cảnh 5

2.3.4 Bệnh 6

2.3.5 Lứa đẻ 6

2.4 CÁC CHỈ TIÊU KỸ THUẬT TRONG CHĂN NUÔI 7

2.4.1 Số con sơ sinh trên ổ 7

2.4.2 Số heo con cai sữa trên lứa 7

2.4.3 Tỉ lệ nuôi sống 8

2.4.4 Số con cai sữa/nái/năm 8

2.4.5 Trọng lượng sơ sinh toàn ổ 8

2.4.6 Trọng lượng 21 ngày tuổi toàn ổ 9

2.4.7 Trọng lượng cai sữa toàn ổ 9

2.5 CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÁC TIÊU CHUẨN GIÁM ĐỊNH 9

Trang 7

iv

2.5.1 Những nguyên tắc cần chú ý 9

2.5.2 Phương pháp xây dựng tiêu chuẩn giám định 10

2.6 Giám định khả năng sinh sản của heo nái 12

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 Địa điểm nghiên cứu 14

3.2 Phương tiện nghiên cứu 14

3.3 Phương pháp nghiên cứu 14

3.3.1 Thời gian 14

3.3.2 Đối tượng nghiên cứu 14

3.3.3 Nội dung nghiên cứu 14

3.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 14

3.3.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 15

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18

4.1 Một Số đặc điểm sinh lý sinh dục 18

4.2 Năng suất sinh sản qua các lứa 18

4.2.1 Thời điểm sơ sinh 18

4.2.1.1 Số con sơ sinh và số con sơ sinh để nuôi qua các lứa 18

4.2.1.2 Trọng lượng sơ sinh qua các lứa 20

4.2.2 Thời điểm 21 ngày 21

4.2.2.1 Số con 21 ngày tuổi qua các lứa 21

4.2.2.2 Trọng lượng 21 ngày tuổi qua các lứa 22

4.2.3 Thời điểm cai sữa 23

4.2.3.1 Số con cai sữa qua các lứa 23

4.2.3.2 Trọng lượng cai sữa qua các lứa 24

4.3 Kết quả năng suất sinh sản của heo canada và heo trại 25

4.3.1 Số con sơ sinh, để nuôi, 21 ngày, cai sữa 25

4.3.2 Trọng lượng heo con theo mẹ 26

4.4 Xây dựng tiêu chuẩn giám định, phân cấp năng suất sinh sản 27

4.4.1 Xây dựng tiêu chuẩn giám định và phân cấp về sinh lý sinh dục 27

4.4.1.1 Xây dựng tiêu chuẩn về tuổi lứa đẻ đầu tiên và khoảng cách 2 lứa đẻ 27

4.4.1.2 Phân cấp về tuổi lứa đẻ đầu tiên và khoảng cách 2 lứa đẻ 28

4.4.2 Xây dựng tiêu chuẩn giám định và phân cấp khả năng sinh sản 28

4.4.3 Xếp cấp tổng hợp về năng suất sinh sản của heo ngoại 29

Trang 8

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 31

5.1 KẾT LUẬN 31

5.2 ĐỀ NGHỊ 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Trang 9

LY: Landrace x Yorkshire LVTN: Luận văn tốt nghiệp NXB: Nhà xuất bản

YL: Yorkshire x Landrace

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Số con/ổ của nái qua các lứa 7

Bảng 2.2: Hệ số điều chỉnh trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa về tuổi cai sữa chuẩn (21ngày) 13

Bảng 2.3: Xếp cấp tổng hợp (2 cấp) 16

Bảng 2.4: Bảng xếp cấp tổng hợp (3 cấp) 17

Bảng 4.1: Tuổi đẻ đầu tiên và khoảng cách 2 lứa đẻ, ngày 18

Bảng 4.2: Số con sơ sinh và số con sơ sinh sống qua các lứa 18

Bảng 4.3:Trọng lượng sơ sinh qua các lứa 20

Bảng 4.4: Số con 21 ngày tuổi qua các lứa 21

Bảng 4.5: Trọng lượng 21 ngày tuổi qua các lứa 22

Bảng 4.6: Số con cai sữa qua các lứa 23

Bảng 4.7: Trọng lượng cai sữa 24

Bảng 4.8: Số con sơ sinh, để nuôi, 21 ngày, cai sữa của heo trại cũ và heo canada 25

Bảng 4.9: Trọng lượng heo con theo mẹ của trại heo cũ và heo canada 26

Bảng 4.10: Kết quả khảo sát dựa theo phân bố về tuổi đẻ đầu tiên và khoảng cách 2 lứa đẻ, ngày 27

Bảng 4.11: Tiêu chuẩn giám định về tuổi đẻ đầu tiên, khoảng cách 2 lứa đẻ, ngày 28

Bảng 4.12: Số heo nái được xếp cấp về tuổi đẻ đầu tiên và khoảng cách 2 lứa đẻ 28

