1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát mức độ BIẾN ĐỘNG về THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG của bã TRÀ (camellia sinensis) GIỮA các KHU vực TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ cần THƠ

55 210 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 785,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM LƯỢCĐề tài “Khảo sát mức độ biến động của các thành phần dinh dưỡng trong bã trà Camellia sinensisgiữa các khu vực trên địa bàn Thành phố Cần Thơ” được thực hiện tại phòng Thức ăn gi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LÊ THỊ DIỄM KIỀU

KHẢO SÁT MỨC ĐỘ BIẾN ĐỘNG VỀ THÀNH PHẦN

DINH DƯỠNG CỦA BÃ TRÀ (Camellia sinensis) GIỮA CÁC

KHU VỰC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI THÚ Y

Cần Thơ, 05/2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

DINH DƯỠNG CỦA BÃ TRÀ (Camellia sinensis) GIỮA CÁC

KHU VỰC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS Nguyễn Thị Hồng Nhân Lê Thị Diễm Kiều

MSSV: 3077073 Lớp: CNTY K33

Cần Thơ, 05/2011

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

KHẢO SÁT MỨC ĐỘ BIẾN ĐỘNG VỀ THÀNH PHẦN

DINH DƯỠNG CỦA BÃ TRÀ (Camellia sinensis) GIỮA CÁC

KHU VỰC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI – THÚ Y

Cần thơ, ngày … tháng … năm … Cần thơ, ngày… tháng… năm …

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu trong đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào Nếu có gì sai trái tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước bộ môn và khoa

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Diễm Kiều

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Từ tận trong sâu thẳm con tim, tôi luôn khắc ghi công ơn nuôi nấng, dạy dỗ của hai đấng sinh thành Cha mẹ tôi là người sẵn lòng đánh đổi tất cả để có thể đem đến cho tôi mọi điều tốt đẹp hơn bất kì người nào khác

Cô Nguyễn Thị Hồng Nhân vừa là cô giáo vừa là người mẹ hiền thứ hai mà tôi luôn tôn trọng và kính yêu Cô đã hết lòng quan tâm, dạy bảo và giúp đỡ chúng con mỗi khi chúng con gặp khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống

Các Thầy Cô trong Bộ môn cũng như tất cả các thầy cô khác đã truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu

Anh Nguyễn Thiết, chị Vũ Thị Kim Anh là những người anh người chị mà tôi vô cùng quý mến và yêu thương, anh chị luôn giúp đỡ, tận tình dạy bảo và góp ý cho tôi hoàn thành tốt đề tài của mình

Anh Dương Vũ, tuy anh đã xa rời vĩnh viễn nhưng những lần anh dạy dỗ, góp ý cho tôi để tôi có thể hoàn thành việc học thì không thể nào quên

Tôi xin gởi lời cám ơn đến các bạn lớp Chăn nuôi – Thú y K33, các em lớp Chăn nuôi – Thú y K34 đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Một lần nữa cho tôi gởi lời biết ơn chân thành đến tất cả những người tôi yêu thương và kính trọng!

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM TẠ ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU BẢNG vii

TÓM LƯỢC viii

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1 GIỚI THIỆU VỀ TRÀ (Camellia sinensis) 2

2.1.1 Nguồn gốc và phân loại cây trà 2

2.1.1.1 Nguồn gốc 2

2.1.1.2 Phân loại 3

2.1.2 Chế biến 6

2.1.2.1 Sao diệt men 6

2.1.2.2 Vò trà 7

2.1.3 Thành phần hóa học 8

2.1.4 Tác dụng của trà 10

2.1.5 Các ứng dụng trên thế giới về trà 11

2.1.6 Tình hình xuất khẩu trà 13

2.2 GIỚI THIỆU VỀ BÃ TRÀ 14

2.2.1 Giá trị dinh dưỡng của bã trà 14

2.2.2 Độc chất trong bã trà được lấy từ nhà máy 17

2.2.3 Ảnh hưởng của bã trà lên vật chất khô ăn vào 17

2.2.4 Ảnh hưởng của bã trà lên sự tiêu hóa 17

2.2.5 Ảnh hưởng đến thành phần và sản lượng sữa 18

2.2.6 Tannin – chất kháng dưỡng trong bã trà 18

2.2.6.1 Ảnh hưởng của tannin lên sự tiêu hóa của dạ cỏ 18

2.2.6.2 Độc chất của tannin trên loài nhai lại 19

2.2.7 Ứng dụng của bã trà 20

Trang 7

2.2.7.1 Thức ăn cho gia súc nhai lại 20

2.2.7.2 Thức ăn cho heo 20

2.2.7.3 Thức ăn cho gà 21

2.2.7.4 Thức ăn cho cá 21

Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 22

3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 22

3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 22

3.1.2 Cơ sở vật chất thí nghiệm 23

3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 23

3.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23

3.2.2 Phương pháp điều tra 23

3.2.3 Phương pháp lấy mẫu 23

3.3 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ 23

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 NHẬN XÉT CHUNG 24

4.2 THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG CỦA BÃ TRÀ 24

4.2.1 Mức độ biến động thành phần DM 24

4.2.2 Mức độ biến động thành phần CP 25

4.2.3 Mức độ biến động thành phần khoáng tổng số 27

4.2.4 Mức độ biến động thành phần CF 28

4.2.5 Mức độ biến động thành phần ADF 30

4.2.6 Mức độ biến động thành phần NDF 31

4.2.7 Mức độ biến động thành phần Tannin 33

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36

5.1 KẾT LUẬN 36

5.2 ĐỀ NGHỊ 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 PHỤ CHƯƠNG

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thành phần hóa học của trà 9

Bảng 2.2 Ảnh hưởng của bột trà lên thành phần Cholestrerol và acid Thiobarbituric 12

