2.4 Độ thông thoáng khí và lượng khí độc trong chuồng Độ thông thoáng của chuồng nuôi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó có quan hệ với ẩm độ, nhiệt độ và mức khí độc trong chuồng nuôi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, tháng 12/2008
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN CHĂN NUÔI
***
Đề tài: Khảo sát sự tăng trưởng và phát triển của gà Ta (1 – 12 tuần tuổi); do sinh viên: Đào Duy Thanh, MSSV: 3052457, Lớp Chăn Nuôi-Thú Y K31 thực hiện tại Trại gà ông Võ Văn Tài thuộc Tổ 4, Khu vực Thới Ninh, phường Thới
An Đông, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ từ 09/08/2008 đến 02/11/2008
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2008 Cần Thơ, ngày… tháng … năm 2008 Duyệt Bộ Môn Duyệt Giáo Viên Hướng Dẫn
Phạm Tấn Nhã
Cần thơ, ngày… tháng … năm 2008 Duyệt Khoa NN&SHƯD
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trải qua những năm học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại Học Cần Thơ, nay tôi đã thực hiện được ước mơ là hoàn thành luận văn tốt nghiệp và trở thành một kỹ sư Chăn Nuôi Thú Y Trong quá trình học tập và rèn luyện tôi đã được sự giúp đỡ của rất nhiều người Chân thành biết ơn đến những người đã giúp đỡ tôi những năm tháng qua
Tôi xin thành kính lên cha, mẹ tôi là những người sinh thành, nuôi dưỡng, động viên và đặt trọn niềm tin vào tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Phạm Tấn Nhã người đã hết lòng chỉ dạy, động viên, hướng dẫn nhiệt tình và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành biết ơn đến quý thầy cô trong bộ môn Chăn Nuôi và bộ môn Thú Y đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi
Xin chân thành cám ơn anh Nguyễn Văn Hải chủ trại gà nơi tôi thực hiện đề tài đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cảm ơn các bạn lớp CNTY K31 đã động viên, chia sẽ những kinh nghiệm học tập trong những năm học tại trường
Trang 4MỤC LỤC
TRANG DUYỆT i
LỜI CẢM TẠ ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
TÓM LƯỢC vii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 Giới thiệu sơ lược về giống gà Ta 2
2.2 Chuồng trại 2
2.2.1 Lợi ích của việc thiết lập chuồng trại 2
2.2.2 Địa thế xây dựng chuồng 2
2.2.3 Điều kiện xây dựng chuồng trại thích hợp 3
2.2.4 Hướng chuồng 3
2.2.5 Các kiểu chuồng được dùng trong chăn nuôi 3
2.2.6 Dụng cụ chăn nuôi 4
2.3 Ảnh hưởng của điều kiện tiểu khí hậu 5
2.3.1 Nhiệt độ 5
2.3.2 Ẩm độ 6
2.4 Độ thông thoáng khí và lượng khí độc trong chuồng 6
2.5 Ánh sáng và lưu lượng chiếu sáng 7
2.6 Phương pháp nuôi 8
2.6.1 Nuôi thâm canh trên lớp độn chuồng 8
2.6.2 Nuôi trên lồng 8
2.6.3 Nuôi kết hợp giữa hai phương pháp trên 9
2.7 Khẩu phần dinh dưỡng đối với gà 9
2.7.1 Chất dinh dưỡng 9
2.7.2 Nhu cầu và vai trò của năng lượng 9
2.7.3 Nhu cầu và vai trò của protein 10
2.7.4 Nhu cầu và vai trò của chất béo 12
2.7.5 Nhu cầu và vai trò của chất khoáng 13
2.2.6 Nhu cầu và vai trò của Vitamin 16
2.7.7 Nước uống 18
2.8 Yêu cầu kỹ thuật trong chăn nuôi gà 19
2.8.1 Giai đoạn nuôi úm gà con 19
Trang 52.8.2 Giai đoạn nuôi gà thịt 21
2.8.3 Quy trình vệ sinh phòng bệnh 23
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 24
3.1 Sơ lược về địa điểm thực tập 24
3.1.1 Vị trí địa lý 24
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 24
3.1.3 Nguồn nước sinh hoạt 24
3.1.4 Nguồn điện 24
3.1.5 Công việc trong trại 24
3.2 Các phương tiện sử dụng trong quá trình thực tập 24
3.2.1 Thời gian thực tập 24
3.2.2 Địa điểm thực tập 25
3.2.3 Đối tượng thực tập 25
3.2.4 Chuồng trại 25
3.2.5 Dụng cụ chăn nuôi 25
3.3 Thức ăn, nước uống và thuốc thú y 25
3.3.1 Thức ăn 25
3.3.2 Nước uống 26
3.3.3 Thuốc thú y 26
3.4 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 26
3.5 Quy trình phòng bệnh 29
3.6 Các chỉ tiêu theo dõi 29
3.6.1 Điều kiện tiểu khí hậu 29
3.6.2 Thời điểm mọc lông 30
3.6.3 Trọng lượng và tốc độ tăng trọng qua các tuần tuổi 30
3.6.4 Tiêu tốn thức ăn và hệ số chuyển hóa thức ăn 30
3.6.5 Tỷ lệ hao hụt 31
3.6.6 Phương pháp xử lý số liệu 31
3.6.7 Hiệu quả kinh tế trong quá trình thí nghiệm 32
CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ THẢO LUẬN 33
4.1 Điều kiện tiểu khí hậu 33
4.2 Thời điểm mọc lông 33
4.3 Trọng lượng bình quân của gà Ta 34
4.4 Tốc độ tăng trọng và tăng trọng tích lũy 36
4.5 Tiêu tốn thức ăn và hiệu số chuyển hóa thức ăn 38
4.6 Tỷ lệ hao hụt 43
4.7 Hiệu quả kinh tế trong quá trình thí nghiệm 44
Trang 6CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ CHƯƠNG 48
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG Bảng 3.1 Giá trị dinh dưỡng 2 loại khẩu phần thức ăn 26
Bảng 4.1 Nhiệt độ ở giai đoạn nuôi úm (0C) 33
Bảng 4.2 Nhiệt độ giai đoạn sau nuôi úm (0 C) 33
Bảng 4.3 Trọng lượng bình quân của gà từ 0-4 tuần tuổi (g/con) 34
Bảng 4.4 Trọng lượng bình quân của gà từ 5-12 tuần tuổi (g/con) 34
Bảng 4.5 Tăng trọng tích lũy của gà từ 0-4 tuần tuổi (g/con) 37
Bảng 4.6 Tăng trọng tích lũy của gà từ 5-12 tuần tuổi (g/con) 37
Bảng 4.7 Tăng trọng của gà Ta từ 0-4 tuần tuổi (g/con/tuần) 37
Bảng 4.8 Tăng trọng của gà Ta từ 5-12 tuần tuổi (g/con/tuần) 38
Bảng 4.9 Tiêu tốn thức ăn của gà từ 1-12 tuần tuổi (g/con/ngày) 39
Bảng 4.10 Lượng đạm tiêu thụ của gà từ 1-12 tuần tuổi (g/con/ngày) 40
Bảng 4.11 Hệ số chuyển hóa thức ăn qua 12 tuần tuổi (kg Tă/kg tăng trọng) 41
Bảng 4.12 Tỷ lệ hao hụt của gà (%) 43
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Nhiệt độ thích hợp để nuôi úm gà con 27
Hình 3.2 Cho gà ăn 29
Hình 3.3 Cân gà 31
Hình 4.1 Gà Ta 1 ngày tuổi 34
Hình 4.2 Trọng lượng gà trống Ta và Tàu vàng từ 0-12 tuần tuổi (gram/con) 35
Hình 4.3 Trọng lượng gà mái Ta và Tàu vàng từ 0-12 tuần tuổi (gram/con) 35
Hình 4.4 Gà Ta 10 tuần tuổi 36
Hình 4.5 Thức ăn cho gà 38
Hình 4.6 Tiêu tốn thức ăn của gà (gram/con/ngày) 39
Hình 4.7 Hàm lượng đạm tiêu thụ của gà (gram/con/ngày) 41
Hình 4.8 Hệ số chuyển hóa thức ăn của gà (kg Tă/kg tăng trọng) 42
Trang 8TÓM LƯỢC
Trong vấn đề giải quyết thực phẩm nói chung của thế giới và nói riêng của từng quốc gia, có thể thấy được ngành chăn nuôi gà là một ngành đem lại một khối lượng lớn thực phẩm cho nhu cầu tiêu thụ của con người Có giá trị về mặt kinh tế lẫn dinh dưỡng cho con người
Trong thực tế gà Ta có ưu thế là dễ thích nghi, màu sắc, hình dáng hợp thị hiếu người tiêu dùng, chất lượng thịt thơm ngon, độ dai phù hợp, giá xuất chuồng cao và
ổn định Vì vậy, việc nghiên cứu tính năng sản xuất của gà Ta để xây dựng các qui trình kỹ thuật chăn nuôi, giúp nhà chăn nuôi có được nguồn con giống tốt để nuôi
và phương pháp nuôi gà để đạt được hiệu quả kinh tế cao là việc làm rất cần thiết
Từ thực tế đó được sự đồng ý của Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học ứng Dụng - Bộ
Môn Chăn Nuôi, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát sự tăng trưởng và phát triển của gà Ta (1 – 12 tuần tuổi)” tại Trại gà ông Võ Văn Tài thuộc Tổ 4,
Khu vực Thới Ninh, phường Thới An Đông, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ Thí nghiệm được tiến hành trên 1050 con gà Ta, quá trình nuôi được chia làm
2 giai đoạn: Giai đoạn nuôi úm (4 tuần tuổi) và giai đoạn sau nuôi úm được nuôi theo phương pháp nuôi thâm canh trên lớp độn chuồng (5 tuần tuổi) Sau khi gà được 12 tuần tuổi chúng tôi thu dược kết quả sau:
- Thời điểm mọc lông cánh bắt đầu mọc vào ngày tuổi thứ 4 và kết thúc vào
khoảng 28 ngày tuổi
- Lông đuôi bắt đầu mọc vào ngày tuổi 18 và kết thúc vào khoảng 30 ngày
tuổi
- Trọng lượng bình quân đầu thí nghiệm là 30,93 gram, kết thúc 12 tuần tuổi,
trọng lượng bình quân ở con trống là 1346 gram , trọng lượng bình quân ở con mái
là 1157 gram
- Hệ số chuyển hóa thức ăn đến 12 tuần tuổi là 3.01 kg thức ăn/ kg tăng trọng,
tiêu tốn thức ăn có khuynh hướng tăng dần theo tuổi Lượng đạm tiêu thụ tại tuần tuổi 12 là 19,65 g/con/ngày
- Tỷ lệ hao hụt của cả giai đoạn thấp 4,67% điều này chúng tỏ gà Ta có sức đề
kháng cao vì thế sẽ đạt đươc hiệu quả kinh tế cao
- Gà Ta sau 12 tuần tuổi có trọng lượng tương đối đồng đều
Trang 9CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta có nhiều điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây bên cạnh sự phát triển trong chăn nuôi gia súc thì cũng có những bước tiến đáng hoan nghênh của ngành chăn nuôi gia cầm Điển hình là phát triển chăn nuôi gà đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của xã hội
Trong vấn đề giải quyết thực phẩm nói chung của thế giới và nói riêng của từng quốc gia, có thể thấy được ngành chăn nuôi gà là một ngành đem lại một khối lượng lớn thực phẩm cho nhu cầu tiêu thụ của con người Ngành chăn nuôi gà đem lại cho nến kinh tế quốc dân rất nhiều sản phẩm: trứng, thịt, lông, phân…Có giá trị về mặt kinh tế lẫn dinh dưỡng cho con người
Ở nước ta, chăn nuôi gà là một nghề chăn nuôi truyền thống lâu đời của nông dân, với mục đích tự cung tự cấp nguồn thịt, trứng cho gia đình Do sự phát triển và nhu cầu của xã hội mà nhu cầu tiêu thụ của người dân tăng lên và do việc đổi mới đường lối kinh tế của đất nước mà nhận thức của mỗi người dân cũng tăng lên Đời sống được nâng cao ngày càng phát triển, đòi hỏi thị hiếu của người dân càng tăng cao, người dân sử dụng những sản phẩm chất lượng, trong đó không thể thiếu gà Ta
Gà Ta có ưu thế là dễ thích nghi với điều kiện sinh thái miền Nam nói chung
và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng Màu sắc, hình dáng hợp thị hiếu người tiêu dùng, chất lượng thịt thơm ngon, độ dai phù hợp, giá xuất chuồng cao và ổn định hơn gà công nghiệp
Tuy nhiên gà Ta hiện nay đã và đang bị thoái hoá do lai tạp nhiều giống gà khác Do tập quán thả lang, vấn đề con giống chưa được quan tâm đúng mức nên năng suất sản xuất thu được chưa cao Để đạt được hiệu quả chăn nuôi cao
và giúp các nhà nông giữ được các đặc điểm giống Từ thực tế đó được sự
đồng ý của Bộ môn Chăn nuôi, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo
sát sự tăng trưởng và phát triển của gà Ta (1 – 12 tuần tuổi)” tại Trại gà
ông Võ Văn Tài thuộc Tổ 4, Khu vực Thới Ninh, phường Thới An Đông, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ
Trang 10CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Giới thiệu sơ lược về giống gà Ta
Gà Ta rất được người dân ưa thích và đặc biệt là các tỉnh phía Nam, gà Ta có tầm vóc vừa, thân hình thanh tú, nhỏ xương, thịt thơm ngon Màu lông không đồng nhất, gà mái thường có màu vàng và nâu nhạt hoặc thẫm, gà trống có lông màu đỏ tía, cánh và đuôi có điểm lông màu đen Đầu gà Ta thanh, hầu hết
có mào đơn, nhiều khía màu đỏ tươi, đôi khi có mào nụ Gà mọc lông sớm, trên một tháng tuổi đã mọc đủ lông Da và chân màu vàng Gà Ta có khối lượng cơ thể ở tuổi trưởng thành như sau: con trống từ 1.800-2.500 g, con mái
từ 1.300-1.800 g Gà Ta có tính đòi ấp, chúng ấp trứng và nuôi con khéo Trứng gà Ta nhỏ, vỏ có màu vàng nhạt, gà càng già thì khối lượng trứng càng cao hơn Sản lượng trứng của gà mái trong một năm đẻ từ 80-120 quả, khối lượng trứng bình quân 38-42 g Tuổi đẻ trứng đầu tiên của gà mái trung bình
là 140 ngày Tỷ lệ trứng có phôi cao 95% Tỷ lệ ấp nở trên tổng số trứng ấp từ 70-75% Tỷ lệ nuôi sống gà con từ mới nở đến 2 tháng tuổi là trên 90% (Đào Đức Long, 2004)
2.2 Chuồng trại
Trong chăn nuôi gà, chuồng trại đóng vai trò rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến năng suất nuôi, chuồng trại xây dựng đúng kỹ thuật giúp gà mau lớn, ít bệnh, tỷ lệ tiêu tốn thức ăn giảm, quản lý được số đầu con, do đó chuồng trại rất lợi ít trong việc chăn nuôi (Nguyễn Huy Hoàng, 1999)
2.2.1 Lợi ích của việc thiết lập chuồng trại
Tạo được điều kiện khí hậu trong chuồng nuôi ấm áp, thoáng khí, mát mẻ giúp cho gà nuôi chống được bệnh
Đối với gà, chuồng nuôi sẽ làm thuần tính, dạn dĩ giúp ta dễ dàng trong khâu chăm sóc
Chuồng trại xây đúng kỹ thuật giúp gà đẻ sai, tỷ lệ gà sống cao, mau lớn, dễ nuôi
Chuồng trại còn giúp chúng ta áp dụng được kỹ thuật chăn nuôi khoa học công nghệ (Nguyễn Huy Hoàng, 1999)
2.2.2 Địa thế xây dựng chuồng
Vị trí xây dựng chuồng phải là nơi tương đối cách biệt với khu tập trung, phố chợ, trại heo gà khác, trục giao thông chính…nhưng cũng không nên hẻo lánh quá khó bảo vệ Phải có đường xá thuận tiện cho việc giao lưu với bên ngoài, thuận lợi cho việc cung cấp điện nước, không nên chọn vị trí quá xa với nơi tiêu thụ sản phẩm
Trang 11Khu đất xây chuồng phải cao ráo, bằng phẳng, thoát nước tốt, không có đầm lầy ruộng nước, ao tù, vũng đọng hôi hám, ẩm thấp Có nguồn nước ngầm tốt
để khai thác sử dụng
Không chọn vùng đất thung lũng dễ bị ngập lụt, khuất gió hoặc có tiểu khí hậu bất thường Ngoài ra cũng không nên chọn vùng đất trên đồi cao, độ dốc lớn, đất bị xói mòn…sẽ khó khăn trong việc xây dựng Cần chú ý đến cả vùng đất lân cận, có thể trồng các loại cây chắn bớt gió nếu cần thiết (Võ Bá Thọ, 1996)