Bảng 4.13: Kết quả khảo sát dựa theo phân bố chuẩn về SCSS, TL21/ổ qua các lứa28 Bảng 4.14: Tiêu chuẩn giám định về SCSS, TL21/ổ qua các lứa 29

Bảng 4.15: Phân cấp nái ở lứa 1 và lứa 2 trở lên theo SCSS, TL21/ổ qua các lứa 29

Bảng 4.16: Xếp cấp tổng hợp đàn heo của trại 29

Trang 11

2

DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 2.1: Heo Yorkshire 3

Hình 2.2: Heo Landrace 4

Hình 2.3: Heo Duroc 4

Biểu đồ 4.1: Số con sơ sinh, số con sống qua các lứa 19

Biểu đồ 4.2: Trọng lượng sơ sinh qua các lứa 20

Biểu đồ 4.3: Số con 21 ngày tuổi qua các lứa 21

Biểu đồ 4.4: Trọng lượng 21 ngày qua các lứa 22

Biểu đồ 4.5: Số con cai sửa qua các lứa 23

Biểu đồ 4.6: Trọng cai sữa, trọng lượng cai sữa toàn ổ 24

Biểu đồ 4.7: Số con/ổ qua các thời điểm heo trại cũ và heo Canada 25

Biểu đồ 4.8: Trọng lượng heo con theo mẹ của trại heo cũ và heo canada 26

Biểu đồ 4.9: Xếp cấp tổng hợp đàn nái của trại 30

viii

Trang 12

ix

TÓM LƯỢC

Đề tài “Xây dựng tiêu chuẩn giám định phân cấp năng suất sinh sản heo ngoại

tại Trung Tâm Giống Vật Nuôi Tỉnh Sóc Trăng”, được thực hiện từ 4/2/2008 đến

4/4/2009 Số heo nái khảo sát là 270 con với các lứa đẻ khác nhau, số liệu thu được cho thấy:

Heo nái tơ có năng suất sinh sản thấp hơn heo nái rạ

Năng suất sinh sản ổn định ở lứa 2 đến lứa 7, cao nhất ở lứa 4 và kế đến là lứa 3 Năng suất sinh sản của heo Canada thấp hơn heo ở trại

Xây dựng tiêu chuẩn giám định phân cấp năng suất sinh sản dựa theo phân bố

chuẩn số liệu thu được kết quả như sau:

- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày):

Đặc cấp: >11; cấp 1: 11; cấp 2: 9 – 10; cấp 3: 8; cấp 4: 1 – 7

- TL21 (kg/ổ):

Lứa1:

Đặc cấp: 49; cấp 1: [47 - 49); cấp 2: [45 – 47); cấp 3: [43 - 45); cấp 4: <43 Lứa 2 trở đi:

Đặc cấp: 59; cấp 1: [57 – 59); cấp 2: [55 – 57); cấp 3: [53 – 55); cấp 4: <53 Dựa vào tiêu chuẩn chúng tôi xếp cấp tổng hợp đàn heo của trại cao nhất là cấp 3: 30,00%, kế đến đặc cấp: 26,67%, cấp 2: 12,96%, không xếp cấp: 12,59%, cấp 1:10,00%

Trang 13

1

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăn nuôi heo là một ngành chăn nuôi chiếm vị trí quan trọng ở nước ta Chăn nuôi heo không những cung cấp một lượng thịt lớn, thực phẩm giàu chất dinh dưỡng cho con người mà còn là nguồn thu nhập đáng kể cho người dân

Để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu thì điều đầu tiên là phải có được con giống tốt thì từ đó chăn nuôi mới đạt hiệu quả cao Đánh giá sự tốt xấu của con giống có thể dựa vào phương pháp giám định như ngoại hình, sinh trưởng, sinh sản Nhưng trong chăn nuôi heo nái thì giám định về sinh sản quyết định đến lợi nhuận trong chăn nuôi

Hiện nay, phương pháp giám định giống ở Việt Nam quá cũ kỹ như TCVN 1280 –

81 không còn phù hợp với năng suất hiện tại, do đó phải cập nhật, đổi mới tiêu

chuẩn về giám định giống Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành “Xây dựng tiêu chuẩn giám định phân cấp năng suất sinh sản heo ngoại tại Trung Tâm Giống Vật Nuôi Tỉnh Sóc Trăng”

Mục đích đề tài:

Xây dựng tiêu chuẩn giám định phân cấp năng suất sinh sản của heo ngoại đang nuôi ở trại

Từ đó giúp cho các cơ sở chăn nuôi, trang trại, biết được phẩm chất tốt hay xấu, có

thể chọn lọc hay loại thải góp phần đưa con giống ngày càng có chất lượng cao

Trang 14

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ KHÍ HẬU TỈNH SÓC TRĂNG 2.1.1 Vị trí