Bảng 2.3 Ảnh hưởng của bột trà lên thịt heo tươi (%) 12

Bảng 2.4 Thành phần hóa học của bã trà (%) 15

Bảng 2.5 Thành phần dinh dưỡng của bã trà (g/kg DM) 15

Bảng 2.6 Thành phần dinh dưỡng của hai loại bã trà được lấy từ nhà máy 16

Bảng 2.7 Thành phần amino acid trong bã trà 16

Bảng 2.8 Độc chất trong bã trà được lấy từ nhà máy 17

Bảng 4.1 Thành phần DM (%) trong từng khu vực 24

Bảng 4.2 Thành phần CP (%) trong từng khu vực 25

Bảng 4.3 Thành phần khoáng tổng số (%) trong từng khu vực 27

Bảng 4.4 Thành phần CF (%) trong từng khu vực 28

Bảng 4.5 Thành phần ADF (%)trong từng khu vực 30

Bảng 4.6 Thành phần NDF (%)trong từng khu vực 32

Bảng 4.7 Thành phần Tannin (%) trong từng khu vực 34

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU BẢNG

Hình 2.1 Lá trà Camellia sinensis 2

Hình 2.2 Hoa trà 6

Hình 2.3 Trà tuyết Shan 6

Hình 2.4 Cây trà cổ thụ 6

Hình 2.5 Tanin đặc và việc tránh thất thoát protein trong dạ cỏ 19

Hình 2.6 Bản đồ các khu vực lấy mẫu 22

Hình 4.1 Thành phần bã trà nhiều cọng 29

Hình 4.2 Thành phần bã trà nhiều lá 29

Hình 4.3 Thành phần bã trà đồng đều giữa cọng và lá 30

Biểu đồ 4.1 Mức biến động thành phần DM trong mỗi KV 25

Biểu đồ 4.2 Mức biến động thành phần CP trong mỗi KV 26

Biểu đồ 4.3 Mức biến động thành phần Ash trong mỗi KV 27

Biểu đồ 4.4 Mức biến động thành phần CF trong mỗi KV 29

Biểu đồ 4.5 Mức biến động thành phần ADF trong mỗi KV 31

Biểu đồ 4.6 Mức biến động thành phần NDF trong mỗi KV 33

Biểu đồ 4.7 Mức biến động thành phần Tannin trong mỗi KV 35

Trang 11

TÓM LƯỢC

Đề tài “Khảo sát mức độ biến động của các thành phần dinh dưỡng trong bã trà (Camellia sinensis)giữa các khu vực trên địa bàn Thành phố Cần Thơ” được thực hiện tại phòng Thức ăn gia súc - Bộ môn Chăn nuôi, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 01 năm 2011 đến tháng 05 năm

2011 Mục tiêu đặt ra của đề tài là nghiên cứu thành phần dinh dưỡng của bã trà

để có biện pháp sử dụng hợp lý, giảm chi phí thức ăn bên cạnh hạn chế sự ô nhiễm môi trường do phụ phẩm này gây ra và góp phần làm phong phú thêm nguồn thức

ăn cho đàn gia súc Việt Nam.

Thí nghiệm được tiến hành khảo sát trên bảy khu vực khác nhau tại địa bàn Thành phố Cần Thơ, bao gồm các phường: An Hòa, An Khánh, An Lạc, An Nghiệp, An Phú, Hưng Lợi và Xuân Khánh Ở mỗi khu vực chúng tôi tiến hành ba lần thu thập mẫu.

Các chỉ tiêu phân tích gồm có các thành phần: DM, CP, Ash, CF, ADF, NDF và Tannin.

Kết quả thí nghiệm thu được như sau:

Thành phần DM khá biến động với mức 20,7% ± 2,05, trong đó KV3 biến động cao nhất là 3,34%; gần ở mức này là ở KV1 và KV6, thấp hơn rơi vào KV1, 5, 6 và thấp nhất là KV 7 Tuy nhiên lượng khoáng tổng số trung bình hầu như không biến động (5,2%±0,74), độ lệch trung bình cao nhất chỉ đạt 1,79% ở KV 7, giảm dần từ KV4,

6, 1, 5 và thấp nhất ở KV2 là 0,18%.

Thành phần CP trung bình tương đối cao 20,7%±2,4; cao nhất 22,6% ở KV6, thấp nhất KV1 là 18,3%; các KV còn lại hàm lượng CP trung bình tương đương nhau (KV7: 21,9% ; KV5:21,5%; KV3: 21,3%) Độ biến động dao động từ 0,99 – 4,09% Lượng đạm cao là yếu tố thuận lợi trong việc bổ sung đạm cho gia súc gia cầm trong điều kiện chi phí thức ăn tăng cao.

Thành phần CF trung bình biến động rất cao (22,6 – 33,6%) Cụ thể cao nhất KV3

và thấp nhất ở KV1.

Hàm lượng ADF trung bình của tất cả KV tương đối cao là 45,7%±2,84.Cụ thể cao nhất là KV1: 46,5% và thấp nhất là KV7: 44,5% Bên cạnh đó, thì thành phần NDF trung bình cũng khá cao 59,5%±4,75 Mức độ chênh lệch trung bình dao động

từ 1,44 – 7,22% Điều này có thể gây trở ngại cho việc tiêu hóa xơ của gia súc Hàm lượng tannin trung bình của tất cả các KV là 1,6% ± 0,77; khá đồng đều giữa các KV.

Trang 12

Thay vào đó, đi đôi với việc sản xuất ra một khối lượng lớn chính phẩm phục vụ cho con người, cũng có một khối lượng không nhỏ các loại phụ phế phẩm công nông nghiệp như: bã trà, bã bia, bã đậu nành, bã cà phê, lá bông cải, bã mía, …Trên Thế giới, trà là một trong những thức uống phổ biến nhất với hơn ba triệu tấn trà được sản xuất trong năm 2001 (Graham, 1992; FAO, 2002) Chính vì thế chỉ riêng ở Nhật hàng năm đã có hơn 100 ngàn tấn bã trà được thải ra từ các nhà máy

sản xuất thức uống từ trà (Kondo et al., 2004) Nhưng hầu như lượng bã thải ra đều

đem đi đốt, chỉ một phần nhỏ làm phân bón, làm nguyên liệu ủ composite hay cho quá trình tách chiết caffeine (Bizendra K Konwar and Prafulla C Das, 2006) Tại Việt Nam, việc sử dụng phụ phế phẩm làm thức ăn cho gia súc khá phổ biến nhưng cũng ít ai quan tâm đến bã trà, một phụ phế phẩm giàu protein, acid amin, vitamin, catechin như: epigallocatechin-3-gallate (EGCG), epicatechin, epigallocatechin và

epicatechin gallate (Yamamoto et al., 1997; Cai et al., 2001; Xu et al., 2003, 2004a, b; Kondo et al., 2004) được xem là tiềm năng trong việc bổ sung vào trong khẩu

phần của gia súc và gia cầm Ngoài việc tận dụng để tránh gây ô nhiễm môi trường

mà còn giảm bớt chi phí thức ăn, tăng hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi

Để sử dụng các phụ phẩm có hiệu quả, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Khảo sát mức độ biến động của các thành phần dinh dưỡng trong bã trà

(Camellia sinensis) giữa các khu vực trên địa bàn Thành phố Cần Thơ”.

Mục tiêu chung:

Khảo sát giá trị dinh dưỡng của bã trà từ đó bổ sung vào thức ăn cho gia súc, gia cầm có hiệu quả, tiết kiệm chi phí thức ăn

Mục tiêu cụ thể:

- Nghiên cứu thành phần dinh dưỡng của bã trà

- Độ biến động giữa các khu vực

Trang 13

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 GIỚI THIỆU VỀ TRÀ (Camellia

sinensis)

2.1.1 Nguồn gốc và phân loại cây trà

2.1.1.1 Nguồn gốc

Theo Giáo trình Chè (1979) cho biết nhiều

công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây

cho rằng nguồn gốc của cây chè là vùng cao

nguyên Vân Nam Trung Quốc, nơi có khí hậu

ẩm ướt và ấm Theo các tài liệu của Trung Quốc thì cách đây khoảng 4.000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng chè để làm dược liệu và sau đó mới dùng để uống Cũng theo các nguồn tài liệu này thì vùng biên giới Tây Bắc nước ta nằm trong vùng nguyên sản của giống chè tự nhiên trên thế giới

Năm 1823 R.Bruce phát hiện được những cây chè dại, lá to ở vùng Atxam (Ấn Độ),

từ đó các học giả người Anh cho rằng nguyên sản của cây chè là ở Ấn Độ chứ không phải là ở Trung Quốc Trong tất cả các tài liệu gần đây hầu như không thấy

có sự nhất quán nêu lên về nơi xuất xứ của cây chè Chúng ta biết rằng muốn xác định vùng nguyên sản của một cây trồng cần căn cứ vào những điều kiện tổng hợp, trong đó cây dã sinh chỉ là một điều kiện mà chủ yếu là cần xét đến tập quán sử dụng, lịch sử trồng trọt và tình hình phân bố các loại hình có quan hệ tới cây trồng đó

Những công trình nghiên cứu của Đjêmukhatze (1961 – 1976) về phức catechin của

lá chè từ các nguồn gốc khác nhau, so sánh về thành phần các chất catechin giữa các loại chè được trồng trọt và chè mọc hoang dại đã nêu lên luận điểm về sự tiến hóa sinh hóa của cây chè và trên cơ sở đó xác minh nguồn gốc cây chè Đjêmukhatze kết luận rằng: những cây chè mọc hoang dại từ cổ xưa, tổng hợp chủ yếu là (-) -epicatechin và (-) - epicatechin galat, ở chúng phát triển chậm khả năng tổng hợp(-) epigalo catechin và các galat của nó để tạo thành (+) galocatechin Nghiên cứu các cây chè dại ở Việt Nam cho thấy chúng cũng tổng hợp chủ yếu là (-) -epicatechin và (-) - epicatechin galat (chiếm 70% tổng số các loại catechin) Khi di thực những cây chè dại này lên phía Bắc, với các điều kiện khắc nghiệt hơn về khí hậu, chúng sẽ thích ứng dần với các điều kiện sinh thái bằng cách có thành phần catechin phức tạp hơn, cùng với sự tạo thành (-) epigalocatechin và các galat của

nó Điều này có nghĩa là sự trao đổi chất ở đây hướng về phía tăng cường quá trình hydroxin hóa và galin hóa Từ những biến đổi sinh hóa này của lá các cây chè mọc hoang dại và cây chè được trồng trọt chăm sóc, cho phép đi tới một kết luận mới

"Nguồn gốc của cây chè chính là ở Việt Nam"

Hình 2.1 Lá trà Camellia sinensis

vi.wikipedia.org/ /Chè_(thực_vật)

Trang 14

Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất khác nhau

từ 30 độ vĩ nam (Natan - Nam Phi ) đến 45 độ vĩ bắc (Gruzia - Liên Xô) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản Chè được trồng ở Nhật Bản năm 805 – 814, Indonesia 1684, Liên Xô 1833, Xrilanca 1837 – 1840, Ấn Độ 1834 – 1840 và Tasmania (châu Đại Dương) năm 1940

Những thành tựu gần đây của các nhà nông học Liên Xô cũng như một số nước khác đã tạo ra nhiều giống chè mới có khả năng thích ứng trong những điều kiện khí hậu khác nhau mở ra nhiều triển vọng cho sự nghiệp trồng chè trên thế giới

Chi trà Camellia (Thea)

Loài Camellia (Thea) sinensis.

Tên khoa học của cây chè được nhiều nhà khoa học công nhận là: Camellia sinensis (L) O Kuntze và có tên đồng nghĩa là: Thea sinensis L.

Chú thích:

Năm 1753 Linê đặt tên khoa học cho cây trà là Thea sinensis, sau đó lại đặt

là Camellia sinensis Sau Linê có nhà thực vật học xếp cây trà thuộc chi Thea, có người lại xếp cây trà thuộc chi Camellia sinensis Tên khoa học của cây chè được viết là Thea sinensis hoặc Camellia sinensis Hơn một trăm năm, tên khoa học của

cây trà vẫn là một vấn đề tranh luận Trước sau có 20 cách đặt tên khoa học cho cây trà Diễn biến chủ yếu như sau:

Năm 1807 f Sims Thea sinensis Sims.

Năm 1822 H.F Link Camellia sinensis Link.

Năm 1854 W Griffim Camellia theifera Griff.

Năm 1874 D Brandis Camellia thea Brandis.

Năm 1874 W T T Dyer Camellia theifera Dyer.

Năm 1908 G Watt Camellia thea (Link) Brandis.

Năm 1919 C P Cohen Stuart Camellia thiefera (Griff) Dyer.

Năm 1933 C R Harler Thea sinensis (L) Sims.

Trang 15

Năm 1956 C R Harler Camellia sinensis (L) O Kuntze.

Hiện nay các nhà thực vật học gộp hai chi Thea và Camellia làm một và gọi là chi Camellia Vì vậy tên khoa học của cây trà được nhiều người thường gọi

là Camellia sinensis (L) O Kuntze.

Cơ sở của việc phân loại trà thường dựa vào:

Cơ quan dinh dưỡng: loại thân bụi hoặc thân gỗ, hình dạng của tán, hình dạng và kích thước của các loại lá, số đôi gân lá

Cơ quan sinh thực: độ lớn của cánh hoa, số lượng đài hoa, vị trí phân nhánh của đầu nhị cái

Đặc tính sinh hóa: chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin Mỗi giống trà đều có hàm lượng tanin biến động trong phạm vi nhất định

Dưới đây giới thiệu phân loại của Cohen Stuart (1919) Cách phân loại này được

nhiều người chấp nhận Tác giả chia Camellia sinensis L làm 4 thứ (varietas): Trà Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var Bohea):

Đặc điểm:

Cây bụi thấp phân cành nhiều

Lá nhỏ, dày nhiều gợn sóng, màu xanh đậm, lá dài 3,5 – 6,5 cm

Có 6 – 7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều

Búp nhỏ, hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất bình thường

Khả năng chịu rét ở nhiệt độ - 12 0C đến - 15 0C

Phân bố chủ yếu ở miền đông, đông nam Trung Quốc, Nhật Bản và một số vùng khác

Trà Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var macrophylla):

Đặc điểm:

Thân gỗ nhỡ cao tới 5 m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên

Lá to trung bình chiều dài 12 – 15 cm, chiều rộng 5 – 7 cm, màu xanh nhạt, bóng, răng cưa sâu không đều, đầu lá nhọn

Có trung bình 8 – 9 đôi, gân lá rõ

Năng suất cao Phẩm chất tốt

Nguyên sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc)

Trà Shan (Camellia sinensis var Shan):

Thân gỗ, cao từ 6 – 10 m

Trang 16

Lá to và dài 15 – 18 cm màu xanh nhạt, đầu lá dài, răng cưa nhỏ và dày.

Tôm trà có nhiều lông tơ, trắng và mịn trông như tuyết, nên còn gọi là trà tuyết

Có khoảng 10 đôi gân lá

Có khả năng thích ứng trong điều kiện ấm ẩm, ở địa hình cao, năng suất cao, phẩm chất thuộc loại tốt nhất

Nguyên sản ở Vân Nam - Trung Quốc, miền bắc của Miến Điện và Việt Nam

Trà Ấn Độ (Camellia sinensis var atxamica):

Thân gỗ cao tới 17 m phân cành thưa

Lá dài tới 20 – 30 cm, mỏng, mềm, thường có màu xanh đậm, dạng lá hình bầu dục, phiến lá gợn sóng, đầu lá dài

Có trung bình 12 – 15 đôi gân lá

nhất là hai thứ C sinensis var macrophylla và C sinensis var Shan.

Camellia sinensis var macrophylla được trồng nhiều nhất ở các tỉnh trung du với

các tên gọi của địa phương (tùy theo màu sắc của lá) như: Trung du lá xanh, Trung

du lá vàng, v.v Tỷ lệ trồng các giống trà trung du ở miền bắc đạt tới 70% Năng suất búp trong sản xuất đại trà khi trà 5 – 19 tuổi thường đạt 4 – 5 tấn/ha

Các giống trà Trung du chịu được đất xấu, nhưng nhiều sâu hại: rầy xanh, bọ cánh tơ , ở vùng cao thường bị bệnh phồng lá Trà Trung du thường để chế biến tràxanh, trà đen đều cho phẩm chất tốt

Camellisa sinensis var Shan được trồng ở miền núi các tỉnh miền bắc và ở miền

nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) Ở mỗi địa phương có các giống khác nhau như: Shan Mộc Châu, Shan Tham Vè, Shan Trấn Ninh Năng suất búp thường đạt 6 – 7 tấn/ha Búp trà có nhiều tuyết, dùng chế biến trà xanh, trà đen đều cho phẩm chất tốt nhưng thích hợp với chế biến trà xanh hơn

Trang 17

2.1.2 Chế biến

Theo kinh tế nông thôn (2004) phương pháp chế biến thủ công

Chế biến trà xanh bằng phương pháp thủ công gồm các giai đoạn: sao-diệt men-vò trà-sấy khô

2.1.2.1 Sao diệt men

Thường dùng chảo gang to để sao diệt men Trước khi sao dùng củi hoặc than đun thật nóng chảo (230 – 280 0C) rồi mới cho trà tươi vào sao Thường mỗi chảo sao khoảng 2 – 3 kg trà tươi trong 8 – 13 phút, tuỳ theo chất lượng nguyên liệu Tràcàng già, thời gian sao càng nhanh, đôi khi phải đun thêm nước trong khi sao để diệt men được triệt để và tránh cho lá trà bị cháy Trong khi sao phải tung rải, đảo trộn trà tươi trên chảo bằng que tre, hoặc bằng bồ cào răng thẳng Để thay cho chảo gang người ta có thể sao diệt men và sao khô trà trên mặt tấm tôn hình vuông mỗi cạnh 1m, phía dưới là lò đốt được xây gạch bao quanh Phía trên tấm tôn có thành bằng

gỗ để cho trà khỏi rơi vãi khi đảo trộn

Hình 2.3 Trà tuyết Shan Hình 2.4 Cây trà cổ thụ

www.sinhviennonglam.com

Hình 2.2 Hoa trà

www.mitsubo.com.tw

Trang 18

2.1.2.2 Vò trà

Thông thường trà được vò trực tiếp bằng tay hoặc cho trà vào túi vải đặt trên bàn gỗ

có nhiều gờ nghiêng để vò Thời gian vò khoảng 20 – 30 phút Phương pháp này rất vất vả

