BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN THÚ Y NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH KHẢO SÁT NHỮNG TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH TRÊN ĐƯỜNG TIÊU HÓA CỦA
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
KHẢO SÁT NHỮNG TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH TRÊN ĐƯỜNG TIÊU HÓA CỦA CHÓ VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH XÁ THÚ Y
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ CHĂN NUÔI THÚ Y
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Cần Thơ - 2008
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT NHỮNG TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH TRÊN ĐƯỜNG TIÊU HÓA CỦA CHÓ VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH XÁ THÚ Y
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Biện Nguyễn Thị Hoàng Oanh
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT NHỮNG TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH TRÊN ĐƯỜNG TIÊU HÓA CỦA CHÓ VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH XÁ THÚ Y
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Cần Thơ, Ngày…tháng…năm 2008 Cần Thơ, Ngày…tháng…năm 2008 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN DUYỆT BỘ MÔN
Nguyễn Văn Biện
Cần Thơ, Ngày…tháng…năm 2008
DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 4TÓM LƯỢC
Trong thời gian thực hiện đề tài tại Bệnh xá Thú Y trường Đại Học Cần Thơ tôi nhận thấy bệnh ở chó rất đa dạng và phong phú trong đó phổ biến và thường gặp nhất là bệnh ở đường tiêu hóa (58,57%)
Các nguyên nhân gây bệnh ở đường tiêu hóa cũng rất đa dạng bao gồm: nguyên nhân
do vi khuẩn (Salmonella, Clostridium, Campylobacter…), nguyên nhân do virus (bệnh Carê, bệnh do Parvovirus, bệnh do Coronavirus…), nguyên nhân do ký sinh trùng
đường ruột (giun đũa, giun móc, amip, giardia…) và các nguyên nhân khác
Bằng phương pháp hỏi bệnh và khám lâm sàng là chủ yếu kết hợp với việc xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi để tìm trứng giun chúng tôi có thể sơ bộ chẩn đoán khá chính xác các bệnh ở đường tiêu hóa
Kết quả ghi nhận về bệnh đường tiêu hóa được phân thành sáu nhóm bệnh, trong đó: bệnh do vi khuẩn là 35,12%; bệnh Carê là 8,78%; bệnh do Parvovirus là 14,63%; bệnh do giun đũa là 4,4%; bệnh do giun móc là 7,8% và bệnh lỵ là 29,27%
Hiệu quả điều trị bệnh rất cao đối với các bệnh do giun đũa, giun móc, bệnh lỵ (các bệnh này có hiệu quả điều trị là 100%) Bệnh Carê và bệnh do Parvovirus có hiệu quả
điều trị không cao lắm (bệnh Carê là 61,11%, bệnh do Parvovirus là 76,67%) do đây
là những bệnh do virus gây ra.Bệnh do vi khuẩn có hiệu quả điều trị là 95,83%
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Các triệu chứng lâm sàng phổ biến quan trọng bệnh đường tiêu hoá 41
Bảng 4.2: Các triệu chứng lâm sàng bệnh đường tiêu hóa xếp vào nhóm I 42
Bảng 4.3: Các triệu chứng lâm sàng bệnh đường tiêu hóa xếp vào nhóm II 42
Bảng 4.4: Các triệu chứng lâm sàng bệnh đường tiêu hóa xếp vào nhóm III 43
Bảng 4.5: Các triệu chứng lâm sàng bệnh đường tiêu hóa xếp vào nhóm IV 44
Bảng 4.6: Các triệu chứng lâm sàng bệnh đường tiêu hóa xếp vào nhóm V 44
Bảng 4.7: Các triệu chứng lâm sàng bệnh đường tiêu hóa xếp vào nhóm VI 45
Bảng 4.8: Sơ bộ chẩn đoán chó bị bệnh đường tiêu hóa 46
Bảng 4.9: Tỉ lệ các nhóm bệnh đường tiêu hóa ở chó 46
Bảng 4.10: Hiệu quả điều trị chó bị bệnh đường tiêu hóa 47
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHCT: Đại Học Cần Thơ LVTN: Luận Văn Tốt Nghiệp NXB: Nhà Xuất Bản
TPCT: Thành Phố Cần Thơ TPHCM: Thành Phố Hồ Chí Minh TTTN: Thực Tập Tốt Nghiệp
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7MỤC LỤC
Trang
TÓM LƯỢC .i
DANH MỤC BẢNG .ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 10
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 11
2.1 Sinh lý tiêu hoá của chó 11
2.1.1 Tiêu hóa ở miệng 11
2.1.2 Tiêu hoá ở dạ dày 11
2.1.3 Tiêu hoá ở ruột non 11
2.1.4 Tiêu hoá ở ruột già 12
2.2 Một số hằng số sinh lý của chó và ý nghĩa chẩn đoán 12
2.2.1 Thân nhiệt 12
2.2.2 Tần số hô hấp 12
2.2.3 Nhịp tim 12
2.2.4 Màu sắc kết mạc 12
2.3 Sơ lược một số bệnh trên đường tiêu hóa của chó 13
2.3.1 Bệnh do Salmonella 13
2.3.2 Bệnh do Clostridium (Clostridium disease) 14
2.3.3 Bệnh do Campylobacter (Campylobacteriois) 15
2.3.4 Bệnh Carré ở chó (Canine distemper) 15
2.3.5 Bệnh do Parvovirus 19
2.3.6 Bệnh do Coronavirus (Canine Coronaviral Gastroenteritis) 25
2.3.7 Bệnh giun móc 26
2.3.8 Bệnh giun đũa (Ascaridiosis) 28
2.3.9 Bệnh do Entamoeba histolytica ( Amip ) 30
2.3.10 Bệnh lỵ do Giardia (Giardia intestinalis) 31
2.4 Một số thuốc quan trọng được sử dụng trong đề tài 33
2.4.1 Baytril 2,5% (công ty Bayer) 33
2.4.2 Septotryl 24% (Vétoquinol) 33
2.4.3 Metronidazol (CTCPDP Hà Tây) 34
2.4.4 Exotral (Virbac) 34
2.4.5 Bio – Dexa 35
2.4.6 Atropin sulfate (Vemedim) 35
2.4.7 Vitamin C 35
2.4.8 Glucose 5% 35
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 82.4.9 Lactate ringer 36
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 37
3.1 Phương tiện thí nghiệm 37
3.1.1 Thời gian thí nghiệm 37
3.1.2 Địa điểm thí nghiệm 37
3.1.3 Đối tượng thí nghiệm 37
3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm 37
3.1.5 Các thuốc sát trùng và thuốc dùng trong chẩn đoán và điều trị 37
3.2 Phương pháp thí nghiệm 37
3.2.1 Lấy thông tin về con vật 37
3.2.2 Chẩn đoán lâm sàng 38
3.2.3 Chẩn đoán cận lâm sàng (Chẩn đoán phòng thí nghiệm) 39
3.2.4 Phân loại bệnh 39
3.2.5 Phương pháp điều trị bệnh 39
3.2.6 Theo dõi kết quả điều trị 40
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Tình hình bệnh ở chó tại Bệnh Xá Thú Y Trường Đại Học Cần Thơ 41
4.2 Khảo sát một số triệu chứng lâm sàng của chó bị bệnh đường tiêu hóa 41
4.3 Sơ bộ chẩn đoán 45
4.4 Hiệu quả điều trị 47
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
PHỤ CHƯƠNG… 43
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Chó là loài động vật đầu tiên được con người thuần hoá và nuôi dưỡng, là loài vật rất
có ích cho đời sống con người Chó có thể nuôi làm chó săn, chó thể thao, chó nghiệp
vụ của cảnh sát, ở nông thôn người ta nuôi chó để giữ nhà, bắt chuột Đặc biệt, ngày nay do đời sống con người được nâng cao nên nhu cầu nuôi chó ngày càng nhiều Họ nuôi chó và chăm sóc chúng như những thành viên trong gia đình, vì vậy khi chó bệnh thì chúng cũng cần được khám và chữa bệnh
Qua tìm hiểu, hiện nay chó mắc nhiều loại bệnh, trong đó phổ biến nhất là bệnh đường tiêu hóa không những gây nhiều thiệt hại mà còn có tỉ lệ chết cao Để góp phần tìm hiểu rõ hơn về các bệnh ở đường tiêu hóa xảy ra trên chó cùng với sự đồng ý của Bộ Môn Thú y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ và
sự giúp đỡ của Bệnh Xá Thú Y trường Đại Học Cần Thơ đã tạo nhiều điều kiện thuận
lợi để tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát những triệu chứng lâm sàng bệnh đường tiêu
hóa của chó và kết quả điều trị tại Bệnh Xá Thú Y trường Đại Học Cần Thơ”
Đề tài thực hiện với mục đích: Khảo sát những triệu chứng lâm sàng của chó bị bệnh đường tiêu hoá Ghi nhận kết quả chẩn đoán, phương pháp điều trị và kết quả điều trị những ca chó bị bệnh đường tiêu hoá
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Sinh lý tiêu hoá của chó
2.1.1 Tiêu hóa ở miệng
Chó dùng mồm và lưỡi để lấy thức ăn, nếu là thức ăn thịt khối thì chó dùng răng nanh
để xé Các loại thức ăn vào xoang miệng được nhai sơ bộ, có nước bọt làm ướt, chuyển xuống dạ dày theo thực quản Nước bọt có các muối vô cơ, chất hữu cơ, các men tiêu hoá (enzyme) như amylase thuỷ phân tinh bột (Phạm Ngọc Thạch, 2006)
2.1.2 Tiêu hoá ở dạ dày
Ở dạ dày thức ăn được tiêu hóa bằng hai quá trình cơ học và hóa học Tiêu hóa hóa học chủ yếu bằng tác động của dịch vị Dịch vị có các chất vô cơ HCl (axit chlohyric), các chất hữu cơ, chất nhày mucine, nguyên men pepsinogen, men Chymosin (hay Presur hay Rennin), men Lipase
Pepsinogen nhờ có HCl xúc tác biến thành Pepsin hoạt động, phân huỷ các chất protid của thức ăn thành polipeptid Prezura thường thấy ở dạ dày con vật còn đang bú sữa,
có tác dụng tiêu hoá đạm của sữa Lipase phân huỷ những hạt mỡ đã nhũ tương hoá thành Glycerol và axit béo HCl có tác dụng biến pepsinogen thành pepsin hoạt động, ngăn thức ăn khỏi lên men thối trong dạ dày, điều khiển sự đóng mở van hạ vị, gián tiếp kích thích tuỵ tạng tiết dịch tụy
Kết quả thức ăn vào dạ dày chó biến thành chất nhuyễn gọi là dưỡng chất Dưỡng chất gồm có những chất bột đã chín tiêu hoá dở tiếp tục tiêu hoá ở dạ dày thành đường Maltose Chất Protid vào dạ dày được thuỷ phân thành Polypeptid và một số acid amin Cũng ở dạ dày một số rất ít Lipid được tiêu hoá (Phạm Ngọc Thạch, 2006)
2.1.3 Tiêu hoá ở ruột non
Niêm mạc ruột non có hai loại tuyến có nhiệm vụ tiết dịch ruột: tuyến Brune (Brunner) và tuyến Libeckun (Lieberkuhn)
Dịch ruột mang tính kiềm (pH= 7,4 – 7,7) gồm có các chất vô cơ và các chất hữu cơ (chất nhày, men maltase, lactase, saccharase, amylase,…)
Tham gia tiêu hoá ở ruột non có gan và tuỵ tạng Tuỵ tạng tiết dịch tuỵ gồm các chất
vô cơ và hữu cơ như: amylapsin, nguyên men Trypsinogen, men Lipase và men maltase Gan tiết mật tiêu hoá mỡ, mật trung hoà dưỡng chất để men Trypsin hoạt động, mật sát trùng chống lên men thối, làm tăng nhu động ruột Gan còn có nhiệm vụ phân huỷ và tổng hợp chất đường, tổng hợp Ure, giải độc, tiêu huỷ hay dự trữ mỡ, sản xuất fibrinogen làm đông máu và heparin chống đông máu trong quá trình tuần hoàn, sản xuất và tiêu huỷ hồng cầu, dự trữ sắt, biến caroten thành vitamin A (Phạm Ngọc Thạch, 2006)
Kết quả tiêu hoá ở ruột
Protid: Được tiêu hoá theo quá trình phân giải của men Trypsin Nguyên men
Trypsinogen ở tuỵ mới tiết ra chưa hoạt động, nhờ có men Enterokinase do ruột tiết ra tác động mới biến thành Trypsin hoạt động phân giải protid thành polipeptid và tiếp