Sóc Trăng là tỉnh ven biển miền Tây Nam Bộ nước ta Phía Bắc và Tây Bắc giáp Hậu Giang, Nam và Tây Nam giáp Bạc Liêu, Đông Bắc giáp Trà Vinh, Đông và

Đông Nam giáp biển (cema.gov.vn )

2.1.2 Khí hậu

Chịu ảnh hưởng của thời tiết ĐBSCL, khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa nắng rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 trong năm, mùa nắng bắt đầu từ tháng 12 của năm đến tháng 4 của năm sau

Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 260C đến 280C, hàng năm có 3 tháng nhiệt độ trung bình là 300C, tháng lạnh nhất là tháng 2, tần suất sương muối có thể xảy ra vào tháng 12 và tháng 01 hàng năm Độ ẩm trung bình khoảng 83%, lượng mưa trung bình năm 1.840mm Do nằm ở vị trí gần bờ biển Đông và vịnh Thái Lan, tốc

độ gió khoảng 2,2m/s

Sóc Trăng vẫn bị hiện tượng mưa lớn triền miên làm ngập úng, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, hạ tầng giao thông, các công trình dân dụng, dân sinh (cema.gov.vn)

2.2 GIỐNG HEO NGOẠI

Các giống heo ngoại đang được nuôi phổ biến ở nước ta là: Yorkshire, Landrace,

Duroc và Pietrain (Võ Văn Ninh, 2007)

2.2.1 Heo Yorkshire

Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2002), heo Yorkshire được hình thành tại vùng Yorkshire, một vùng lãnh thổ thuộc miền Nam nước Anh từ năm 1900, là giống kiêm dụng hướng nạc - mỡ Ngày nay, heo Yorkshire trở thành giống heo mang tính quốc tế bởi vì sự hiện diện của chúng khắp nơi trên thế giới Tại một số nước chăn nuôi phát triển, người ta đã chọn lọc, nhân giống để tạo thành các dòng heo Yorkshire khác nhau như heo Yorkshire Anh, Mỹ, Pháp, Canada, Cuba, Đức (heo DE), Liên Xô Tất cả các dòng đó đã được du nhập vào Việt Nam Chẳng hạn như heo Yorkshire Anh, Mỹ nhập vào miền Nam nước ta năm 1936, heo Yorkshire Liên Xô nhập vào miền Bắc năm 1963, heo Yorkshire Cuba nhập vào miền Nam năm 1978 Từ năm 1994, với chủ trương nạc hóa đàn heo cho các tỉnh Đồng Bằng Sông Hồng, một số lượng lớn heo Yorkshire được đưa từ miền Nam ra nuôi ở các trung tâm chăn nuôi thuộc viện chăn nuôi quốc gia như Trung Tâm Nghiên Cứu Thụy Phương, các trại heo giống thuộc Công Ty Chăn Nuôi Thức Ăn 1,… đã thực

sự đẩy mạnh phong trào chăn nuôi heo ở các tỉnh phía Bắc Heo Yorkshire có 3 loại hình: kích thước lớn gọi là đại bạch (Large White Yorkshire), trung bạch (Middle White Yorkshire) và cỡ nhỏ (Little White Yorkshire) Ở miền Nam, phần lớn heo Yorkshire nhập nội thuộc 2 loại đại bạch và trung bạch

Heo đại bạch (Large White Yorkshire): là giống heo có tầm vóc lớn, thân mình dài

nhưng không nặng nề, dáng đi chắc khỏe và linh hoạt, sắc lông trắng có ánh vàng, đầu to trán rộng, mõm khá rộng và quớt lên, mắt lanh lợi tai to đứng và có hình tam

Trang 15

3

giác, hơi ngã về trước, vành tai có nhiều lông mịn và dài, lưng thẳng và rộng, bụng gọn; ngực rộng và sâu, đùi to và dài, bốn chân dài và khỏe Nói chung, trong công tác giống người ta vẫn chấp nhận giống Yorkshire với nền sắc lông trắng có vài vết đen nhỏ Heo có khả năng thích nghi rộng rãi, nuôi nhốt hoặc chăn thả đều được Heo cái, heo đực sử dụng làm giống vào lúc 6 - 8 tháng tuổi, lúc này heo đạt trọng lượng trên 100 kg Heo nái đẻ sai và tốt sữa, bình quân mỗi lứa có 10 - 12 heo con còn sống, trọng lượng heo con sơ sinh và cai sữa không đồng đều lắm

Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2002), khoảng cách 2 lứa đẻ khoảng