Trên cơ sở phương pháp vò thủ công có thể tạo ra thùng vò bằng gỗ dùng sức người hay sức trâu, bò để quay

Sấy trà bằng quầy sấy đan bằng tre, hoặc nứa, quầy chụp trên chậu than hoa đãnhóm lửa và quạt hết khói, chung quanh quây cót để giữ nhiệt độ Lớp trà rải khắp quầy dày khoảng 10 – 20 cm, nhiệt độ 60 – 70 0C, thời gian sấy 1 giờ, độ ẩm trà sau khi sấy khoảng 10% Trong thời gian sấy phải đảo trộn nhiều lần Sấy bằng quầy tre năng suất rất thấp, trà dễ bị quá lửa và có mùi khói, cánh trà to và xốp Để khắc phục một phần nhược điểm trên người ta thường kết hợp sấy với sao khô

Trà sau khi sấy ở quầy 20 – 25 phút, độ ẩm còn lại 30 – 45% thì dùng chảo gang để sao khô 20 – 25 phút Dùng biện pháp này vừa nâng cao được năng suất vừa làm cho cách trà xoăn lại và hương thơm của trà cũng tốt hơn

Chế biến trà bằng phương pháp thủ công có năng suất và chất lượng thấp nhưng nếu nắm vững điều kiện và kỹ thuật chế biến vẫn có khả năng tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt Mặt khác, do chi phí đầu tư thấp nên vẫn được ứng dụng rộng rãi

* Phương pháp chế biến bán cơ khí

Trà được sao diệt men theo mẻ, mỗi mẻ khoảng 5 – 7 kg trà tươi Khi sao diệt men cần đốt to lửa, dùng tay quay quay trống với tốc độ 25 – 30 vòng/ phút trong khoảng 3 – 5 phút cho trống nóng đều tới nhiệt độ 250 – 280 0C rồi cho trà vào sao Cần nhanh chóng nạp trà vào trống và vừa nạp trà vừa quay trống đảo trà Mỗi mẻ sao trong khoảng 7 – 10 phút tuỳ theo loại trà và phải đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật sao diệt men Khi mẻ sao đã được, cần rút củi và quay nhanh trống theo chiều ngược lại để lấy trà ra Trà sau khi sao được rải đều trên sàn để làm nguội nhanh.Trống quay tay còn được dùng sao khô sau khi vò

Khi sao khô, lò được đốt nhỏ lửa để nhiệt độ khối trà trong trống khoảng 70 – 80

0C Thời gian sao một mẻ khoảng 40 – 45 phút, sau khi sao độ ẩm của trà còn khoảng 8 – 10%

Trang 19

độ ẩm của trà còn lại khoảng 4 – 5% (dùng tay bóp vụn như cám), cánh trà nhỏ gọn nhẵn bóng, có màu tro bạc, có hương thơm mạnh.

Trong công nghệ sản xuất trà Mi nổi tiếng của Trung Quốc, trà sau khi sấy được sao

2 lần: lần đầu sao bằng máy sao thùng quay ở nhiệt độ 110 – 115 0C trong thời gian

20 – 25 phút, sau đó được sao khô bằng chảo sao có cánh trộn đảo trà ở nhiệt độ 90 – 100 0C trong khoảng 40 – 45 phút

Trà (sau khi diệt men và làm nguội) được nạp vào thùng vò 4 Động cơ điện làm việc thùng vò sẽ quay theo chiều kim đồng hồ Khối trà trong thùng vò được chà xát với gân, được đảo trộn liên tục, các lá trà bị vò dập và cuộn lại Để đáp ứng các yêu cầu về năng suất và chất lượng, quá trình vò có thể thực hiện với chế độ ép nhẹ hay

ép nặng của vung 5 trên khối trà trong thùng Chế độ này tuỳ theo loại trà nhưng thông thường thực hiện theo chế độ: ép nhẹ - ép nặng - ép nhẹ Trà sau khi vò đạt yêu cầu được lấy ra bằng cách hứng thùng dưới mâm vò, rồi mở nắp ở giữa mâmphía dưới trong khi vẫn cho máy chạy

Với các trang thiết bị này thì hai lao động có thể chế biến 40 – 45 kg trà tươi/ngày, như vậy đã giảm được cường độ lao động, nâng cao năng suất và chất lượng trà về

cả ngoại hình lẫn hương vị

2.1.3 Thành phần hóa học

Tùy theo từng loại trà và thổ nhưỡng trồng trà mà cây trà có những hàm lượng các thành phần đặc trưng riêng Tuy nhiên nhìn chung thành phần hóa học của cây trà vẫn không thay đổi nhiều Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì thành phần của trà đã chiết xuất gồm có các nhóm chất sau, được trình bày trong bảng 2.1 (Nguyễn Thành Luân, 2010)

Nước chiếm 76% ở búp trà non và 74 – 75% ở lá trà non

Chất hòa tan: chiếm 56% trọng lượng chất khô, trong đó 50% là hợp chất phenol, gần 50% là glucid tan, protid, acid amin, alkaloid (chủ yếu là caffeine), sắc tố, vitamin và enzyme

Muối khoáng: K, F, Al, Mn

Acid béo: oleic, linoleic, palmitic, steric, arachidic

Acid hữu cơ: malic, succinic, acid oxalic

Trang 21

2.1.4 Tác dụng của trà

Theo Nguyễn Hữu Đức (2010) trong trà có chứa các chất sau:

Tanin: chiếm 20%, còn gọi là chất chát Tanin làm giảm sự hấp thu sắt, vì vậy, không nên uống thuốc bổ có chứa chất sắt chung với trà và người bị thiếu sắt thì không nên uống nước trà

Caffein: còn gọi là théin, chiếm tỷ lệ 1,5 – 5% Đây là chất kích thích hệ thần kinh trung ương Nhờ có caffein, khi uống trà ta cảm thấy tỉnh táo, hưng phấn hơn Cũng

vì thế mà một số người sẽ bị mất ngủ hoặc tim đập nhanh Lượng caffein có trong trà thật ra không gây hại cho sức khỏe, nhưng vì có thể có ảnh hưởng đến giấc ngủ nên tốt nhất không uống trà vào buổi chiều tối

Các chất bổ dưỡng: như vitamine B1, B2 và các hợp chất có tên gọi chung là bioflavanoid (có tác dụng chống oxy hóa), giúp vô hiệu hóa các gốc tự do, là những chất có hại vì gây ra nhiều bệnh lý, nhờ vậy sẽ bảo vệ tế bào, bảo vệ mô, bảo vệ mạch máu, làm chậm quá trình lão hóa trong cơ thể Phân tích cho thấy, một tách nước trà chứa khoảng 200 mg bioflavonoid Nếu uống ba tách trà mỗi ngày, sau ba tuần, lượng chất chống oxy hóa này có trong máu sẽ tăng 25% Như vậy, khuyến cáo của các nhà y học về việc uống trà hàng ngày để phòng bệnh, nâng cao sức khỏe là xác đáng

Fluor: trong trà có chứa nhiều nguyên tố fluor với lượng cao (một tách trà chứa khoảng 0,3 microgram flour) Vì vậy, uống trà hằng ngày sẽ giúp bảo vệ răng, làm chắc men răng

Điều cần ghi nhận nữa là khi uống trà, ta sẽ bù được lượng nước mất đi trong sinh hoạt hàng ngày Đặc biệt, khi làm việc trong điều kiện nóng, dưới ánh nắng, uống nước trà sẽ giúp giảm mệt nhọc

Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng tỏ uống trà thường xuyên, đặc biệt uống trà xanh, có thể phòng chống nhiều loại bệnh Cụ thể, uống trà xanh thường xuyên có thể giảm nguy cơ bị ung thư hầu họng, ung thư thực quản, đặc biệt

là ung thư vú Chính hợp chất EGCG có trong trà sẽ giúp chống oxy hóa rất mạnh,

"dọn sạch" các gốc tự do, vốn là tác nhân gây tổn thương cấu trúc ADN, tổn thương

tế bào, dẫn đến ung thư

Trà xanh đã được chứng minh cải thiện đáng kể hoạt động của các mạch máu trong

cơ thể Các hợp chất bioflavonoid có trong trà xanh giúp giảm nguy cơ mắc các chứng bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, bệnh mạch vành Riêng đối với người

bị bệnh tim mạch, uống trà có thể giúp cải thiện tình trạng bệnh Người ta khám phá, sau khi bị bệnh tim, bệnh nhân uống trà xanh có tỷ lệ tử vong ít hơn 28% so với người không uống trà Chưa hết, trà còn được xác định là thứ nước uống có tác dụng chống lão hóa rất tốt vì chứa nhiều vitamine C, E và beta – carotene

Trang 22

Ngoài ra theo trang cac-chung-benh-ve-mat.aspx) thì từ lâu khoa học đã tiến hành rất nhiều nghiên cứu

(www.thuocbietduoc.com.vn/ /che-xanh-co-tac-dung-giam-về trà xanh và phát hiện thấy loại đồ uống này có tác dụng rất tích cực đối với sức khỏe con người Trung tuần tháng hai vừa qua trên tạp chí Hóa thực phẩm của Mỹ

đã đăng tải một nghiên cứu mới nhất do các nhà khoa học Trung Quốc thực hiện, họ phát hiện thấy trà xanh còn có tác dụng rất tích cực đối với mắt, làm giảm bệnh Glocom và nhiều dạng bệnh nan y khác liên quan đến mắt

Tác dụng chính của trà xanh là có chứa các thành phần kháng bệnh, nhất là các chất chống ôxy hóa, đặc biệt, nhóm đề tài còn phát hiện thấy cơ chế "thẩm thấu" các thành phần hữu ích từ trà xanh vào mắt, nhất là thấu kính, võng mạc và các mô.Hợp chất catechin có trong trà xanh là hợp chất chống ôxy hóa rất tiềm ẩn, đây là nhóm dưỡng chất gồm vitamin C, vitamin E, lutein và zeaxanthin , tuy nhiên cơ chế đi từ dạ dày sau đó ngấm vào các mô mắt của catechin đến nay khoa học vẫn chưa tường hết Tác dụng của catechin có trong trà xanh là nhằm làm giảm áp lực gây ôxy hóa trong mắt với thời gian dài trên 20 giờ Tuy nhiên, nếu uống trà không đúng cách lại ảnh hưởng ngược lại đến sức khoẻ con người Một nghiên cứu xuất bản trên báo về nghiên cứu ung thư (Cancer Research) tháng 3 năm 2005 cho thấy một trong các catechin trong trà là ECGC có tác dụng ức chế enzym dihydrofolate reductase (DHFR), enzym mà các tế bào ung thư cần có để phát triển do vậy ECGC

có tác dụng phòng ngừa ung thư Tuy nhiên vì ECGC có thể kết hợp để ức chế DHFR nên nếu phụ nữ thời kỳ thụ thai hay trong giai đoạn đầu thời kỳ mang thai uống quá nhiều trà có thể bào thai bị ảnh hưởng do tăng nguy cơ bào thai bị bệnh nứt đốt sống hay rối loạn dây thần kinh Do đó phụ nữ thời kỳ đầu mang thai đặc biệt là 3 tháng đầu nên uống ít trà đặc biệt là trà đặc và nên uống bổ sung acid pholic để giảm nguy cơ của các bệnh này Lời khuyên của các nhà khoa học: Nên thưởng thức trà sau bữa ăn ít nhất từ 30 phút đến 1 tiếng Nếu là phụ nữ trong thời

kỳ mới mang thai và người bị bệnh tim hoặc cao huyết áp thì không nên uống nhiều trà đặc biệt là trà đặc (Việt Báo, 2007)

2.1.5 Các ứng dụng trên thế giới về trà

Dựa trên tác dụng hữu ích của trà nên một số nhà nghiên cứu trên thế giới đã áp

dụng trên nhiều lĩnh vực, theo báo cáo của Dulloo et al (1999) cho rằng chiết chất

trà xanh bao gồm 50 mg caffeine và 90 mg EGCG có tính chất thúc đẩy quá trình oxy hóa chất béo và đóng một vai trò trong sự kiểm soát thành phần trong cơ thể thông qua hoạt hóa quá trình sinh nhiệt mà có thể giảm béo phì ở người

Không những nghiên cứu trên người mà còn có những thí nghiệm được tiến hành

trên các loài gia súc gia cầm: theo nghiên cứu của Kaneko et al (2001) đề nghị nên

bổ sung bột trà xanh Nhật Bản vào trong khẩu phần ăn của gà thịt ức chế sự tăng trưởng nhưng đồng thời làm giảm tích tụ mỡ và cải thiện màu sắc thịt tươi ngon

Trang 23

hơn Bên cạnh đó, thí nghiệm của Yang et al (2003) tiến hành trên 180 con gà đẻ

“Tetran Brown” ở 40 tuần tuổi về năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ khi bổ sung với các mức: 0,5 – 2% bột trà xanh vào trong khẩu phần ăn của chúng, kết quả

là năng suất đẻ trứng giữa nghiệm thức đối chứng và cho ăn bột trà xanh thì thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Tuy nhiên độ dày vỏ trứng, hàm lượng cholestrerol và acid Thiobarbituric trong trứng giảm đáng kể với 2% bột trà xanh thông qua các thông số về chất lượng trứng gà (bảng 2.2)

Bảng 2.2: Ảnh hưởng của bột trà lên thành phần Cholestrerol và acid Thiobarbituric

Nghiệm thức Cholesterol tổng số (mg/g) TBA (µmol/100 g)

Mặt khác, theo Sarker et al (2010) nghiên cứu tiến hành trên heo thịt cũng với mức

bổ sung bột trà xanh từ 0,5 – 2% trong khẩu phần ăn thì kết quả thu được tăng trọng của heo khi cho ăn mức 2% bột trà xanh thì thấp hơn khẩu phần dùng thuốc kháng sinh, tuy nhiên lượng thức ăn và hệ số chuyển hóa thức ăn khác biệt không có ý nghĩa thống kê Bên cạnh đó thì lượng đạm trong thịt heo tăng với mức bổ sung là 1% được trình bày trong bảng 2.3

Bảng 2.3: Ảnh hưởng của bột trà xanh lên thịt heo tươi (%)

Trang 24

2.1.6 Tình hình xuất khẩu trà

Theo Thông tin Thương mại Việt Nam (03/2011) cho biết trong tháng 1/2011 xuất khẩu trà của Việt Nam đạt 11,1 ngàn tấn trị giá 16,27 triệu USD, giảm 23,25% về lượng và 21,15% trị giá so với tháng 12/2010, nhưng so với cùng kỳ tháng 1/2010 lại tăng nhẹ 4,95% về lượng và 11,9% về trị giá

Về giá xuất khẩu: nối tiếp đà tăng giá của năm 2010, giá xuất khẩu trà của Việt Nam trong tháng 1/2011 tiếp tục tăng 2,73% (tương đương 39 USD/tấn) so với tháng trước và tăng 6,62% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt trung bình 1.466 USD/tấn Giá trà trên thị trường thế giới đang có xu hướng giảm, giá trà xuất khẩu của Việt Nam nhiều khả năng sẽ được điều chỉnh giảm trong thời gian tới

Trong năm 2010 vừa qua, ngành trà Việt Nam đã đạt được nhiều thành công nhất định Chất lượng trà được cải thiện cộng với giá trà trên thị trường thế giới tăng cao đẩy giá trà trong nước cũng như xuất khẩu tăng theo

Tuy nhiên, theo các chuyên gia mặc dù đang là quốc gia sản xuất và xuất khẩu trà lớn thứ 5 thế giới chỉ sau Ấn Độ, Trung Quốc, Kenya, Sri Lanka và ngang hàng với Indonesia, nhưng giá trị xuất khẩu trà của nước ta hiện vẫn còn khá thấp so với mặt bằng chung của thế giới Bởi sản phẩm trà xuất khẩu của ta có chất lượng chưa cao, chưa quản lý được vấn đề chất lượng, đặc biệt là khâu vệ sinh an toàn thực phẩm.Năm 2011, với nhu cầu tiêu thụ cao từ phía khách hàng, cộng với lợi thế về giá, Hiệp hội Trà dự báo kim ngạch xuất khẩu năm 2011 sẽ tiếp tục tăng khoảng 20% so với mức 197 triệu USD của năm 2010, lên trên 200 triệu USD Về khối lượng xuất khẩu, có thể ổn định quanh mức 135 nghìn tấn của năm 2010 Để đạt được mục tiêu, ngành trà cần phát triển, nâng cao giá trị và quảng bá thương hiệu trà Việt Nam đến toàn cầu, trước hết phải đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định và hướng đến việc tăng sản xuất và xuất khẩu sản phẩm trà chất lượng cao, sau nữa là hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ngành trà

Hiện nay, trà đen vẫn là mặt hàng trà xuất khẩu chủ yếu của nước ta (chiếm hơn 60% tổng giá trị xuất khẩu) Xuất khẩu trà đen trong tháng 1/2011 đạt 10,26 triệu USD, giảm 25% so với tháng trước và giảm 47,02% so với cùng kỳ tháng 1/2010

So với tháng trước, một số chủng loại như trà xanh, trà lên men, trà Ô Long cũng giảm khá, giảm lần lượt 5,23%, 28,19% và 77,51% đạt 5,4 triệu USD, 373 ngàn USD và 53 ngàn USD…Còn so với cùng kỳ năm 2010 trà xanh và trà lên men lại tăng mạnh 75,89% và 200,43%, trà Ô Long giảm 6,12%

