TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠKHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG TRỊNH QUỐC ANH KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG VÀ TÍNH NĂNG SẢN XUẤT CỦA CÂY ANH ĐÀO GIẢ Gliricida sepium VỚI MỨC ĐỘ PHÂN BÓN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRỊNH QUỐC ANH
KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG VÀ TÍNH NĂNG SẢN XUẤT CỦA CÂY ANH ĐÀO GIẢ
(Gliricida sepium) VỚI MỨC ĐỘ PHÂN BÓN
KHÁC NHAU QUA CÁC LỨA TÁI SINH
5, 6 VÀ 7 TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y
Cần Thơ, 12/2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
(Gliricida sepium) VỚI MỨC ĐỘ PHÂN BÓN
KHÁC NHAU QUA CÁC LỨA TÁI SINH
5, 6 VÀ 7 TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Ts Nguyễn Thị Hồng Nhân Trịnh Quốc Anh
Ks Vũ Thị Kim Anh MSSV: 3077041
Cần Thơ, 12/2010
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG VÀ TÍNH NĂNG SẢN XUẤT CỦA CÂY ANH ĐÀO GIẢ
(Gliricida sepium) VỚI MỨC ĐỘ PHÂN BÓN
KHÁC NHAU QUA CÁC LỨA TÁI SINH
5, 6 VÀ 7 TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI – THÚ Y
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Ban lãnh đạo Khoa nông nghiệp & Sinh học ứng dụng và các thầy cô trong Bộ môn Chăn nuôi
Tôi tên Trịnh Quốc Anh là sinh viên lớp Chăn nuôi – Thú y, khóa 33 (2007 – 2011) Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Đồng thời tất
cả các số liệu, kết quả thu được trong thí nghiệm hoàn toàn có thật và chưa công bố trong bất kỳ tạp chí khoa học khác Nếu có gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Khoa và Bộ môn
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2010
Sinh viên thực hiện
Trịnh Quốc Anh
Trang 5Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Bộ môn Chăn nuôi và Bộ môn Thú y
đã hết lòng truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng tôi trong suốt thời gian học qua
Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cô cố vấn học tập Nguyễn Thị Hồng Nhân đã dành cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này
Xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ chân tình của anh Nguyễn Thiết và chị Vũ Thị Kim Anh đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài này
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn lớp Chăn nuôi – Thú y khóa 33 đã giúp
đỡ tôi rất nhiều trong 4 năm qua
Trang 6TÓM LƯỢC
Nhằm làm phong phú thêm nguồn thức ăn thô xanh giàu đạm cho gia súc, đồng thời phát huy lợi thế đất đai để phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ theo hướng sản xuất hàng hóa ở nông hộ hay hợp tác xã ở khu vực ĐBSCL, chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm trồng cây Anh đào giả tại thành phố Cần Thơ với hai mức độ phân bón
vô cơ: 50 kg Urê – 500 kg Super lân – 200 kg Kali/ha/năm, 75 kg Urê – 750 kg Super lân – 300 kg Kali/ha/năm và ba mức độ phân hữu cơ là 10:20:30 tấn/ha/năm Bước đầu theo dõi khả năng thích nghi, năng suất và thành phần hóa học của cây, qua đó chọn ra một mức độ phân bón thích hợp nhất.
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức thừa số hai nhân tố (3 mức độ phân hữu cơ và
2 mức độ phân vô cơ) và mỗi nhân tố có ba lần lập lại trên tổng diện tích là 540m 2 Qua thời gian theo dõi cho thấy Anh đào giả thích nghi tốt trên vùng đất TPCT và
có khả năng chống chịu tốt với nắng hạn và sâu bệnh Kết quả cho thấy các mức độ phân bón vô cơ và hữu cơ chỉ ảnh hưởng lên đặc tính sinh trưởng và năng suất của cây nhưng lại không làm thay đổi về thành phần hoá học của cây.
Với phân vô cơ, ở mức độ VC 2 (75 kg Urê – 750 kg Super lân – 300 kg Kali/ha/năm), cây cho năng suất chất xanh (NSCX), năng suất chất khô (NSCK) và năng xuất protein (NSCP) của Anh đào giả qua ba lứa cao nhất lần lượt là: 4,33 tấn/ha/lứa, 1,0 tấn/ha/lứa, 0,21 tấn/ha/lứa.
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM LƯỢC iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC HÌNH ix
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 Đặc điểm chung của cây họ đậu 2
2.2 Giá trị dinh dưỡng của cây họ đậu 3
2.3 Đặc điểm sinh thái của cây họ đậu 3
2.4 Chất độc và chất kháng dưỡng trong cây họ đậu 4
2.5 Tác dụng cải tạo đất của cây họ đậu 4
2.6 Vai trò của các loại phân bón đối với cây họ đậu 5
2.6.1 Phân Đạm 5
2.6.2 Phân Kali 5
2.6.3 Phân Lân 5
2.6.4 Phân hữu cơ 5
2.7 Cây Anh đào giả 5
2.7.1 Nguồn gốc phân bố 6
2.7.2 Đặc điểm thực vật 6
2.7.3 Đặc điểm sinh thái 7
2.7.4 Tính năng sản xuất 8
2.7.5 Công dụng của cây Anh đào giả 8
2.7.6 Giá trị dinh dưỡng của cây Anh đào giả 10
Trang 82.7.7 Sự hạn chế của cây Anh đào giả 10
2.7.8 Kỹ thuật canh tác 11
Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 13
3.1 Phương tiện thí nghiệm 13
3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 13
3.1.2 Cơ sở vật chất thí nghệm 13
3.2 Phương pháp thí nghiệm 13
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 13
3.2.2 Cách trồng và kỹ thuật canh tác 13
3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi và cách thu thập số liệu 14
3.2.4 Xử lý số liệu 15
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 Nhận xét chung 16
4.1.1 Khả năng chịu ngập, hạn và chua phèn 16
4.1.2 Khả năng chống chịu sâu bệnh 16
4.1.3 Khả năng cạnh tranh cỏ dại 16
4.2 Đặc tính sinh trưởng của cây Anh đào giả 16
4.2.1 Ảnh hưởng của các mức độ phân bón lên phân bón lên chiều cao cây 16
4.2.2 Ảnh hưởng của các mức phân bón lên sự ra nhánh bậc 1 của cây 20
4.2.3 Ảnh hưởng của các mức phân bón lên sự ra nhánh bậc 2 của cây 22
4.2.4 Ảnh hưởng của các mức phân bón lên độ cao thảm của cây .24
4.3 Tính năng sản xuất của cây Anh đào giả 26
4.3.1 Ảnh hưởng của các mức phân bón lên tỷ lệ lá/nhánh 26
4.3.2 Ảnh hưởng của các mức phân bón lên năng suất của cây 27
4.4 Thành phần hóa học của cây Anh đào giả 31
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33
5.1 Kết luận 33