231 - 240 ngày

Hình 2.1: Heo Yorkshire 2.2.2 Heo Landrace

Giống heo Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch, một nước Bắc Âu nên còn gọi là heo Landrace Đan Mạch Heo Landrace được nuôi phổ biến ở khắp nơi trên thế giới

và được xem như là một giống heo hướng nạc Sau này các nhà chọn giống tại một

số quốc gia đã tạo được những dòng heo Landrace khác nhau Thí dụ như ở Hoa Kỳ người ta đã tạo ra được dòng heo Landrace Mỹ, hoặc Landrace Bỉ, Landrace Nhật; Landrace Pháp, Landrace Canada Trong các dòng Landrace, heo Landrace Bỉ có tỷ

lệ nạc khá cao nhưng nhạy cảm với stress Nhiều trại chăn nuôi công nghiệp đã lai dòng này với các dòng khác để đạt được tỷ lệ nạc nhất định đồng thời nâng khả năng đề kháng streess của heo Đây là giống heo có sắc lông trắng (có thể có vài đốm lông đen hiện diện), tầm vóc lớn, cổ dài, đầu thon nhỏ, mõm dài nhỏ và thẳng, tai to dài che phủ hai mắt (các dòng Landrace cải tiến hiện nay thì tai tương đối nhỏ, hơi cụp, chỉ che phủ một phần con mắt mà thôi), dài đòn, lưng thẳng, sườn tròn, bụng gọn, phần sau nở nang, cho nên thân hình trông giống như cái nơm; đùi nở nang Bốn chân nhỏ, nhưng nay đã có dòng Landrace cải tiến với 4 chân to và khỏe như Landrace Mỹ, Canada,…Vì đòn dài, heo Landrace có đến 16 - 17 đôi xương sườn Nếu chọn nái Landrace không kỹ thì nhà chăn nuôi sẽ gặp phải những con nái yếu chân, chân đau khi sinh đẻ Heo nái sử dụng làm giống lúc 7 - 8 tháng tuổi, nặng trung bình từ 100 - 110kg, lúc 2 năm tuổi heo nái nặng khoảng 180 - 200kg Heo nái đẻ 10 - 12 con còn sống/lứa, nuôi con tốt (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2002)

Trang 16

Hình 2.2: Heo Landrace 2.2.3 Heo Duroc

Heo Duroc có nguồn gốc ở Mỹ, ban đầu giống heo này được gọi là giống Duroc Jersey vì có màu lông rất giống bò Jersey là một bò thịt nổi tiếng của Mỹ Ở Việt Nam heo Duroc được nhập vào miền Nam trước năm 1975 và được gọi là “heo bò” Ngoại hình: màu sắc lông da từ màu đỏ dợt đến nâu đỏ, móng nâu, đen, đầu to tai nhỏ và cụp, cổ ngắn, vai đôi to, bụng gọn, lưng cong, đùi to và rất phát triển dài thân trung bình, đặc biệt là chân to chắc chắn Về tính năng sản xuất thì đây là loại hình nạc có trọng lượng trưởng thành 300 - 450kg năng suất sinh sản thấp nhất là tính tốt sữa kém nên trọng lượng heo cai sữa nhỏ Heo sử dụng trong công thức lai 3 máu để tăng tỉ lệ thịt, tầm vóc và năng suất sinh trưởng cùng với Yorkshire và Landrace Thời gian qua heo Duroc cũng được nhập từ nhiều nước vào Việt Nam (Trương Lăng, 2003)

Hình 2.3: Heo Duroc 2.2.4 Heo Pietrain

Theo Võ Văn Ninh và Hồ Mộng Hải (2006), nguồn gốc từ Bỉ, heo có sắc lông đen, bông trắng, ít mỡ, các bắp cơ lộ rõ dưới da, nhất là phần mông, đùi, lưng vai Đây là heo nổi tiếng về cho nạc, nhưng nhu cầu dinh dưỡng rất cao Ở 150 ngày tuổi heo Pietrain đạt trọng lượng trung bình 80kg, độ dày mỡ lưng dưới 10mm, tỉ lệ nạc trên quày thịt chiếm hơn 65%, nhưng sớ nạc thô, dai, ít có vân mỡ, hương vị không thơm ngon Heo thích nghi kém với điều kiện khí hậu quá nóng, quá lạnh, quá ẩm,

và dễ mắc các bệnh về dinh dưỡng, sinh sản, hô hấp, tiêu hóa Heo trưởng thành có thể đạt 200 - 250kg, heo nái mỗi năm đẻ 1,8 lứa, mối lứa 8 - 9 con sơ sinh sống

Trang 17

Heo theo mẹ có khả năng dự trữ năng lượng cho cơ thể heo con, điều đó ảnh hưởng đến năng suất sữa và sự hao mòn cơ thể nái trong giai đoạn tiết sữa, nuôi con (Trương Chí Sơn, 1990)

Khẩu phần không đảm bảo dinh dưỡng, mức giống đâu tiên, dẫn đến kéo dài tuổi đẻ lứa đầu (Phùng Thị Vân, 2004)

Nhu cầu vitamin thay đổi giữa heo mang thai và không mang thai bởi vì nó tham gia vào quá trình trao đổi Ca và P Nhu cầu Ca và P của heo nái phải được cân đối theo tỉ lệ 1,4 - 1,5/1 (Trương Lăng, 1993)