Xuất khẩu trà của nước ta trong tháng 1/2011 vẫn tập trung chủ yếu vào các thị trường truyền thống như Pakistan, Nga, Đài Loan, Trung Quốc, Inđônêxia, Đức…và xuất khẩu trà sang hầu hết các thị trường đều giảm khá

Trang 25

Trong đó, xuất khẩu trà sang thị trường Pakistan mặc dù lượng tăng nhẹ 0,29% so với tháng 12/2010, nhưng trị giá lại giảm 3,18% Thị trường đứng thứ hai là Nga giảm 44,66% về lượng và 39,52% trị giá Pakistan là quốc gia có đại đa số người dân uống trà, với mức tiêu thụ từ 190 – 200 triệu kg Trong số các nước xuất khẩu trà vào Pakistan như Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ và Băngladesh thì Việt Nam mới chỉ chiếm từ 1,6 – 4% lượng trà đen nhập khẩu, tỉ lệ này là quá thấp vì vậy các doanh nghiệp cần có kế hoạch đẩy mạnh giao thương để xuất khẩu vào thị trường nhiều tiềm năng này.

So với tháng 12/2010, khối lượng trà xuất khẩu sang thị trường Đài Loan và Trung Quốc cũng giảm 42,49% và 51,91% Còn so với cùng kỳ 2010, thị trường Đài Loan giảm 10,53%, thị trường Trung Quốc lại tăng 44,16%

2.2 GIỚI THIỆU VỀ BÃ TRÀ

2.2.1 Giá trị dinh dưỡng của bã trà

Đàn gia súc các nước nhiệt đới vẫn đang còn đối mặt với tình trạng thức ăn nghèo dưỡng chất như những phần thải ra từ việc thu hoạch mùa màng hay là những phụ

phẩm công nghiệp (Babayemi et al., 2004a) Việc đánh giá thành phần hóa học là

hết sức quan trọng, từ đó sẽ tính được giá trị dinh dưỡng của thức ăn,trên cơ sở đó

sẽ có biện pháp phối hợp với các nguyên liệu khác một cách hợp lí để làm thức ăn cho gia súc gia cầm nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao ( Trương La, 2010) Theo

Yamamoto et al (1997) trong lá trà chứa nhiều axit amin, protein, tannin,

polyphenol cho rằng bã trà có thể có tiềm năng bổ sung protein trong thức ăn động vật

Bã trà là phụ phẩm từ ngành công nghiệp sản xuất nước giải khát Chúng có thể được sử dụng như là một nguồn thức ăn không có tác động tiêu cực đến môi trường

(Kondo et at., 2004) Trong một số nghiên cứu thấy rằng chúng chứa protein trong khoảng từ 27,6 – 31,1% (Kondo et al., 2004; Xu et al., 2007) Hàm lượng tannin

trong bã trà tương đối cao đây cũng là nguyên nhân làm giảm dưỡng chất cũng như

hệ vi sinh vật trong dạ cỏ không thể sử dụng chất dinh dưỡng từ thức ăn do tannin

đã liên kết với protein (Austin et al., 1989) của thức ăn tạo thành hợp chất khó tiêu

hóa (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) Tuy nhiên nếu quy trình loại bỏ tannin vừa đơn giản vừa có tính kinh tế được phát triển thì bã trà sẽ là nguồn thức ăn cho

gia súc một cách có hiệu quả Trong thí nghiệm của Kondo et al (2004) các thành

phần hóa học của bã trà được hiển thị ở bảng 2.4

Trang 26

Ghi chú: CTs: condensed tannin (Kondo et al., 2004)

Và thành phần dinh dưỡng của bã trà theo Xu et al (2007) được trình bày ở bảng

2.5

Bảng 2.5 Thành phần dinh dưỡng của bã trà (g/kg DM)

250±2,60 970±2,50 311±2,00 57±0,20 261±3,50 410±3,10 96,5±0,40

Ghi chú: OM: vật chất hữu cơ, ADF: xơ acid, NDF: xơ trung tính (Xu et al., 2007)

Trong nghiên cứu của Bizendra and Prafulla (2006) đã tận dụng cả hai loại bã trà ởnhà máy: đã tách và chưa tách caffein để làm nguồn thức ăn cho gia súc và gia cầm được nuôi ở trung tâm Guwahati Các nghiên cứu đã cho thấy sự tồn tại các chất độc có trong bã trà và bã trà được loại caffein Có sự đổi mới các phương pháp phù hợp hơn để loại bỏ các chất có hại, tăng tính thèm ăn, giá trị dinh dưỡng, năng suất của từng loại đại gia súc (sinh trưởng và cho sữa), heo (sinh trưởng và thịt), gia cầm (thịt)

Bã trà được lấy từ nhà máy chưa loại bỏ caffeine: là thành phần gồm có một ít lá và bụi sau khi quá trình loại bỏ chất xơ trong lá tại nhà máy

Bã trà loại bỏ caffeine: là bã trà đã được tách caffein từ bã trà lấy từ nhà máy Đặc điểm của loại bã trà này là chỉ chứa hàm lượng acid tannic rất thấp (0,4 – 1% DM) nếu luôn rữa bằng nước nóng trong suốt quá trình tách caffein và có thể sử dụng để làm thức ăn cho gia súc mà không cần phải thêm 1 qui trình xử lý nào khác, nó có ý nghĩa kinh tế rất lớn Bã trà tách chiết chỉ được xử lý với ethane mà không qua rữa nước nóng thì còn chứa khoảng 3% acid tannic Thành công của thí nghiệm là dùng

bã trà tách chiết (đã được rữa) cho vào thức ăn đối với sự sinh trưởng và sản xuất của các loại gia súc, gia cầm

Trang 27

Bảng 2.6 Thành phần dinh dưỡng (%DM) của hai loại bã trà được lấy từ nhà máy

Thành phần dinh dưỡng Bã trà lấy từ nhà máy Bã trà đã được tách

(Bizendra and Prafulla, 2006)

Bảng 2.7 Thành phần acid amino trong bã trà

Ngày đăng: 12/04/2018, 01:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w