2.2.3 Điều kiện xây dựng chuồng trại thích hợp
Theo Nguyễn Huy Hoàng (1999), do đặc điểm sinh lý của gà, chuồng trại và khu vực chăn nuôi phải đảm bảo các điều kiện sau đây:
Không nóng bức, không lạnh lẽo
Không ẩm ướt, không quá dơ bẩn
Không thay đổi nhiệt độ quá đột ngột
Nước uống phải là nước ngọt
Có trồng cây che nắng, trồng nhiều hoa màu để phục vụ chăn nuôi gà
Để đảm bảo được các vấn đề trên thì việc chọn hướng chuồng cũng rất quan trọng và cần thiết
2.2.4 Hướng chuồng
Thường thì mưa bão từ hướng Tây, hướng Nam đến, gió lạnh từ hướng Bắc thổi vào Do đó khi xây dựng chuồng gà thì hướng Đông Nam là hướng nên chọn nhất Vì hướng này không những tránh được mưa bão mà còn sử dụng được nguồn nắng buổi sáng ấm, dịu chiếu vào chuồng, làm khô nền chuồng và
có tác dụng tiêu diệt vi trùng, cung cấp thêm Vitamin D3 cần thiết cho sự sinh trưởng và hấp thụ chất khoáng
Ngược lại, nếu xây chuồng gà theo hướng Tây, nắng chiếu vào hâm nóng không khí trong chuồng gà, gà mệt mỏi dễ bị bệnh Tuy nhiên trong trường hợp bị bắt buộc xây dựng theo hướng này thì nên chọn vị trí sau một lùm cây hay chướng ngại vật nào đó để che bớt nắng chiều, hoặc tạo điều kiện che bớt những điều kiện bất lợi ấy, để cản bớt luồng gió mạnh và mưa to từ hướng đó
đưa lại (Lê Thanh Hải và ctv., 1995)
2.2.5 Các kiểu chuồng được dùng trong chăn nuôi Kiểu chuồng kín hoàn toàn:
Xây dựng bằng những nguyên vật liệu cách nhiệt, hoàn toàn dùng ánh sáng điện và thông gió bằng quạt máy
Trang 12Kiểu chuồng nửa kín nửa hở:
Vừa sử dụng hệ thống quạt thông gió, vừa có cửa thông gió tự nhiên, dùng ánh
sáng điện là chủ yếu
Kiểu chuồng hở hoàn toàn:
Sử dụng ánh sáng thông gió tự nhiên, và dùng ánh sáng tự nhiên hoàn toàn Với điều kiện khí hậu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long thì kiểu chuồng hở là thích hợp nhất trong chăn nuôi gà thả vườn, (Bùi Xuân Mến, 2007)
2.2.6 Dụng cụ chăn nuôi Máng ăn:
Thường là máng hình chữ nhật, đối với gà con ở giữa có 1 trục trái khế để gà không leo vào thức ăn, không đi phân dơ bẩn vào, và cũng không làm rơi rớt thức ăn ra ngoài Nếu máng tròn tự động, thì phải điều chỉnh dễ dàng độ cao thấp, gờ máng phải trơn nhẵn, để khi gà ăn tránh bị xây xát (Bùi Quang Toàn
và ctv., 1980)
Đối với gà lớn dùng máng ăn treo ở nhiều vị trí trong chuồng nuôi hay ngoài vườn thả, nhưng phải điều chỉnh độ cao hay thấp sao cho thích hợp để gà dễ dàng đứng ăn (Nguyễn Huy Hoàng, 1999)
Máng uống phải được bố trí đều trong chuồng sao cho gà không phải tìm quá
xa 3mét Từ tuần thứ 2 trở đi, có thể sử dụng máng uống dài tự động hoặc
không tự động, cứ tính cho mỗi gà là 1,3cm chiều dài (Bùi Quang Toàn và
ctv., 1980)
Chụp sưởi:
Chụp sưởi cho gà có nhiều loại khác nhau, loại bóng đèn tỏa nhiệt có dây tóc vừa để sưởi ấm vừa để thắp sáng Loại này có nhược điểm là ánh sáng khá mạnh mà sức nóng yếu, mỗi đèn 40W sưởi ấm cho 50 gà con là vừa, còn nếu dùng bóng đèn hồng ngoại có công suất 200-300W là loại phát sáng yếu, tỏa nhiệt rất mạnh Mỗi đèn hồng ngoại úm được khoảng 100 gà con
Hiện nay có thể sử dụng dụng cụ sưởi bằng gas hoặc đèn điện 75-700W
Trang 132.3 Ảnh hưởng của điều kiện tiểu khí hậu
2.3.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất, nó luôn gắn liền với đời sống của gà từ khi chúng còn những phôi trứng trong máy ấp, cho đến khi chúng nở ra trưởng thành và tái sản xuất Gà không chịu được nóng và lạnh, nhất là gà con hay nhạy cảm với diễn biến của nhiệt độ của môi trường, mỗi sự thay đổi nhiệt độ của môi trường đều có ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý của gà
Nếu sự thay đổi ít, diễn biến từ từ, thường không gây tác hại mà có khi còn có tác dụng như một kích thích có lợi Trường hợp nhiệt độ biến đổi đột ngột, biên độ giao động lớn, vượt xa giới hạn bình thường, sẽ gây giới hạn trực tiếp hoặc gián tiếp đến gà (Võ Bá Thọ, 1996)
Trường hợp nhiệt độ bất thường quá thấp hay quá cao thì gia cầm con yếu ớt, sức tăng trưởng kém, khả năng tiêu tốn tăng cao, tỷ lệ nuôi lớn thấp Nếu nhiệt
độ thay đổi ít so với bình thường khoảng 2o
C thì nói chung không ảnh hưởng
đến sự phát dục của chúng (Đào Đức Long và ctv., 1980)
Thân nhiệt của gà rất cao so với các gia súc khác: 41-420C, gà không có tuyến
mồ hôi nên gà rất nhạy cảm với điều kiện nhiệt độ tiểu khí hậu, nhạy cảm với những thay đổi của thời tiết ở bên ngoài Khi gà mới nở cơ quan điều tiết nhiệt của cơ thể chưa hoàn chỉnh, nó chỉ bắt đầu hoàn chỉnh sau 10 ngày tuổi Chính
vì vậy mà giai đoạn đầu gà con rất phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ môi trường Do đó ở hai tuần tuổi đầu phải hết sức lưu ý đến vấn đề nhiệt độ cung cấp cho gà Ở những điều kiện khác nhau thì nhu cầu về cung cấp nhiệt độ cũng khác nhau
Nhiệt độ thích hợp để úm gà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là:
- Tuần tuổi thứ nhất: 33-35oC
- Tuần tuổi thứ hai: 30-33oC
- Tuần tuổi thứ ba: 28-30oC
- Tuần tuổi thứ tư: 25-28oC
Vùng nào có khí hậu ấm thì nhiệt độ úm cao, để khi kết thúc giai đoạn úm gà
sẽ thích nghi với nhiệt độ môi trường (Lã Thị Thu Minh, 2000)
Do đặc điểm khí hậu nước ta, đặc biệt các tỉnh phía Nam là nóng quanh năm nên thường chỉ bật đèn úm vào ban đêm sau khi gà được hai tuần tuổi hoặc có giông bão, mưa Có thể nói môi trường nước ta rất thuận tiện cho việc úm gà con trong tháng tuổi đầu tiên (Võ Bá Thọ, 1996)
Trang 142.3.2 Ẩm độ
Ẩm độ không khí là hơi nước có trong không khí Chỉ số đo ẩm độ không khí
có ẩm độ tuyệt đối và ẩm độ tương đối
Ẩm độ ngoài trời ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệt độ trong chuồng, nhưng trên thực tế ẩm độ trong chuồng bao giờ cũng cao hơn ẩm độ ngoài trời vì các nguyên nhân sau:
Độ thông thoáng trong chuồng kém, tốc độ gió không bằng bên ngoài
Do sự thở, sự thải hơi nước của gà
Do hệ thống máng uống, cống rãnh và phân gà bốc hơi
Nhiệt độ trong chuồng cao, tạo điều kiện nước bốc hơi mạnh
Đối với gà nhất là gà con rất nhạy cảm với ẩm độ của không khí và của lớp lót nền chuồng Khi ẩm độ cao gà con có biểu hiện khó thở, ngạt, dễ bị các bệnh đường hô hấp Ẩm độ cao còn ảnh hưởng đến sự bốc hơi, tỏa nhiệt, tức cơ chế điều tiết nhiệt của cơ thể gà Ẩm độ cao còn gây tác hại gián tiếp là tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại, phát triển của các loại mầm bệnh như: vi khuẩn,
kí sinh trùng, nấm mốc… trong đó đáng sợ nhất là các loại cầu trùng, giun sán (Võ Bá Thọ, 1996) Do đó để khắc phục tình trạng thái quá về ẩm độ cần phải giải quyết tốt các vấn đề thông thoáng gió, chất độn chuồng, sưởi ấm và vệ
sinh chuồng trại (Đào Đức Long và ctv., 1980)
Ẩm độ không khí thích hợp nhất cho chăn nuôi gà là 60-70% (Bùi Xuân Mến, 2007)
2.4 Độ thông thoáng khí và lượng khí độc trong chuồng
Độ thông thoáng của chuồng nuôi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó có quan
hệ với ẩm độ, nhiệt độ và mức khí độc trong chuồng nuôi (Dương Thanh Liêm
Chuồng trại xây dựng không đúng qui cách
Điều kiện thông thoáng thiếu
Sự hô hấp của gia cầm
Trang 15Sự thối rữa các chất do gia cầm bài tiết
Sưởi ấm và thiết bị chiếu sáng
Vệ sinh và điều kiện làm việc không tốt
Theo một số tài liệu, thành phần không khí trong chuồng nuôi được qui định
như sau (Đào Đức Long và ctv., 1980):
2.5 Ánh sáng và lưu lượng chiếu sáng
Ánh sáng mặt trời là yếu tố cực kỳ quan trọng cần thiết cho sự sống hữu cơ
Nó không chỉ là yếu tố quyết định trong chức năng của tế bào, mà còn tác động trực tiếp lên nguyên sinh chất tế bào, làm cho sự trao đổi chất dễ dàng (Võ Bá Thọ, 1996)
Ánh sáng mặt trời có ảnh hưởng lớn gia cầm con, với tác dụng gây hưng phấn
hệ thần kinh, tăng cường sự trao đổi chất của cơ thể, làm cho gia cầm con ăn nhiều, từ đó tăng thêm số lượng hồng huyết cầu và hồng huyết tố trong máu,
từ đó nâng cao thể trọng của chúng Mặt khác dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời, trong cơ thể hình thành nên Vitamin D, xúc tiến các khớp xương và sự phát dục bình thường ở gà
Ánh sáng mặt trời còn có tác dụng tiêu diệt vi trùng, nâng cao khả năng miễn dịch cho gia cầm con Thông thường ánh sáng trực tiếp có hiệu lực hơn là ánh
sáng tán xạ (Đào Đức Long và ctv., 1980)
Chương trình chiếu sáng chiếm một vị trí quan trọng nhưng lại tăng hiệu quả
sử dụng thức ăn, người ta đánh giá lợi nhuận dựa trên sức tăng trọng hay hệ số chuyển hóa thức ăn Nếu thời gian chiếu sáng dài thì bao giờ hệ số chuyển hóa thức ăn cũng thấp hơn so với chiếu sáng ngắn Tuy nhiên nếu chiếu sáng quá mạnh, cường độ ánh sáng không đều trong chuồng sẽ làm cho gà chạy nhảy, cắn mổ lẫn nhau, ăn ít, chậm lớn Cho nên chỉ cần đủ ánh sáng để gà nhận thấy thức ăn nước uống là được (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999)
Trang 16Theo Bùi Xuân Mến (2007), thì cường độ chiếu sáng 3 W/m2 diện tích nền chuồng có thể cung cấp đủ ánh sáng, giúp gà tiêu thụ thức ăn một cách bình thường
Chương trình chiếu sáng ở gia cầm con trong giai đoạn úm như sau:
Tuần tuổi thứ nhất 24/24h Tuần tuổi thứ hai 18-20/24h Tuần tuổi thứ ba16-18/24h Tuần tuổi thứ tư12/24h
2.6 Phương pháp nuôi
2.6.1 Nuôi thâm canh trên lớp độn chuồng
Ưu điểm:
Gà hoạt động tự do trên nền chuồng
Dễ cơ giới hóa trong chăn nuôi, giảm được sức lao động của công nhân
Dễ quan sát và kịp thời phát hiện những con có biểu hiện khác lạ
Chí phí ban đầu không cao
Thuận tiện hơn cho nông dân vận hành kỹ thuật trong quá trình phòng dịch bệnh
Đàn gà có độ đồng đều cao
Nhược điểm:
Gà tiếp xúc trực tiếp với nền chuồng, khả năng nhiễm bệnh có thể xảy ra, nhất
là bệnh về đường hô hấp và ký sinh trùng
Sự lây lan diễn ra một cách nhanh chóng
Dễ tác động bởi điều kiện môi trường, đặc biệt là điều kiện ẩm độ tương đối
Tận dụng được tối đa diện tích nền chuồng
Dọn dẹp phân một cách dễ dàng Không gây ảnh hưởng nhiều đến đàn gà
Gà không tiếp xúc trực tiếp với mặt đất nên gà ít bị mắc các bệnh truyền nhiễm và kí sinh trùng
Trang 17Chủ động hơn trong việc đối phó cũng như hạn chế với điều kiện tiểu khí hậu, đặc biệt là ẩm độ
Có thể nuôi gà ở nhiều lứa tuổi khác nhau trên cùng một diện tích nền chuồng
Nhược điểm:
Chi phí ban đầu cao
Phải tạo điều kiện thông thoáng khí thật tốt
Mật độ nuôi:
Nuôi trong lồng thì mật độ nuôi ở các tuần tuổi có sự khác nhau
Hai tuần đầu mật độ là 50 con/m2 sàn lồng
Từ 3-6 tuần 25 gà/m2 (Bùi Xuân Mến, 2007)
2.6.3 Nuôi kết hợp giữa hai phương pháp trên
Từ 0-3 tuần tuổi nuôi úm trên lồng
Đến 4 tuần tuổi chuyển xuống nền nuôi theo phương pháp nuôi thâm canh trên lớp độn chuồng Với phương pháp này ta có thể tận dụng được tất cả các ưu điểm của hai phương pháp trên
Mật độ nuôi cũng là kết hợp giữa hai phương pháp trên
2.7 Khẩu phần dinh dưỡng đối với gà
Ở giai đoạn đầu phải đảm bảo cung cấp đầy đủ lượng protein cần thiết để gà phát triển Đồng thời các chất khác cũng phải cân đối Giai đoạn sau thì nhu cầu năng lượng cao hơn Chúng ta cần chú ý thay đổi khẩu phần hợp lý để vừa đảm bảo cho gà phát triển bình thường vừa tiết kiệm chi phí trong chăn nuôi
2.7.2 Nhu cầu và vai trò của năng lượng
Nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho gà là glucid (chất bột đường) và lipid (chất béo) trong thức ăn (Võ Bá Thọ, 1996) Năng lượng dư thừa sẽ được động vật tích lũy dưới dạng mỡ Năng lượng trong khẩu phần không được thấp dưới 1.500 Kcal/kg thức ăn (Nguyễn Chí Bảo, 1978)
Nhu cầu năng lượng của gà trong 5 tuần đầu khoảng 2.900 Kcal/kg thức ăn (Lương Đức Phẩm, 1981)
Trang 18Còn theo Nguyễn Xuân Bình (2000) thì giai đoạn 0-3 tuần tuổi là 2.850 Kcal/kg thức ăn, gia đoạn 4-8 tuần tuổi 2.775 Kcal/kg thức ăn
Tùy theo giống gà, dòng gà, lứa tuổi, tính năng sản xuất, nhiệt độ môi trường… mà định mức nhu cầu năng lượng có khác nhau Nhìn chung, gà con,
gà thịt, nhất là gà thịt trong giai đoạn thúc mập cần mức năng lượng rất cao (Võ Bá Thọ, 1996)
Trong chăn nuôi gà thịt, nếu khẩu phần thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng đến tăng trọng, làm giảm năng suất thịt, ảnh hưởng đến năng suất thịt, ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế
2.7.3 Nhu cầu và vai trò của protein
Protein là thành phần quan trọng của sự sống, nó chiếm 1/5 khối lượng cơ thể
và 1/7 khối lượng trứng Protein tham gia cấu tạo tế bào và những hoạt động của cơ thể như hệ thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, tiết sữa, sinh sản và tạo kháng thể chống lại bệnh (Trịnh Quang Khuê và Nguyễn Văn Vinh, 2003)
Protein là cơ sở của sự sống, chúng thực hiện chức năng tạo hình, cấu tạo nên các tế bào, các hormon, các men và các kháng thể Chúng là nguồn năng lượng duy trì trạng thái cân bằng trao đổi nước trong cơ thể
Hơn thế nữa, protein còn là hợp phần cấu trúc quan trọng nhất của tất cả các tế bào trong cơ thề gia cầm, tạo nên các tất cả quá trình sinh lý cơ bản Gia cầm chỉ tổng hợp protein cơ thể khi trong khẩu phần của chúng có chứa protein với
số lượng và chất lượng cần thiết (Lương Đức Phẩm, 1981)
Nhu cầu protein đối với gà :
Theo Bùi Đức Lũng và ctv., (2003), nhu cầu protein thô đối với gà lông màu là
22-23% trong giai đọan 1-35 ngày tuổi; 20-21% trong giai đoạn từ 35 ngày đến xuất bán Tuy nhiên, để có chất lượng thịt tốt nhất, cần hạn chế sự tăng trọng bằng việc sử dụng thức ăn có năng lượng và protein thấp hơn Cụ thể là:
từ 0-28 ngày tuổi: 21-22% CP; từ 28-70 ngày tuổi: 17-18% CP; từ 70 ngày đến xuất bán: 16-17% CP
Theo Trịnh Công Xuân (2002): gà từ 0-3 tuần tuổi: 21-22% CP; gà từ 4-7 tuần tuổi 19% CP, 8 tuần tuổi đến giết thịt: 17%CP
Còn Lã Thị Thu Minh (2000) cho rằng nhu cầu protein thô trong khẩu phần gà con là 18-20%, gà lớn 16-17%
Acid amin
Là những đơn vị được trùng hợp lại thành protid, bao gồm 2 nhóm: acid amin không thay thế và acid amin thay thế
Trang 19Nhóm acid amin không thay thế: hay còn gọi là acid amib thiết yếu, là nhóm acid amin mà cơ thể không tổng hợp được, phải cung cấp từ thức ăn để tạo protein
Nhóm này gồm 10 acid amin có vai trò chủ yếu trong thức ăn gia cầm là: arginin, histidin, leucin, isoleucin, phenylalanin, valin, threonin, lysin, methionin, triptophan, còn glycin cần cho thức ăn gà giò nhưng không quan trọng trong thức ăn gà lớn trưởng thành
- Lysin: đây là acid amin quan trọng nhất Nó làm tăng sinh trưởng, tăng đẻ
trứng, cần cho tổng hợp nucleoproteid, hồng cầu, trao đổi azot, tạo sắc tố melanin của lông, da Thiếu lysin gà chậm lớn, giảm năng suất thịt, trứng, hồng cầu, giảm tốc độ chuyển hóa Ca và P, gây còi xương, rối loạn sinh dục,
cơ thoái hóa
- Methionin: rất quan trọng, có chứa lưu huỳnh, ảnh hưởng đến sự phát triển
của cơ thể, chức năng của gan và tụy, điều hòa trao đổi chất béo, chống mỡ hóa gan, cần thiết cho sự sản sinh tế bào, tham gia quá trình đồng hóa và dị hóa trong cơ thể
Thiếu methionin làm mất tính thèm ăn của gà, cơ thoái hóa, thiếu máu, gan nhiễm mỡ, giảm sự phân hủy chất độc thải ra, hạn chế tổng hợp hemoglobin
- Triptopan: cần cho sự phát triển của gia cầm non, duy trì sức sống cho gia
cầm lớn, điều hòa chức năng các tuyến nội tiết, tham gia tổng hợp hemoglobin của hồng cầu, cần cho sự phát triển của tế bào tinh trùng, của phôi…
Thiếu triptopan sẽ giảm tỷ lệ ấp nở, phá hủy tuyến nội tiết, giảm khối lượng cơ thể…
- Arginin: cần cho sự phát triển của gia cầm non, tạo sụn, xương, lông Thiếu
arginin thì tỷ lệ chết phôi cao, giảm sức phát triển của gà
- Histidin: cần cho sự tổng hợp acid nucleotid và hemoglobin, điều chỉnh quá
trình trao đổi chất, nhất là sự phát triển của gia cầm non Thiếu histidin làm thiếu máu, giảm tính thèm ăn, chậm lớn
- Leucin: tham gia tổng hợp protid của plasma, duy trì hoạt động của tuyến nội
tiết Thiếu leucin sẽ phá hủy sự cân bằng azot, giảm tính thèm ăn, chậm lớn
- Isoleucin: cần cho sử dụng và trao đổi các acid amin trong thức ăn Thiếu
isoleucin giảm tính ngon miệng, cản trở sự phân hủy của vật chất chứa azot thừa trong thức ăn thải qua nước tiểu, giảm tăng trọng Trong thức ăn thường
có đủ isoleucin
- Phenylalanin: duy trì hoạt động bình thường của tuyến giáp và tuyến thượng
thận, tham gia tạo sắc tố và tốc độ thành thục của tinh trùng, sự phát triển của phôi trứng
Trang 20- Valin: cần cho sự hoạt động của hệ thần kinh, tham gia tạo glycogen từ
glucose Thức ăn gia cầm thường đủ valin
- Threonin: cần cho việc trao đổi chất và sử dụng đầy đủ các acid amin trong
thức ăn, kích thích sự phát triển của gia cầm non Thiếu threonin gây sự thải azot (từ nguồn thức ăn nhận được) theo nước tiểu làm giảm khối lượng sống Thức ăn nguồn gốc động vật có đủ threonin cho gia cầm
Nhóm acid amin thay thế: cơ thể gia cầm có thể thay thế được 13 acid amin từ
sản phẩm trung gian trong quá trình tổng hợp acid amin, acid béo và từ hợp chất chứa nhóm amino… Đó là các acid amin thay thế, gồm: alanin, aspaginin, aspartic, cystein, cystin, acid glutamid, glycin, hydroprolin, prolin, serin và hydroxylizin
Chúng ta không chỉ cung cấp cho gà đủ lượng protein thô và còn phải đủ và cân đối các acid amin thiết yếu Việc cân đối các acid amin trong khẩu phần đối với gà con không chỉ làm cơ thể gà phát triển tăng trọng tốt mà còn nâng cao sự sử dụng thức ăn Đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh rằng không chỉ sự thiếu hụt mà cả dư thừa các acid amin cũng có hại, rõ nhất là đối với gà con Định mức protein thô và các acid amin đối với gà tùy thuộc vào dòng, giống, tính năng sản xuất, giai đoạn phát triển và sinh sản của gà Định mức đó cũng tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như mức năng lượng của khẩu phần, nhiệt độ môi trường nuôi, sự liên quan chặt chẽ của sự trao đổi các acid amin với sự trao đổi năng lượng, lipid, chất khoáng và vitamin (Võ Bá Thọ, 1996)
Vấn đề cơ bản trong khi cung cấp protein cho gà là phải đảm bảo tính chất đầy
đủ và cân đối giữa các acid amin thiết yếu Một khẩu phần không cân đối về acid amin sẽ làm tiêu tốn nhiều protein tổng số Trong khi đó khẩu phần cân đối về acid amin sẽ tiết kiệm được protein mà vẫn đảm bảo cơ thể phát triển bình thường
Ngày nay, ngoài việc cân đối các acid amin có sẵn trong các loại nguyên liệu thức ăn cung cấp protein, người ta đã dùng các loại acid amin tổng hợp kết tinh để bổ sung vào thức ăn cho gà và gia súc gia cầm nói chung
2.7.4 Nhu cầu và vai trò của chất béo
Trong thức ăn hỗn hợp cho gà, thành phần chất béo không nhiều nhưng không thể thiếu được Lipid là nguồn cung cấp năng lượng và tham gia vào thành phần cấu tạo cơ quan nội tạng và tích lũy mỡ trong sản phẩm Lipid còn là dung môi và vận chuyển vitamin A, D, E, K để cơ thể hấp thụ (Trịnh Quang Khuê và Nguyễn Văn Vinh, 2003)
Hầu hết các lipid động vật và thực vật đều có chứa với tỷ lệ khác nhau 2 loại acid béo là acid bão hòa và acid béo chưa bão hòa Trong các acid béo chưa
Trang 21bão hòa có các acid béo quan trọng như acid linoleic, acid arachidonic Đó là các acid béo cần thiết cho cơ thể gà với tên chung là “các acid béo không thay thế” Cơ thể gà không thể tổng hợp các acid amin này mà phải lấy từ thức ăn Đối với gà thịt thương phẩm, tỷ lệ lipid thô thừ 4-9% ở giai đoạn đầu và 6-10
% giai đọan cuối (Võ Bá Thọ, 1996)
2.7.5 Nhu cầu và vai trò của chất khoáng
Chất khoáng có vai trò quan trọng trong cơ thể vật nuôi: tham gia cấu tạo xương, là thành phần của các cơ quan và các mô bào Chất khoáng có trong nhiều enzym và hormon của cơ thể vật nuôi
Chất khoáng giữ cho lực thẩm thấu ở các mô và cơ thể luôn cân đối và ổn định Chúng còn giữ vai trò quan trọng trong trao đổi nước và giúp cho quá trình trao đổi chất dinh dưỡng Chất khoáng tạo môi trường thích hợp cho hoạt động tim mạch, thần kinh và cơ bắp Trong khẩu phần thức ăn hàng ngày nếu thiếu hoặc thừa chất khoáng sẽ dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng, khả năng sinh sản và sức chống bệnh của gia cầm (Trịnh Quang Khuê và Nguyễn Văn Vinh, 2003)
Chất khoáng chiếm 3% khối lượng cơ thể gia cầm, trong đó chứa 40 nguyên tố khoáng Đến nay, người ta đã phát hiện được 14 nguyên tố khoáng cần thiết cho gia cầm, kể cả chức năng sinh lý của mỗi nguyên tố trong cơ thể
Các nguyên tố khoáng tham gia cấu tạo nên toàn bộ bộ xương, cấu tạo tế bào dưới dạng muối của chúng Trong các định thể chất khoáng ở trạng thái hòa tan và ion, đảm bảo cân bằng nội môi Ngoài ra, chất khoáng còn là thành phần của vitamin và enzym, những nguyên tố xúc tác sinh học trong cơ thể (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999)
Chất khoáng gồm 2 nhóm: nhóm nguyên tố đa lượng và vi lượng
- Nhóm đa lượng gồm: natri (Na), kali (K), clo (Cl), calci (Ca), phospho (P),
lưu huỳnh (S), magie (Mg)…
- Nhóm vi lượng gồm: sắt (Fe), đồng (Cu), coban (Co), mangan (Mn), iot (I),
kẽm (Zn)…
Natri, Kali, Clo: Na và K là những kim loại kiềm có nhiều và quan trọng nhất
trong cơ thể Chúng tồn tại dưới dạng hóa hợp với Clorua, Bicarbonat, một phần kết hợp với acid hữu cơ và protid NaCl và KCl có trong huyết tương tạo nên áp suất thẩm thấu của máu NaHCO3 bảo đảm lượng kiềm dự trữ của máu, giữ độ toan kiềm của máu Tỷ lệ ion Na+, K+ trên Ca2+ thích hợp đảm bảo hoạt động co bóp tim bình thường Nếu ăn quá nhiều muối làm tăng cường trao đổi chất và sinh sốt vì nhiệt thoát ra nhiều, gây uống nước nhiều và gia cầm kém
Trang 22ăn Nhưng không cung cấp đủ muối sẽ làm giảm tính thèm ăn và khả năng tiêu hóa thức ăn giảm
Nhu cầu: gà con không quá 0,4%, gà lớn và gà đẻ không quá 0,5% muối trong khẩu phần (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999)
Calci, Phospho: là những nhân tố cơ sở, phần lớn tham gia cấu tạo bộ xương
cơ thể Ca còn tham gia quá trình đông máu và làm giảm khả năng liên kết của chất keo của mô với nước Thiếu Ca, P cơ thể dễ bị còi xương ở thú non hoặc teo xương ở thú già Tỷ lệ Ca:P thích hợp 1,6:1 (Nguyễn Chí Bảo, 1987) Nhu cầu: Ca: gà con 1,0-1,2%, gà giò 0,9-1,0%, gà đẻ: 2,7-3,8%
P: gà con 0,5%, gà đẻ 0,4-0,5%
Magie (Mg): liên hệ mật thiết với trao đổi Ca và P Mg chiếm 0,05% khối
lượng sống Trong đó 50% chứa trong xương, 40% chứa trong mô cơ, 1% trong dịch ngoại bào Mg tồn tại chủ yếu trong tế bào Trong xương, Mg ở dạng ion, Mg tham gia cấu tạo xương, nằm trong thành phần các enyzym Khi yêu cầu Ca tăng thì phải tăng Mg trong khẩu phần Nếu thiếu Mg sẽ giảm tốc
độ sinh trưởng, không điều chỉnh được hoạt động của cơ bắp, làm giảm sức đẻ trứng
Nhu cầu Mg đối với gà dưới 4 tuần tuổi 500mg/kg thức ăn, trên 4 tuần tuổi 550mg/kg thức ăn (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999)
Lưu huỳnh (S): tham gia vào thành phần các acid amin có chứa S như
methyonin, cystin, cystein… để tạo nên lông, móng Vì vậy gia cầm rất cần S
để tạo lông Lưu huỳnh rất cần thiết cho trao đổi protein, sản xuất hormon Thường ở gia cầm khó nhận biết việc thiếu S vì nó có thể được giải phóng từ các acid amin
Sắt (Fe): tham gia tạo hồng cầu, myoglobin của tế bào cơ vân, các sắc tố hô
hấp mô bào oxydaza…Fe là nguyên liệu tham gia xây dựng nên da, cơ, lông, tham gia vào việc tạo nên các acid amin chứa lưu huỳnh, các vitamin, acid béo… Nếu thiếu Fe trong thức ăn sẽ gây bệnh thiếu máu, mỏ và chân gà con nhợt nhạt, gà mái mào tái, đẻ giảm, lông xù Nhu cầu đối với gà 0-3 tuần tuổi 88mg/kg thức ăn, trên 3 tuần tuổi 108mg/kg thức ăn
Đồng (Cu): có trong tất cả cơ quan của cơ thể, nhiều nhất ở gan Cu làm tăng
sự hấp thu Fe để tạo Hemoglobin của hồng cầu Vì vậy khi bổ sung Fe cần kèm theo bổ sung đủ lượng đồng Cu tham gia tạo các enzym oxy hóa, nên có quan hệ đến quá trình hô hấp của mô bào
Cu tham gia tạo hợp sắc tố đen Thiếu Cu da nhợt, lông mất màu Khi không đạt lượng đồng trong thức ăn sẽ làm giảm hấp thu sắt, thớ thịt bị tối xen lẫn màu sáng do thiếu cả đồng lẫn sắt, gây rối loạn về xương, gây biến màu lông,
Trang 23giảm tốc độ sinh trưởng, lông rụng, vỏ trứng mỏng và không bóng mịn Nhu cầu Cu cho gà các loại 11 mg/kh thức ăn (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999)
Coban (Co): là nguyên tố vô cùng quan trọng để tạo vitamin B12 Do đó, nó
có vai trò kính thích tạo máu, từ đó có vai trò trong trao đổi chất và sự sinh trưởng của gia cầm Thiếu Co dẫn đến thiếu vitamin B12 làm giảm đồng hóa protein, hydratcarbon, giảm trao đổi năng lượng, giảm tính thèm ăn
Selen (Se): có mối tương quan với vitamin E, nếu vitamin E có tác dụng ngăn
ngừa sự thành lập perocid hydro từ các acid béo và tham gia vào quá trình biến dưỡng của các acid amin chứa lưu huỳnh (như cystein là tiền chất của glutathione) thì Se có tác dụng phá hủy perocid hydro Chính vì thế, Se cùng với vitamin E làm giảm thấp sự hiện diện của perocid hydro trong mô bào động vật Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bào vệ màng tế bào tránh khỏi sự tấn công của các gốc tự do, còn gọi là các perocid, đây cũng
là tác nhân gây ung thư
Se tham gia cấu tạo các enzym glutathione perocydase để phá hủy các perocid sinh ra trong cơ thể Vì vậy nó bảo vệ được tổ chức tế bào thành mạch tránh sự oxy hóa trực tiếp gây hư hại Cũng vì thế, nó có mối quan hệ tương tác cùng với vitamin E trong việc chống oxy hóa Vì thế, khi thiếu Se làm cho triệu chứng thiếu vitamin E trở nên trầm trọng hơn Tuy nhiên, nó không thể thay
thế cho nhau trong các chức năng sinh học được (Dương Thanh Liêm và ctv.,
2002)
Mangan (Mn): yêu cầu cho phát triển bình thường của xương và sự hình thành
vỏ trứng, trong trao đổi acid amin và protein, hoạt hóa các enzym, ảnh hưởng đến tính dục của gia cầm, đến trao đổi Ca và P Nhu cầu đối với gà các lứa tuổi là 55 mg/kg thức ăn
Iod (I): duy trì chức năng của tuyến giáp trạng, tham gia sản xuất hormon điều
hòa quá trình sinh trưởng, phát triển, sinh sản và trao đổi chất trong cơ thể Thiếu I là do tuyến giáp trạng của gia cầm bị phồng lên Iod còn có tác dụng điều hòa trao đổi năng lượng (Võ Bá Thọ, 1989) Nhu cầu đối với gà con 0,37 mg/kg thức ăn, gà đẻ 0,15 mg/kg thức ăn
Kẽm (Zn): tham gia trong quá trình trao đổi mỡ, điều hòa chức năng sinh dục
và sự tạo máu Cần thiết cho sự phát triển lông, sự đẻ trứng và tăng tỷ lệ có phôi Cần thiết cho sự hình thành enzym, sự hoạt động tuyến giáp Bảo vệ da
và mắt Chống lại bệnh parakeratosis, perosis Khi thiếu kẽm lông phát triển kém, rối loạn hình thành xương, vỏ trứng mỏng Nhu cầu đối với gà con dưới
4 tuần tuổi 44 mg/kg thức ăn, trên 4 tuần tuổi 33 mg/kg thức ăn
Trang 242.7.6 Nhu cầu và vai trò của Vitamin
Vitamin có vai trò sinh lý rất quan trọng Chúng tham gia vào các quá trình xúc tác sinh học trong trao đổi các chất dinh dưỡng: protid, lipid, glucid và khoáng, các hoạt động của các hormon và enzym Vitamin tham gia thành phần cấu tạo nên một số lớn hormon và enzym trong cơ thể Thừa hoặc thiếu bất cứ một loại vitamin nào cũng ảnh hưởng đến quá trình phát triển và sinh lý của gia cầm
Vitamin A: tham gia vào quá trình trao đổi protid, glucid, ảnh hưởng đến tuyến
nội tiết, hệ thần kinh, tổng hợp protid của cơ thể và hàng loạt các chất có hoạt tính sinh học khác Có vai trò trong chức năng của tế bào cơ thể, trong tổng hợp tế bào tuyến giáp, tuyến tụy, tuyến trên thận, niêm mạc mắt, niêm mạc của các cơ quan tiêu hóa, hô hấp, bài tiết, sinh dục, chống sừng hóa da, chống còi xương Đặc biệt vitamin A ảnh hưởng lớn đến sự phát triển lớn của gia cầm non và sức sản xuất của chúng Vitamin A+protein = Rodopsin và Idopsin là những hợp chất chịu trách nhiệm điều khiển thị giác (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999)
Khi thiếu vitamin A gà bị suy nhược cơ thể, mắc bệnh “gà mờ”, “quáng gà”,
đi lại yếu, mất tính thèm ăn, còi cọc… Scott và Levine (1960) cho biết gà con khi nhiễm cầu trùng được bổ sung vitamin A vào khẩu phần đã làm tăng dự trữ vitamin A ở gan và giảm tỷ lệ chết từ 73% xuống còn 9,7% và 0% Khi gà thiếu vitamin A thì dễ bị nhiễm ký sinh đường ruột (Vũ Duy Giảng, 1997) Nhu cầu vitamin A đối với gà là 8.000-10.000 UI/kg thức ăn
Vitamin D: chỉ đạo sự thay đổi Ca và P trong cơ thể Do đó, nó cần thiết cho
sự tạo lập xương và vỏ trứng Nếu thiếu vitamin D sẽ gây đình trệ các quá trình tích lũy vôi trong xương ở động vật non, gây hiện tượng còi cọc (Võ Bá Thọ, 1989) Nếu không đạt vitamin D trong thức ăn làm giảm tốc độ sinh trưởng và sức sản xuất trứng của gia cầm Nhu cầu vitamin D đối với gà con 2.000-2.200 UI/kg thức ăn, gà mái 1.500 UI/kg thức ăn (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999)
Vitamin E: ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của gia cầm, chống teo cơ,
chống rối loạn đường, ảnh hưởng đến tổng hợp coenzym, trao đổi acid nucleic
và quá trình phosphorul hóa Vai trò quan trọng nhất của vitamin E là chống oxy hóa sinh học Thiếu vitamin E làm gà bị “điên”, tăng tỷ chết, gà chậm lớn Nhu cầu vitamin E đối với gà con 15-20 UI/kg thức ăn, gà đẻ 20-30 UI/kg thức ăn (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999)
Vitamin K: là yếu tố của sự đông máu và chống chảy máu Ở gà con bị thiếu
vitamin K có thể bị chảy máu ở mô liên kết dưới da (Võ Bá Thọ, 1989)
Trang 25Vitamin K cần thiết cho gà bị bệnh cầu trùng (phân lẫn máu) và gà đẻ sinh sản (do đẻ hay chảy máu ở tử cung) Nhu cầu đối với gà con 0-7 tuần tuổi 8,8 mg/kg thức ăn, gà từ 8-17 tuần tuổi 2,2 mg/kg thức ăn; gà đẻ khởi động và gà đang sinh sản 2,2 mg/kg thức ăn
Vitamin nhóm B:
Vitamin B 1: là tác nhân chống phù thủng, viêm thần kinh, đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất bột đường Trong cơ thể nó có trong thành phần các enzym, tham gia điều hòa quá trình chuyển hóa, chủ yếu là trao đổi chất glucid, protein và nước Thiếu vitamin B1 gà con kém ăn, chậm lớn, còi cọc và chết dần mòn trong tháng đầu Thần kinh bị tổn thương nên gà bị liệt chi rồi liệt toàn thân Đặc trưng nhất là vùng cơ cổ bị co rút làm giật ngửa đầu ra sau
Gà run rẩy, co giật, bại liệt rồi chết Nguyên nhân gây thiếu B1 ở gà thường là
do thức ăn như ngũ cốc, cám, premix tồn trữ quá lâu Cũng có trường hợp do nguyên liệu thức ăn có độ ẩm cao, làm vitamin B1 bị phân hủy nhanh chóng
Vitamin B 2 : là nhân tố tham gia quá trình oxy hóa của tế bào, đảm bảo cho tỷ
lệ đẻ và khả năng nở, chống rối loạn thần kinh Nếu thiếu B2 gà sẽ ngưng lớn,
bị khoèo chân và gà có thể bị liệt Vitamin B2 là vitamin quan trọng trong nhóm B Trong thiên nhiên nó được tổng hợp bởi cây xanh, vi nấm và một số loài vi khuẩn
Vitamin B 6: tham gia quá trình trao đổi chất đạm trong quá trình tạo máu, cũng như góp phần vào sự biến đổi các acid béo chưa bão hòa Nếu thiếu B6 gia cầm giảm ăn, chậm lớn, giảm sức sản xuất và có biểu hiện thần kinh Vitamin
B6 cần cho sự tổng hợp nhiều enzym Thức ăn thiếu vitamin B6 thì protein và sản phẩm trao đổi của nó trở nên độc hại đối với cơ thể gà Trường hợp bị thiếu vitamin này, ở gà con có những biểu hiện tăng trọng nhanh trong vài ngày đầu rồi sau đó không phát triển được nữa Gà con biểu hiện kém ăn, chậm lớn, thiếu máu, xuất hiện triệu chứng rối loạn thần kinh Không nên dùng vitamin B6 vượt quá nhu cầu và có ảnh hưởng đến tăng trọng và sự đẻ trứng
Vitamin B 12: có vai trò khá quan trọng trong sự tạo máu, tổng hợp các protein
tế bào, thúc đẩy sự sinh trưởng bình thường của cơ thể Vitamin B12 có tác dụng tái tạo và phân chia của tổ chức, đặc biệt là tế bào thần kinh, duy trì họat động bình thường của tế bào thần kinh trung ương Với tác động của vitamin
B12, việc hấp thu protein tiến hành tốt hơn, nhất là đối với protein thực vật Với chức năng trong sự chuyển hóa, tổng hợp protein tế bào, vitamin B12 thật
sự là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của cơ thể, sự mọc lông, sự phát triển của phôi trứng, đảm bảo tỷ lệ ấp nở cao
Trang 26Vitamin B12 cũng có tác dụng trong việc bảo vệ cơ thể khỏi bị nhiễm độc, nhiễm khuẩn Nó có khả năng điều chỉnh được những rối loạn thần kinh Xuất phát từ quan điểm kinh tế, vitamin B12 cho phép giảm bớt một tỷ lệ đáng kể nguyên liệu thức ăn có nguồn gốc động vật trong cơ thể gà Trường hợp thiếu vitamin B12 gà bị triệu chứng thiếu máu do hồng cầu không trưởng thành được, gà con bị còi cọc, niêm mạc nhợt nhạt
Vitamin C: đối với gà, hầu hết các tài liệu kinh điển đều cho rằng vitamin C ít
có tầm quan trọng vì cơ thể gà có khả năng tự tổng hợp đủ nhu cầu sinh lý bình thường của chúng Tuy nhiên những lúc cần thiết, khẩn cấp như bị bệnh truyền nhiễm, bị stress tác động, cơ thể gà không tự đáp ứng được nhu cầu tăng lên, phải bổ sung vitamin đầy đủ và kịp thời để tăng sức đề kháng của cơ thể
Ngoài tác dụng giảm nhẹ tác hại của stress, vitamin C còn giúp cho quá trình chuyển hóa vitamin D bằng cách điều hòa các “hormon stress” như corticosteron và aldosteron Trong điều kiện stress nhiệt, vitamin C giúp điều hòa chuyển biến này, tránh sự suy sụp vỏ thượng thận cấp Trường hợp thiếu vitamin C ở gà cũng gây ra bệnh lý và hậu quả nặng nề đến sự sinh trưởng, sức sản xuất và khả năng đề kháng bệnh tật cùng mọi bất lợi của ngoại cảnh (Võ Bá Thọ, 1989)
2.7.7 Nước uống
Nếu như chúng ta coi protein là chất đặc hiệu của sự sống thì nước là môi trường hay dung môi không thể thiếu được để sự sống tiến hành Tuy nước không cung cấp năng lượng song chúng giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sống Theo Rubner thì con vật mất toàn bộ mỡ và 2/3 protein cơ thể vẫn sống được Nhưng nếu mất 1/10 lượng nước trong cơ thể thì con vật cảm thấy khó sống Nếu mất tới 2/10 lượng nước trong cơ thể thì con vật sẽ chết
(Dương Thanh Liêm và ctv., 2002)
Người ta biết rằng gà có thể sống được hơn 12 ngày trong điều kiện thiếu thức
ăn nhưng khi không có nước gà sẽ chết vào ngày thứ 3 hoặc thứ 4
Chất lượng nước ảnh hưởng sự tiêu thụ các thức ăn, nếu chất lượng nước giảm, sự tiêu thụ nước giảm kéo theo sự tiêu thụ thức ăn giảm và con vật bị
giảm năng suất (Lưu Hữu Mãnh và ctv., 1999)
Nước làm dung môi hòa tan, vận chuyển các chất dinh dưỡng cho cơ thể hấp thu và thải cặn bã ra ngoài Các phản ứng hóa sinh của cơ thể đều được tiến hành trong môi trường nước Nước có vai trò trong điều hòa ổn định thân nhiệt Nước tham gia các phản ứng hóa học trong trao đổi chất của cơ thể Nước làm giảm sự thối rữa thức ăn trong các bộ phận tiêu hóa Nước giữ thể
Trang 27hình cho cơ thể, tăng tính đàn hồi, giảm ma sát giữa các bộ phận (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2004)
Yêu cầu về nước uống là phải sạch và đầy đủ Tiêu chuẩn vệ sinh nước uống cho gà có thể áp dụng tiêu chuẩn nước uống của người và phải thường xuyên kiểm tra hệ thống cung cấp nước Nước uống và thức ăn tiêu thụ sẽ nói lên tình trạng sức khỏe của đàn gà (Nguyễn Chí Bảo, 1978)
2.8 Yêu cầu kỹ thuật trong chăn nuôi gà
Đối với gà con chăm sóc là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả kinh
tế cho nhà chăn nuôi Do nhu cầu theo hướng sản xuất khác nhau nên người chăn nuôi gà chia làm các giai đoạn:
Giai đoạn nuôi úm gà con: Từ 1 ngày tuổi đến 4 tuần tuổi
Giai đoạn nuôi gà thịt: từ tuần tuổi thứ 5 đến tuần tuổi thứ 8
Nuôi hậu bị từ tuần tuổi thứ 5-20 tuần tuổi đối với gà hướng trứng, 23 tuần tuổi đối với gà hướng thịt
Giai đoạn nuôi đẻ: từ 20 tuần tuổi đối với gà hướng trứng, và 23 tuần tuổi đối với gà hướng thịt
Nhưng ở đây chúng tôi chỉ trình bày đến giai đoạn nuôi thịt (tức giai đoạn nuôi
úm gà con và giai đoạn sau khi úm đến khi xuất chuồng)
2.8.1 Giai đoạn nuôi úm gà con
Cần tìm hiểu biết rõ lai lịch của đàn gà bố mẹ, tình trạng sức khỏe, quy trình phòng ngừa, sức sản xuất để có đàn gà con được khỏe mạnh và nuôi dưỡng cho tốt
Nên chọn gà 1 ngày tuổi, đạt thể trọng bình quân của giống, những con nhanh nhẹn, có bộ lông khô xốp hoàn toàn, lông không dính bết vào da, cánh áp sát vào thân, bụng thon mềm, rốn khô và cứng, lổ huyệt khô sạch, mắt sáng và to, chân bóng và cứng, dáng đi mạnh dạn
Không nên chọn những con quá nhỏ hoặc quá to, yếu ớt, khoèo chân, hở rốn, bụng xệ, vẹo đầu, trẹo mỏ, mù mắt, lông xơ xác, nở sớm hay muộn
Mật độ nuôi:
Nuôi trên lớp độn chuồng: Mật độ 20 con/m2 diện tích chuồng nuôi đến hết giai đoạn
Nuôi trên lồng: Từ 80-100 con/m2 ở tuần tuổi thứ nhất
Từ tuần tuổi thứ 2, 3 có thể nuôi với mật độ 50 con/m2 đến hết giai đoạn hoặc
có thể nâng mật độ nuôi lên 70 con/m2 đến hết giai đoạn khi thời tiết mát mẻ (Lã Thị Thu Minh, 2000)
Trang 28Chăm sóc:
Luôn theo dõi tình trạng sức khỏe, mức độ hoạt động, ăn uống để xác định tình trạng sức khỏe của gà và kịp thời xử lý, khi xác định được những con bất thường phải cách ly theo dõi, xác định bệnh và điều trị
Nuôi dưỡng:
Mức độ sinh trưởng của gà phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ dinh dưỡng, để gà con sinh trưởng tốt thì cần có chế độ nuôi dưỡng tốt với chế độ dinh dưỡng thích hợp
Gà mới nở không nên cho ăn ngay mà chỉ cho uống nước, vì trong thời gian này trong phần bụng mềm gà con có chứa một lượng noãn hoàn tiếp tục cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể gà
Thức ăn gà con phải sạch tốt, đảm bảo cả về số lượng lẫn chất lượng, thành phần dinh dưỡng phải đảm bảo:
ME: 2.860-3.300 kcal/kg thức ăn
CP: 18-20 % đối với gà chuyên trứng
20-25 % đối với gà chuyên thịt
Ca/P : 1,6/1 %
Bổ sung thêm khoáng vi lượng và Vitamin dưới dạng Premix (Lã Thị Thu Minh, 2000)
Nên cho gà ăn chia làm nhiều lần trong ngày để kích thích tính thèm ăn của gà
và tránh được hiện tượng thức ăn tồn đọng lâu trong máng
Cắt mỏ gà:
Theo Bùi Xuân Mến (2007), trong chăn nuôi tập trung phải cắt mỏ gà, vì bản chất gà thường mổ lông và ăn thịt lẫn nhau khi bị các stress tác động, như thiếu chất dinh dưỡng, nhiệt độ cao, ánh sáng gắt Mặt khác, gà thường dùng
mỏ bới tìm thức ăn gây rơi vãi khoảng 5% nên ta cần cắt mỏ gà Thời điểm cắt
mỏ thích hợp ở giai đoạn 6-10 ngày tuổi, vì lúc này gà đã phát triển khá, có đủ sức đề kháng với stress khi cắt, hơn nữa lúc này gà còn nhỏ dễ thực hiện thao tác cắt
Khi cắt mỏ cần lưu ý trạng thái sức khỏe của đàn gà có bị các yếu tố stress nào khác tác động không, như chủng ngừa hoặc trời nóng nực Dụng cụ cắt mỏ phải đủ bén và đủ độ nóng để kỹ thuật cắt mỏ được hoàn hảo Để tránh gà chảy nhiều máu, có thể hòa Vitamin K (Menadione) 3-5 g/lít nước uống 2-3 ngày trước và sau khi cắt mỏ Cắt mỏ xong cần cho gà ăn ngay không hạn chế
và có thể tăng lượng protein lên một chút Thức ăn cần đổ một lớp khá dày