5.2 Đề nghị 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 9HC1*VC1: Tương tác giữa phân hữu cơ 1 và phân vô cơ 1
HC1*VC2: Tương tác giữa phân hữu cơ 1 và phân vô cơ 2
HC2*VC1: Tương tác giữa phân hữu cơ 2 và phân vô cơ 1
HC2*VC2: Tương tác giữa phân hữu cơ 2 và phân vô cơ 2
HC3*VC1: Tương tác giữa phân hữu cơ 3 và phân vô cơ 1
HC3*VC2: Tương tác giữa phân hữu cơ 3 và phân vô cơ 2
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Ảnh hưởng của phân hữu cơ và phân vô cơ lên chiều cao của cây qua các
lứa (cm) 17Bảng 2: Ảnh hưởng của sự tương tác giữa phân hữu cơ và phân vô cơ lên chiều cao
của cây qua các lứa (cm) 19Bảng 3: Ảnh hưởng của phân hữu cơ và vô cơ lên nhánh bậc 1 của cây qua các lứa
(số nhánh/cây) 20Bảng 4: Ảnh hưởng của sự tương tác giữa phân hữu cơ và phân vô cơ lên số nhánh
bậc 1 của cây qua các lứa (số nhánh/cây) 22Bảng 5: Ảnh hưởng của phân hữu cơ và vô cơ lên nhánh bậc 2 của cây qua các lứa
(số nhánh/cây) 23Bảng 6: Ảnh hưởng của sự tương tác giữa phân hữu cơ và phân vô cơ lên số nhánh
bậc 2 của cây qua các lứa (số nhánh/cây) 23Bảng 7: Ảnh hưởng của phân hữu cơ lên độ cao thảm của cây qua các lứa (cm) 24Bảng 8: Ảnh hưởng của sự tương tác giữa phân hữu cơ và phân vô cơ lên độ cao
thảm của cây qua các lứa (cm) 25 Bảng 9: Ảnh hưởng của phân hữu cơ lên % lá cọng và % nhánh của cây qua các
lứa 26Bảng 10: Ảnh hưởng của sự tương tác giữa phân hữu cơ và phân vô cơ lên % lá
cọng và % nhánh của cây qua các lứa 27Bảng 11: Ảnh hưởng của phân hữu cơ và vô cơ lên năng suất của cây qua các lứa
(tấn/ha/lứa) 27Bảng 12: Ảnh hưởng của sự tương tác giữa phân hữu cơ và phân vô cơ lên các chỉ
tiêu năng suất của cây qua các lứa (tấn/ha/lứa) 30Bảng 13: Ảnh hưởng của các mức độ hữu cơ phân và phân vô cơ đến thành phần
hoá học của cây (%) 31Bảng 14: Ảnh hưởng của sự tương tác giữa phân hữu cơ và phân vô cơ lên các
thành phần hóa học của cây qua các lứa 32
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Ảnh hưởng của các mức đô hữu cơ lên chiều cao cây (cm) 17
Biểu đồ 2: Ảnh hưởng của các mức đô vô cơ lên chiều cao cây (cm) 18
Biểu đồ 3: Ảnh hưởng của phân hữu cơ lên nhánh bậc 1 của cây qua các lứa 21
Biểu đồ 4: Ảnh hưởng của phân vô cơ lên nhánh bậc 1 của cây qua các lứa 21
Biểu đồ 5: Ảnh hưởng của phân hữu cơ lên độ cao thảm của cây qua các lứa (cm)
24
Biểu đồ 6: Ảnh hưởng của phân vô cơ lên độ cao thảm của cây qua các lứa (cm)
25
Biểu đồ 7: Ảnh hưởng của phân hữu cơ lên năng suất xanh của cây qua các lứa(tấn/ ha/lứa) 28
Biểu đồ 8: Ảnh hưởng của phân vô cơ lên năng suất xanh của cây qua các lứa (tấn/ha/lứa) 28
Biểu đồ 9: Ảnh hưởng của phân hữu cơ lên năng suất Protein thô của cây Anh đào giả qua các lứa (tấn/ha/lứa) 29
Biểu đồ 10: Ảnh hưởng của phân vô cơ lên năng suất Protein thô của cây qua các lứa (tấn/ha/lứa) 29
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Cây Anh đào giả lúc 60 ngày 6
Hình 2: Trái, lá và hoa của cây Anh đào giả 7
Hình 3: Nuôi Dê bằng lá Anh đào giả 10
Hình 4: Cây Anh đào giả được 30 ngày 34
Hình 5: Bón phân cho cây 34
Hình 6: Hình ảnh tưới nước cho cây 34
Hình 7: Đo cao thảm cây 34
Hình 8: Cây bị rầy tấn công 34
Hình 9: Cây bị bệnh nấm .34
Trang 13Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam, nguồn thức ăn thô xanh cho gia súc ăn cỏ hiện nay là cỏ tự nhiên, cỏ trồng và phụ phẩm nông nghiệp Cỏ trồng là các giống cỏ Voi, cỏ Ghinê, Ruzi… đều là các giống cỏ hòa thảo dễ trồng cho năng suất cao Vì vậy giải pháp hiện nay
là bổ sung thêm thức ăn giàu Protein khác hoặc sử dụng cây thức ăn họ đậu trong khẩu phần của gia súc ăn cỏ Trồng cây thức ăn họ đậu không những chế biến bột
cỏ phục vụ cho chăn nuôi gia súc gia cầm mà còn có tác dụng cải tạo đất do bộ rễ của chúng có khả năng cố định đạm từ Nitơ khí trời Trồng cỏ họ đậu mang lại cho nhà chăn nuôi nhiều điều kiện thiết thực như: chủ động được việc tạo cỏ tươi, cỏ có chất lượng tốt, tiết kiệm được đất trồng, công chăm sóc ít, cải tạo đất, chống sói mòn và lấn át cỏ dại Nhưng do cỏ họ đậu có năng suất thấp và tương đối khó trồng, trong khi đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp và giá phân bón ngày càng tăng làm cho diện tích cây họ đậu tại các cơ sở chăn nuôi phát triển rất thấp Chính vì vậy việc tiến hành nghiên cứu khả năng thích nghi cũng như đặc tính sinh trưởng và năng suất của chúng trong các điều kiện khí hậu, đất đai, phân bón… khác nhau là điều cần thiết
Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “ Khảo sát đặc tính sinh
trưởng và tính năng sản xuất của cây Anh đào giả (Gliricida sepium) với mức độ phân bón khác nhau qua các lứa tái sinh 5, 6 và 7 tại Thành Phố Cần Thơ”.
Mục tiêu của đề tài:
1 Khảo sát tính năng sinh trưởng và năng suất của cây Anh đào giả
2 Chọn ra mức độ phân bón hợp lý và cho hiệu quả tối ưu
3 Đánh giá khả năng thích nghi của cây Anh đào giả tại Thành phố Cần Thơ
Trang 14Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN2.1 Đặc điểm chung của cây họ đậu
Theo Nguyễn Thị Hồng Nhân (2005), các cây họ đậu có đặc tính tổng quát:
Lá mọc xen kẽthường kép với 3 lá phụ, hoặc kép hình lông chim, có lá bẹ
Phát hoa có thể là hoa đầu hoặc hoa chùm Hoa ít khi đều, như hoa phụ đậu cánh lớn nhất ở giữa gọi là cờ, 2 cánh bên nhỏ hơn gọi là hông và 2 cánh ở trong dính nhau làm thành một cái lường bao quanh vòi nhị và chỉ mang phấn
Trấu là hột quả đậu nở ra bằng hai lằn dọc với những ngăn mang 1 hạt hoặc không
nở ra với một hạt duy nhất
Rễ cái đuôi chuột với nhiều rễ con Ở gần rễ và chung quanh rễ có mang nốt sần do cộng sinh của vi khuẩn Rhizobium có khả năng cố định đạm nhờ vậy hạt và thân lá cây họ đậu giàu protein hơn các loại cây khác nhất là các loại cây hòa thảo
Cây họ đậu phân bố khắp thế giới nhất là vùng Nhiệt đới và Á nhiệt đới
1.Hoa đều – Minosaceae.
1.Hoa ít nhiều đối xứng hai bên.
2.Cánh hoa trên (cánh môi) ở trong cánh bên – Caesalpiniaceae.
2.Cánh hoa trên (cánh cờ) ở ngoài cánh bên – Fabaceae Papilionaceae.