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12tục biến các polipeptid thành các acid amin Ngoài ra Erepsin cũng biến polipeptid thành các acid amin
Tiêu hoá Glucid: Men amylopsin biến tinh bột sống và chín thành Maltose, biến
Maltose thành Glucose; Lactase biến Lactose thành Glucose và Galactose; Saccharase biến Saccharose thành Glucose và Levulose
Tiêu hoá Lipid: Men Lipase hoạt động rất mạnh nhờ tác dụng của muối mật, nhũ
tương hoá chất mỡ rồi biến thành Glycerol và axit béo (Phạm Ngọc Thạch, 2006)
2.1.4 Tiêu hoá ở ruột già
Những chất còn lại chưa tiêu hoá hết ở ruột non bị tống xuống ruột già, tiếp tục tiêu hoá nhờ các men từ ruột non cùng chuyển xuống Ở ruột già có sự lên men thối và sinh ra chất độc, ở đây còn có quá trình tái hấp thu nước và muối khoáng nên phân thường rắn và tạo khuôn thải ra ngoài
Phân gồm những chất cặn bã của quá trình tiêu hoá thức ăn, các biểu mô của niêm mạc bong ra, các muối và vi sinh vật,… (Phạm Ngọc Thạch, 2006)
2.2 Một số hằng số sinh lý của chó và ý nghĩa chẩn đoán
Tần số hô hấp là số lần thở ra hít vào trong 1 phút
Tần số hô hấp sinh lý của chó là 10 - 30 nhịp/phút (Hứa Văn Chung và Nguyễn Thị Kim Đông, 2004)
Ý nghĩa chẩn đoán: Tần số hô hấp tăng: có thể do bị rượt đuổi, nhiệt độ nóng của môi trường, trở ngại đường hô hấp, do bệnh ở phổi, các nguyên nhân gây sốt, thiếu máu Tần số hô hấp giảm: xảy ra ở gia súc trúng độc, gia súc bị suy kiệt (Lê Quang Long, 1997)
Màu sắc kết mạc sinh lý: có màu hồng nhạt
Ý nghĩa chẩn đoán: Khám niêm mạc ngoài việc biết được niêm mạc có bệnh gì còn có thể biết được tình trạng chung của cơ thể, tuần hoàn và thành phần máu, trao đổi khí
CO2 ở phổi qua sự thay đổi của niêm mạc (Hồ Văn Nam, 1982)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 132.3 Sơ lược một số bệnh trên đường tiêu hóa của chó
* Bệnh do vi khuẩn:
Các vi khuẩn gây viêm ruột như: Salmonella, E Coli, Clostridium,… Những vi khuẩn này phát triển trong niêm mạc đường tiêu hóa gây ra bệnh Bệnh lây lan trực tiếp từ chó bệnh sang chó khỏe Các vi khuẩn cư trú ở đường tiêu hóa tăng nhanh số lượng, chúng tiết ra các men và độc tố gây viêm, phá hoại niêm mạc đường tiêu hóa, kích thích tăng co bóp làm chó nôn mửa, tiêu chảy (Nguyễn Văn Biện, 2001)
2.3.1 Bệnh do Salmonella
Nguyên nhân
Do vi khuẩn thuộc giống Salmonella, Gram âm, họ Enterobacteriaceae gây ra Chó bị nhiễm khi ăn phải thức ăn có Salmonella hay tiếp xúc trực tiếp với con bệnh Thỉnh thoảng có thể phân lập từ ruột già hay hạch màng ruột ở những chó có mang trùng nhưng không thể hiện triệu chứng bệnh Bệnh phát triển tùy thuộc vào dòng vi khuẩn, tuổi gia súc và những nhân tố tác động phụ khác (Nguyễn Văn Biện, 2001)
Cơ chế sinh bệnh
Vi khuẩn Salmonella tồn tại sẵn trong dạ dày của nhiều loài động vật, đặc biệt là động vật ăn thịt như chó và mèo, làm pH giảm thấp để tăng trưởng ở xa ruột non và kết tràng Tại đó vi khuẩn kích thích tế bào và phá vỡ niêm mạc Salmonella có thể bị cản trở tăng sinh do sự cạnh tranh từ hệ vi sinh vật bình thường trong tế bào niêm mạc ruột và do sự biến dưỡng làm sản sinh các acid bay hơi của hệ vi sinh Salmonella tấn công gây bệnh đường ruột và biểu hiện triệu chứng lâm sàng Lớp màng nhày ruột tiết dịch kết dính vi khuẩn làm vi khuẩn kích thích tiết độc tố trung gian của vi khuẩn bào mòn vi nhung mao của đỉnh tế bào ruột Niêm mạc ruột thoái hóa, làm cho các lông nhung ngắn lại và kế tiếp là viêm lớp màng mỏng niêm mạc ruột và những kẻ hở của
mô lỏng lẻo dẫn đến bộc phát bệnh Sự tổng hợp Prostaglandin cục bộ tại chỗ viêm kích thích sự tăng tiết ở các tế bào hốc kết hợp với sự tích lũy chất dịch trong lòng ruột Khi đó Salmonella phá vỡ hàng rào niêm mạc và xâm nhập bên dưới mô, làm nhiễm trùng máu cùng với sự sao chép xảy ra trong tế bào của hệ lưới nội mô trong gan, lách và hạch lâm ba Kết quả là nội độc tố được sản sinh làm con vật bị sốt và gây tổn thương mạch máu (Quin et al., 1997)
Triệu chứng
Salmonella không gây bệnh phổ biến ở chó Nhưng khi bệnh thì có thể thấy các dạng như tiêu chảy cấp tính và kéo dài, hoặc nhiễm trùng huyết đặc trưng bởi bỏ ăn, sốt, ói mửa, suy nhược trầm trọng và chết Thường thấy nhất ở chó sơ sinh và những chó đã già hoặc bệnh xảy ra sau khi con vật mới vừa bệnh viêm dạ dày ruột (Nguyễn Văn Biện, 2001)
Trang 14Cephalosporin với liều 20 – 40 mg/kg thể trọng, ngày uống 2 – 3 lần
Khi con vật bị tiêu chảy và ói thì có thể truyền dịch
Cho ăn khẩu phần dễ tiêu (Nguyễn Văn Biện, 2001)
2.3.2 Bệnh do Clostridium (Clostridium disease)
Nguyên nhân
Clostridium spp có thể được phân lập từ những chó không bệnh Nhưng, C perfringens và C difficile có thể gây ra bệnh trầm trọng ở chó (Nguyễn Văn Biện, 2001)
Dùng kháng sinh có hoạt tính chống vi khuẩn yếm khí như:
Chloramphenicol với liều 50mg/kg thể trọng uống, tiêm thịt, tiêm mạch hay tiêm dưới
da ngày 2 lần
Cephalosporin với liều 20 – 40mg/kg thể trọng ngày uống 2 - 3 lần
Penicillin V với liều 10mg/kg thể trọng, ngày uống 3 lần
Metronidazole rất hiệu quả cho C difficile với liều 25 – 65mg/kg thể trọng, uống ngày
Trang 15Erythromycin với liều 10 – 20mg/kg thể trọng, uống ngày 3 lần
Cephalosporin với liều 20 – 40mg/kg thể trọng, ngày uống 2 – 3 lần
Gentamicin với liều 2mg/kg thể trọng, tiêm thịt hoặc tiêm dưới da ngày 3 lần (Nguyễn Văn Biện, 2001)
* Bệnh do virus:
2.3.4 Bệnh Carré ở chó (Canine distemper)
Tất cả các giống chó đều cảm thụ nhưng mẫn cảm nhất là chó Berger, chó săn, chó bản xứ thì ít mắc Trong tự nhiên bệnh xảy ra hầu hết ở chó từ 1 – 12 tháng tuổi, nhiều nhất là chó từ 3 – 6 tháng tuổi vì ở lứa tuổi này kháng thể chống lại mầm bệnh nhận được từ chó mẹ không còn đủ bảo vệ, những con chó bị mắc bệnh còn sống sót sẽ được miễn dịch đến khi trưởng thành, chó đang bú mẹ ít khi mắc bệnh (H Thompson , 1998)
Bệnh Carê là bệnh truyền nhiễm phổ biến, gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng cho việc nuôi chó ở hầu hết các nước Ở nước ta, bệnh Carê cũng đã được phát hiện ở các giống chó nội, Berger, Nhật xù và Fok Bệnh làm chết nhiều chó nghiệp vụ và chó cảnh ở các thành phố, đặc biệt là chó dưới một năm tuổi (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006) Chó bệnh thể hiện: hội chứng thần kinh, viêm phổi cấp, viêm xuất huyết niêm mạc đường tiêu hoá và thường chết trong thời gian 3 - 7 ngày (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16Nguyên nhân
Bệnh do virus thuộc họ Paramyxoviridae giống Mobillivirus gây ra Mầm bệnh được thải ra qua dịch tiết mắt, mũi, nước bọt, nước tiểu Virus xâm nhập vào chó khác qua đường hô hấp, tiêu hóa, da
Chó ở các lứa tuổi đều có thể mắc bệnh Carê Nhưng chó ở 2 - 3 thàng tuổi bị bệnh nặng và chết với tỉ lệ cao (90 - 100%) Bệnh lây lan trực tiếp từ chó bệnh sang chó khỏe do tiếp xúc hoặc gián tiếp do người đã vô tình truyền virus từ chó bệnh sang chó khỏe khi chăm sóc chó Virus có thể lây nhiễm sang chồn, cáo non
Ở nước ta, bệnh Carê xảy ra quanh năm Nhưng dịch thường xảy ra dữ dội vào mùa đông và mùa xuân (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006)
tế bào biểu mô
Nếu kháng thể trung hòa được tổng hợp trong 10 ngày sau khi cảm nhiễm biểu hiện lâm sàng sẽ không rõ ràng và virus sẽ ít phát tán trong các cơ quan của thú
Nếu không có kháng thể virus sẽ tấn công tới tất cả các cơ quan, nhất là não, tạo biểu hiện lâm sàng và gây chết
Khi virus tấn công sức đề kháng của cơ thể giảm tạo điều kiện cho những vi khuẩn đường hô hấp và tiêu hóa tấn công
Triệu chứng bệnh
Hầu hết chó mắc bệnh ở thể cấp tính với các triệu chứng điển hình:
Buồn bã, biếng ăn và sốt(39,40C – 400C (1030F – 1040F)) có thể báo trước sự bắt đầu của bệnh, kết thúc của bệnh Nhiều chó có thể chắc chắn phục hồi ở giai đoạn này (H Thompson, 1998)
Hình 2.1: Niêm mạc mắt bị viêm, chảy ghèn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17Các niêm mạc đều bị viêm tấy, mắt chó bị sưng húp, chảy nước mắt và dữ mắt liên tục, mũi chó có mủ xanh và dịch nhầy Chó thở khó khăn, nghe có tiềng khò khè và rên rỉ do viêm phổi cấp có mủ (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006)
Nôn có thể là một dấu hiệu sớm Tuy nhiên tiêu chảy là chung hơn, phân tiêu chảy thường vàng và có thể có máu Mặc dù tiêu chảy không đe dọa sự sống nhưng nó sẽ khó trị (H Thompson, 1998)
Chó bị viêm niêm mạc đường tiêu hoá, thể hiện nôn mửa liên tục, tiêu chảy có lẫn máu và niêm mạc nhầy Hội chứng viêm ruột làm cho chó kiệt sức và chết nhanh vì mất nước, mất máu và rối loạn chất điện giải (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006)
Sừng hóa gan bàn chân là một điều chắc chắn sau 3 tuần bị bệnh Đầu tiên gan bàn chân có thể mềm, sau đó chúng trở nên nhẵn và bóng loáng, nén chặt hai bên và có cạnh rõ ràng Bệnh tiến triển gan bàn chân trở nên rất dày và cứng như gỗ (H Thompson, 1998)
Hình 2.2: Sừng hóa gan bàn chân (www.anova.com.vn/image_taitieu/car6.jpg)
Đi đứng thất thường và bại có thể xuất hiện rời rạc hoặc phối hợp (khoảng 50% trường hợp) Động kinh phát triển trong vòng 4 đến 8 tuần bệnh Trước thời gian đó chó có thể trải qua giai đoạn bồn chồn và rên rỉ, kêu la, điều này có thể liên tục từ tối đến sáng Sự co cứng của một cơ hoặc một nhóm cơ là dấu hiệu của sài sốt chó con Ảnh hưởng chung là đầu hoặc chân Co giật có khả năng tồn tại vĩnh viễn cho đến khi con vật chết (H Thompson, 1998)
Trên mặt da bụng, bẹn, nách của chó thường có những nốt mụn mủ như bột ngô và vỡ loét ra
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18Hình 2.3: Chó nổi mụn mủ da bụng Bệnh xảy ra phổ biến và giết hại chó non từ 2 - 6 tháng tuổi Chó trưởng thành trên một năm tuổi ít thấy mắc bệnh Một số chó sau khi điều trị khỏi bệnh thường có di chứng thần kinh như: đi choãi chân, run rẩy khi đi lại … (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006) Bệnh tích
Mổ khám chó bệnh thấy: các niêm mạc đường hô hấp xung huyết và xuất huyết, não
bị xung huyết, phổi sưng, bên trong có mủ lẫn máu và dịch nhày, niêm mạc dạ dày và ruột bị xuất huyết, tróc ra từng mảng niêm mạc (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006)
Điều trị
Hiện chưa có thuốc đặc hiệu điều trị bệnh
Việc điều trị chỉ làm giới hạn các bệnh do phụ nhiễm đồng thời cung cấp chất điện giải và kiểm soát những biểu hiện thần kinh
Truyền dịch: Lactate ringer, Glucose 5%, Dextrose
Kháng sinh chống viêm nhiễm trùng thứ phát:
Trimethoprim – sulfamethoxazone: 15 – 30mg/kg thể trọng, cho uống hoặc tiêm dưới
da ngày 2 lần
Streptomycine: 5 – 10mg/kg thể trọng, ngày 2 lần, tiêm thịt hay tiêm dưới da
Gentamicine: 2mg/kg thể trọng, ngày 2 lần, dung tối đa 5 ngày
Kanamycine: 10 – 20mg/kg thể trọng, ngày 4 lần cho uống hoặc 5 – 7mg/kg thể trọng ngày 2 lần tiêm thịt hoặc tiêm dưới da
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19Người ta cũng điều trị bệnh bằng kháng huyết thanh Carê giai đoạn đầu, nhưng đắt tiền và hiệu lực chưa cao (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006)
Phòng bệnh
Phòng bệnh bằng vaccin
Chó từ 50 - 60 ngày tuổi trở lên phải tiêm vaccin phòng bệnh
Hiện nay, một loại vaccin đa giá phòng: bệnh Carê, bệnh viêm gan virus, bệnh do Parvovirrus và bệnh Lepto do hãng Merial sản xuất được nhập vào nước ta để tiêm phòng cho chó cảnh và chó nghiệp vụ
Hai loại vaccin mới nhập từ CH Tchec là:
Biocan DHHi phòng 5 bệnh truyền nhiễm ở chó: bệnh Carê, bệnh viêm phổi do Adenovirus, bệnh viêm gan virus, bệnh do Parvovirus, bệnh cúm do virus
Biocan Puppy phòng 2 bệnh: bệnh Carrê và bệnh do Parvovirrus đã được sử dụng có hiệu quả cho chó nghiệp vụ
Sau khi tiêm 15 ngày, chó có miễn dịch kéo dài 12 tháng với các bệnh trên Tuy nhiên, vaccin trên chưa được sử dụng rộng rãi cho chó nội vì giá thành cao
2.3.5 Bệnh do Parvovirus
Theo Phạm Sỹ Lăng et al., (2006), vai trò của bệnh do Parvovirus trong bệnh tiêu chảy truyền nhiễm ở chó đã được nghiên cứu cách đây gần 20 năm qua ở Hungari những nghiên cứu về bệnh tiêu chảy này ở chó đã đạt được nhiều thành tựu ở các nước Châu Âu và Bắc Mỹ Tiêu chảy truyền nhiễm do virus là một bệnh phổ biến, rất nguy hiểm, gây chết hàng loạt chó con Ở chó trưởng thành, thông thường bệnh ít gây tác hại, nhưng đó là nguồn dịch nguy hiểm trong tự nhiên Ở nước ta, bệnh do Parvovirus ở chó mới chỉ biết đến từ những năm 90 của thế kỉ 20, đã gây nhiều tác hại cho chó cảnh ở các thành phố lớn như: Hà Nội, thành Phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng… Nguyên nhân
Có 2 chủng Parvovirus gây bệnh tiêu chảy có máu trên chó Chủng Parvovirus-1 (CPV-1) là chủng virus chỉ gây bệnh trên chó lúc còn sơ sinh, tỉ lệ gây chết không cao
và không phổ biến Chủng Parvovirus-2 (CPV-2) là nguyên nhân chính gây viêm ruột
do Parvovirus trên chó Ngày nay đã phát hiện được chủng PCV-2a và chủng PCV-2b đều có khả năng gây bệnh trên chó (Waner, 2000)
Parvovirus là nhóm virus có kích thước nhỏ (parvus nghĩa là nhỏ), gây bệnh nhiều loài thú (chó, mèo, chuột, lợn , trâu, bò) Parvovirus ở mỗi loài động vật khác nhau có
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20kháng nguyên khác nhau Chúng có kích thước 18 - 24nm nhân chứa AND một sợi, capxit có 32 capsomer Virus nhân lên và phát triển trong tế bào vật chủ Virus có sức
đề kháng cao ở nhiệt độ lạnh (0oC)trong môi trường tự nhiên, có thể tồn tại 1 - 2 tuần
ở nhiệt độ 15 - 25 0C và phát triển tốt trên môi trường thận chó, thận khỉ, chúng gây bệnh tích tế bào nên người ta thường phân lập virus từ nuôi cấy trên các môi trường này (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006)
Dịch tễ học
Tuy bệnh tiêu chảy có máu do Parvovirus gây nên nhưng chủng CPV-2 là yếu tố chính gây ra các bệnh nặng và làm tổn thất đàn nhiều nhất Nguyên nhân do khả năng tồn tại của chủng virus này trong môi trường cũng như khả năng phát tán virus trong phân CPV-2 có thể tồn tại trong môi trường tự nhiên trong thời gian 1 năm nếu gặp điều kiện thuận lợi và số lượng các mảnh virus được bài thải trong phân có thể lên đến hàng trăm tỉ mảnh kể từ khi chó mắc bệnh cho đến khi chó hết bệnh và khoảng 6 tháng sau khi hết bệnh Sự phát tán chủ động của virus kéo dài không quá 2 tuần sau khi hết bệnh nhưng sau khoảng thời gian đó chó lành bệnh vẫn là con vật mang trùng giúp phát tán mầm bệnh ra ngoài môi trường CPV-2 sinh sản chủ yếu trong các tế bào phân chia nhanh chóng và đây là nguyên nhân virus phá hủy các mô bạch huyết, cơ tim của chó con nhỏ hơn 3 tuần tuổi và trong tế bào hốc ruột (tế bào crypt) của chó ở mọi lứa tuổi (McCandlish, 1991)
Từ 1981, sự xuất hiện và lây lan của CPV-2 được thống kê dịch tể ở hầu hết các quốc gia Hầu hết các chó lớn ngày nay đã có cơ hội tiếp xúc với mầm bệnh tự nhiên trong môi trường hay đã được tiêm ngừa vaccine Ngày nay các ca bệnh viêm cơ tim do Parvovirus rất ít khi xảy ra và chỉ xuất hiện trên những chó sơ sinh sống tách biệt với chó mẹ, không nhận được miễn dịch qua sữa đầu của chó mẹ hoặc do chó mẹ không
có miễn dịch trong thời gian sinh con (McCandlish, 1991)
Viêm ruột là thể chính của bệnh tiêu chảy có máu do Parvovirus và xuất hiện phổ biến trên chó ở độ tuổi từ 6 tuần cho đến 6 tháng tuổi Tuy nhiên đối với chó chưa được tiêm phòng thì vẫn có khả năng mắc bệnh cho đến 12 tháng tuổi và lớn hơn thế (Breathnach, 1997)
Loài vật mắc bệnh: Trong môi trường tự nhiên, các loài thú thuộc họ chó đều cảm nhiễm (McCandlish, 1991)
Tất cả các giống chó đều mẫn cảm với mầm bệnh trong đó mẫn cảm nhất là đối với chó trên 2 tháng tuổi vì lúc này kháng thể do mẹ truyền sang qua sữa đầu bắt đầu giảm dần (Uno, 1999)
Mùa dễ mắc bệnh đối với bệnh tiêu chảy có máu do Parvovirus trên chó là vào những lúc giao mùa Nguyên nhân là do vào lúc giao mùa, nhiệt độ môi trường thay đổi đột ngột khiến cho sức đề kháng cơ thể giảm sút và đây là cơ hội cho mầm bệnh xâm nhập, phát triển, gây bệnh hoặc khiến cho mầm bệnh có sẵn trong cơ thể bùng phát thành bệnh (Carter, 2005)
Cơ chế phát sinh bệnh
Virus xâm nhập vào cơ thể con vật qua đường tiêu hóa khi con vật tiếp xúc hay liếm vào các chất chứa mầm bệnh Trước tiên virus khu trú tại hạch amidal, tuyến ức, tại đây virus nhân lên nhanh chóng và sau đó xâm nhập vào trong máu Trong vòng vài
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21ngày, virus sẽ phát tán đến các cơ quan khác nhau trong cơ thể và lại tiếp tục phân chia tế bào nhanh chóng (Neil, 1997)
Do Parvovirus ưa thích các tế bào phân chia nhanh chóng giống như tế bào ung thư nên khi vào cơ thể, virus sẽ tấn công vào các tế bào hốc ruột (tế bào crypt), tủy xương
và hệ thống miễn dịch vì đây là nơi các tế bào phân chia nhanh Vì vậy sẽ làm hoại tử niêm mạc ruột, phá vỡ các mạch máu sâu bên trong niêm mạc ruột gây xuất huyết ồ ạt gây tiêu chảy máu và làm mất máu nghiêm trọng, bên cạnh đó tủy xương cũng bị phá hủy nên không tạo đủ hồng cầu và bạch cầu, hệ thống miễn dịch trở nên suy yếu, con vật thiếu máu, suy kiệt nhanh chóng (Waner, 2000)
Khi virus vào máu sẽ tiết độc tố gây nhiễm trùng máu và là nguyên nhân gây chết chủ yếu ở chó Ngoài ra, khi cơ thể con vật bắt đầu suy yếu thì đây chính là cơ hội để các
vi khuẩn bội nhiễm thứ phát bùng phát và gây bệnh cho chó, khiến bệnh trở nên trầm trọng hơn và khó điều trị có hiệu quả cao (Uno, 1999)
Triệu chứng và bệnh tích
Bệnh do parvovirus có thể chia thành 3 dạng chính dưới đây:
Dạng đường ruột: gặp phổ biến ở chó 6 tuần đến 1 năm
Thời gian ủ bệnh ngắn từ 1 - 2 ngày
Lúc đầu chó sốt nhẹ: 39 - 39,50C cơn sốt kéo dài 1 - 2 ngày, chó mệt, ăn kém hoặc bỏ
ăn, uống nước nhiều, nôn mửa liên tục
Hình 2.4: Chó nôn mửa liên tục (vietpet.com/vp/files/parvo01_284.jpg)
Sau đó chó mệt lả, vì tiêu chảy liên tục và rất nặng Phân loãng dần, có nhiều máu đỏ nâu, màu hồng, có lẫn niêm mạc ruột lầy nhầy và có mùi tanh khẳm đặc trưng Khi tiêu chảy cũng là lúc chó hạ nhiệt dưới mức bình thường (370C)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22Hình 2.5: Chó mệt lả vì tiêu chảy máu liên tục Hình 2.6: Chó tiêu chảy toàn máu tanh
Chó gầy sút rất nhanh vì mất nước và mất máu
Tổn thương chủ yếu ở tá tràng, không tràng, có khi ở cả manh tràng, rất ít khi có ở dạ dày, vì vậy gọi bệnh này là viêm ruột cấp do Parvovirus
Khi mổ khám chỗ bệnh, ta thấy ruột bị xuất huyết nặng, có khi thành vệt dài, thường niêm mạc ruột bị bong ra, chỗ ít bị tổn thương có các sợi Fibrin mỏng Hạch lâm ba ruột bị viêm tụ máu nặng (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006)
Hình 2.7: Ruột bị xuất huyết trong bệnh do Parvovirus
(vietpet.com/vp/files/parvo01_284.jpg)
Dạng tim: Thường thấy ở chó 4 - 8 tuần tuổi
Biểu hiện chủ yếu là suy tim, thường thấy ở chó non (4 - 8 tuần tuổi), đặc biệt là ở chó con mà chó mẹ không được miễn dịch
Biểu hiện chính là chó thiếu máu nặng, niêm mạc nhợt nhạt hay thâm tím
Gan sưng, túi mật sưng , tim nhợt nhạt, nhão
Lớp mỡ vành và cơ tim, tim có xuất huyết và các biểu hiện ở ruột không rõ ràng, chó chết rất nhanh, từ 1 - 2 ngày (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23Đối với chó con có mẹ được tiêm phòng vaccine đầy đủ hoặc có kháng thể truyền qua sữa đầu có thể phòng được bệnh này (Breathnach, 1997)
Dạng kết hợp tim- ruột: Thường thấy ở chó từ 6 - 16 tuần tuổi
Trường hợp này chó chết rất nhanh, chó tiêu chảy nặng, mạch yếu và lặn, thiếu máu chỉ sau 24 giờ, chó chết, tỉ lệ chết 100% (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006)
Tuy nhiên bệnh này ít xảy ra và ít được ghi nhận lại do chết cấp tính không rõ nguyên nhân và triệu chứng (Glasgow, 2001)
Chẩn đoán
Chẩn đoán lâm sàng
Thường dựa vào các triệu chứng lâm sàng đặc trưng sau (McCandlish, 1991)
Lứa tuổi dễ nhiễm: 2 – 6 tháng tuổi
Sốt (thường khoảng 1030F tương đương 39,50C)
Ủ rủ, ăn ít hoặc bỏ ăn hoàn toàn
Tiêu chảy phân lỏng có máu đỏ tươi, có thể có lẫn màng nhày
Phân có mùi tanh khẳm đặc trưng
Niêm mạc mắt và miệng nhợt nhạt
Bệnh tiến triển nhanh, con vật suy kiệt, mất nước trầm trọng
Hình 2.8: Niêm mạc nhợt nhạt (vietpet.com/vp/files/parvo01_284.jpg)
Chẩn đoán phân biệt trên lâm sàng
Rất khó phân biệt giữa bệnh Carê và bệnh do Parvovirus, bởi vì cả hai bệnh đều xảy ra
ở chó con và tiêu chảy ra máu Theo kinh nghiệm của các thầy thuốc thú y ở Hà Nội,
có thể phân biệt bệnh Carê và bệnh do Parvovirus như sau:
Trong bệnh Carê thường phân có màu cà phê, còn ở bệnh do Parvovirus phân có màu hồng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24Bệnh carê có dấu hiệu thần kinh và sài ở da (mụn loét ngoài da), còn tiêu chảy do Parvovirus thì không có (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006)
sẽ có phản ứng trung hoà, ngưng kết giữa kháng nguyên và kháng thể có trong huyết thanh chó (Phạm Sỹ Lăng et al., 2006)
Điều trị triệu chứng để làm giảm tình trạng bệnh
Sử dụng kháng sinh để chống bội nhiễm do vi khuẩn
Phác đồ điều trị bệnh
Nâng cao thể trạng: truyền huyết thanh mặn, ngọt vào tĩnh mạch với liều: 250ml/5kg thể trọng chó/ngày, tiêm cafein phối hợp với vitamin B1, vitamin C
200-Nếu không truyền sinh lý mặn ngọt thì cho chó uống dung dịch Orezol (2,5%)
Điều trị triệu chứng: tiêm Dimedron hoặc Atropin chống nôn và giảm co thắt ruột Tiêm vitamin K và vitamin C để chống chảy máu.Cho uống tanin để làm se niêm mạc ruột, giảm số lần tiêu chảy, rửa ruột bằng dung dịch nước sinh lý (pha 1g Kanamycin với 500ml dung dịch để rửa ruột), thải chất độc trong ruột chó (qua trực tràng)
Sử dụng kháng sinh chống bội nhiễm vi khuẩn: Phối hợp tiêm Kanamycin với liều 30mg/kg thể trọng chó và cho uống Bisepton với liều 50mg/kg thể trọng chó Thuốc
sử dụng liên tục 3 - 5 ngày
Hộ lý: chó phải được nằm nơi khô ráo, sạch, ấm áp Cho chó ăn cháo loãng, nhạt để giảm nôn Khi chó hết nôn mới cho ăn bình thường Ở Hungari, Bungari chó bị bệnh điều trị tốt, tỉ lệ khỏi bệnh khoảng 70%
Trang 25Vaccine tứ liên phòng 4 bệnh: bệnh Carê, bệnh do Parvovirrus và bệnh viêm gan chó, bệnh xoắn trùng (leptospirosis) Đây là vaccin gồm 3 loại virus nhược độc và vaccin chết phòng bệnh xoắn trùng Vaccine ngũ tiêm phòng 3 bệnh
Cần lưu ý: Vaccine này phòng bệnh do Parvovirus có hiệu lực trung bình
Thực hiện vệ sinh thú y:
Giữ gìn thức ăn, nước uống và nơi ở của chó luôn sạch sẽ
Phát hiện sớm bệnh để cách ly điều trị kịp thời
Nuôi dưỡng, chăm sóc tốt chó để nâng cao sức đề kháng với bệnh
2.3.6 Bệnh do Coronavirus (Canine Coronaviral Gastroenteritis)
Theo Nguyễn Văn Biện (2001), đây là một bệnh có đặc tính truyền nhiễm rất mạnh ở chó trong bất kỳ lứa tuổi nào với triệu chứng nổi bật là ói mửa và tiêu chảy Chỉ có chó, cáo và coyote là thấy nhiễm bệnh Virus mặc dù có thể sinh sản trong cơ thể mèo nhưng không thấy gây bệnh cho mèo Hiện nay bệnh có thể đã phát triển rộng rãi khắp thế giới
Nguyên nhân
Bệnh gây ra do Canine Coronavirus
Bệnh truyền đi do chó ăn phải những vật chất có chứa phân chó bệnh hoặc phân của những loài ăn thịt khác bị nhiễm bệnh Đây là con đường lây lan chính Chó gây nhiễm thực nghiệm thường thải virus qua phân trong vòng 2 tuần
Triệu chứng
Thời gian nung bệnh từ 24 đến 36 giờ
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus tấn công vào các tế bào niêm mạc của vi nhung ruột non Sau đó virus nhiễm vào máu rồi nhiễm đến các nội quan khác
Những triệu chứng nói chung giống như bệnh do Parvovirus nhưng nhẹ hơn Bệnh thường xảy ra thình lình với các triệu chứng như bỏ ăn, tiêu chảy, ói và suy sụp
Phân chó bệnh thì lỏng có thể có máu hoặc chất nhày và đặc biệt có mùi hôi thối khó chịu
Việc phân lập virus sẽ khẳng định được mầm bệnh
Có thể xét nghiệm về bệnh lý vi thể của ruột non
Phòng trị
Không có phương pháp nào là đặc hiệu để trị bệnh này
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26Để xử lý những trường hợp bệnh người ta truyền dịch lactate ringer với dextrose 3 – 5% và dùng kháng sinh trị nhiễm trùng thứ phát giống như bệnh do Parvovirus, kèm thêm atropine để giới hạn sự co thắt ruột
* Bệnh do ký sinh trùng đường ruột:
- 4 tháng tuổi bị bệnh giun móc thường chết 50 - 80%
Bệnh giun móc đã được phát hiện hầu hết ở các tỉnh từ miền Bắc đến miền Nam nước
ta Các giống chó nội, Berger, chó xù Nhật… đều bị nhiễm giun móc Chó nghiệp vụ
và chó cảnh ở khu vực Hà Nội bị nhiễm giun móc với tỉ lệ 60 - 80% Tỉ lệ nhiễm của chó tăng dần theo lứa tuổi Chó 20 - 30 ngày tuổi đã có thể nhiễm giun móc
Nguyên nhân
Bệnh giun móc của chó gây ra do loài giun móc Ancytoma caninum sống ký sinh trong ruột non của chó Đó là một loại giun tròn nhỏ, trong xoang miệng có hai cặp móc sắt bằng kitin dùng để bám vào ruột hút máu
Giun đực dài 9 - 12mm, giun cái dài 10 - 21mm Trứng giun có kích thước 0,060 – 0,066 × 0,037 – 0,042mm, hình bầu dục, bên trong có 6 - 8 phôi, màu xám (quan sát dưới kính phóng đại 20 - 40 lần) Giun thường sống trong tá tràng, nhưng cũng có thể thấy ở tất cả các đoạn của ruột non
Giun cái đẻ trứng sau khi giao phối Trứng theo phân ra ngoài, nở thành ấu trùng cảm nhiễm trong thời gian 6 - 7 ngày Ấu trùng có thể sống ở ngoại cảnh 1 - 2 tuần lễ, nhiễm vào chó theo 2 đường: Chó nuốt phải ấu trùng cùng thức ăn và nước uống; Ấu trùng chui qua da chó vào máu lên phổi rồi trở về ruột (do ấu trùng lên phổi và chó ho bật ra miệng, rồi nuốt trở về ruột) Sau 14 - 16 ngày ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành trong ruột chó Thời gian giun móc kí sinh trong ruột chó 43 - 100 tuần
lễ
Trong quá trình kí sinh, giun móc hút máu, tiết ra độc tố gây ra trạng thái bệnh lý cho chó Đặc biệt, giun móc còn tiết ra chất kháng đông, gây xuất huyết ruột kéo dài ở chó
Trang 27phê do giun móc gây chảy máu ruột, chó thường chết do mất máu, mất nước và trụy tim mạch Sau 3 - 5 ngày hành bệnh, tỉ lệ chết 30 - 50% ở chó bệnh
Thể mãn tính
Triệu chứng cũng giống như thể cấp tính, nhưng nhẹ hơn và thường kéo dài trong suốt thời gian kí sinh của giun móc Trong thể này thấy rõ nhất là chó gầy còm, thiếu máu, phân thường có lẫn máu có màu sẫm như bã cà phê Thỉnh thoảng còn thấy có hiện tượng nôn khan, hoặc nôn ra máu Chó suy nhược, thiếu máu và chết do kiệt sức, nếu không được điều trị
Chẩn đoán
Chủ yếu là dựa vào kết quả kiểm tra phân tìm trứng giun móc Nếu trong phân có trứng giun móc thì chắc chắn là chó bị nhiễm giun móc Các dấu hiệu lâm sàng ở chó: nôn khan, đi phân lỏng, phân màu cà phê cũng giúp cho chẩn đoán lâm sàng bệnh giun móc
Điều trị triệu chứng và trợ tim mạch:
Chữa viêm ruột bằng một trong các loại thuốc sau:
Oxytetracyclin: dùng 50mg cho 1kg thể trọng trong ngày
Kanamycine: dùng 30g cho 1kg thể trọng trong ngày
Chữa chảy máu đường tiêu hoá:
Vitamin C: (2ml/ống) tiêm 2 - 4 ống cho 10kg thể trọng trong ngày
Vitamin K: (2ml/ống) tiêm 2 - 3 ống cho 10kg thể trọng trong ngày
Trợ tim mạch: Cafein: (1ml/ống) tiêm 1 - 2 ống cho 10kg thể trọng trong ngày
Hồi sức: Huyết thanh mặn ngọt: truyền tĩnh mạch cho chó 200 - 500ml cho 10kg thể trọng trong ngày
Hộ lý: Cho chó ăn cháo, kiêng mỡ và cá cho tới khi khỏi bệnh
Trang 28Phòng bệnh
Thực hiện đầy đủ các biện pháp sau:
Định kỳ tẩy giun móc cho chó bằng Mebendazol theo liều 100mg cho 1kg thể trọng hoặc Lopatol theo liều 10mg cho 1kg thể trọng Cứ 4 - 5 tháng tẩy một lần
Cần quy định chỗ cho chó phóng uế: phân phải ủ (ở nông thôn) hoặc cho vào hố xí tự tiêu (ở thành phố) để diệt trứng giun, ngăn ngừa không cho trứng phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm
Đảm bảo vệ sinh chuồng trại và nơi tập luyện chó: Cần định kì tẩy giun
Thực hiện cho chó ăn uống sạch sẽ
2.3.8 Bệnh giun đũa (Ascaridiosis)
Theo Phạm Ngọc Thạch (2006), đưa ra các đặc điểm sau:
Nguyên nhân
Bệnh giun đũa do Toxocara canis và Toxascaris leonina là bệnh phổ biến của chó trên thế giới, phân bố ở hầu hết các nước Ở nước ta, bệnh giun đũa đã được phát hiện ở chó Nhật, Fok, Berger tại các thành phố và ở chó nội tại các vùng nông thôn từ Nam
ra Bắc Bệnh gây nhiều thiệt hại cho chó con từ 1 – 4 tháng tuổi
Toxocara canis (Wemer 1782): Đây là loài giun đũa lớn Giun đực dài 50 – 90mm
Mỏm đầu của giun có 3 lá môi, không có lá môi giữa Ở khe 3 là môi chính có màng cánh cổ Phía sau thực quản có đoạn phình to ra rõ nét kiểu 1 dạ dày nhỏ Cuối đuôi giun đực hình thành dạng mũi khoan Giun cái dài 50 – 170mm Âm môn ở vào khoảng ¼ phía trước thân 2 tử cung Trên vỏ trứng có những nếp nhăn nhỏ mịn
Vòng đời
Trứng phát dục tới giai đoạn ấu trùng cảm nhiễm ở môi trường tự nhiên Khi chó con nuốt phải trứng có ấu trùng vào cơ thể thì ấu trùng phá vỡ vỏ chui ra, tiếp tục phát triển ở niêm mạc ruột non chó con và trở thành giun trưởng thành gây bệnh cho chó
Ấu trùng của giun còn đi vào hệ tuần hoàn của chó mẹ khi có chửa mà chuyển vào bào thai Do đó chó con sau khi sinh đã mang sẵn mầm bệnh trong cơ thể, đến 21 ngày tuổi giun đã gây thành bệnh nặng ở chó con
Toxascaris leonina (Linstorv 1902): Đây là loài giun đũa nhỏ Giun đực dài 20 –
70mm Giun cái dài 22 – 80mm Mỏm đầu của T leonine cũng giống như mõm đầu của T canis Phần cuối của thực quản không có đoạn phình to kiểu dạ dày nhỏ Giun đực ở mõm chót cuối đuôi không hình thành dạng mũi khoan mà thon nhỏ dần đi Không có màng cánh đuôi Gai giao hợp gần như dài bằng nhau, không có màng cánh
và không có bánh lái gai giao hợp Giun cái: âm môn ở vào khoảng 1/3 phía trước than tử cung Trứng có vỏ dày, bằng phẳng, tròn nhẵn
Vòng đời
Trứng giun đũa T leonine theo phân chó thải ra bên ngoài sau 10 ngày phát dục thành
ấu trùng cảm nhiễm Khi chó con nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm này vào ruột non thì
ấu trùng phá vỡ vỏ, chui vào niêm mạc ruột chó qua tĩnh mạch ruột tới tĩnh mạch cửa vào gan, đi lên tâm nhĩ phải xuống tâm thất phải qua động mạch phổi vào phổi Sau đó
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu