TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD BỘ MÔN CHĂN NUÔI ô e ef f ô Võ Hoài Phú ĐỀ TÀI KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG VÀ TÍNH NĂNG SẢN XUẤT CỦA CỎ Paspalum atratum VỚI CÁC MỨ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD
BỘ MÔN CHĂN NUÔI
ô e ef f ô
Võ Hoài Phú
ĐỀ TÀI
KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG VÀ TÍNH
NĂNG SẢN XUẤT CỦA CỎ Paspalum atratum VỚI
CÁC MỨC ĐỘ PHÂN BÓN KHÁC NHAU TẠI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ CHĂN NUÔI - THÚ Y
Cần Thơ, 12/2008
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD
BỘ MÔN CHĂN NUÔI
ô e ef f ô
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ CHĂN NUÔI - THÚ Y
ĐỀ TÀI
KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG VÀ TÍNH
NĂNG SẢN XUẤT CỦA CỎ Paspalum atratum VỚI
CÁC MỨC ĐỘ PHÂN BÓN KHÁC NHAU TẠI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hồng Nhân Võ Hoài Phú
MSSV: 3052451 Lớp: Chăn Nuôi - Thú Y K31
Cần Thơ, 12/2008
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD
BỘ MÔN CHĂN NUÔI
ô e ef f ô
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG VÀ TÍNH
NĂNG SẢN XUẤT CỦA CỎ Paspalum atratum VỚI
CÁC MỨC ĐỘ PHÂN BÓN KHÁC NHAU TẠI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Cần Thơ, Ngày Tháng Năm 2008 Cần Thơ, Ngày Tháng Năm 2008
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN DUYỆT BỘ MÔN
Nguyễn Thị Hồng Nhân
Cần Thơ, ngày tháng năm 2008 DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 53.3.4 Cách bón phân 11
4.1.1 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ khác nhaulên sự phát
triển chiều cao cây (cm)
13
4.1.2 Ảnh hưởng của các mức độ phân hóa học khác nhau lên sự
phát triển chiều cao cây (cm)
14
4.1.3 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ và hoá học khác nhau
lên sự phát triển chiều cao cây (cm)
16
4.2.1 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ lên sự phát chồi (
4.3.1 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ và hoá học lên Sự
4.4.1 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ lên năng suất của cỏ
Paspalum atratum (tấn/ha)
23
Trang 64.4.2 Ảnh hưởng của các mức độ phân hoá học lên năng suất của cỏ
Paspalum atratum (tấn/ha)
26
4.4.3 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ và hoá học lên năng
suất của cỏ Paspalum atratum (tấn/ha)
29
4.5.1 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ lên giá trị dinh dưỡng
của cỏ Paspalum atratum (%)
31
4.5.2 Ảnh hưởng của các mức độ phân hoá học lên giá trị vật chất
khô (DM) của cỏ Paspalum atratum (%)
32
4.5.3 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ và hoá học lên giá trị
protein thô (CP) của cỏ Paspalum atratum (%DM)
Trang 7DANH SÁCH BIỂU BẢNG Bảng 3.1 Các chỉ tiêu theo dõi và cách thu thập số liệu 12
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ khác nhau lên sự phát
triển chiều cao cây của cỏ Paspalum (cm)
13
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của các mức độ phân hóa học lên sự phát triển chiều
cao cây (cm)
15
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ và hoá học lên sự phát
triển chiều cao cây
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ và hoá học lên sự phát
triển chồi (chồi/bụi)
20
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ lên Sự phát triển độ cao
thảm của cỏ Paspalum atratum (cm)
21
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của các mức độ phân hóa học lên sự phát triển độ
cao thảm của cỏ Paspalum atratum (cm)
21
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của các mức độ phânhữu cơ và hoá học lên sự phát
triển độ cao thảm của cỏ Paspalum (cm)
22
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ lên năng suất của cỏ
Paspalum atratum (tấn/ha)
24
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của các mức độ phân hóa học lên năng suất của cỏ
Paspalum atratum (tấn/ha)
28
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ và hoá học lên năng
suất của cỏ Paspalum atratum (tấn/ha)
29
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ lên giá trị dinh dưỡng
của cỏ Paspalum atratum (%)
32
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của các mức độ phân hóa học lên giá trị dinh dưỡng
của cỏ Paspalum atratum (%)
33
Bảng 4.15 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ và hoá học lên giá trị
dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum (%)
33
Trang 8DANH SÁCH VIẾT CHỮ TẮT
DM: vật chất khô CP: protein thô NT: nghiệm thức NSCX: năng suất chất xanh NSCK: năng suất chất khô NSCP: năng suất protein thô HC1: hữu cơ 1 (10 tấn phân hữu cơ/ha) HC2: hữu cơ 2 (20 tấn phân hữu cơ/ha) HC3: hữu cơ 3 (30 tấn phân hữu cơ/ha) HH1: hoá học 1 (250kg Urea/ha + 500kg lân/ha + 200kg Kali/ha) HH2: hoá học 2 (350kg Urea/ha + 750kg lân/ha + 300kg Kali/ha) Lứa 1: thu hoạch lần 1
Lứa 2: sau khi cắt lần 1 đến lúc thu hoạch lần 2 Lứa 3: sau khi cắt lần 2 đến lúc thu hoạch lần 3 Lứa 4: sau khi cắt lần 3 đến lúc thu hoạch lần 4
Trang 9DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ khác nhau lên sự
phát triển chiều cao cây (cm)
14
Biểu đồ 4.2 Ảnh hưởng của các mức độ phân hoá học lên sự phát triển
chiều cao cây (cm)
Biểu đồ 4.5 Ảnh hưởng của các mức độ phân hoá học lên sự phát triển
độ cao thảm của cỏ Paspalum atratum (cm)
22
Biểu đồ 4.6 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ lên năng suất chất
xanh (NSCX) của cỏ Paspalum (tấn/ha)
24
Biểu đồ 4.7 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ lên năng suất chất
khô (NSCK) của cỏ Paspalum (tấn/ha)
24
Biểu đồ 4.8 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ lên năng suất
protein thô (NSCP) của cỏ Paspalum (tấn/ha)
25
Biểu đồ 4.9 Ảnh hưởng của các mức độ phân hoá học lên năng suất chất
xanh (NSCX) của cỏ Paspalum (tấn/ha)
26
Biểu đồ 4.10 Ảnh hưởng của các mức độ phân hoá học lên năng suất chất
khô (NSCK) của cỏ Paspalum (tấn/ha)
27
Biểu đồ 4.11 Ảnh hưởng của các mức độ phân hoá học lên năng suất
protein thô (NSCP) của cỏ Paspalum (tấn/ha)
28
Trang 10TÓM LƯỢC
Mục tiêu của đề tài “khảo sát đặc tính sinh trưởng và tính năng sản xuất của cỏ paspalum atratum với các mức độ phân bón khác nhau tại tành phố Cần Thơ” là tìm ra mức độ phân bón phù hợp để thu được năng suất cao nhất và chất lượng tốt nhất Nhằm giải
quyết tốt vấn đề thức ăn xanh phục vụ cho chăn nuôi ngày càng phát triển
Mỗi lô thí nghiệm có diện tích 20 m 2 (4m x 5m) và được bố trí theo thể thức thừa số hai nhân tố (ba mức độ phân hữu cơ và hai mức độ phân hóa học) với 6 nghiệm thức và 3 lần lặp lại
.Nhân tố 1: phân hữu cơ:
Hữu cơ 1 (HC1) : 10 tấn/ha
Hữu cơ 2 (HC2) : 20 tấn/ha
Hữu cơ 3 (HC3): 30 tấn/ha
Nhân tố 2: phân hóa học:
Hóa học 1 (HH1) : 250 Urea – 500 Lân – 200 Kali (kg/ha/năm)
Hóa học 2 (HH2): 350 Urea – 750 Lân – 300 Kali (kg/ha/năm)
Trang 11Lứa 1: năng suất chất xanh, chất khô và năng suất CP ở mức độ HC3*HH2 là 25,167 tấn/ha 4,783 tấn/ha và 0,415 tấn/ha cao hơn so với các mức độ khác trong cùng thí nghiệm
và thấp nhất là ở mức độ HC1*HH1có NSCX (19,167 tấn/h)) NSCK (3,530 tấn/ha) và NSCP(0,293 tấn/ha) Hàm lượng protein thô cao nhất ở mức độ HC3*HH2 8,687% thấp nhất ở mức độ HC1*HH1 là 8,3%
Lứa 2: năng suất chất xanh, chất khô ở mức độ HC3*HH2 là 24,83 tấn/ha/năm và 4,573 tấn/ha cao hơn so với các mức độ khác trong cùng thí nghiệm và thấp nhất là ở mức độ HC1*HH1có NSCX (19,71 tấn/ha) và NSCK (3.64 tấn/ha) Hàm lượng protein thô cao nhất ở mức độ HC3*HH1 là 8,79% thấp nhất là ở mức độ HC1*HH1(8,213%) Năng suất
CP cũng cao nhất ở mức độ HC3*HH2 0,403 tấn/ha và thấp nhất ở mức độ HC1*HH1với 0,298 tấn/ha
Lứa 3: năng suất chất xanh cao nhất, ở mức độ HC3*HH2 là 20,917 tấn/ha cao hơn so với các mức độ khác trong cùng thí nghiệm và thấp nhất là ở mức độ HC1*HH1có NSCX (13,917 tấn/ha), NSCK cao nhất ở mức độ HC2*HH2 với 3,707 tấn/ha thấp nhất ở mức độ HC1*HH1 3,417 tấn/ha Hàm lượng protein thô cao nhất ở mức độ HC2*HH1 là 8,65% thấp nhất là ở mức độ HC3*HH2 (8,4%) Năng suất CP cao nhất ở mức độ HC2*HH2 0,312 tấn/ha và thấp nhất ở mức độ HC1*HH1với 0,207 tấn/ha
Lứa 4: năng suất chất xanh, chất khô và năng suất CP ở mức độ HC3*HH2 là 25,167 tấn/ha 4,537 tấn/ha và 0,407 tấn/ha cao hơn so với các mức độ khác trong cùng thí nghiệm và thấp nhất là ở mức độ HC1*HH1có NSCX 14,29 tấn/ha và NSCK (2,77 tấn/ha)
và (0,24 tấn/ha) Hàm lượng protein thô cao nhất ở mức độ HC3*HH2 là 8,96% thấp nhất
là ở mức độ HC1*HH2(8,48%)
Trang 12
nó đã mang lại lợi nhuận cao cho người nông dân Vì quy mô chăn nuôi tập trung phát triển ngày càng lớn nên vấn đề thiếu thức ăn xanh diễn ra nghiêm trọng nhất là vào mùa khô Để giải quyết vấn đề này thì không còn cách nào khác hơn ngoài việc trồng cỏ Vấn đề đặt ra là phải trồng như thế nào để có năng suất cao và chất lượng là vấn đề rất quan trọng
Xuất phát từ vấn đề thực tế trên nên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Khảo sát đặc tính sinh trưởng và tính năng sản xuất của cỏ Paspalum
atratum với các mức độ phân bón khác nhau tại tành phố Cần Thơ”
Mục tiêu của đề tài là tìm ra mức độ phân bón phù hợp để thu được năng suất cao nhất và chất lượng tốt nhất Nhằm giải quyết tốt vấn đề thức ăn xanh phục
vụ cho chăn nuôi ngày càng phát triển
Trang 13
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Nguồn gốc và phân bố
2.1.1 Nguồn gốc
Cỏ Paspalum có nguồn gốc ở Brazil, là giống cỏ lâu năm Cỏ thích nghi trên nhiều loại đất ở đất ngập úng, đất thiếu nước, đất nghèo dưỡng chất, đất acid, đất kiềm…
Cỏ có nhiều hạt, trổ hoa vào khoảng tháng 2 - 4 hàng năm, hoa cỏ Paspalum
có 5 - 9 chùm với 70 - 90 bông con Hạt có màu hơi nâu đỏ và có khoảng 200.000 - 400.000 hạt/kg Cỏ Paspalum có bộ rễ khỏe, ăn sâu vào đất nên có khả năng chịu hạn tốt Cỏ thích hợp với những vùng có lượng mưa từ khoảng
900 mm trở lên Vì vậy thích hợp với những vùng có khả năng thoát nước tốt
Cỏ cũng có khả năng chịu bóng tốt cho nên có thể trồng được dưới tán cây to hoặc cây bụi Cỏ phát triển tốt trên đất màu mỡ trung bình và vùng nhiệt đới nóng ẩm, có khả năng chịu ngập úng, tuy nhiên cỏ sẽ ngừng phát triển nếu ngập úng kéo dài Cỏ vẫn sinh trưởng trong điều kiện khô hạn nhưng không tốt Trong điều kiện đất màu mỡ thì phát triển lá rất tốt, mềm mại và ngon miệng rất tốt cho chăn nuôi bò sữa và bò trong giai đoạn tăng trưởng Tuy nhiên, lá thân trở nên khô cứng và không ngon miệng vào mùa khô
Nông dân thích trồng cỏ Paspalum vì cỏ cho năng suất cao, dễ trồng, phát triển nhanh, chống chịu sâu bệnh tốt và có thể chăn thả được
Khả năng cạnh tranh với các loại cây khác: Cỏ Paspalum có khả năng cạnh tranh với cỏ dại và có khả năng chịu giẫm đạp tốt Nhiều nơi, người ta trồng
cỏ để chăn thả
Cỏ có thể trồng bằng hạt hoặc bằng hom
Năng suất trung bình khoảng 120 – 180 tấn/ha/năm (Nguyễn Tường Cát, 2005)
Trang 14Giá trị dinh dưỡng của cỏ khá cao khi cây cỏ còn non, trước trổ bông, nhiều lá
và sẽ giảm nhanh chóng theo với lứa tuổi của cỏ Vì có nhược điểm là thân hóa gỗ nhanh.Thời gian trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa (bảo đảm tỷ lệ sống cao) Trồng một lần, thu hoạch trong 4 -5 năm hoặc dài hơn
2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thức ăn xanh của cỏ Paspalum
2.3.1 Nước
Đối với thực vật nước cần cho tất cả các hoạt động sống của chúng Trong cỏ tốt nước chiếm 80% trọng lượng tươi, phần còn lại là một lượng nhỏ chất khoáng và toàn bộ chất hữu cơ tổng hợp được 80% nước ở dạng tự do hay liên kết, có vai trò sinh học như hoà tan các chất vô cơ và vận chuyển đến các
cơ quan của thực vật Vì thế nước không thể nào thiếu được đối với cây trồng, đồng cỏ
Giữ được nước trong đất thì các chất khoáng mới phát huy tác dụng và trở thành có giá trị thực sự đối với cây cỏ, các vi sinh vật đất mới phát huy tác dụng và đất mới thực sự trở thanh màu mỡ, có giá trị dinh dưỡng cung cấp cho cây xanh
Nhu cầu về nước của cỏ hoà thảo thay đổi tuỳ loài, tuỳ giai đoạn sinh trưởng, tuỳ nhóm có chịu hạn, trung sinh, ưa ẩm hay thuỷ sinh Nếu thiếu nước cây sinh trưởng chậm đặc biệt là thiếu nước trong mùa khô làm hàm lượng chất thô (cellulose, lignin) tăng, protein giảm (Dương Hữu Thời, Nguyễn Đăng Khôi, 1979)
2.3.2 Đất đai
Độ phì nhiêu của đất là khả năng của đất đáp ứng nhu cầu của cây trồng về chất dinh dưỡng với số lượng, dạng và tỉ lệ thích hợp để cây có thể sinh trưởng, phát triển và tạo ra sinh khối lớn nhất Đất nào có khả năng thoả mãn nhu cầu của cây trồng cao, cho năng suất cao thì được coi là phì nhiêu và ngược lại Độ phì nhiêu của đất được quyết định do hạm lượng chất dinh dưỡng tổng số dạng và lượng các chất dinh dưỡng hữu dụng cho cây, hàm lượng và thành phần của chất hữu cơ trong đất
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, người ta đánh giá độ phì nhiêu của đất qua các chỉ tiêu: độ pH, chất hữu cơ, % đạm tổng số, % lân tổng số, % kali tổng số,… Đối với một số loại đất có vấn đề như đất phèn, đất mặn, … thì sự hiện diện của độc chất trong đất có thể là những chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu quan trọng (Ngô Ngọc Hưng, 2004)
Trang 15Ngoài các tác động sinh lý học của đất còn có vai trò quan trọng của các nguyên tố đại lượng dưới dạng muối như N, P, K, Ca, Mg và các nguyên tố vi lượng Bo, Co, Cu, Cl, I, Fe, Mn…các nguyên tố này có liên quan đến sự sinh trưởng, phát triển và sinh sản của gia súc Ví dụ: pH đất thay đổi theo hướng kiềm (bón vôi) sẽ dẫn tới sự giảm Mg, Zn, Co trong cỏ Hay trong điều kiện
ẩm độ đất cao Se, Mo, Mn và Nitrat dưới dạng tự do tập trung trong cỏ sẽ gây bệnh dinh dưỡng cho gia súc (giảm tiết sữa, ngộ độc, sẩy thai,…)
Do đó, đất để trồng cỏ tốt nhất là đất thịt nhẹ các loại đất sét nặng hoặc nhiều cát cỏ mọc không tốt Những đồng cỏ hoang đã lâu đời cỏ không mọc tốt được
vì thiếu vôi, đạm và nhiều nguyên tố vi lượng khác Có rất ít giống cỏ chịu được đất nhiễm phèn và nhiễm mặn
Một điều gần như trở thành nguyên lý bón phân gì cho cỏ hoà thảo thì thành phần hoá học của cỏ giàu chất ấy Đất từ 1,2 – 1,5 %K là thích hợp cho dinh dưỡng của cỏ hoà thảo, ngoài ra cũng cần Ca vì thành phần Ca trong cỏ hoà thảo khoảng 0,18 – 0,48 %
Đối với đất bị rữa trôi nhiều năm làm pH rất chua (pH 3,5 – 5,5) làm nhiều loại vi khuẩn cố định N (Rhizobium) không phát triển được trong khi pH cho chúng phát triển được khoảng 5,5 – 7, người ta cải tạo độ chua bằng cách bón vôi để tăng pH đất lên gần trung hoà hay kiềm
Ngoài ra địa hình cũng ảnh hưởng ít nhiều đến việc trồng cỏ Nên chọn thế đất bằng phẳng để trồng cỏ vì cỏ trồng sẽ sinh trưởng và phát triển đồng đều, phân bón và nước tưới được chang hoà đều khắp Các vùng đất hơi dốc độ nghiêng vừa phải vẫn có thể trồng cỏ được Tuy nhiên thế đất quá dốc thì mùa mưa sẽ xói mòn cuốn theo những chất màu mỡ có sẵn trong đất khiến cỏ trồng mất hết dinh dưỡng để sống Mặc khác, thế đất cũng không nên quá cao cách xa mạch nước ngầm nhưng đồng thời cũng không nên quá trũng gây ngập úng vào mùa mưa và triều cường
Đa số các giống cỏ đều không thích nghi ở nơi có bóng râm che phủ mà đòi hỏi nhận được nhiều ánh sáng trong ngày để quang hợp tốt Vì vậy trồng cỏ nơi nhiều ánh sáng cũng tươi tốt và cho năng suất cao hơn Chính vì thế mà tùy địa chất từng vùng mà chọn giống cỏ phù hợp vì mỗi giống cỏ sẽ có đặc tính riêng và sực chịu đựng riêng (Nguyễn Đăng Khôi, 1979)
Trang 16nảy chồi của cỏ trong Đông–Xuân Ở các nước nhiệt đới nhiệt độ ban ngày nóng làm nước của đất bốc hơi mạnh nên thu hoạch không cao Ngoài ra lượng sương ban đêm, chế độ gió cũng ảnh hưởng nhiều sinh trưởng của cỏ Chính lượng sương này sẽ bù đắp nước cho cỏ vào mùa khô kích thích nảy chồi Chế độ gió ảnh hưởng đến độ ẩm không khí làm cho khí hậu khô hay ẩm đều tác động đến cỏ (Dương Hữu Thời và Nguyễn Đăng Khôi, 1979)
Cỏ trồng sẽ tươi tốt khi được trồng ở những vùng có mùa mưa kéo dài và mùa nắng ngắn Lượng mưa khoảng 2000 mm/năm là tốt nhất Ngoài ra ở những nơi sức gió quá lớn có thể gây ngã đổ nên trồng những cây thân thấp Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của chế độ gió mùa Châu Á, có sắc thái đa dạng với một mùa lạnh ở phía Bắc (từ đèo Hải Vân trở ra) và khí hậu kiểu Nam Á (Tây Nguyên, Nam Bộ) cũng như khí hậu có tính chuyển tiếp ở vùng ven biển Trung Bộ Nước ta có tiềm năng về thời gian chiếu sáng và lượng mưa dồi dào, phân bố tương đối đều giữa các vùng trong nước Với số giờ nắng cao, tổng lượng bức xạ lớn, “tài nguyên nhiệt” trên phạm vi cả nước được xem là loại giàu và là nguồn năng lượng tự nhiên bậc nhất đối với cây trồng Phía Nam thuộc miền nhiệt đới điển hình không có mùa đông, chia làm ba vùng sinh thái theo ba đới khí hậu: vùng cao trên 500
m, vùng đồi núi thấp dưới 500 m và vùng đồng bằng Vùng đồng bằng có tổng nhiệt năng trên 9000 0C, thời gian khô hạn 3 – 4 tháng Thành phần cây trồng nhiệt đới phong phú Trong điều kiện có đủ nước, cây nông nghiệp phát triển xanh tốt quanh năm (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2003)
Khí hậu nhiệt đới gió mùa của nước ta ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây thức ăn gia súc nói chung Với cỏ hoà thảo, hầu hết đều sinh trưởng nhanh vào mùa hè, ra hoa kết trái vào mùa thu và gần như ngưng sinh trưởng vào mùa đông, đến mùa xuân thì phát triển nhanh và cho nhiều lá Tuy sinh trưởng nhanh, năng suất cao nhưng cỏ hoà thảo lại nhanh hoá xơ, chính vì thế mà giá trị cũng giảm theo (Vũ Duy Giảng etal, 1995)
Trang 17của cỏ Cỏ từ khi trồng thì năng suất và thành phần dưỡng chất của cỏ sẽ tăng theo tuổi, giảm dần khi ra hoa, kết hạt
Ở cỏ còn non, tỉ lệ nước khá cao Do đó nếu thu hoạch cỏ quá non cho gia súc
ăn thì gia súc dễ bị tiêu chảy, hấp thu dưỡng chất kém Ngược lại cỏ quá già
có dưỡng chất kém, nhiều xơ Vì vậy nên thu hoạch cỏ hoà thảo lúc sắp ra hoa hoặc đã ra hoa khoảng 5% tổng số cây trên đồng cỏ
2.3.5 Phân bón
Cây trồng lấy dưỡng chất từ đất để sinh trưởng, phát triển Tuy nhiên dưỡng chất trong đất lại có giới hạn, do đó việc bổ sung các thành phần dưỡng chất theo nhu cầu cây trồng là việc không thể thiếu được Phân bón được sử dụng
có thể là phân vô cơ (phân hoá học) hay phân hữu cơ, có một điều gần như trở thành nguyên lý là bón phân gì cho cỏ hoà thảo thì thành phần hoá học của cỏ giàu chất ấy (Dương Hữu Thời và Nguyễn Đăng Khôi, 1979)
Với phân vô cơ, tuỳ nhà sản xuất hay nhu cầu thị trường mà phân hoá học được sản xuất là phân đơn (chỉ chứa một loại dưỡng chất) hoặc phân hỗn hợp (loại chứa nhiều dưỡng chất) Các dưỡng chất chứa trong phân hoá học là những dưỡng chất dễ tiêu, khi bón vào đất cây trồng có thể hấp thu ngay Hàm lượng dưỡng chất trong phân hóa học khá cao nên khi sử dụng cần chú ý liều lượng, nếu thừa rất dễ gây hại cho cây, nhất là phân đạm (Võ Thị Gương, 2004) Mặc khác phân hoá học tương đối nhẹ, dễ chuyên chở, dễ tan nên dùng
để bón thúc có hiệu quả cao
Trong khi đó phân hữu cơ do tính phân giải chậm, không kịp cung cấp dưỡng chất cho cây trồng nên thường dùng để bón lót Phân chuồng là một trong những loại phân được sử dụng khá rộng rãi Bón phân chuồng sẽ làm tăng độ xốp của đất, cải tạo chế độ nước và không khí của đất, tăng thêm dưỡng chất
đa – vi lượng, về lâu dài sẽ tăng tỉ lệ mùn, tích luỹ nhiều lân, kali tổng số….tạo tiền đề cho đất có độ phì nhiêu cao hơn Bón với lượng lớn phân chuồng không gây hại lớn, lượng dưỡng chất dư thừa cây không sử dụng hết
có thể dùng tiếp cho vụ sau Tuy nhiên phân chuồng có tỉ lệ dưỡng chất thấp nên cần có khối lượng lớn, gây cồng kềnh, dưỡng chất phân chuồng lại không
ổn định, tác dụng chậm hơn so với phân hoá học
Phân hoá học là một lợi thế để điều khiển năng suất nhưng mỗi sự thay đổi về liều lượng và cách bón sẽ thể hiện ra bằng một sự thay đổi rõ rệt về năng suất Cùng một lượng phân hoá học chia ra bón làm nhiều cách khác nhau về thời gian thì năng suất có thể thay đổi nhưng cùng một lượng phân chuồng chia ra bón thì thay đổi không đáng kể (Lê Văn Căn, 1982)
Trang 18Một số phân hoá học thường thấy trên thị trường như phân urea (chứa 46% N) phân kali (chứa 63,2 % K2O), phân super lân (chứa 16 – 50 %P2O5) phân NPK
16 – 16 – 8 (chứa 16 % N, 16 % P2O5, 8 % K2O)
Đạm
Đạm là yếu tố quan trọng hàng đầu vì nó là thành phần cơ bản của protein, chất tiêu biểu cho sự sống Đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hoá cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hấp thu các yếu tố dinh dưỡng khác, là nguyên tố cần thiết cho sự phân bào và phát triển của cây Đạm làm tăng diện tích và khối lượng nguyên sinh chất trong cây Cây trồng được bón đạm hợp lý, lá cây xanh thẫm, sinh trưởng khỏe mạnh, chồi phát triển mạnh, năng suất cao Tuy nhiên bón thừa đạm, tỷ lệ nước trong cây cao, cây
dễ bị mắc bệnh, dễ đổ, thời gian sinh trưởng kéo dài, phẩm chất nông sản kém (Chu Thị Thơm et al , 2005)
Urê là loại phân đạm ở thể vô cơ cung cấp nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho nhiều loại cây trồng và không làm bỏng cây (Lê Văn Căn, 1960) Phân này có hàm lượng đạm nguyên chất là 46%, phân không chua nên có thể bón tốt cho mọi vùng đất, các vùng đất có độ chua khác nhau
Lân
Giúp phân chia tế bào, tạo thành chất béo và protein; giúp rễ dễ phát triển, đẻ nhánh nhiều, góp phần gia tăng năng suất, thúc đẩy việc ra hoa, hình thành quả, quyết định phẩm chất hạt giống; hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm, làm tăng độ vững chắc cho thân cây, chống đổ cho thân cây; cải thiện chất lượng sản phẩm nhất là rau và cỏ làm thức ăn cho gia súc; cây thiếu lân sinh trưởng chậm, cây nhỏ, đẻ nhánh kém; it di chuyển trong đất và ít bị rửa trôi Đất nghèo lân không thể là đất tốt vì năng suất cây trồng không thể cao Phân lân bón kết hợp cho mọi loại đất và mọi loại cây từ đất chua, đất ít chua và đất trung tính (Chu Thị Thơm et al , 2005)
Kali
Giúp cây chống đổ, chống rét, làm giảm tác hại của việc bón nhiều đạm Thiếu kali quá trình quang hợp của cây giảm, hô hấp tăng nên năng suất giảm, chất lượng sản phẩm kém Phân kali có tỷ lệ kali oxid là 60% Kali có màu hồng (muối ớt) rất cần thiết cho sự phát triển cây họ đậu, còn đối với cây họ hoà thảo chúng có khả năng hút kali từ đất nên việc bón nhiều kali không quan trọng (Chu Thị Thơm, et al , 2005)
Phân bón hoá học tương đối nhẹ, dễ chuyên chở, dễ tan cây có thể hút trực tiếp được do đó dùng để bón thúc hiệu quả rất nhanh Trong khi đó phân hữu cơ do
Trang 19tính từ từ phân giải nên không đảm bảo kịp thời gian cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng nên thường dùng để bón lót
Phân hoá học là một lợi thế để điều khiển năng suất vì mỗi một sự thay đổi về liều lượng và cách bón sẽ thể hiện ra bằng một sự thay đổi rõ rệt về năng suất Cùng một lượng phân hoá học chia ra bón bằng nhiều cách khác nhau về thời gian thì năng suất có thể thay đổi Nhưng cùng một lượng phân chuồng chia ra bón thì thay đổi về năng suất không đáng kể (Lê Văn Căn, 1982)
Công thức phân bón: Theo Nguyễn Văn Tuyền (1975) một số công thức phân
bón sử dụng cho đồng cỏ như sau:
Phân chuồng từ 20 – 50 tấn/ha Phân chuồng được rãi trên mặt đất với số lượng như trên, tuỳ đất tốt hay xấu Xong dùng bừa trộn lộn phân với đất để cho phân thêm hoai khoảng 10 ngày trước khi trồng
Phân hoá học đối với cỏ hoà thảo: 100kg N + 60kg P2O5 + 30kg K2O/ha Trong đó 50kg N + 60kg P2O5 + 30kg K2O/ha đựơc trộn đều và bón ngay sau khi trồng và 50kg N còn lại bón sau sau khi thu hoạch
2.4 Thành phần dưỡng chất
Thành phần dưỡng chất của cỏ paspalum thích hợp cho chăn nuôi gia súc lớn,
ngựa, kể cả heo, cá ở một số nơi trên thế giới
Chất đạm là chất tối cần thiết cho sự phát triển của gia súc Cỏ còn non chất đạm ít Đạm trong cỏ cao nhất lúc cỏ sắp trổ bông và về già giảm dần
Chất béo cũng tăng dần theo sự phát triển của cỏ
Chất khoáng và sinh tố: những chất này cao nhất lúc cỏ sắp ra bông, giảm dần
và trở nên không tốt lúc về già
Về hàm lượng độc tính trong cây: chưa có phát hiện nào về độc tính lẫn chất kháng dưỡng
Năng suất trung bình trong khoảng từ 120 - 180 tấn/ha/năm, tuy nhiên có thể đạt đến 250 tấn/ha/năm
Trang 202.6 Các phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích vật chất khô (VCK), protein tổng số (CP) theo phương pháp AOAC (2001)
Trang 21CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Điều kiện thí nghiệm
3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 12/2007 đến tháng 10/2008 tại khu I Đại Học Cần Thơ và quận Bình Thủy thành phố Cần Thơ
3.1.2 Đất đai
Đất dùng làm thí nghiệm là đất thịt được làm sạch cỏ dại, cuốc xới lên, phân
lô, bón lót bằng phân trùn quế
3.1.3 Nguồn giống
Cỏ Paspalum được trồng bằng tép lấy tại khu II Đại Học Cần Thơ Cần chọn những tép cỏ đủ tiêu chuẩn để làm giống: tép cỏ phải được tách ra từ bụi cỏ tốt Loại bỏ những tép quá già hoặc non không đủ tiêu chuẩn làm giống (tép cỏ quá già thì khả năng nảy chồi thấp, tép cỏ quá non thì khả năng sống sót thấp
dễ héo và chết)
3.2 Phương tiện thí nghiệm
Dụng cụ thí nghiệm: dao, cân đồng hồ, thùng tưới nước, thước dây, liềm, cuốc…
Dụng cụ phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm: dao, thớt, máy nghiền, tủ sấy, cân phân tích, tủ nung, bộ công phá và chưng cất đạm
3.3 Phương pháp tiến hành thí nghiệm
3.3.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức thừa số hai nhân tố (ba mức độ phân hữu
cơ và hai mức độ phân hóa học) với 6 nghiệm thức và 3 lần lặp lại trong đó:
Nhân tố 1: phân hữu cơ:
Hữu cơ 1 (HC1) : 10 tấn/ha
Hữu cơ 2 (HC2) : 20 tấn/ha
Hữu cơ 3 (HC3): 30 tấn/ha
Nhân tố 2: phân hóa học:
Hóa học 1 (HH1) : 250 Urea – 500 Lân – 200 Kali (kg/ha/năm)
Hóa học 2 (HH2): 350 Urea – 750 Lân – 300 Kali (kg/ha/năm)
ð 6 nghiệm thức
Nghiệm thức 1 (NT1) : HC1*HH1 = 10 (tấn/ha) phân hữu cơ + (250 Urea –
500 Lân – 200 Kali) (kg/ha/năm)
Trang 22Nghiệm thức 2 (NT2) : HC1*HH2 = 10 (tấn/ha) phân hữu cơ + (350 Urea –
750 Lân – 300 Kali) (kg/ha/năm)
Nghiệm thức 3 (NT3) : HC2*HH1 = 20 (tấn/ha) phân hữu cơ + (250 Urea –
500 Lân – 200 Kali) (kg/ha/năm) +
Nghiệm thức 4 (NT4) : HC2*HH2 = 20 (tấn/ha) phân hữu cơ + (350 Urea –
750 Lân – 300 Kali) (kg/ha/năm)
Nghiệm thức 5 (NT5) : HC3*HH1 = 30 (tấn/ha) phân hữu cơ + (250 Urea –
500 Lân – 200 Kali) (kg/ha/năm)
Nghiệm thức 6 (NT6) : HC3*HH2 = 30 (tấn/ha) phân hữu cơ + (350 Urea –
750 Lân – 300 Kali) (kg/ha/năm)
Thí nghiệm có tất cả 18 lô, diện tích mỗi lô là 20 m2 (4m x 5m) khoảng cách trồng là 40 x 40cm
3.3.2 Kỹ thuật trồng
Cỏ Paspalum được trồng bằng tép (mỗi tép dài khoảng 20-30cm) và được trồng thẳng góc so với mặt đất Phần gốc được lấp đất dày khoảng 10cm, phần ngọn để hở Chú ý sau khi lấp đất phải dặm chặt lớp đất lấp để tép cỏ trồng không bị ngã do gió hay do nước tưới vào
3.3.3 Chuẩn bị đất
Đất được làm sạch cỏ dại, dùng cuốc đánh thành rãnh (khoảng cách giữa các rãnh là 40cm, độ sâu của rãnh khoảng 10-15 cm), sau đó dùng phân hữu cơ bón lót
3.3.6 Thời gian thu hoạch
Khi trồng được 60 ngày thì tiến hành thu hoạch lứa 1 và 45 ngày sau khi thu hoạch lứa 1 thì tiến hành thu hoạch lứa 2, 3, 4 Thu hoạch vào lúc trời mát mẻ không mưa, không nắng gắt, tốt nhất là từ 7 – 9 giờ sáng
Trang 233.4 Các chỉ tiêu theo dõi và cách thu thập số liệu
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu theo dõi và cách thu thập số liệu
Chỉ tiêu Cách thu thập số liệu
Sự nẩy chồi (chồi/bụi)
Đếm số chồi trên bụi ở 15, 30, 45, 60 ngày sau khi trồng (đối với lứa một), ở 15, 30, 45 ngày sau khi thu hoạch (đối với lứa hai trở đi)
Chiều cao cây (cm) Đo từ mặt đất đến chỗ tận cùng khi vuốt thẳng lá, đo vào các
ngày 15, 30, 45, 60 ngày sau khi trồng và đo vào các ngày
15, 30, 45 ngày sau khi thu hoạch lứa 1
Độ cao thảm (cm)
Đo từ mặt đất đến tận cùng khi không vuốt thẳng lá Đo 5 điểm trong lô theo phương pháp đường chéo và đo trước khi thu hoạch cỏ
Năng suất chất xanh (tấn/ha/lứa)
Lấy trọng lượng trung bình từ 5 m2 cỏ tươi trong mỗi lô để tính năng suất chất xanh, quy đổi ra tấn/ha/lứa Cắt ở hàng trong không cắt ở các bụi hàng đầu và hàng bìa Thu hoạch lúc 8-9 giờ sáng nắng ráo
Năng suất chất khô (tấn/ha/lứa)
Năng suất khô = %vật chất khô * năng suất chất xanh
Giá trị dinh dưỡng Lấy mẫu sấy đem nghiền sau đó đem phân tích xác định hàm
lượng nước, Protein thô, tro, xơ
Năng suất Protein Năng suất Protein = năng suất chất khô * %CP (trạng thái
khô hoàn toàn)
3.5 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lí sơ bộ bằng chương trình Microsoft Excel và phân tích phương sai bằng mô hình Tuyến tính Tổng quát (General Linear Model) của chương trình Minitab Release 13.2 Để kiểm định mức độ khác biệt ý nghĩa của các nghiệm thức dựa vào Turkey
Trang 24CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1 Sự phát triển chiều cao cây của cỏ Paspalum atratum (cm)
Chiều cao cây tăng dần qua các ngày khảo sát, thời gian đầu tốc độ phát triển của cỏ chậm do hệ rễ chưa tạo nhiều, sự thích nghi với môi trường kém, càng
về sau tốc độ phát triển về chiều cao càng cao do hệ rễ ăn sâu và cỏ thích nghi với môi trường
4.1.1 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ khác nhau lên sự phát triển chiều cao cây (cm)
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của mức độ phân hữu cơ khác nhau lên sự phát triển chiều cao cây (cm)
Tại thời điểm thu hoạch lứa 1 (60 ngày) chiều cao cây ở mức độ HC3 là cao nhất (128,25 cm), kế đến ở mức độ HC2 là 127,37 cm, thấp nhất ở mức độ HC1 là 124,63 cm Thời điểm thu hoạch lứa 2 (45 ngày) chiều cao cây ở mức
độ phân bón HC2 và HC3 là tương đương nhau (87 cm), và cao hơn ở mức
độ HC1 là với 82,192 cm Thời điểm thu hoạch lứa 3 (45 ngày) chiều cao cây
ở mức độ HC3 là cao nhất (111,75 cm), kế đến ở mức độ HC2 là 109,83 cm,
Trang 25mức độ HC1 (107,31 cm) Thời điểm thu hoạch lứa 4 (45 ngày) chiều cao cây
ở mức độ HC3 là cao nhất (101,603 cm), kế đến ở mức độ HC2 là 99,71 cm, mức độ HC1 (96,95 cm) Nhìn chung chiều cao cây ở mức độ HC3, kến đến là mức độ HC2 và thấp nhất ở mức độ HC1
Chiều cao ở lứa 1 cao hơn nhiều so với các lứa khác là do lứa 1 được thu hoạch 60 ngày sau khi trồng còn ở các lứa còn lại thu được thu hoạch ở 45 ngày sau khi cắt
0 60 120 180
độ HH1 là 108,29 cm (P=0,01) Thời điểm thu hoạch lứa 4 (45 ngày) chiều cao cây ở mức độ HH2 100,59 cm cao hơn ở mức độ HH1 là 98,25 cm (P=0,04)
So sánh kết quả chiều cao thu được từ hai mức độ phân hóa học thì có thể thấy HH2 luôn cao hơn nghiệm thức HH1 trong tất cả các lần thu hoạch ở các lứa
và chiều cao trung bình các lứa ở nghiệm thức HH2 là 106,6cm cao hơn
Trang 26nghiệm thức HH1 là 103,98 cm chính vì thế nghiệm thức HH2 là lựa chọn thích hợp cho sự phát triển chiều cao cây
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của các mức độ phân hoá học lên sự phát triển chiều cao cây (cm)
Nhìn chung sự phát triển về chiều cao cây là khá cao 105,29 cm so với kết quả
của Mạch Hiệp Quang (2008) trồng Paspalum atratum dưới nước là 67,96cm
thì cao hơn, so với kết quả thu được của Lê Đình Phương Nghi (2007) trồng
Paspalum atratum trong chậu là 106,53cm thì hoàn toàn phù hợp với kết quả
của chúng tôi
050100150
Trang 274.1.3 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ và hoá học lên sự phát triển chiều cao cây của cỏ Paspalum (cm)
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ và hoá học lên sự phát triển chiều cao cây của cỏ Paspalum (cm)
NGHIỆM THỨC LỨA NGÀY
Xét riêng từng loại phân bón lên sự phát triển chiều cao cây thì mỗi loại đều
có tác động rõ rệt nhưng qua bảng 4.3 có thể thấy sự tương tác của đồng thời hai nhân tố phân hữu cơ và phân hóa học lên sự phát triển chiều giữa các nghiệm thức sai khác nhau không có ý nghĩa (P>0,05) Tuy nhiên chiều cao cây thu được ở các nghiệm thức có sự giảm dần theo lượng phân bón và chiều cao cây thu được ở nghiệm thức HC3*HH2 luôn cao hơn các nghiệm thức còn lại trong tất cả các lứa và thấp nhất là nghiệm thức HC1*HH1 điều đó chứng tỏ phân bón đã có phần ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao cây
Tại thời điểm thu hoạch lứa 1 chiều cao cây ở mức độ HC3*HH1 là cao nhất (128,30 cm), thấp nhất ở mức độ HC1*HH1 (123,67 cm) Thời điểm thu hoạch lứa 2 (45 ngày) chiều cao cây ở mức độ HC2*HH2 là cao nhất (89,34 cm), thấp nhất ở mức độ HC1*HH1 (80,70 cm) Thời điểm thu hoạch lứa 3 (45 ngày) chiều cao cây ở mức độ HC3*HH2 là cao nhất (112,85 cm), thấp
Trang 28nhất ở mức độ HC1*HH1 (105,88 cm) Thời điểm thu hoạch lứa 4 (45 ngày) chiều cao cây ở mức độ HC3*HH2 là cao nhất (103,27 cm), thấp nhất ở mức
độ HC1*HH1 (95,95 cm) Nhìn chung chiều cao cây ở mức độ HC3*HH2 là cao nhất Vì không có sự khác biệt về mặt thống kê, nên chúng ta có thể áp dụng mức phân bón khác ít tiêu hao phân bón hơn để bón cho cỏ trồng
Sự phát triển chiều cao cây tăng dần theo thời gian, chiều cao trung bình của
cỏ thí nghiệm ở lứa 1 lúc thu hoạch là 126,75cm cao hơn so với kết quả thu được của Nguyễn Tường Cát (2006) là 97,67cm Nhưng so với kết quả của
Nguyễn Văn Tùng (2005) trồng Paspalum atratum ghi nhận thì chiều cao cây
là 175,4 4cm khác biệt khá lớn so với 126,67 cm của chúng tôi Chiều cao ở lứa 2 tăng dần qua từng ngày, cụ thể chiều cao ở 15, 30, 45 ngày tuổi lần lượt
là 61,03 cm; 75,17 cm; 85,52 cm Trong đó tốc độ sinh trưởng của cỏ từ sau khi cắt đến ngày thứ 15 là cao nhất Sau đó tốc độ sinh trưởng của cỏ giảm dần lại ở giai đoạn 15 đến 30 ngày và đến khi thu hoạch Chiều cao cây trung bình của các lứa ở ngày thứ 15 và 30 là 66,5 cm và 83,7 cm cao hơn so với ghi nhận của Lê Trung Kiên (2008) cỏ Paspalum trồng ở khoảng cách 50x50 cm ở ngày thứ 15 và 30 có chiều cao là 28,65 cm và 60,87 cm Khác biệt này có thể
là do ảnh hưởng của khoảng cách trồng, do sự cạnh tranh về ánh sáng, khoảng cách trồng càng nhỏ thì chiều cao cây càng cao Nhưng kết quả của sự phát triển chiều cao cây ở cỏ thí nghiệm sự khác biệt không có ý nghĩa
4.2 Sự phát triển chồi của cỏ Paspalum atratum
4.2.1 Ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ lên sự phát triển chồi (chồi/bụi)
Nhìn chung số chồi/bụi ở cỏ thí nghiệm tăng dần khi mức độ phân hữu cơ tăng dần từ nghiệm thức HC1 đến HC3 Tại thời điểm thu hoạch số chồi/bụi trung bình của các lứa ở nghiệm thức HC1 là 32,5 chồi/bụi, nghiệm thức HC2 là 34,2 chồi/bụi và nghiệm thức HC3 là 36,5 chồi/bụi
Số chồi/bụi ở các nghiệm thức lứa 1 tại thời điểm 60 ngày ở mức độ HC1 là 16,7 chồi/bụi thấp hơn ở mức độ HC3 là 18,08 chồi/bụi và thấp hơn ở mức độ HC2 là 17 chồi/bụi, khác biệt có ý nghĩa thống kê (P=0,01)
Ở các nghiệm thức lứa 2 tại thời điểm 45 ngày, số chồi/bụi ở mức độ HC1 là 36,38 chồi/bụi, thấp hơn ở mức độ HC2 là 37,54 chồi/bụi và thấp hơn ở mức
độ HC3 là 39,19 chồi/bụi, khác biệt có ý nghĩa thống kê (P=0,01) Sự khác biệt này có thể được giải thích như sau: phân hữu cơ chứa nhiều chất mùn và
xơ nên có khả năng giữ nước trong đất làm độ ẩm trong đất cao và làm tăng khả năng nảy chồi của cỏ (Lê Trung Kiên, 2008)
Trang 29Bảng 4.4: Sự ảnh hưởng của các mức độ phân hữu cơ lên sự phát triển chồi (chồi/bụi)