Theo Nguyễn Bá (2007) họ đậu là một họ thực vật rất quan trọng gồm 3 họ phụ:
Họ trinh nữ (Minosaceae)
Gồm khoảng 2.800 loài
Cây gỗ, cây bụi hoặc cỏ
Lá thường kép hai lần lông chim
Hoa đều, mẫu 5, nhị đực 10
Bộ nhị cái 1 lá noãn, 1 ô, bầu trên, đính noãn mép
Quả đậu có khi không mở
Một số loài thường thấy và có ý nghĩa: cây Trinh Nữ hoặc cây Xấu Hổ (Minosa
pudaca), cùng chi có cây Mai Dương hay Trinh Nữ Trâu (Mimosa pigra) là sinh vật
xâm hại mới được du nhập vào nước ta gây nhiều tác hại cho các cây và động vật
sinh sống quanh đó Nhiều loài thuộc chi Acacia được gọi là keo Muồng được trồng xen để cố định đạm cho đất Cẩm xe (Xylia dolabriformis) cho gỗ quý.
Trang 15Họ Vang (Caesalpiniaceae)
Gồm khoảng 2.800 loài
Cây gỗ, cây bụi ít khi là cỏ
Lá kép lông chim 2 lần Hoa ít nhiều đối xứng hai bên với cánh trên (cánh môi) ở trong các cánh bên, cánh hoa 5
Nhị đực 10, 1 lá noãn mép
Chi Bauhinia – móng bò có các loài hoa Ban trắng (Bauhinia acuminate), Ban đỏ (Bauhinia grandiflora), cây Me (Tamarindus indica) cho quả, Phượng Vĩ (Delonix
reqia) trồng làm cảnh, Lim (Eythrophloeum fordii) cho gỗ quý.
Họ đậu (Fabaceae hay Papilionaceae)
Quan trọng nhất với gần khoảng 12.000 loài
Họ đậu còn được gọi là họ cánh bướm
Cây gỗ, cây bụi hoặc cỏ
Lá kép lông chim hay chân vịt hoặc lá đơn
Hoa đối xứng 2 bên
Đài 5 lá đài, dính ít nhiều ở gốc
Tràng mẫu 5, cánh cờ bao lấy hai cánh bên
Nhị đực 10, 1 ô, bầu trên, đính noãn mép
Nhiều cây cho hạt như: Đậu Tây (Phaseolus rulgris), Đậu Hà Lan, Đậu Xanh (Phaseolus aureus), Đậu Đũa (Vigna Sinensis)… nhiều cây cho gỗ quý như: Cẩm Lai (Dalberqia baberiensis) và các loài Dalberqia khác, nhiều loài Trắc (Dalberqia
cochinchinensis) và nhiều loài khác cho gỗ quý cũng thuộc chi này.
2.2 Giá trị dinh dưỡng của cây họ đậu
Cây họ đậu đứng hàng thứ hai về mặt sử dụng chỉ sau cây ngũ cốc Cả thế giới chú trọng nó vì chất và lượng Protein chứa trong toàn bộ cây Lượng Protein của họ đậu vào khoảng 20 – 40 % của trọng lượng khô Ngoài ra, cây họ đậu còn rất nhiều Vitamin, Carotene, đường bột, chất khoáng đặt biệt là Ca, K, P và các khoáng vi lượng Do đó cây họ đậu là nguồn thực phẩm quý đối với con người và là nguồn thức ăn quan trọng đối với gia súc và gia cầm (Dương Hữu Thời, 1982)
2.3 Đặc điểm sinh thái của cây họ đậu
Nói đến cây có nhu cầu cao về Calci là cây họ Đậu Ca đáp ứng nhu cầu đất chua để kéo pH lên cho phù hợp với sự hoạt động của Rhizoium cộng sinh (pH gần trung
Trang 16tính) nếu pH giảm thì không giữ được Kali và nếu tỷ lệ Ca : P (1,3 – 2) thì Lân tiêu hóa dễ dàng, từ đó đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng, phát triển của lá và trái Điều này thể hiện bằng thành phần Ca trong lá cao (> 40%), còn trong trái thì ít hơn Do
đó các nhà chăn nuôi lấy lá đậu làm bột chăn nuôi vì chúng giàu Ca, ngoài tiêu chuẩn chủ yếu là hàm lượng Protein cao với lượng Acid amin thiết yếu Lượng Ca trong lá đậu thường cao hơn các khoáng khác vì nó đóng nhiều vai trò quan trọng như: tạo điều kiện cho quang hợp tiến hành mạnh, làm đậu cứng cây nhờ tăng bó mạch và sợi gỗ trong thân, tăng sự trao đổi chất nhờ kích thích của men, giúp cho đạm hòa tan nhờ Acid amin và tổng hợp ra nhiều Protein Phospho là một khoáng quan trọng, nó góp phần vào sự tăng trưởng của hệ thống rễ, đưa năng suất lá và hạt lên cao Đối với cây họ đậu, lấy lá làm thức ăn tươi, bột lá, hạt làm bột chăn nuôi,
có tỷ lệ Protein tiêu hóa và chất khoáng cao Từ đó làm cho ý nghĩa của đạm sinh học, đạm khoáng trong đất, P và K càng có giá trị đặc biệt (Dương Hữu Thời, 1982)
Cây đậu thường là cây ưa sáng và đã được thuần hóa thích nghi với khí hậu, đất đai khác với với nguồn gốc xuất xứ của nó Sự thay đổi vùng khí hậu (ánh sáng, nhiệt
độ, mưa…) từ Bắc tới Xích đạo, chu kỳ sống của cây trồng giảm, nhưng năng suất lại tăng nếu như điều kiện sinh thái và biện pháp thuận lợi (mùa khô không kéo dài, ngày nóng, đêm lạnh…), nhưng nói chung là năng suất giảm vì nhiệt độ ban ngày không chênh lệch nhiều so với ban đêm nên hô hấp tiêu phí nhiều năng lượng thì dự trữ năng lượng càng ít, năng suất càng thấp (Dương Hữu Thời, 1982)
2.4 Chất độc và chất kháng dưỡng trong cây họ đậu
Theo Dương Hữu Thời (1982), mặc dù cây họ đậu rất nhiều chất dinh dưỡng nhưng lại chứa nhiều chất độc hơn các họ khác như các chất độc thuộc loại Glucocid, Cyanua, Acid amin dị thường (Minocin), chất kháng men tiêu hóa Arginine (Canavanin) Do đó cần xử lý chất độc trước khi cho gia súc, gia cầm ăn bằng cách
xử lý nhiệt, xay đậu với nước, cho tác dụng với acid hay base, bicarbonate, natri… hoặc cho ăn với mức độ cho phép
Ngoài ra có một số chất tuy không độc nhưng chúng chống tiêu hóa, chống sự hấp thu chất dinh dưỡng gây hại cho gia súc
2.5 Tác dụng cải tạo đất của cây họ đậu
Nhiều cây họ đậu, cũng như bèo dâu và một số cây họ khác, đóng vai trò quan trọng trong sự cân bằng đạm trong tự nhiên Rễ của cây họ đậu có đặc điểm khác biệt so với các họ khác là có chứa các nốt sần, trong đó có các vi khuẩn Rhizoium có khả năng cố định đạm từ Nitơ khí trời Vì vậy khi trồng cây họ đậu sẽ góp phần làm cho đất màu mỡ hơn (Dương Hữu Thời, 1982)
Trang 172.6 Vai trò của các loại phân bón đối với cây họ đậu
2.6.1 Phân đạm
Đạm là chất cấu tạo nên Protid cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển mầm non, phân cành và ra lá Vì vậy việc cung cấp chất đạm cho cây ở giai đoạn còn non, đặc biệt với cây họ đậu lấy lá làm thức ăn tươi hoặc chế biến bột lá đều rất cần thiết Tuy nhiên, bón thừa đạm cây dễ mắc bệnh, dễ đổ, thời gian sinh trưởng kéo dài,
phẩm chất kém (Chu Thị Thơm et al., 2005).
2.6.2 Phân Kali
Theo Dương Hữu Thời (1982), lượng Kali trong lá đậu thường cao nhất so với các khoáng khác vì nó đóng nhiều vai trò quan trọng như tạo điều kiện cho cây quang hợp tiến hành mạnh, làm đậu cứng cây nhờ tăng bó mạch và sợi gỗ trong thân, tăng cường sự trao đổi chất giúp cho đạm hòa tan nhờ Acid amin và tổng hợp ra nhiều Protein
2.6.3 Phân lân
Nguyên tố Phosho trong phân lân là chủ yếu, đây là một chất khoáng quan trọng, nó góp phần quan trọng vào sự sinh trưởng của hệ thống rễ, đưa năng suất lá và hạt lên cao Đối với cây họ đậu, lân góp phần giúp cây sinh ra nốt sần tăng khả năng hút đạm từ không khí (Trịnh Đình Toán, 1974)
2.6.4 Phân hữu cơ
Phân hữu cơ gồm có phân xanh và phân chuồng Trong đó, loại phân chuồng là loại phân có chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng Từ những chất vi lượng như Mn, Zn, Cu… đều có mặt trong phân chuồng Ngoài ra, người ta còn thấy trong phân chuồng có chất kích thích tố Aucin và nhiều loại vitamin khác Đặc biệt là các chất dinh dưỡng này đều rất dễ tiêu cho cây trồng Do đó sử dụng phân chuồng có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng, giúp cải tạo, bảo vệ và bồi dưỡng đất (Trịnh Đình Toán, 1974)
2.7 Cây Anh đào giả
Tên khoa học: Gliricida sepium
Tên tiếng Việt: Anh đào giả, Hồng mai, Đỗ mai, Sát thủ đốm
Trang 182.7.1 Nguồn gốc phân bố
Anh đào giả được giới hạn vùng đất thấp khô của bờ biển Thái Bình Dương của Mexico và Trung Mỹ và tiếp giáp với thung lũng khô nội địa (Simons, 1996) Thổ dân châu Mỹ thuần hóa các loài vào các vùng khác của Trung Mỹ Người Tây Ban Nha giới thiệu nó vào vùng biển Caribbean và Philippines Trong thế kỷ đã qua Anh
đào giả trở nên phổ biến và được trồng ở khắp các nước nhiệt đới trên thế giới Nó
là một loài cây thuộc họ đậu, thường phát triển tốt khi được trồng ở những nơi có khí hậu nóng và ẩm Khả năng thích ứng của Anh đào giả ở bất kỳ loại đất nào làm cho nó trở thành một cây lý tưởng cho người nông dân nào muốn trồng thành một đồn điền Đó có lẽ là một trong những cây trồng dễ nhất ta có thể tìm thấy (Allen & Allen, 1981)
Ở Trung Mỹ Anh đào giả được gọi là Madriado, Mata Raton hoặc Madre de cacao
Ở Philippines, nó được biết đến như Kakawate, một cây đậu nhiệt đới phát triển chủ yếu ở các khu rừng và có thể phát triển cao 5 – 10 m Mặc dù có nguồn gốc từ Trung Mỹ, Anh đào giả đã được trồng ở khắp mọi nơi vì khả năng thích ứng của mình cho bất kỳ loại điều kiện nào (Allen & Allen, 1981)
Ở nước ta, cây Anh đào giả được trồng nhiều ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Khánh Hòa, Lâm Đồng… cây phổ biến rộng rãi ở các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Bà Rịa – Vũng Tàu Là loài cây ưa sáng, mọc nhanh do dễ nhân giống bằng giâm cành nên được trồng rộng rãi nhiều khi được cắm làm hàng rào (Võ Văn Chi, 2002)
Trang 19Theo Võ Văn Chi (2002), Anh đào giả là cây thân gỗ, cao 4 – 7 m, cây có cành non
có lông Lá kép lông chim lẻ, mọc so le có khi gần như đối, gồm 7 – 15 lá chét, lá
có dạng hình trái xoan, mặt trên có màu lục bóng, mặt dưới màu xám mốc Hoa khá
to, màu trắng hay hồng mọc thành chùm dài 5 – 10 cm ở đầu cành hoặc nách lá, hoa
có dạng hình chuông, đài nhỏ, tràng hoa có cánh cờ hình mắt chim lõm Trái đậu dài
10 – 15 cm, rộng 1 – 2 cm, hơi dẹt, chứa từ 6 – 10 hạt, khi trái chín thì có màu vàng nâu Mùa ra hoa từ tháng 12 – 3 Nó là loài cây ưa sáng Cây anh đào phát triển tốt nhất trong điều kiện khí hậu ấm áp theo mùa khô với lượng mưa trung bình hàng năm là vừa phải Nó cũng phát triển tốt ở những nơi có lượng mưa phân bố đều trong năm
2.7.3 Đặc điểm sinh thái
Độ ẩm
Anh đào giả chịu hạn và thích nghi với một lượng mưa hàng năm với 650 – 3500
mm, rụng lá mùa khô từ trung bình đến nặng, nhưng thường xanh tốt ở nơi có đủ độ
ẩm suốt cả năm (Glover, 1989)
Nhiêt đô
Anh đào giả thích ứng trên phạm vi nhiệt độ thay đổi đáng kể, từ 21 – 29 0C, nó phát triển kém dưới phạm vi đó, nhưng sẽ chịu đựng được nhiệt độ cao 42 0C, lá bị rụng khi nhiệt độ ban đêm xuống thấp hơn 15 0C (Glover, 1989)
Phát triển sinh sản
Hoa phát triển tương ứng với đầu mùa khô khi cây đã mất lá Tại các khu vực mà không có một mùa khô rõ rệt, hoa có thể xảy ra trong suốt năm nhưng hình thức vài quả Cây có hoa lưỡng tính thụ phấn có sự đóng góp của côn trùng có hiệu quả rất lớn, hoa bắt đầu vào đầu mùa khô khoảng 6 – 8 tháng tuổi và có thể tiếp tục ra hoa
Hình 2: Trái, hoa và lá của cây Anh đào giả
Nguồn: Jacq (2008)
Trang 20vào ba tháng kế tại một số địa phương Một cây có thể sản xuất hoa với số lượng lớn (lên đến 30000) do đó thu hút nhiều loại côn trùng đến thụ phấn Quả chín mất
45 – 60 ngày Quả có thể đạt đến kích thước đầy đủ từ 10 – 20 cm, trong vòng 3 tuần sau thụ phấn Quả mọng màu xanh lá cây và màu vàng khi chín Quả có chứa 3 – 10 hạt và thuộc loại tư khai (Simons, 1996)
2.7.4 Tính năng sản xuất
Năng suất chất xanh dùng làm thức ăn gia súc khá biến động tuỳ theo đất, sự chăm sóc và thời gian thu hoạch… Theo Nguyễn Quang Toàn và Nguyễn Thị Bạch Ngọc (1989), năng xuất chất xanh của cây Anh đào giả trồng trên đất chua phèn đạt 2,21 tấn/ha/lứa vào lúc 90 ngày tuổi Theo Lê Trung Kiên (1991), năng suất chất xanh của cây Anh đào giả trồng trên đất chua phèn đạt 12,17 tấn/ha/lứa vào lúc 150 ngày
tuổi Theo Từ Quang Hiển et al., (2005), thì năng suất chất xanh của cây Anh đào
giả trồng làm hàng rào trên đất dốc đạt 4,66 tấn/ha/năm
Tại đồn điền chè ở Sri Lanka, một cây Anh đào giả trung bình cho 64 kg lá cây/năm (Allen & Allen, 1981)
2.7.5 Công dụng của cây Anh đào giả
Anh đào giả là một loại cây thuộc họ Đậu có tiềm năng lớn, nó làm giảm thiểu sự thiếu hụt dinh dưỡng ở những vật nuôi vẫn còn trong quá trình tăng trưởng (Seijas
et al., 1994) Tại Indonesia, cây bụi và cây cỏ đã được sử dụng để khắc phục tình
trạng thiếu thức ăn mùa khô và một hệ thống ba tầng lớp thức ăn gia súc (kết hợp Anh đào giả) đã được phát triển tại Bali để tăng năng suất ở các vùng đất canh tác khô (Allison & Simons, 1996)
Theo Đỗ Huy Bích et al.,(2004), Anh đào giả được trồng để tạo bóng mát cho cây
công nghiệp như chè, cà phê Một số người còn trồng cây để làm cảnh vì có hoa đẹp
và cũng được trồng làm cọc cho Hồ tiêu leo Nước sắc lá của cây Anh đào giả uống
có tác dụng hạ nhiệt và chống tăng huyết áp, thêm nước pha loãng để tắm chữa hăm
kẽ và ghẻ Một số nông dân ở các nước Châu Mỹ Latinh còn sử dụng cây Anh đào giả để xua đuổi côn trùng Tại Mexico, cây được sử dụng để hạ sốt và lợi tiểu Chất chiết xuất từ cây được cho là có hoạt động chống nấm cao (Stewart, 1996) Lá tươi
để nguyên hay giã nát dùng lót chuồng gia súc và gia cầm trừ được bọ chét và côn trùng gây hại Ngoài ra, hoa còn là nguồn thức ăn tốt cho ong mật Các hoa có kích
cỡ bằng hạt đậu giống như cánh hoa mà thường là hoa oải hương, màu hồng hoặc trắng Nó cũng mang trái trông giống như một vỏ da và hạt Anh đào giả là rất dễ dàng nhân rộng và không tốn kém nhiều về giống Cây có thể lại nảy mầm rất nhanh sau khi cắt tỉa Nhiều nông dân trồng chúng chủ yếu là bóng cây lâu năm khác như ca cao, cà phê và trà Ngoài ra, Anh đào giả có thể cung cấp rất nhiều
Trang 21công dụng cho nông dân từ gốc, rễ đến lá của nó, ứng dụng đa năng làm cho nó trở thành một cây trồng vụ mùa tốt trong nông lâm kết hợp
Anh đào giả rất hữu ích giúp cố định Nitơ có trong đất, do đó cải thiện chất lượng đất và tăng năng suất cây trồng Nó ổn định các vùng đất dốc và giảm xói mòn đất,
gỗ của nó có thể được sử dụng làm củi, hàng rào và lĩnh vực hàng rào Các lá giàu Nitơ và các chất dinh dưỡng thích hợp cho phân xanh và thức ăn cho trang trại động vật Gỗ từ Anh đào giả làm nhiên liệu đốt của dân cư nông thôn thuộc Veracruz, Mexico năng suất hàng năm Các giá trị năng lượng của gỗ là 4.900 kg/kcal
(Roskoski et al., 1980).
Nhưng sử dụng sáng tạo của Anh đào giả không giới hạn thức ăn và củi Các nông dân thường bỏ qua các ứng dụng quan trọng khác của chúng Vỏ cây Anh đào giả khi tước và nấu với hạt như ngô hoặc gạo và được sử dụng làm mồi độc cho loài gặm nhấm Một điều đặc biệt là các bộ phận của cây Anh đào giả như lá, hoa, thân, hạt được xem là độc đối với chuột nhưng lại không có hại đối với gia súc và gia cầm Đó là do tác dụng lên men của vi khuẩn đã làm cho chất Coumarin có trong các bộ phận của cây Anh đào giả biến thành Dicoumarol có tính chất chống đông máu Chất này làm giảm hàm lượng Prothombin do gan tiết ra làm chuột chết do xuất huyết nội tạng Do đó, cây Anh đào giả còn được gọi là cây Sát thử đốm Tại Philippines, Anh đào giả được rửa sạch và đập dập để lấy nước ép từ lá Sau đó nó được áp dụng cho các khu vực bị ảnh hưởng bởi ký sinh trùng bên ngoài một lần đến hai lần một ngày trong một tuần Tại Guatemala, các vỏ và lá của Anh đào giả được sử dụng để điều trị các bệnh trên da ở người (Allison & Simons, 1996)
Nghiên cứu đã được thực hiện trên cả các thuộc tính kháng nấm và kháng khuẩn của chất chiết xuất từ Anh đào giả Trong thử nghiệm, Medicarpin – một trong những hợp chất trong lá và gỗ của Anh đào giả được cho là chống nấm Trong một
nghiên cứu kháng nấm, chiết xuất ức chế sự nảy mầm anh đào giả của Drechslera
oryzae chỉ 6 % Tuy nhiên, trong một nghiên cứu khác, 50 ug của gốc chiết xuất từ
chloroform ức chế sự tăng trưởng của Cladosporium cucumerinum và hơi ức chế sự tăng trưởng của Candida albicans Ngược lại, các tính chất kháng khuẩn của chất
chiết xuất từ vỏ cây Anh đào giả đã được thử nghiệm Đó là hiệu quả chống lại vi
khuẩn gây viêm da Tuy nhiên, nó không hiệu quả đối với Candida albicans hoặc
Enterobacteria Những khác biệt trong hiệu quả chống lại Candida albicans có thể
là do số lượng của nhà máy chiết xuất được sử dụng hoặc các loại chất chiết xuất từ
sử dụng Trong một nghiên cứu khác, chất chiết xuất từ lá được tìm thấy là có hiệu
quả chống lại các Microsporum canis dermatophytes, Trichophyton mentagrophytes
algodonosa và Trichophyto rubrum Nó không phải là hiệu quả chống lại Epidermophyton floccosum, M gypseum hoặc Trichophyto mentagrophytes granulare Trong một nghiên cứu khác, Anh đào giả đã được tìm thấy để ức chế sự
Trang 22phát triển của các chủng khác nhau của bệnh lậu Neisseria ở trong các thử nghiệm
in vitro Cồn thuốc được làm từ những chiếc lá đã được sử dụng cho những thử
nghiệm này (Glover, 1989)
2.7.6 Giá trị dinh dưỡng của cây Anh đào giả
Lá Anh đào giả có giá trị thức ăn cao, với hàm lượng Protein thô chiếm 20 – 30 %
chất khô, hàm lượng chất xơ thô chỉ khoảng 15 %, và tỷ lệ tiêu hóa in vitro chất khô
khoảng 60 – 65 % (Göhl Adejumo, 1981) Panjaitan (1988), đã tìm thấy ở Indonesia, lá Anh đào giả có hàm lượng Protein thô trong mùa mưa cao hơn so với
mùa khô Perera et al., (1991) báo cáo tỷ lệ tiêu hóa cao Anh đào giả trong dạ cỏ
liên quan đến cây cỏ đa năng khác Hơn nữa, tỷ lệ tiêu hóa chất khô đã tăng thêm
các nguồn năng lượng như sắn để chế độ ăn uống (Ademosum et al., 1985) Ngược
lại, tỷ lệ tiêu hóa kém chất lượng thức ăn có thể được tăng thêm của lá cây họ đậu (Simons & Dunsdon, 1992)
Dê quen với Anh đào giả sẽ ăn vỏ cây cũng như lá và thân cây nhỏ và có thể có thể
ăn cả cây non Ngoài ra Anh đào giả còn được ứng dụng làm thức ăn bổ sung cho các loài thủy sản đặc biệt là cá Thành phần hóa học và Protein tiêu hóa rõ ràng (APD – Apparent Protein Digestibility) của lá trong khẩu phần ăn của cá rô phi có thấp Protein thô, các tỷ lệ tiêu hóa Protein được tìm thấy rõ ràng là khoảng 56 % Mức độ bao gồm tối ưu trong bữa ăn lá Anh đào giả ở cá rô phi cũng đã được xác định Sáu chế độ ăn có chứa 0 %, 10 %, 25 %, 40 %, 50 % và 88 % lá Anh đào giả bữa ăn được chuẩn bị và ăn ở 4 % /trọng lượng cơ thể cá rô phi mỗi ngày, cho ăn trong 70 ngày Dữ liệu thu được của sự tăng trưởng cho thấy rằng mức độ tối ưu ở các bữa ăn lá Anh đào giả là 40 % của tổng số chế độ ăn uống (Allison & Simons, 1996)
Theo Lê Trung Kiên (1991), cây Anh đào giả có hàm lượng DM là 20,78 %, CP là 23,42 %, CF là 21,23 %, EE là 4,87 %, Ash là 11,17 %, Caroten (mg/kg) là 306,90
Hình 3: Nuôi Dê bằng lá Anh đào giả
Nguồn: Jacq (2008)
Trang 23Theo Devendra C (1991), ngọn lá của cây Anh đào giả có thể thay thế cho nguồn thức ăn Protein thương mại đắt tiền mà không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến việc thu nhận thức ăn và năng suất sữa của gia súc ăn cỏ Bột lá cây Anh đào giả trồng ở Đông Nam Bộ có hàm lượng chất dinh dưỡng như sau: 92,50 % DM, 20,07 % CP, 5,32 % EE, 17,57 % CF, 7,57 % Ash và năng lượng trao đổi (ME) là 2,262 kCal (Viện chăn nuôi quốc gia, 1995).
2.7.7 Sự hạn chế của cây Anh đào giả
Cây Anh đào giả có chứa các chất độc và các chất kháng dinh dưỡng như chất
Coumarin (Đỗ Huy Bích et al., 2004), Tannin, Canavanin và những dẫn xuất khác
họ hàng với nó (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2005) Đặc biệt là rễ, vỏ cây và hạt rất độc
hại do sự hiện diện của Tannin, Afrormosin, Medicarpin và Isofavins (Craig R et
al., 2006)
Theo Lê Đức Ngoan (2004), chất Canavanine và những dẫn xuất khác họ hàng với
nó có trong lá Anh đào giả cũng có cấu trúc gần giống với Arginine Vì vậy, khi gia súc ăn nhiều loại này gây ức chế quá trình chuyển hoá Arginine Arginine đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình chuyển hoá Ornithine – Arginin để tổng hợp ra urê, nếu chu trình này bị Canavanin thay thế vào vị trí của Arginine thì sẽ gây ra rối loạn chuyển hoá của Arginine Vì thế, Canavanine cũng được coi là một độc tố kháng dinh dưỡng của Arginine Acid amin thiết yếu gần giống với Arginine là Glycine, trong trường hợp này nó trở thành yếu tố đối kháng với Canavanine Nếu cho gia cầm ăn thức ăn có chứa nhiều Canavanine (3,7 g/kg trong thức ăn) sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng, ảnh hưởng xấu đến sự lợi dụng đạm trong khẩu phần Những nghiên cứu nhất là Tannin trong Anh đào giả được tìm thấy có chứa 40,7g Tannin/kg chất khô Tannin ngưng kết với Protein và có thể làm se khô miệng với mức độ cao Số lượng chính xác của Tannin thay đổi theo vị trí của cây Các hợp chất thuốc đang hoạt động có thể là Tannin hoặc các hợp chất khác như Afrormosin, Medicarpin, hoặc một số Isoflavins Hầu hết các nghiên cứu với Anh đào giả và nó tập trung vào các hợp chất có chất lượng dinh dưỡng Tuy nhiên, một số nghiên cứu
đã tập trung vào khả năng của cây hoặc rễ để giảm số tuyến trùng đất và kiểm soát côn trùng hay nấm (Lê Đức Ngoan, 2004)
2.7.8 Kỹ thuật canh tác
Theo Nguyễn Thị Hồng Nhân (2005), thì kỹ thuật canh tác gồm:
Đất trồng: Phát triển được trên nhiều loại đất nhưng yêu cầu đất không được ngập
úng
Trang 24Gieo trồng: Nhìn chung có thể trồng cây Anh đào giả bằng cách gieo hạt hoặc giâm
cành Tỷ lệ sống của cây anh đào giả trồng bằng cách giâm cành trực tiếp là 33,33%, giâm cành trong vườn ươm là 47,15% (Lê Trung Kiên, 1991)
Chăm sóc: Làm cỏ dại, tưới nước, bón phân và phun thuốc trừ sâu trong thời gian
đầu và giữa để giúp cây phát triển tốt
Thu hoạch: Theo Lê Trung Kiên (1991), nên thu hoạch chất xanh vào lúc cây bắt
đầu ra hoa vì giai đoạn này cây có giá trị dinh dưỡng cao Tuy nhiên, nếu đợi đến ngày này thì năng suất chất xanh sẽ giảm do cây già lá sẽ rụng Ngoài ra kỹ thuật cắt khi thu hoạch cũng cần chú ý để không ảnh hưởng đến khả năng tái sinh của cây
Anh đào giả thu hoạch bằng cách cắt lặp đi lặp lại Đối với thức ăn thô xanh, đầu tiên cắt giảm 8 – 12 tháng sau khi gieo ở 0,5 – 1,0 m trên mặt đất và sau đó đợt kế
là từ 2 – 4 tháng tùy thuộc vào lượng mưa và nhiệt độ Anh đào giả phần lớn là rụng
lá vào mùa khô Để tránh lá rụng vào thời điểm này, nên cắt ở đợt cuối của những cơn mưa và một lần nữa ở 8 tuần vào mùa khô, cuối cùng cắt giảm tại 16 tuần khô
Trang 25Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM3.1 Phương tiện thí nghiệm
3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thí nghiệm được theo dõi qua các lứa tái sinh 5, 6 và 7 vào mùa mưa từ tháng 6/2010 đến tháng 12/2010 tại hộ ông Nguyễn Bửu Châu thuộc khu vực Bình Yên A, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, Thành Phố Cần Thơ
3.1.2 Cơ sở vật chất thí nghệm
Giống được lấy từ trường Đại Học Cần Thơ
Dụng cụ sử dụng ngoài đồng gồm có: dao, cuốc, cân, thước (thước cây và thước dây), thùng tưới nước, sổ ghi chép
Dụng cụ phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm: tủ sấy, tủ nung, bộ phận công phá
và chưng cất đạm, cân phân tích và một số dụng cụ thí nghiệm cần thiết khác
3.2 Phương pháp thí nghiệm
3.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm có tất cả 18 lô trên tổng diện tích 540 m2 (mỗi lô có diện tích 30 m2) Thí nghiệm được bố trí theo thể thức thừa số hai nhân tố (3 mức độ phân hữu cơ, 2 mức độ phân vô cơ), tương ứng với 6 nghiệm thức và mỗi nghiệm thức có 3 lần lặp lại Trong đó:
Nhân tố 1: Phân hữu cơ
Mức độ hữu cơ 1 (HC1): 10 tấn/ha/năm
Mức độ hữu cơ 2 (HC2): 20 tấn/ha/năm
Mức độ hữu cơ 3 (HC3): 30 tấn/ha/năm
Nhân tố 2: Phân vô cơ
Mức độ vô cơ 1 (VC1): 50 kg Ure – 500 kg Super lân – 200 kg Kali/ha/năm
Mức độ vô cơ 2 (VC2): 75 kg Ure – 750 kg Super lân – 300 kg Kali/ha/năm
Phân vô cơ được bón vào giai đoạn 15 ngày sau khi thu hoạch và mỗi lần bón cách nhau 30 ngày
Trang 26Thu hoạch ở mỗi lứa cách nhau là 60 ngày Thời gian thu hoạch vào buổi sáng khi cây đã ráo sương và thu hoạch hết 18 lô Độ cao cắt cách mặt đất khoảng 15 – 20 cm.
Lấy ngẫu nhiên khoảng 1 kg mẫu trên mỗi lô cho vào túi nilon và cột kín miệng, đánh dấu (ghi rõ ngày thu hoạch, số lô và số kg mẫu) sau đó mang về phòng thí nghiệm Mẫu được cắt nhỏ, lấy ngẫu nhiên theo phương pháp đường chéo 200 g, mang đi sấy khô ở 65 0C đến khi khô giòn, nghiền nhuyễn sau đó phân tích thành phần hóa học
3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi và cách thu thập số liệu
Chỉ tiêu về đặc tính sinh trưởng
Khả năng chịu ngập, hạn, chua, phèn được theo dõi trong suốt thời gian thí nghiệm.Khả năng chống chịu sâu bệnh được tiến hành quan sát trong suốt thời gian thí nghiệm
Khả năng cạnh tranh cỏ dại
Chiều cao thân chính (cm) được đo vào các thời điểm 15, 30, 45 và 60 ngày ở mỗi lứa và đo ngẫu nhiên 30% tổng số cây của một lô (trừ những cây ở hàng bìa) cùng một thời điểm
Số nhánh bậc 1 trên thân chính và nhánh bậc 2 trên nhánh bậc 1, tiến hành đếm vào những thời điểm đo chiều cao cây
Độ cao thảm (cm) được lấy trung bình trên 5 điểm ngẫu nhiên theo phương pháp đường chéo trên mỗi lô và đo trước khi thu hoạch
Chỉ tiêu về tính năng sản xuất
Năng suất lá và nhánh (%) chọn ngẫu nhiên 200 g mẫu sau đó cân trọng lượng từng phần rồi quy ra % lá và % nhánh
Năng suất chất xanh (tấn/ha/lứa) thu hoạch toàn bộ cỏ trong mỗi lô thí nghiệm để tính năng suất chất xanh, quy ra tấn/ha/lứa
Năng suất chất khô (tấn/ha/lứa) từ năng suất chất xanh và tỷ lệ nước quy về năng suất chất khô
Năng suất Protein (tấn/ha/lứa) từ năng suất chất khô và tỷ lệ Protein quy về năng suất Protein
Thành phần hóa học (%) chọn ngẫu nhiên 200 g để phân tích các chỉ tiêu như vật chất khô (DM), Khoáng (Ash), Protein thô (CP), Xơ thô (CF) theo AOAC (2001)
Trang 273.2.4 Xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập được xử lý sơ bộ bằng Excel, sau đó phân tích phương sai theo mô hình tuyến tính tổng quát bằng phần mềm Minitab Release 16.1
Trang 28Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Nhận xét chung
4.1.1 Khả năng chịu ngập, hạn và chua phèn
Thí nghiệm được theo dõi vào mùa mưa (từ tháng 6 đến tháng 12 năm) nên vào những thời điểm mưa nhiều cùng với những ngày nước lên cây ngập liên tục hàng tuần thì một số cây bị héo úa, phát triển kém và phục hồi chậm hơn so với những cây khác (một số cây bị chết do rễ bị úng) Tuy nhiên, từ hơn 45 ngày kể từ khi cắt thì khả năng chịu ngập và nắng hạn của cây là rất tốt Ngoài những dấu hiệu được ghi nhận trên thì không thấy những biểu hiện do ảnh hưởng của độ chua phèn
4.1.2 Khả năng chống chịu sâu bệnh
Qua quá trình theo dõi các lứa tái sinh cho thấy cây Anh đào giả có khả năng chống chịu kém đối với sâu bệnh sau thu hoạch giai đoạn từ 0 đến dưới 45 ngày tuổi sau khi cắt Do lúc này cây ra chồi non, sức đề kháng của cây còn yếu nên dễ bị kiến, sâu bọ, nấm, đặc biệt là những con rầy tấn công gây teo ngọn hay làm cây chậm phát triển do cây bị mất chất dinh dưỡng Tuy nhiên, qua giai đoạn này thì cây có sức chống chịu sâu bệnh rất mạnh, chúng tôi không nhận thấy có nấm hại bộ rễ, lá hay một số sâu xanh ăn lá làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây
4.1.3 Khả năng cạnh tranh cỏ dại
Nhìn chung, sau khi thu hoạch cây phát triển chưa cao, tán cây còn nhỏ nên sự cạnh tranh với cỏ dại còn thấp do thí nghiệm được theo dõi vào mùa mưa nên cỏ dại phát triển mạnh Khi cây được khoảng 30 ngày kể từ khi thu hoạch, cây đã phát triển tương đối cao và có độ che phủ tốt nên hạn chế sự phát triển của cỏ dại
4.2 Đặc tính sinh trưởng của cây Anh đào giả
4.2.1 Ảnh hưởng của các mức độ phân bón lên chiều cao cây
Qua bảng 1 ta thấy mức độ biến động của chiều cao cây chịu tác động ở các mức hữu cơ và vô cơ trong các nghiệm thức là không khác biệt ở lứa 5 (P > 0,05) Tuy nhiên sang lứa 6 chỉ có các mức phân vô cơ tác động lên chiều cao cây là rõ nhất vào giai đoạn 30 ngày và 60 ngày (P = 0,02, P = 0,01)
Theo kết quả ghi nhận từ bảng 1 ta thấy mặc dù các mức độ hữu cơ có sự khác biệt nhưng tác động của chúng lên sự biến động của chiều cao cây qua hai lứa là như nhau trong cùng một thời điểm (P > 0,05) Chiều cao biến động từ 101,7 – 102,9 cm
ở lứa 5 và 88,20 – 96,67 cm ở lứa 6 vào lúc thu hoạch Theo Nguyễn Đức Toàn (2009), chiều cao cây Anh đào giả vào lúc 60 ngày đạt 103,66 – 109,64 cm trong lứa 2 tương đương với thí nghiệm chúng tôi vào lứa 5 nhưng cao hơn lứa 6 Nguyên nhân là do có thời gian bị ngập (từ cuối lứa 5 đến giữa lứa 6) nên bộ rễ của cây phát
Trang 29triển kém dẫn đến việc hấp thu dưỡng chất từ phân bón bị hạn chế và một phần phân bón đã bị nước mưa rửa trôi
Bảng 1: Ảnh hưởng của phân hữu cơ và phân vô cơ lên chiều cao của cây qua các lứa
33,3442,6080,70102,9
34,6144,1981,37101,7
33,1640,4083,60105,2
33,4642,6679,1399,63
2,974,575,746,81
2,433,734,685,56
0,820,600,990,99
0,930,680,510,49
44,2059,1872,6792,87
48,4863,3776,5596,67
49,8057,4866,7382,67
43,3265,7276,89102,5
4,412,754,494,41
3,602,253,663,60
0,790,550,300,42
0,230,020,070,01
Ghi chú: HC 1 : hữu cơ 1; HC 2 : hữu cơ 2; HC 3 : hữu cơ 3
VC 1 : vô cơ 1; VC 2 : vô cơ 2
* Đối với các mức độ hữu cơ
Biểu đồ 1: Ảnh hưởng của các mức độ hữu cơ lên chiều cao cây (cm)
Trang 30Biểu đồ 2: Ảnh hưởng của các mức độ vô cơ lên chiều cao cây (cm)
Theo Dương Hữu Thời (1982), thì phân hữu cơ có tác dụng to lớn đối với cây trồng đặc biệt có vai trò quan trọng đối với hệ rễ của cây họ đậu, nó tạo nên môi trường
xốp ẩm thuận lợi cho sự cộng sinh giữa nốt sần của cây đậu và vi khuẩn Rhizobium
Nhờ sự cộng sinh ấy mà cây họ đậu mới cho năng suất cao và năng suất Protein cao hơn cây khác Tuy nhiên qua bảng 1 ta thấy dù bón phân hữu cơ có khác nhau ở các mức độ nhưng chiều cao cây khác biệt không ý nghĩa Nguyên nhân là phân hữu cơ chỉ bón vào lúc giâm cành, nên tác dụng của chúng lên chiều cao cây là không cao trong thời gian theo dõi của chúng tôi vì lượng hữu cơ được sử dụng vào các lứa trước đã nhiều
* Đối với hai mức độ vô cơ
Theo kết quả bảng 1, sự tác động của mức độ VC2 lên chiều cao cây là không đồng đều ở hai lứa mặc dù nó có hàm lượng lớn gấp 1,5 lần mức độ VC1 Trong lứa 5 không nhận thấy được sự khác nhau giữa hai mức độ vô cơ ảnh hưởng lên chiều cao cây (P > 0,05) Nguyên nhân là do một phần lô đất thí nghiệm bị nước ngập làm trôi phần nào lượng phân bón nên các tác động của hai mức độ vô cơ lên chiều cao cây
là tương đương nhau Nhưng sang lứa 6 thì tác động của chúng lại có sự khác biệt
rõ rệt cụ thể ở mức VC1 (82,67 cm) thấp hơn mức VC2 (102,5 cm) vào lúc thu hoạch Điều này có thể giải thích là do ở mức độ VC2 cây được cung cấp hàm lượng dưỡng chất nhiều hơn mức độ VC1 đặc biệt là hàm lượng đạm (Chu Thị Thơm et
al., 2005).
Trang 31Nhìn chung chiều cao cây khi thu hoạch vào lứa 5 dao động từ 101,7 – 102,9 cm thì phù với ghi nhận của Lê Trọng Đồng (1991) trên Anh đào giả là 105,2 cm (thí nghiệm chỉ sử dụng 10 tấn hữu cơ/ha/năm), nhưng ở lứa 6 (88,20 – 96,67 cm) lại thấp hơn.
Qua bảng 1 cho thấy chiều cao cây tăng dần qua các lứa ở các mức độ phân bón Tốc độ sinh trưởng của Anh đào giả ở lứa 5 cao hơn so với lứa 6, trung bình lần lượt là 1,54 cm/ngày so với 1,02 cm/ngày, sự khác biệt này là phù hợp do lứa 6 được theo dõi vào tháng 8 – 9 năm 2010 (vào tháng 7 âm lịch) nên nước lên làm phân bón tan rửa nhanh ảnh hưởng không tốt đến tốc độ tăng trưởng của cây
Bảng 2: Ảnh hưởng của sự tương tác giữa phân hữu cơ và phân vô cơ lên chiều cao
của cây qua các lứa (cm)
33,2740,9077,2799,50
33,4039,5785,73108,5
33,2845,6375,6797,27
35,4046,9578,27101,3
33,8341,4384,47102,1
4,206,468,119,63
0,880,600,540,82
43,2062,9767,2793,40
47,8754,6365,8082,67
40,5363,7379,53103,07
50,7356,2769,2382,33
46,2370,4783,87111,0
6,243,896,356,23
0,960,290,560,37
Ghi chú: HC 1 *VC 1 : Tương tác giữa phân hữu cơ 1 và phân vô cơ 1; HC 1 *VC 2 : Tương tác giữa phân hữu cơ
1 và phân vô cơ 2; HC 2 *VC 1 : Tương tác giữa phân hữu cơ 2 và phân vô cơ 1; HC 2 *VC 2 : Tương tác giữa phân hữu cơ 2 và phân vô cơ 2; HC 3 *VC 1 : Tương tác giữa phân hữu cơ 3 và phân vô cơ 1; HC 3 *VC 2 : Tương tác giữa phân hữu cơ 3 và phân vô cơ 2
Qua kết quả từ bảng 2 nhận thấy không có sự tương tác giữa phân hữu cơ và phân
vô cơ lên chiều cao của cây qua hai lứa trong cùng thời gian (P > 0,05) Chiều cao cây lứa 5 và lứa 6 dao động lần lượt từ 97,27 – 108,5 cm và 82,33 – 111,0 cm vào thời điểm 60 ngày Nhìn chung chiều cao cây không biến động lớn giữa lứa 5 so với lứa 6 chỉ là 2,5 cm tính vào lúc thu hoạch Theo Nguyễn Đức Toàn (2009), chiều cao trung bình cây Anh đào giả vào lúc 60 ngày đạt 103 cm được ghi nhận ở lứa 2 thì chiều cao cây trong thí nghiệm của chúng tôi tương đối bằng nhau Do đó cho thấy không có sự tương tác giữa hai loại phân bón lên chiều cao cây còn trong giai
Trang 32đoạn tăng trưởng mạnh (ở thí nghiệm của Nguyễn Đức Toàn, 2009) hay đã qua nhiều lứa tái sinh.
4.2.2 Ảnh hưởng của các mức phân bón lên sự ra nhánh bậc 1 của cây
Bảng 3: Ảnh hưởng của phân hữu cơ và phân vô cơ lên nhánh bậc 1 của cây qua các
5 và lứa 6 Do ảnh hưởng một phần từ lô đất thí nghiệm không đồng nhất với nhau
và không bổ sung phân hữu cơ vào các lứa tái sinh nên tác dụng của các mức hữu
cơ lên nhánh bậc 1 là không nhiều
Theo Lê Trọng Đồng (1991) cây Anh đào giả vào thời điểm 290 ngày sau khi trồng cây có chiều cao là 104,68 cm và chưa có sự phát triển nhánh bậc 1 tương tự kết quả thí nghiệm của Lê Trung Kiên (1991) cây Anh đào giả lúc 150 ngày sau khi trồng là 188,6 cm và không ghi nhận thấy có nhánh bậc 1 Do cây Anh đào giả ở hai thí nghiệm trên đều là những lứa đầu chưa được cắt, đồng thời cây còn trong giai đoạn thích nghi với môi trường sống và do đặc điểm là cây thân gỗ nên trong giai đoạn này việc hấp thu dưỡng chất được ưu tiên cho sự phát triển của chiều cao thân (Nguyễn Đức Toàn, 2009)
5,674,675,334,17
7,004,675,334,00
5,784,445,004,22
7,225,445,114,44
0,540,430,680,32
0,440,350,560,26
0,210,320,620,19
0,040,070,890,56
4,334,174,503,50
4,173,835,333,17
3,784,894,673,33
4,113,334,783,44
0,440,410,330,44
0,360,330,270,36
0,270,690,120,83
0,530,010,780,83
Trang 33Ở các mức vô cơ, cây có phát triển nhánh bậc 1 nhưng cũng không có sự khác biệt giữa hai mức độ vào thời gian thu hoạch (P > 0,05) Số liệu được ghi nhận có sự khác biệt ảnh hưởng lên nhánh bậc 1 có ở giai đoạn 15 ngày của lứa 5 (P = 0,04) Nguyên do là điều kiện khu đất thí nghiệm không được cao ráo nên thường xuyên
bị ngập làm giảm khả năng ra nhánh của cây Tương tự với thí nghiệm của Nguyễn Đức Toàn (2009), sự tác động của các mức vô cơ lên sự ra nhánh bậc 1 của cây Anh đào giả cũng không khác biệt vào thời điểm 60 ngày
Biểu đồ 3: Ảnh hưởng của phân hữu cơ lên nhánh bậc 1 của cây qua các lứa
Biểu đồ 4: Ảnh hưởng của phân vô cơ lên nhánh bậc 1 của cây qua các lứa