2.3.3 Ngoại cảnh

Khí hậu ở Đông Nam Á có thể nóng khô và nóng ẩm Từ tháng 11 đến tháng 3 nhiệt

độ trung bình từ 25 - 28% và lượng mưa khoảng 0,5cm/tháng Từ tháng 4 đến tháng

10 nhiệt độ trung bình từ 27 - 310 C và lượng mưa trung bình 3cm/tháng

Người nông dân rất hiểu vấn đề này và người ta cố gắng giải quyết bằng nhiều cách Điều hoà không khí hay các hệ thống làm mát bằng hơi nước được sử dụng ở các chuồng nuôi đực giống Các hệ thống nhỏ giọt nước hay phun sương mù được sử dụng ở những chuồng nuôi heo nái Cả 2 cách này đều nâng cao thành tích, tuy nhiên nó cần phải đầu tư lớn và phải thiết kế lại chuồng trại, điều mà các trang trại

cũ không thể áp dụng được

Nhiệt độ và độ ẩm cao ảnh hưởng chất lượng tinh như giảm lượng tinh và nồng độ tinh trùng, đặc biệt là trong mùa nóng Heo hậu bị gặp nhiệt độ cao trước thời kỳ động dục gây rối loạn chức năng sinh sản bao gồm không động dục, động dục chậm rụng trứng và u nang buồng trứng

Tiểu khí hậu chuồng nuôi phụ thuộc vào số phân trong chuồng và sự trao đổi không khí Chuồng trại không có phân, độ thoáng khí tốt sẽ kết hợp với dinh dưỡng đủ

Trang 18

(năng lượng và protein) sẽ đưa năng suất heo lên nhanh (Nguyễn Thiện, 2004) Nên vấn đề điều kiện vệ sinh chuồng trại rất là quan trọng, nếu vệ sinh kém khí độc nhiều (CO2, H2 S, NH3 ), ẩm độ cao sẽ ảnh hưởng đến heo nái mang thai, cho con

bú, tỷ lệ tiêu chảy tăng (Trương Chí Sơn, 1989), tăng sức đề kháng cho heo bằng cách vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, ấm áp, khô ráo, không có gió lùa, cung cấp đủ sắt cho heo, tiêm phòng định kỳ Mật độ heo nái trong chuồng nuôi cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ đậu thai, nái không chịu đực hoặc mất tính động dục tăng gấp 4 lần khi nhiệt độ tăng 10C, thời gian lên giống ngắn và khó phát hiện Ẩm độ cao và nhiệt độ cao cản trở sự tỏa nhiệt chủ yếu, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của heo nái làm heo nái giảm ăn, giảm năng suất ảnh hưởng đến heo con, ẩm độ cao làm ảnh hưởng đến heo con làm cho heo giảm sức đề kháng, dễ mắc bệnh chủ yếu là bệnh đường tiêu

hóa, đường hô hấp (Châu Bá Lộc, 1999)

2.3.4 Bệnh

Ở các nước Đông Nam Châu Á, hiện tại có nhiều vấn đề về đàn sinh sản bị bệnh truyền nhiễm và bệnh sinh sản (ngoại trừ bệnh sốt heo Châu Phi) Thường có các chương trình phòng chống ở phần lớn các đàn như chương trình tiêm phòng vaccine

và sử dụng kháng sinh Trong lúc khủng hoảng kinh tế nhiều nông dân có thể đã dừng tiêm phòng vaccine và sự ảnh hưởng có thể nhìn thấy bằng sự xuất hiện bệnh tật mà những bệnh này làm giảm hiệu suất sinh sản như bệnh Parvovirus và Aujeszky Do những bệnh như thế nên thành tích sinh sản đã bị thấp đi Những bệnh này gây nên các vấn đề như sẩy thai và hội chứng SMEDI (thai chết lưu, thai

gỗ, chết phôi và vô sinh) Ở các nước nhiệt đới, nhiệt độ rất phù hợp cho vi khuẩn phát triển và sự sống sót của ký sinh trùng Khí hậu nhiệt đới cũng tạo điều kiện cho nấm phát triển mà những loại nấm này gây nhiều tổn thương như mycotoxicosis Sự lây nhiễm của tinh trùng với các vi khuẩn không đặc trưng trong lúc phối giống hay thụ tinh nhân tạo có thể gây vô sinh hay sẩy thai sớm

2.3.5 Lứa đẻ

Ngoài ra số lứa đẻ cũng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của nái Khả năng sản suất của heo nái ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ khác nhau, heo cái hậu bị ở lứa thứ nhất có số con/ ổ thấp sau đó từ lứa thứ 2 trở đi, số heo con trở lên ổ sẽ tăng dần lên cho đến lứa thứ 6, thứ 7 thì bắt đầu giảm (Nguyễn Thiện, Võ trọng Hốt, 2007) Tuổi sinh sản ổn định từ năm tuổi thứ 2 đến lứa 6; 7, sang tuổi thứ 5 heo có thể đẻ tốt nhưng heo con dễ bị còi cọc chậm lớn, hay heo nái già thường hay xảy ra hiện tương đẻ khó, con chết trong bụng và cắn con (Lưu Kỷ, Phạm hữu Doanh, 2004) Thông thường nái đẻ lứa 1; 2 thường khả năng tiết sữa kém hơn nái đẻ lứa 3; 4 nhưng những con lứa đẻ sau bắt đầu giảm sút, tuy rằng cũng có những nái đẻ đến lứa thứ 6; 7 vẫn cho sữa tốt (Võ Văn Ninh, 2001)

Dinh dưỡng cần chú ý đến nái tơ nuôi con lứa 1 vì chúng cần dinh dưỡng cho cả sự tăng trọng của bản thân chúng và tiết sữa nuôi con Nái tốt có thể tiết tối đa 8 - 9 kg sữa trong 1 ngày khi nuôi 9 - 10 con (Nguyễn Ngọc Tuân,Trần Thị Dân, 2000) Ngoài khả năng tiết sữa còn phụ thuộc và thể trạng nái, nhiệt độ, thời gian trong 1 chu kỳ tiết sữa, bệnh, thời gian chiếu sáng

Trang 19

7

Bảng 2.1: Số con/ổ của nái qua các lứa

(Lưu kỷ, Phạm Hữu Doanh, 2004)

2.4 CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ KỸ THUẬT TRONG CHĂN NUÔI HEO NÁI SINH SẢN

2.4.1 Số con sơ sinh trên ổ

Đây là chỉ tiêu hết sức quan trọng, nó phản ánh khả năng đẻ nhiều con hay ít con của con giống, đồng thời phản ánh chất lượng tinh dịch, kỹ thuật thụ tinh của kỹ thuật viên và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng nái có chửa Trong vòng 24 giờ sau khi

đẻ, heo con chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Những heo con được sinh mà yếu đuối, phát triển không cân đối dễ bị chết sau khi sinh ít thời gian, thường là do kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc heo kém Ngoài ra yếu tố ngoại cảnh có tác động rất lớn đến số con sơ sinh còn sống đến 24 giờ Vì lúc này là heo con thay đổi hoàn toàn môi trường sống, từ trong bụng mẹ tất cả trao đổi chất đều thông qua bào thai, nay chuyển sang môi truờng mới hoàn tòan khác Heo con chưa thích nghi kịp thời nên chưa nhanh nhẹn, dễ bị mẹ đè chết, hoặc heo mẹ đẻ vào ban đêm không có sự can thiệp sự kịp thời của kỹ thuật viên nên heo bị chết rét hoặc chết ngạt…

Trong thực tế số heo con đẻ ra thường có một số trường hợp như sau: thai non, thai

gỗ, heo con đẻ ra còn sống Heo con đẻ ra còn sống: số con sơ sinh còn sống đến 24 giờ của lứa đẻ Chỉ tiêu này rất quan trọng cho biết khả năng để nhiều hay ít của heo giống, tay nghề của người dẫn tinh viên, heo đực tốt hay xấu, chăm sóc nuôi dưỡng heo nái (Lê Hồng Mận, 2006)

Tỷ lệ sống (%) = (số con sơ sinh sống đến 24 giờ/số con đẻ ra sống) x 100

(Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, 2007)

2.4.2 Số heo con cai sữa trên lứa

Là số con còn sống đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài ngắn là phụ thuộc vào chất lượng thức ăn heo con tập ăn và tùy thuộc vào các giống heo khác nhau (Lê Hồng

Mận, 2006) Ngày nay với công nghệ chế biến thức ăn tiên tiến người ta chăn nuôi

có thể cai sữa heo con sớm 21; 28 và 35 ngày tuổi Tách heo con ra khỏi heo mẹ sớm sẽ giảm tỷ lệ hao hụt của nái, heo nái nhanh động dục trở lại và từ đó tăng số lượng heo đẻ của nái trên năm Tuy nhiên cai sữa sớm cho heo con không dễ, cần phải có thức ăn phù hợp với khả năng tiêu hóa hạn chế của heo con vào từng thời điểm, giúp heo con sinh trưởng và phát triển bình thường mà không cần sữa mẹ

Trang 20

Số heo con cai sữa trên lứa là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng, quyết định năng suất của chăn nuôi heo, nó phù hợp vào khả năng tiết sữa của heo mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ, áp dụng quy trình tiêm phòng ngăn ngừa các yếu tố gây bệnh cho heo

2.4.3 Tỉ lệ nuôi sống

Chỉ tiêu này đánh giá khả năng tiết sữa của heo mẹ, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng heo con theo mẹ cũng như khả năng hạn chế bệnh tật cho heo con (Nguyễn Thiện, 2008)

Tỉ lệ nuôi sống (%) = (Số con còn sống đến cai sữa/số heo để lại nuôi) x 100 (Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, 2007)

2.4.4 Số con cai sữa/nái/năm

Cai sữa heo con 26 - 32 ngày, heo mẹ đẻ 2,3 lứa/năm cho 22,6 heo con cai sữa Cai sữa trên 40 ngày đẻ 2,2 lứa cho 22,8 heo con cai sữa Vậy chỉ tiêu sinh sản quan trọng nhất đối với heo nái là số con cai sữa/nái/năm (Nguyễn Thiện et al., 2005)

Số con cai sữa/nái/năm = số con cai sữa x số lứa đẻ

(Lê Hồng Mận, 2007)

2.4.5 Trọng lượng sơ sinh toàn ổ

Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007), trọng lượng sơ sinh được cân sau khi heo được đẻ ra, cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa đầu Trọng lượng toàn ổ sơ sinh

là chỉ tiêu thể hiện khả năng nuôi dưỡng thai của heo mẹ, kỹ thật chăn nuôi, chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho heo nái chửa của một cơ sở chăn nuôi Do đó thành tích này là bao gồm cả phần của heo nái và phần nuôi dưỡng của con người, nhưng trước hết thuộc về thành tích của heo nái

Theo Trần Văn Phùng (2005), nhìn chung khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng sinh trưởng càng nhanh, khối lượng cai sữa sẽ cao và khối lượng khi xuất chuồng sẽ lớn cho nên heo có chửa cần được chăm sóc nuôi dưỡng tốt để đàn con có khối lượng sơ sinh cao

2.4.6 Trọng lượng 21 ngày tuổi toàn ổ

Trọng lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá khả năng tăng trọng của heo con và là chỉ tiêu đánh giá khả năng tiết sữa của heo mẹ Khả năng tiết sữa của heo mẹ đạt cao vào ngày thứ 21 Sau đó sẽ giảm dần Do đó người ta dùng trọng lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi để đánh khả năng tiết sữa của heo mẹ (Nguyễn Thiện

et al., 2005)

2.4.7 Trọng lượng cai sữa toàn ổ

TLCS có liên quan chặt chẽ đến TLSS, làm nền tảng và điểm xuất phát cho trọng lượng xuất chuồng (Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2007)

Theo Lê Hồng Mận (2005) heo con từ lứa đẻ 2; 3; 4 có trọng lượng cai sữa lớn hơn các lứa đầu và lứa 5; 6 Theo Lê Hồng Mận (2002) heo nái đẻ đến lứa 4; 5 cho số heo cai sữa cao và trọng lượng cao hơn các lứa sau

Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2000) trọng lượngs heo con cai sữa lúc

4 tuần tuổi đạt 5 - 7,27 kg là trung bình, đạt trên 7,27kg là tốt

Trang 21

9

TLCS phụ thuộc rất nhiều vào lượng dưỡng chất ăn vào của heo con Do đó tập ăn cho heo con cũng như thức ăn cho heo con cũng góp phần ảnh hưởng đến TLCS (Trần Thị Bích Phượng, 2007)

2.5 CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÁC TIÊU CHUẨN GIÁM ĐỊNH GIỐNG GIA SÚC

Theo Trần Đình Miên, Vũ Kính Trực (1966), tiêu chuẩn hóa là một phương pháp chỉ đạo sản xuất một cách khoa học và hệ thống Về bản chất các bảng tiêu chuẩn hàng hóa sản xuất là những hợp đồng, những quy ước giữa tiêu thụ và sản xuất, trao đổi tiêu thụ và cũng là những chỉ tiêu cần thiết để so sánh kiểm tra Giám định giống gia súc cũng là một phương pháp tiêu chuẩn hóa Ngoài ý nghĩa sản xuất, giám định giống gia súc có một tầm quan trọng đặt biệt trong việc chỉ đạo và nghiên cứu kỹ thuật đối với gia súc, một sinh vật sống phát triển và biến dị tùy theo các điều kiện sinh sống ngoại cảnh, thay đổi nhanh chậm tùy thuộc và trình độ và khả năng tác động của lao động và kỹ thuật Còn giám định mới biết được hiện hình và thực trạng của một tập hợp gia súc nhất định, để so sánh với tập hợp khác đồng thời qua quá trình thời gian thấy rõ mức độ biến dị tốt hoặc xấu

2.5.1 Những nguyên tắc cần chú ý trong việc xây dựng tiêu chuẩn giám định giống gia súc

- Tiêu chuẩn giám định chỉ dùng với những gia súc nuôi để làm giống (nuôi với điều kiện tốt nhất và dùng tư liệu sản xuất)

Tiêu chuẩn giám định là quy cách có cơ sở khoa học hoạch định ra để đánh giá trị giống của một con giống, toàn diện, tổng hợp, về sức sản xuất, sức sinh trưởng phát dục, ngoại hình, thể chất, nguồn gốc giống và chất lượng con cháu (thể năng di truyền)

Qua giám định, các gia súc được định cấp và tùy theo giá trị giống mà sử dụng (chọn lọc đưa vào nhóm giống trung tâm, loại thải, thay thế…), xử lý khác nhau về mức độ tác động chế độ ăn, chăm sóc, chọn đôi giao phối…), định giá cả khác nhau khi trao đổi buôn bán, chọn lọc để gây thành dòng, thành tộc, lập hệ phả gia súc giống, đăng ký vào các sổ giống quốc gia (Trần Đình Miên, Vũ Kính Trực, 1966)

- Chỉ đề ra tiêu chuẩn giám định cho những giống là nhóm gia súc tương đối ổn định về thể năng di truyền Mỗi giống gia súc chỉ có một tiêu chuẩn giám định, nếu cùng trong một giống có chia ra những loại hình với hướng sản xuất khác nhau rõ rệt (như hướng mỡ thịt, thịt mỡ…) thì phải có chỉ tiêu riêng cho mỗi loại hình Các tiêu chuẩn giám định có thể là quy định tạm có thể điều chỉnh để hoàn thiện tốt hơn Ngay những bảng tiêu chuẩn giám định chính thức chỉ có giá trị trong một thời gian hạn định Những biến dị mới và những giống mới (từ những giống cũ và theo những điều kiện ngoại cảnh nhiều mặt thay đổi) sẽ hình thành và đòi hỏi sự điều chỉnh tiếp tục các tiêu chuẩn giám định giống, có thể đến mức thành những tiêu chuẩn khác tiêu chuẩn trước về căn bản

- Giám định giống thường tiến hành theo quy định thống nhất về:

+ Thời gian trong năm (thường là tháng 9, tháng 10 trong năm )

Trang 22

+ Thể trạng giống: con giống khẻo, ngoại hình không có tật xấu, trước đó đã được

sơ bộ chọn lọc và giữ lại làm giống, nếu con vật có chữa thì phải chờ tới 5 hôm sau khi đẻ mới giám định

Lúc điều tra để tập hợp tài liệu xây dựng tiêu chuẩn, cũng phải quan tâm đến những điều nói trên Vì bảng tiêu chuẩn giám định về căn bản cũng chỉ là những hợp đồng, công ước, cho nên cần tuân theo một số nguyên tắc hướng dẫn thống nhất nhưng không đòi hỏi phải phương pháp xây dựng duy nhất Giữa các nước, phương pháp xây dựng tiêu chuẩn giám định cũng không hoàn toàn giống nhau Điều cốt yếu là phải đảm bảo tính chính xác và tính khách quan trong việc nghiên cứu tập hợp tài liệu để đánh giá đúng đàn gia súc, trong những điều kiện chúng sinh trưởng và định tiêu chuẩn giám định làm sao để đặt ý nghĩa thực tiễn thúc đẩy sản xuất Định đẳng cấp giống (phân loại xếp hạng) chủ yếu dựa vào tình hình thực tế (những ưu khuyết điểm của đàn giống và khả năng mọi mặt trong nuôi dưỡng, sử dụng, cải tạo)

- Không nên nhầm lẩn trong khi xây tiêu chuẩn giám định giống cũng như ứng dụng tiêu chuẩn giám định, giữa việc xác định giá trị gia súc làm giống (sản xuất ra tư liệu sản xuất) Với gia súc sinh sản bình thường (nuôi trong điều kiện tùy tiện và sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, như heo nái thông thường sinh ra heo con để nuôi vỗ béo thành heo thịt Cũng không nên máy móc mang tiêu chuẩn giám định giống heo

và trại nhân giống heo để xác định các heo nái trong nhân dân thuộc vùng bình tuyển của “kế hoạch chọn lọc bước đầu, vận động đẩy mạnh sinh sản heo” (Trần Đình Miên, Vũ Kính Trực, 1966)

2.5.2 Phương pháp xây dựng tiêu chuẩn giám định giống gia súc ở nứơc ta hiện nay

+ Về quy trình kỹ thuật: tham khảo tài liệu chủ yếu cả các bảng tiêu chuẩm giám định của các nước

+ Việc chia ra các cấp và định chỉ tiêu cho từng cấp dựa theo cơ sở sau đây:

Qua việc điều tra cơ bản, thấy được các ưu khuyết điểm và đặc trưng, đặc tính của gia súc, thích hợp với các điều kiện sinh sống của chúng, trong hoàn cảnh hiện nay

và tương lai, phát huy những ưu điểm của giống đó loại trừ những khuyết điểm quan trọng Các chỉ tiêu cụ thể cân đo được, dựa theo phân bố chuẩn của một tổng thể gia súc điều tra làm ranh giới cơ sở, chia cấp trạng (như trọng lượng, chỉ tiêu sinh sản…)

Nếu tổng số gia súc điều tra có trị số chỉ tiêu nằm trong chỉ số -3

Ngày đăng: 12/04/2018, 02:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm