1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát ẢNH HƯỞNG THỜI GIAN TRỮ TRỨNG và TUỔI đẻ lên tỉ lệ ấp nở của GIỐNG gà ROSS 308 NUÔI tại TỈNH bà rịa – VŨNG tàu

74 211 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu thiếu nhiệt trong những ngày đầu ấp trứng sẽ làm giảm sự phát triển của phôi biểu hiện phôi nhỏ, nằm gần vỏ và di động yếu, mạch máu ở lòng đỏ phát triển kém, làm phôi chết nhiều sau

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

HỒ TIẾN NHẨN

KHẢO S T ẢNH HƯỞNG THỜI GIAN TRỮ TRỨNG

VÀ TUỔI ĐẺ LÊN TỈ LỆ ẤP NỞ CỦA GIỐNG

GÀ ROSS 308 NUÔI TẠI TỈNH

BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, 2013

Trang 2

KHẢO S T ẢNH HƯỞNG THỜI GIAN TRỮ TRỨNG

VÀ TUỔI ĐẺ LÊN TỈ LỆ ẤP NỞ CỦA GIỐNG

GÀ ROSS 308 NUÔI TẠI TỈNH

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp

Tên đề tài:

KHẢO S T ẢNH HƯỞNG THỜI GIAN TRỮ TRỨNG

VÀ TUỔI ĐẺ LÊN TỈ LỆ ẤP NỞ CỦA GIỐNG

GÀ ROSS 308 NUÔI TẠI TỈNH

Cần Thơ, Ngày Tháng … Năm……

DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

………

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi: Ban lãnh đạo Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, các thầy cô

trong Bộ môn Chăn nuôi, Trường Đại học Cần Thơ

Em tên: Hồ Tiến Nhẩn

MSSV: 3092545

Ngành: Chăn nuôi Thú y – Khóa 35

Xin cam đoan đề tài “Khảo sát ảnh hưởng thời gian trữ trứng và tuổi đẻ lên tỉ lệ

ấp nở của giống gà Ross 308 nuôi tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” là công trình

nghiên cứu của bản thân Tất cả các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp này là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Cần Thơ, ngày 22 tháng 5 năm 2013

Sinh viên thực hiện

(Ký và ghi họ tên)

Hồ Tiến Nhẩn

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ và anh chị em trong gia đình đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc học tập

Tôi cũng vô cùng biết ơn:

Cố vấn học tập thầy Phạm Tấn Nhã luôn quan tâm, lo lắng và giải đáp những thắc mắc của tôi trong suốt quá trình học tập ở trường, tạo mọi điều kiện, tận tình hướng dẫn và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này Quý thầy cô Bộ môn Chăn Nuôi và Bộ môn Thú Y đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu

Anh Nguyễn Thành Phi Long là người hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Anh Trần Thanh Tuấn, Cao Văn Thương và cùng toàn thể anh em trong trại là những người đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm việc tại trại

Các bạn lớp Chăn Nuôi Thú Y K35 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC BẢNG viii

TÓM LƯỢC ix

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 2: LƯỢC THẢO TÀI LIỆU 2

2.1 CẤU TẠO VÀ CÁC THÀNH PHẦN CỦA TRỨNG 2

2.1.1 Màng nhầy màng mỡ 2

2.1.2 Vỏ trứng vỏ đá vôi 2

2.1.3 Màng vỏ 3

2.1.4 Lòng trắng 3

2.1.5 Lòng đỏ 3

2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÔI VÀ TỈ LỆ ẤP NỞ TRỨNG 4

2.2.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ 4

2.2.1.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ ấp quá cao (thừa nhiệt 5

2.2.1.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ ấp quá thấp (thiếu nhiệt) 6

2.2.2 Ảnh hưởng của ẩm độ 6

2.2.2.1 Ảnh hưởng của ẩm độ cao (thừa ẩm) 7

2.2.2.2 Ảnh hưởng của ẩm độ thấp (thiếu ẩm) 7

2.2.3 Ảnh hưởng của độ thông thoáng 8

2.2.4 Ảnh hưởng của việc đảo trứng 8

2.2.5 Ảnh hưởng của khối lượng trứng 8

2.2.6 Ảnh hưởng của thiếu vitamin và khoáng 9

2.2.7 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản và phương thức bảo quản 10

2.2.8 Các yếu tố ảnh hưởng khác 11

2.3 THU NHẶT, CHỌN VÀ BẢO QUẢN TRỨNG 12

2.3.1 Thu nhặt và bảo quản trứng tạm thời 12

2.3.2 Nhận và xông trứng 13

Trang 7

2.3.3 Chọn trứng ấp 13

2.3.4 Bảo quản trứng trước khi ấp 14

2.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP ẤP TRỨNG NHÂN TẠO 14

2.5 MỘT SỐ BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP KHI ẤP TRỨNG CÔNG NGHIỆP 15

2.5.1 Ấp trứng đã bảo quản lâu ngày 15

2.5.2 Bệnh chân, cánh ngắn Micromelia 15

2.5.3 Bệnh khoèo chân (perosis) 15

2.5.4 Bệnh động kinh atexia 15

2.5.5 Bệnh dính bết khi nở 16

2.5.6 Phân tích tỉ lệ chết phôi 16

2.6 GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG GÀ ROSS 308 17

2.6.1 Khả năng sinh trưởng, phát triển của gà Ross 308 bố mẹ 17

2.6.2 Khả năng sinh sản của gà Ross 308 18

2.7 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 19

2.7.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 19

2.7.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 19

Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 21

3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 21

3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 21

3.1.2 Tổng quan về nhà máy ấp 21

3.1.3 Giống gà thí nghiệm 21

3.1.4 Đối tượng thí nghiệm 21

3.1.5 Máy ấp để thí nghiệm 22

3.1.6 Máy nở để thí nghiệm 22

3.1.7 Phòng trữ trứng 22

3.1.8 Dụng cụ thí nghiệm 23

3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 23

3.2.1 Bố trí thí nghiệm 23

3.2.2 Quy trình làm việc nhà máy ấp 24

3.2.2.1 Quy trình nhận trứng 24

3.2.2.2 Quy trình sang trứng vào vĩ trắng 24

Trang 8

3.2.2.4 Quy trình đưa trứng vào máy ấp 24

3.2.2.5 Quy trình soi trứng 24

3.2.2.6 Quy trình sang trứng vào máy nở 25

3.2.2.7 Xông phormol gà con 25

3.2.2.8 Quy trình ra gà 25

3.2.2.9 Phân loại gà con 25

3.2.2.10 Quy trình giao gà 26

3.2.2.11 Quy trình vệ sinh 26

3.3 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI 27

3.3.1 Nhiệt độ(oC) trung bình trong ngày 27

3.3.2 Ẩm độ % trung bình trong ngày 27

3.3.4 Tỷ lệ đẻ % 27

3.3.5 Tỷ lệ trứng không phôi % 28

3.3.6 Tỷ lệ trứng chết phôi % 28

3.3.7 Tỷ lệ trứng có phôi % 28

3.3.8 Tỷ lệ trứng sát %) 28

3.3.9 Tỷ lệ gà nở loại I/trứng có phôi % 28

3.3.10 Tỷ lệ gà loại+chết sau nở % 28

3.3.11 XỬ LÝ SỐ LIỆU 28

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 NHẬN XÉT CHUNG VỀ MÁY ẤP VÀ MÁY NỞ 29

4.2 KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM 29

4.2.1 Nhiệt độ và ẩm độ môi trường bảo quản trứng trữ trứng 29

4.2.2 Nhiệt độ của máy ấp qua thời gian theo dõi 30

4.2.3 Nhiệt độ của máy nở qua thời gian theo dõi 30

4.2.4 Ẩm độ của máy ấp qua thời gian theo dõi 31

4.2.5 Ẩm độ của máy nở qua thời gian theo dõi 31

4.2.6 Tỉ lệ đẻ và tỉ lệ trứng đem ấp của đàn gà Ross 308 tơ và già 32

4.2.7 Ảnh hưởng tuổi đẻ trứng của gà lên các chỉ tiêu ấp nở của trứng 34

4.2.8 Ảnh hưởng thời gian bảo quản trứng lên các chỉ tiêu ấp nở của trứng 36

2.4.9 Ảnh hưởng thời gian bảo quản trứng và tuổi đẻ lên các chỉ tiêu ấp nở của trứng 38

Trang 9

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41

5.1 KẾT LUẬN 41

5.2 KIẾN NGHỊ 41

PHỤ LỤC 50

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Trang Hình 2.1: Cấu tạo trứng gia cầm 2

Hình 5.1: Phòng trữ trứng 42

Hình 5.2: Đưa trứng vào máy ấp 42

Hình 5.3: Đưa trứng vào máy nở 42

Hình 5.4: Máy ấp cửa sau 42

Hình 5.5: Máy ấp cửa trước 43

Hình 5.6: Tạo nhiệt và gió máy nở mặt trước 43

Hình 5.7: Tạo nhiệt và gió máy nở mặt sau 43

Hình 5.8: Cửa gió máy nở 43

Hình 5.9: Cửa gió gắn với tạo nhiệt và gió 43

Hình 5.10: Máy nở 43

Hình 5.11: Soi trứng sau 15 ngày 44

Hình 5.12: Kiểm tra gà nở 44

Hình 5.13: Phân loại gà sau khi nở 44

Hình 5.14: Phun vacine gà con 44

Hình 5.15: Loại vaccine để phun khi gà nở 44

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Tỷ lệ thành phần cấu tạo và thành phần hoá học của trứng gà 4

Bảng 2.2: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ ấp nở trứng gà 4

Bảng 2.3: Kết quả ấp nở theo mức khối lượng khác nhau 9

Bảng 2.4: Kết quả ấp nở ở hai phương thức qua các thời gian khác nhau 11

Bảng 4.1: Nhiệt độ và ẩm độ môi trường bảo quản trứng 29

Bảng 4.2: Nhiệt độ của máy ấp qua thời gian theo dõi 48

Bảng 4.3: Nhiệt độ của máy nở qua thời gian theo dõi 30

Bảng 4.4: Ẩm độ của máy ấp qua thời gian theo dõi 49

Bảng 4.5: Ẩm độ của máy nở qua thời gian theo dõi 31

Bảng 4.6: Tỉ lệ đẻ và tỉ lệ trứng đem ấp của đàn gà Ross 308 tơ và già 32

Bảng 4.7: Ảnh hưởng tuổi đẻ trứng của gà lên các chỉ tiêu ấp nở của trứng 34

Bảng 4.8: Ảnh hưởng thời gian bảo quản trứng lên các chỉ tiêu ấp nở của trứng 36

Bảng 4.9: Ảnh hưởng thời gian bảo quản trứng và tuổi đẻ lên các chỉ tiêu ấp nở của trứng 38

Trang 12

TÓM LƢỢC

Đề tài “Khảo sát ảnh hưởng thời gian trữ trứng và tuổi đẻ lên tỉ lệ ấp nở của giống gà Ross 308 nuôi tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” thí nghiệm được thực hiện

trên 1 máy ấp đa năng hiệu PT100, xác định thời gian trữ trứng và tuổi đẻ lên tỉ lệ

ấp nở của đàn gà Ross 308 vào 4 tuần đẻ và đàn gà Ross 308 vào 22 tuần đẻ Nhằm nghiên cứu các quy trình ấp trứng gà bằng máy ấp tại cơ sở ấp trứng gia cầm Phước Tân, ấp Việt Kiều, xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Thí nghiệm tiến hành từ tháng 1/2013 đến tháng 3/2013 trên 8.064 trứng gà với 8 nghiệm thức (nghiệm thức đối chứng và 7 nghiệm thức còn lại), 2 nhân tố và

3 lần lặp lại thu được kết quả như sau

* Tỉ lệ trên trứng có phôi đàn gà tơ( 93,3%) tương đương với đàn gà già(93,0%)

* Thời gian trữ trứng cho tỉ lệ nở cao ở trứng 1- 3 ngày trữ và từ 4 – 7 ngày trữ có khuynh hướng giảm tỉ lệ nở trên cả hai đàn gà

* Trứng đàn gà già có xu hướng giảm tỉ lệ có phôi và tỉ lệ không phôi cao

* Tỉ lệ trứng chết phôi sau 15 ngày cao ở đàn gà già

* Tỉ lệ trứng sát và tỉ lệ gà nở loại+chết của 2 đàn tăng theo thời gian trữ

* Trên trứng có phôi của gà tơ (94,47%) cao hơn gà già (90,82%)

Trang 13

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăn nuôi gia cầm là nghề sản xuất truyền thống lâu đời, chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị ngành chăn nuôi nước ta Chăn nuôi gia cầm chiếm khoảng

18 – 19% tổng thu ngành chăn nuôi Lê Hồng Mận et al – 2007)

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nhân nhanh đàn giống gia cầm để cung cấp đủ con giống tốt cho các nông hộ và nông trại Nâng cao khả năng sinh sản và hoàn thiện quy trình ấp để nâng cao hiệu quả chăn nuôi các đàn gia cầm giống, từ đó tạo ra số lượng lớn con giống có phẩm chất tốt đáp ứng kịp thời nhu cầu con giống cho các nông hộ và nông trại là một trong những hướng sản xuất quan trọng cần giải quyết

Ấp trứng là giai đoạn tiếp theo để hoàn thiện hơn quá trình sinh sản của gia cầm, là khâu quan trọng cuối cùng trong chăn nuôi đàn gà giống Quá trình ấp trứng diễn ra trong một thời gian ngắn nhưng ảnh hưởng lớn đến chất lượng của đàn giống Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở như: nhiệt độ, độ ẩm, khử trùng trứng, Nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến kết quả ấp nở của trứng gà nuôi theo phương thức công nghiệp, góp phần hoàn thiện quy trình ấp trứng, nâng cao kết quả ấp nở và đảm bảo chất lượng của đàn giống tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Khảo sát ảnh hưởng thời gian trữ trứng và tuổi đẻ lên tỉ lệ ấp nở của

giống gà Ross 308 nuôi tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”

Mục tiêu của việc nghiên cứu trên: Đánh giá tỉ lệ nở của trứng trong các khoảng thời gian trữ trứng và 2 tuần tuổi đẻ của đàn gà giống, để hạn chế việc bảo quản trứng quá lâu và sử dụng trứng đàn gà giống quá già Nhằm nâng cao chất lượng cải

tạo con giống

Trang 14

CHƯƠNG 2: LƯỢC THẢO TÀI LIỆU 2.1 CẤU TẠO VÀ C C THÀNH PHẦN CỦA TRỨNG

Hình 2.1: Cấu tạo trứng gia cầm

(Nguồn: http://yeuga.blogspot.com/2012/09/cau-tao-co-ga.html)

2.1.1 Màng nhầ màng m

Khi vừa đẻ ra trên bề mặt vỏ trứng có một lớp màng nhầy bảo vệ để tránh các vi khuẩn vào bên trong phá hoại và gây thối trứng Màng nhầy này có cấu tạo từ protein sợi Muxin có những hạt mỡ nhỏ li ti Nếu thấy vỏ trứng bóng là lớp màng nhầy này mất đi do trứng đã để lâu Độ dầy của màng nhầy 0,005 – 0,01 mm khi trứng bị dính phân ta không nên rửa trứng mà chỉ nên dùng khăn mềm lau nhẹ Bạch Thị Thanh Vân và Nguyễn Quý Khiêm, 2001

2.1.2 V trứng v đá vôi

Trong tử cung của gia cầm có tuyến vôi tiết ra một lớp dịch nhờn và trắng, dịch này tạo ra từ cacbonat canxi và cabo protein chất này nhanh chóng cứng lại tạo thành lớp vỏ bao quanh trứng Vỏ cứng được tạo thành bởi 93,5% muối canxi cacbonat canxi ; 4,09% protein; 0,14% chất béo; 1,2% nước; 0,55% ôxit Mg; 0,25% photpho; 12% bioxit Si; 0,03% Na; 0,08% K và các Fe, Al Chức năng của vỏ là bảo vệ các thành phần bên trong của trứng, đồng thời cung cấp chất canxi cho phôi để tạo xương, thời gian tạo vỏ là 1 quá trình kéo dài 9 – 12 giờ Để hình thành xương, phôi nhận 75% canxi từ vỏ, còn lại 25% lấy từ lòng trắng Bạch Thị Thanh Vân và Nguyễn Quý Khiêm, 2001

Trang 15

Trên bề mặt của vỏ có các lỗ khí kích thước rất nhỏ, người ta đã đếm được 7000 –

7600 lỗ khí trên bề mặt vỏ trứng, độ dày vỏ cứng của từng loại gia cầm không giống nhau, vỏ trứng gà có độ dày vỏ khoảng 0,2 – 0,4 mm, vỏ trứng ngan có độ dày từ 0,38 – 0,55 mm, vỏ của trứng vịt 0,25 – 0,4 mm, trứng có vỏ dày độ chịu lực cao hơn trứng có vỏ mỏng Bạch Thị Thanh Vân và Nguyễn Quý Khiêm, 2001

2.1.3 Màng v

Có hai lớp màng vỏ được cấu tạo từ sợi Keratin đan chéo vào nhau Một lớp dính sát vào vỏ còn lớp bên trong dính sát vào lớp lòng trắng ngoài Độ dày của hai lớp màng này khoảng 0,057 – 0,069 mm cả hai lớp đều có lỗ cho không khí đi vào bên trong giúp cho phôi hô hấp, phát triển Bạch Thị Thanh Vân và Nguyễn Quý Khiêm, 2001).

Hai lớp màng dính sát vào nhau chỉ tách ra ở đầu tù của trứng gọi là buồng khí nơi cung cấp ôxy cho phôi Khi trứng vừa mới đẻ ra chưa có buồng khí, chỉ sau 6 – 60 phút sau buồng khí mới được hình thành và rộng dần do bay hơi nước từ trứng Bạch Thị Thanh Vân và Nguyễn Quý Khiêm, 2001 .

2.1.4 Lòng trắng

Theo Bạch Thị Thanh Vân và Nguyễn Quý Khiêm 2001 , lòng trắng chứa 85 – 89% là nước, còn lại các chất dinh dưỡng như đường, vitamin B2 cung cấp cho nhu cầu phát triển phôi Nếu vitamin B2 bị thiếu, phôi thai sẽ chết vào tuần thứ 2 của giai đoạn ấp

Lòng trắng chia làm 4 lớp:

- Lớp trong cùng sát lòng đỏ là một lớp lòng trắng đặc, bên trong lớp này có sợi dây giữ hai đầu lòng đỏ bằng trục ngang gọi là dây chằng Tác dụng của dây chằng giữ cho lòng đỏ khỏi bị ảnh hưởng do những tác động bên ngoài và giúp lòng đỏ khỏi dính vào vỏ, lớp lòng trắng đặc này chiếm 2,7%

- Lớp lòng trắng tiếp theo chiếm 16,8% và hầu như không chứa sợi Muxin

- Lòng trắng đặc giữa: Lớp này chiếm 50 – 57% có chứa nhiều sợi nhầy, là lớp đệm của lòng đỏ và là nơi đầu sợi dây chằng bám vào

- Lớp lòng trắng loãng ngoài: Lớp này bao bọc ngoài chiếm 23%

Trang 16

tan dần vào nhau Lòng đỏ có các lớp đậm nhạt khác nhau là nguồn dinh dưỡng dồi dào cung cấp cho phôi, ngoài ra tế bào trứng còn có một mầm sống, mần này gắn chặt vào lòng đỏ tạo thành đĩa phôi Đĩa phôi có tỷ trọng nhỏ hơn cực thực vật nên luôn có xu hướng nổi lên phía trên, chính vì thế nếu trứng không được đảo trong thời gian ấp, phôi sẽ bị dính vào vỏ không sử dụng được các chất dinh dưỡng rồi chết Bạch Thị Thanh Vân và Nguyễn Quý Khiêm, 2001

Bảng 2.1: Tỷ lệ thành phần cấu tạo và thành phần hoá học của trứng gà

Lòng trắng Lòng đ V H 2 O Protein M Khoáng

58,62 % 31,04 % 10,34 % 73,6 % 12,8 % 11,8 % 1,09 %

(Nguồn: Bạch Thị Thanh Vân và Nguyễn Quý Khiêm, 2001)

2.2 C C YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QU TRÌNH PH T TRIỂN CỦA PHÔI VÀ TỈ LỆ ẤP NỞ TRỨNG

Trang 17

Theo Bùi Đức Lũng và Nguyễn Xuân Sơn 2003 , trong các máy ấp lớn, nhiệt độ ấp thường xuyên trong phạm vi 37 – 38 oC và rất ít khi vượt ra ngoài giới hạn này Giai đoạn đầu 6 – 7 ngày sau khi ấp cần nhiệt độ cao hơn khoảng 37,8 – 38 o

C Nhiệt độ cao làm phôi phát triển nhanh, do làm tăng tiêu hóa thức ăn trong trứng của phôi, niệu nang khép kín sớm Nước trong trứng bốc hơi nhanh tạo khoảng trống niệu nang để chứa nước nội sinh nước tạo ra do quá trình trao đổi chất Do

đó kích thích phôi tiêu hóa nhiều lòng trắng lòng đỏ hơn và thải nhiều nước cặn hơn

Vào cuối chu kì ấp, khoang niệu nang khép kín, màng niệu nang tiêu đi, lúc này phôi hô hấp bằng phổi

Nếu thiếu nhiệt trong những ngày đầu ấp trứng sẽ làm giảm sự phát triển của phôi biểu hiện phôi nhỏ, nằm gần vỏ và di động yếu, mạch máu ở lòng đỏ phát triển kém, làm phôi chết nhiều sau 4 – 6 ngày ấp Những trứng chết phôi lúc này có vòng máu nhỏ, nhạt

Nếu nhiệt đủ hoặc thấp chút ít, gà nở khỏe, lông bung, bụng nhẹ, nhanh nhẹn

Nếu thiếu nhiệt kéo dài dưới 37 oC gà nở bị nặng bụng, thường bị tiêu chảy, sau khi

nở mặt trong của vỏ trứng có màu nâu ngà hoặc hồng nhạt

Khi ấp trứng phải chịu nhiệt độ quá thấp dưới 35 – 36 oC kéo dài trong nhiều thời điểm ấp, thì túi lòng đỏ không co vào được xoang bụng, gà nở bị hở rốn, túi lòng đỏ

có màu xanh lá cây

2.2.1.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ ấp quá cao (thừa nhiệt

- Tỷ lệ trứng chết có vành máu cao

- Phôi chết dính vào màng vỏ

- Trọng lượng trứng giảm nhiều

- Phôi phát triển nhanh

- Túi niệu phát triển nhanh

- Màng niệu khép kín sớm trước thời hạn

- Hao hụt trọng lượng quá lớn, buồng khí rộng

- Gia cầm mổ vỏ sớm, lỗ thủng vỏ nhỏ, mổ vỏ nhiều ở đầu nhọn của trứng

- Tỷ lệ chết phôi cao

Trang 18

- Gia cầm nở ra hở rốn nhiều.

- Trọng lượng gia cầm nở không đồng đều, nhẹ

2.2.1.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ ấp quá thấp (thiếu nhiệt)

- Hao hụt trọng lượng ít, buồng khí nhỏ

- Tỷ lệ chết phôi cao

- Phôi phát triển chậm, mạch máu mờ nhạt, khó nhìn thấy

- Hình thành các vành mạch máu chậm

- Tỷ lệ trứng có màng niệu chưa khép kín cao

- Gia cầm nở chậm, muộn, thời gian nở kéo dài

Trong những ngày đầu ấp trứng, cần làm giảm bay hơi nước trong trứng để các chất dinh dưỡng của lòng trắng và lòng đỏ dễ hòa tan, cung cấp cho phôi phát triển và làm giảm tỷ lệ chết phôi Vì vậy độ ẩm tương đối trong máy phải duy trì ở mức quy định, để giảm độ bay hơi nước trong trứng

Giữa quá trình ấp sau 10 ngày ấp , lượng nước trong trứng bớt dần, cho nên ẩm độ tương đối trong máy cao hơn, chỉ đủ để bay hơi nước nội sinh nước tạo trong quá trình trao đổi chất của phôi

Vào cuối thời kì ấp sang máy nở , phôi đã phát triển hoàn toàn thành gà con, trong máy cần đủ ẩm độ để gà con dễ nở Cho nên độ ẩm tương đối trong máy cao hơn so với các giai đoạn ấp khác, mục đích làm giảm độ bay hơi nước trong trứng Độ ẩm trong máy ở giai đoạn gà con chuẩn bị nở phải đảm bảo 75 – 80% Nếu cao hơn mức ban đầu gà nở chậm, lông ướt

Trang 19

Thứ hai: Điều chỉnh sự tỏa nhiệt của trứng phụ thuộc vào từng giai đoạn ấp Trong nửa đầu của chu kỳ ấp nhiệt độ của trứng chỉ bằng hoặc thấp hơn nhiệt độ của không khí trong máy ấp, vì trứng mới vào chỉ thu nhiệt Lúc này trứng bị mất nhiệt

do sự bay hơi nước nước bay hơi làm thu nhiệt của trứng Vì vậy ẩm độ cao trong những ngày đầu sẽ làm giảm bay hơi nước, góp phần giữ nhiệt, đồng thời làm nước trong trứng bốc hơi từ từ

Vào nửa sau của chu kỳ ấp trứng, do quá trình trao đổi chất của phôi tăng, trứng sản sinh nhiều nhiệt Một phần nhiệt này dùng vào làm bay hơi nước Nhiệt độ của trứng, nhất là những ngày cuối của chu kỳ ấp cao hơn so với nhiệt độ không khí trong máy ấp Vì vậy trong những ngày cuối cùng này ở máy nở phải tăng độ ẩm trong máy để hút bớt nhiệt độ của trứng, làm hạ nhiệt độ trong trứng và trong máy

ấp

Khi ẩm độ trong máy vượt quá yêu cầu quá 80% gà nở bị yếu, ít hoạt động, lông

gà bị dính bết ở rốn và hậu môn, màu lông vàng đậm, mỏ và chân nhợt nhạt, gà con

bị bụng to và nặng Sau này nuôi gà chậm lớn, tỷ lệ chết cao

2.2.2.1 Ảnh hưởng của ẩm độ cao (thừa ẩm)

- Hao hụt trọng lượng ít

- Buồng khí nhỏ

- Phôi phát triển yếu, chậm

- Niệu nang chậm phát triển

- Dinh dưỡng hấp thụ kém, rối loạn trao đổi chất, phôi chậm phát triển

- Gia cầm nở chậm, vỏ trứng bẩn

- Tỷ lệ gia cầm yếu nhiều nặng bụng, hở rốn

- Tỷ lệ chết cao

2.2.2.2 Ảnh hưởng của ẩm độ thấp (thiếu ẩm)

- Tỷ lệ trứng chết phôi có vành máu cao

- Phôi chết dính vào màng vỏ

- Trọng lượng trứng giảm rõ rệt

- Buồng khí quá lớn

Trang 20

- Túi niệu khép kín trước thời hạn

- Hao hụt trọng lượng lớn buồng khí rộng hơn 1/3 dung tích trứng

- Tỷ lệ chết phôi cao

- Nhiều gia cầm con lòng đỏ không tiêu thụ hết, khô chân, chậm chạp, khó nuôi

2.2.3 Ảnh hưởng của độ thông thoáng

Khái niệm: Độ thông thoáng là tốc độ hút không khí sạch ở ngoài vào và tốc độ đẩy không khí bẩn chứa nhiều CO2, H2S,… , khí nóng trong máy ra ngoài Đảm bảo thông thoáng khí là đảm bảo cung cấp lượng oxi cần thiết cho phôi hô hấp và phát triển, đồng thời loại khí độc CO2 Bùi Đức Lũng và Nguyễn Xuân Sơn, 2003 Nếu nồng độ CO2 vượt cao, nồng độ khí O2 giảm cũng có thể làm cho phôi chết hàng loạt Dấu hiệu phôi chết ngạt thường thấy ở phôi của trứng được ấp sau 9 – 12 ngày tất nhiên còn có thể kết hợp một số nguyên nhân khác như trứng bị bẩn lấp hết

lỗ thông khí trên mặt vỏ trứng Để đảm bảo độ thông khí, thì những hệ thống quạt hút, quạt đẩy phải làm việc liên tục chạy đủ tốc độ Bùi Đức Lũng và Nguyễn Xuân Sơn, 2003

2.2.4 Ảnh hưởng của việc đảo trứng

Xếp trứng: Trứng xếp vào khay ấp ở ngày đầu phải để đầu to chứa buồng khí lên trên, đầu nhọn xuống dưới, nếu xếp ngược lại thì tuy phôi phát triển bình thường nhưng vào ngày cuối chu kì ấp đầu phôi gà ở phía đầu nhọn đầu trứng không có buồng khí sẽ không có không khí thở và sẽ bị chết ngạt Có thể đặt trứng nghiêng

45o để không ảnh hưởng đến sự ấp nở Nếu bảo đảm đầu to lên trên thì khi sang máy nở trứng không phải xếp như trên mà đặt trứng nằm ngang, vì lúc này đầu gà con đã ngóc lên buồng khí, mặt khác cũng để trứng nở dễ dàng Bùi Đức Lũng và Nguyễn Xuân Sơn, 2003

Trứng khi còn trong máy ấp phải được đảo nghiêng 2 chiều trái, phải theo chu kỳ

1 – 2 giờ/lần Trong những ngày ấp đầu tiên, nếu không đảo trứng, phôi sẽ bị lòng

đỏ ép vào vỏ, sự phát triển bị ngừng lại và phôi bị chết Khi soi trứng sẽ thấy một vết đen dính vào vỏ Bùi Đức Lũng và Nguyễn Xuân Sơn, 2003

Trang 21

Bảng 2.3: Kết quả ấp nở theo mức khối lượng khác nhau

(Nguồn: Bùi Đức Lũng và Nguyễn Thị San,1993)

2.2.6 Ảnh hưởng của thiếu vitamin và khoáng

Sự thiếu một số vitamin và khoáng trong trứng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển phôi trong quá trình ấp nở cũng như chất lượng của gà con

- Thiếu vitamin B1 (Thiamin): Đặc trưng khi trong trứng thiếu vitamin B1 là gà con

nở có hiện tượng viêm đa thần kinh Polineurist Gà đi ngật ngưỡng, loạng choạng, một số con có thể bị liệt, bị Atexia Cần tăng B1 trong thức ăn

- Thiếu vitamin B2 (Riboflavine): Khi thiếu vitamin B2 làm cho phôi chậm phát triển, phôi chết nhiều vào giữa và cuối thời kỳ ấp Từ 9 – 14 ngày sau khi ấp nở những phôi chết thường thấy hiện tượng chân ngắn, ngón cong, mỏ trên ngắn Cần

bổ sung vitamin B2 vào thức ăn cho gà đẻ

- Thiếu vitamin H (Biotin): Khi thiếu vitamin H trong thức ăn của gà đẻ, tỷ lệ chết phôi tăng Những phôi chết thấy biến dạng đầu to, mỏ dưới ngắn, mỏ trên quặp xuống, các xương đùi, bàn chân ngắn lại Gà con ngửa đầu ra sau lưng và quay tròn đến khi chết, gà bị bệnh thần kinh

- Thiếu vitamin B12 (Cobalamine): Khi thiếu vitamin B12 tỷ lệ chết phôi tăng lên ở giai đoạn 16 – 18 ngày ấp Cơ chân bị teo, chân nhỏ kém phát triển, khô Phôi bị xuất huyết toàn thân

- Thiếu vitamin A: Khi thiếu vitamin A, phôi ngừng phát triển, tỷ lệ phôi chết tăng, thận sưng, xung huyết và đọng nhiều muối Urat màu trắng ngà, da chân khô

Trang 22

- Thiếu vitamin D3 (Cholecalcipherol): Khi thiếu vitamin D3 thì chất lượng trứng giảm, tỷ lệ nở giảm Trứng bị dị hình nhiều, vỏ mỏng, do đó nước trong trứng bay hơi mạnh Khả năng sử dụng Canxi, photpho của phôi kém, gây tỷ lệ chết phôi cao trong giai đoạn cuối thời kì ấp Tuy nhiên thừa vitamin D3 cũng làm giảm tỷ lệ ấp

nở

- Thiếu vitamin E (Alpha-Tocopherol): Tỷ lệ trứng sáng trứng không phôi cao, phôi phát triển chậm Hệ tuần hoàn bị phá hủy, thấy xuất hiện vòng máu Phôi chết nhiều ở 3 – 4 ngày ấp

- Thiếu Ca, P: Làm vỏ trứng mỏng, dị hình, tỷ lệ trứng có phôi và ấp nở kém, phôi chết nhiều Gia cầm nở ra bị khuyết tật ở các bộ phận xương chân, đầu, cánh,…

- Thiếu Mangan: Làm giảm chất lượng vỏ trứng, phôi phát triển kém và bị dị hình như chân ngắn, đầu to, mỏ vẹt, đùi cong Gia cầm con đầu gục vào bụng Điển hình gia cầm con nở ra bị sưng khớp xương, đi lại khó, bị liệt bệnh Perosis

2.2.7 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản và phương thức bảo quản

Kết quả ấp nở không chỉ phụ thuộc vào thời gian bảo quản mà còn phụ thuộc vào phương thức bảo quản trứng ấp Thời gian bảo quản càng dài thì kết quả ấp nở càng giảm

Theo Võ Bá Thọ 1999 , trứng bảo quản khá lâu trước khi ấp đã bị biến đổi nhiều

về chất lượng sinh học và sẽ gây ra những biến đổi bệnh lý trong quá trình phát triển của phôi Bình thường với nhiệt độ, ẩm độ tuyệt hảo cũng chỉ nên bảo quản trứng ấp quá 7 ngày như quy định chung của ngành gà công nghiệp

Trứng sau khi đẻ ra gặp nhiệt độ môi trường thấp hơn so với nhiệt độ cơ thể mẹ, quá trình phát triển của phôi bị ngừng lại Để bảo quản trứng ấp có hiệu quả cao nhất nên giữ trứng ở nơi thoáng mát, tránh ánh sáng trực tiếp hay mưa ẩm, không có mùi lạ Nhiệt độ bảo quản trứng tốt nhất là 15 – 20 oC Khi nhiệt độ bảo quản cao sẽ tạo điều kiện cho phôi phát triển, song nếu nhiệt độ không thích hợp sẽ gây chết phôi, đặc biệt khi nhiệt độ quá cao sẽ gây chết phôi hàng loạt Ngoài ra trong khi bảo quản, trứng bị bốc hơi nước Muốn hạn chế sự bốc hơi nước của trứng phải tăng

độ ẩm môi trường Độ ẩm càng cao tỷ lệ mất nước càng thấp nhưng không được phép để ẩm độ tăng đến 90 – 100% vì ở mức ẩm độ này sẽ tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển Ẩm độ thích hợp trong thời gian bảo quản trứng là 75 – 82%

Trang 23

Bảng 2.4: Kết quả ấp nở ở hai phương thức qua các thời gian khác nhau

Chỉ tiêu theo dõi Bảo quản kho lạnh

3 ngày 6 ngày 9 ngày 12 ngày

1030 95,63 8,16 6,12 81,36 85,08

1040 95,38 11,44 7,98 75,96 79,64

1040 95,67 13,27 11,92 70,48 73,67

Chỉ tiêu theo dõi Bảo quản môi trường tự nhiên

3 ngày 6 ngày 9 ngày 12 ngày

957 96,45 9,09 7,21 80,15 83,10

960 95,83 12,71 12,81 70,42 73,48

960 96,25 22,19 15,63 58,44 60,71

( Nguồn: Nguyễn Duy Hoàn, 2009)

Thời gian bảo quản càng dài thì kết quả ấp nở càng giảm ở cả hai phương thức bảo quản Trong điều kiện vụ thu đông thì trứng có thể kéo dài đến 6 ngày, để trứng lâu hơn thì phải bảo quản lạnh, nếu nhiệt độ môi trường cao hơn thì thời gian bảo quản phải ngắn hơn Ngoài ra sự thiếu một số vitamin và khoáng trong trứng chính là thiếu chúng trong thức ăn cho gà đẻ trứng cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển phôi, quá trình ấp nở và chất lượng của gà con

2.2.8 Các ếu tố ảnh hưởng khác

Theo Đào Đức Long và Trần Long 1993 , con đực tốt thì trứng có phôi cao, sức sống của phôi thai cũng tốt hơn Những con đực bị bệnh hoặc nuôi theo chế độ ăn kém cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi thai

Những trứng ấp của những đàn gà mái nuôi thiếu dinh dưỡng sẽ không cho tỷ lệ nở cao, một số phôi thai có thể phát triển rồi chết nửa chừng hoặc nở ra bị dị hình

Trang 24

Việc bảo quản và vận chuyển trứng cũng gây ra những ảnh hưởng nhất định Trứng bẩn do nhiễm khuẩn dễ làm phôi chết nửa chừng

Đặc biệt với những gia cầm có bệnh, trứng ấp sẽ kém, nhiều gà con nở ra yếu đuối,

dị hình hoặc chúng có thể chết trước khi sinh nở ra Quan sát những phôi thai không

nở ra được ta có thể nhận biết một số nguyên nhân đã gây ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi gà

Theo Bùi Quang Toàn 1981 , tỷ lệ nở của trứng ấp không những đơn thuần phụ thuộc vào những yếu tố nhiệt, ẩm độ, đảo trứng,…mà còn phụ thuộc vào các yếu tố sau:

Ảnh hưởng của gia cầm trống và cơ cấu đàn lên tỉ lệ ấp nở: Qua nhiều kết quả nghiên cứu, người ta thấy rằng trứng ở những con gà ghép đôi giao phối khác tuổi

có tỷ lệ thụ tinh cao hơn là trứng ở những con gà bố mẹ cùng tuổi Khi thời tiết nóng cũng trong thời gian thay lông của gà trống thì khả năng thụ tinh của trứng cũng giảm đi

Tuổi của gà trống càng tăng thì tỷ lệ thụ tinh càng giảm Ở những con gà trống thành thục thì tỷ lệ thụ tinh cao hơn những con gà trống chưa thành thục

Dinh dưỡng: Trứng ấp thiếu dinh dưỡng là trứng có chất lượng kém không thể cho

tỷ lệ nở cao, từ đó gia cầm con nở ra không thể khỏe mạnh bình thường được Nguồn gốc của trứng thiếu dinh dưỡng là do đàn gia cầm sinh sản không được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết trong khẩu phần hàng ngày

Chất lượng đàn giống: Đàn gia cầm sinh sản bị mắc bệnh có nhiều bệnh truyền nhiễm mà mầm bệnh có thể xâm nhập vào trứng Trứng bị nhiễm bệnh từ trong cơ thể mẹ mắc bệnh ẩn tính, mãn tính hoặc trong những gà mái mang mầm bệnh Mặt khác trứng cũng bị nhiễm bệnh trong lúc thu lượm trứng, bảo quản trứng

Phôi thai bị nhiễm khuẩn có thể chết bất cứ giai đoạn nào, tỷ lệ nở thấp, gia cầm con nở ra có triệu trứng mắc bệnh này hay bệnh khác

Yếu tố kỹ thuật lành nghề của công nhân, thuốc sát trùng trứng không đúng liều lượng, thời gian nhặt trứng trong ngày, đều ảnh thưởng đến kết quả nở

2.3 THU NHẶT, CHỌN VÀ BẢO QUẢN TRỨNG

2.3.1 Thu nhặt và bảo quản trứng tạm thời

Theo Bùi Hữu Đoàn 2009), trứng đẻ ra được thu nhặt ngay sẽ đảm bảo một tỷ lệ ấp

nở cao hơn vì: Ít có khả năng bị nhiễm khuẩn do thời gian tiếp xúc với đệm lót ổ đẻ

có phân ngắn, hơn nữa trong vòng 2 tiếng đầu sau khi đẻ, trứng có khả năng ngăn

Trang 25

sự xâm nhập của vi khuẩn vào bên trong trứng Trong mùa hè trứng không bị nóng lên do gà khác vào nằm đẻ Nếu có nhiều gà vào đẻ, trứng sẽ nóng lên làm phôi phát triển và sẽ bị chết trong thời gian bảo quản

Theo Bùi Hữu Đoàn 2009 , sau khi thu nhặt trứng cần được đưa về kho của chuồng

nuôi và phân loại sơ bộ Tách riêng các trứng bẩn, trứng giập, vỡ, trứng dị hình, trứng quá to quá nhỏ để một nơi Các trứng đủ tiêu chuẩn đưa vào ấp cần được xếp vào khay sạch và để vào một nơi tránh bụi, tránh nắng Cần chú ý không xếp quá nhiều trứng lên nhau hoặc xếp khay quá nhiều tầng dễ làm các trứng ở phía dưới bị giập

2.3.2 Nhận và xông trứng

Nhận trứng: Khi trứng tới trạm ấp, tại khu vực giao nhận cần kiểm tra lại toàn bộ các khay trứng, tách riêng các trứng bẩn còn sót, các trứng bị giập, vỡ trong quá trình vận chuyển Kiểm tra kỷ số lượng trứng của từng loại Sau khi nhận cần ghi vào sổ nhập trứng các số liệu sau là ngày, tháng, giờ nhập trứng, nguồn gốc xuất

xứ giống dòng gà, số lượng, thời gian thu nhặt Bùi Hữu Đoàn, 2009

Xông sát trùng trứng: Sau khi giao nhận và loại sơ bộ trứng không đảm bảo yêu cầu

vệ sinh xong, trứng giống sẽ được đưa vào tủ xông sát trùng rồi đưa vào kho bảo

quản Bùi Hữu Đoàn, 2009

2.3.3 Chọn trứng ấp

Khối lượng trứng: Thay đổi theo tuổi của đàn gà nên tuy khoảng chọn lọc cho phép khá rộng chỉ nên lấy các trứng có độ dao động xấp xỉ ± 5g so với khối lượng trứng bình quân của đàn vào thời điểm đó Cần loại bỏ các trứng có khối lượng nhỏ hoặc

lớn hơn mức tối thiểu Bùi Hữu Đoàn, 2009

Hình dáng: Trứng chọn đưa vào ấp phải có hình ô van hình trứng hật rõ nét và đều màu Loại bỏ các trứng dị hình, quá dài, quá ngắn, méo lệch, thắt lưng,… Bùi Hữu

Đoàn, 2009

Chất lượng vỏ: Chỉ chọn những trứng có chất lượng vỏ tốt, dày, cứng, nhẵn và đều màu Loại bỏ các trứng vỏ quá mỏng, vỏ rạn nứt hoặc sần sùi, vỏ mắc môn,…vì các loại vỏ này sẽ dẫn đến bay hơi nước nhiều trong khi ấp làm chết phôi hoặc cho kết

quả kém Bùi Hữu Đoàn, 2009

Vệ sinh vỏ trứng: Chỉ nên chọn đưa vào ấp những trứng sạch, loại bỏ các trứng bẩn,

có dính phân, dính máu hoặc dính trứng vỡ trên một diện tích rộng Cần loại bỏ các loại trứng này vì đây là môi trường tốt cho chăm sóc, vi khuẩn mầm bệnh phát triển

Trang 26

Hơn nữa do một phần lớn bề mặt của vỏ trứng bị các chất bẩn bao phủ quá trình trao đổi chất của phôi sẽ bị ảnh hưởng và cho kết quả xấu (Bùi Hữu Đoàn, 2009

2.3.4 Bảo quản trứng trước khi ấp

Trứng giống đã được xông sát trùng nếu chưa đưa vào ấp ngay, phải đưa vào phòng lạnh bảo quản

Phòng lạnh bảo quản trứng cần đảm bảo các điều kiện sau: Có máy điều hoà hoặc máy lạnh hoạt động tốt, duy trì được nhiệt độ xấp xỉ 15 – 18oC Có bộ phận tạo ẩm

để duy trì độ ẩm tương đối 75 – 80% nhiệt độ và ẩm độ trong phòng Có nhiệt kế bấc khô và bấc ẩm để theo dõi Được vệ sinh sạch sẽ hàng ngày và lau sát trùng bằng crezin 3% và formol 2% Trần, tường của phòng lạnh nên làm bằng vật liệu cách nhiệt tốt hoặc xây hai lớp có cách nhiệt ở giữa Cửa phòng nên làm hai lớp có

cao su đệm kín Các góc phòng nên làm tròn để dễ quét, dọn Bùi Hữu Đoàn, 2009

Nhưng dù các điều kiện bảo quản có tốt đến đâu chăng nữa cũng không nên bảo quản trứng ấp quá một tuần trừ điều kiện bắt buộc vì từ 10 ngày trở đi tỷ lệ ấp nở

sẽ giảm đi rất nhiều sau mỗi ngày bảo quản Bùi Hữu Đoàn, 2009

2.4 C C PHƯƠNG PH P ẤP TRỨNG NHÂN TẠO

Ấp đơn kỳ: Ấp một mẻ trứng từ đầu đến khi chuyển sang máy nở Ưu điểm ấp đơn

kỳ là trứng ở các mẻ khác nhau không có cơ hội tiếp xúc với nhau sẽ hạn chế sự lây nhiễm vi sinh vật nếu có giữa các mẻ Ấp đơn kỳ cho phép điều chỉnh nhiệt độ,

ẩm độ, thông thoáng,…theo đúng nhu cầu sinh lý trứng do vậy tỷ lệ nở thường cao hơn ấp đa kỳ

Ấp đa kỳ: Ấp nhiều đợt trứng khác nhau trong cùng lò ấp Có thể ấp đến 4 đợt trong cùng lò Ưu điểm của ấp đa kỳ là không cần cấp nhiệt nhiều như trong ấp đơn kỳ, không cần chỉnh sửa các thông số nhiệt độ, ẩm độ, Hạn chế của ấp đa kỳ là không điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ theo nhu cầu sinh lý trứng ấp, mặt khác nguy cơ lây lan

vi sinh vật cao, ấp liên tục nên không có thời gian vệ sinh tẩy uế tủ ấp

Theo Lã Thị Thu Minh 2000 , có 2 phương pháp ấp trứng gia cầm:

1 Ấp tự nhiên: Dùng gia cầm mái để ấp trứng

Ưu điểm: Thiết bị đơn giản, kỹ thuật ấp đơn sơ, chi phí ít, tỷ lệ nở cao và gia cầm con tương đối mạnh khỏe,

Nhược điểm: Ấp được ít trứng, kết quả ấp nở thất thường, sức khỏe gia cầm mẹ giảm sút, sản lượng trứng giảm, dễ lây lan dịch bệnh, không chủ động được trong sản xuất,

Trang 27

2 Ấp nhân tạo: Ấp bằng thóc trấu rang, ấp bằng đèn điện, ấp bằng nước nóng, bằng máy ấp tự động,…

Ưu điểm: Thích hợp cho sản xuất lớn, chủ động được trong sản xuất, kết quả ấp nở điều đặn, tăng năng suất sản xuất trứng, phòng được các bệnh truyền nhiễm, Nhược điểm: Chi phí lớn, yêu cầu điều kiện tổ chức cán bộ,

2.5 MỘT SỐ BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP KHI ẤP TRỨNG CÔNG NGHIỆP 2.5.1 Ấp trứng đã bảo quản lâu ngày

Theo Bùi Hữu Đoàn 2009 , phôi của trứng ấp đã qua bảo quản lâu ngày phát triển

chậm, muộn, gà nở chậm Nhiều gà con đã mổ được vỏ nhưng không nở được, kéo dài thời gian nở, nở rải rác Gà con nở ra dính bết và bẩn do lòng trắng chưa tiêu thụ

hết, gà con yếu, nặng bụng, tỷ lệ nuôi sống thấp

2.5.2 Bệnh chân, cánh ngắn Micromelia

Theo Bùi Hữu Đoàn 2009 , phôi bị biến dạng, do sự phát triển sụn, xương của tứ

chi kém Biểu hiện chân và cánh của phôi ngắn Xương bàn chân cong và to Xương ống ngắn và cong, đầu to, xương hàm và mỏ dưới ngắn, mỏ trên quặp xuống, lông không bông Phôi bị chết sớm, đôi khi cơ thể sưng mọng Nguyên nhân do thiếu dinh dưỡng trong trứng chính là do đàn gà sinh sản ăn thức ăn không cân đối, không đầy đủ chất đạm, chất khoáng vitamin, Vitamin B2 (Riboilavin), Biotin (Vitamin H)

và Mn

2.5.3 Bệnh khoèo chân perosis

Theo Bùi Hữu Đoàn 2009 , các khớp xương nối đùi với xương ống chân và bàn

chân bị sưng, gân bị trượt khỏi khớp Làm cho chân gà khoèo về một phía, gà không đi lại được hoặc đi bằng khuỷu chân Nguyên nhân do thiếu chất khoáng trong thức ăn cho gà: Mn, axít folic, biotin, axít nicotinic niacin và có thể cả vitamin B12 (Cobalamine)

2.5.4 Bệnh động kinh atexia

Theo Bùi Hữu Đoàn 2009 , gà con vừa nở ra cử động hỗn loạn, gà ngả đầu về phía

lưng, mặt ngửa lên trời, xoay quanh hình tròn, hoặc đầu gục vào bụng Thần kinh không điều khiển được quá trình vận động Gà không ăn uống được, kiệt sức và chết ngay trong 1 – 2 ngày đầu Nguyên nhân của bệnh là thức ăn cho gà bố mẹ thiếu vitamin và chất khoáng

Trang 28

2.5.5 Bệnh dính bết khi nở

Theo Bùi Hữu Đoàn 2009 , bệnh xảy ra khi gà bắt đầu mổ vỏ Lỗ vỏ trứng gà vừa

mổ tràn ra một chất lỏng dính màu vàng và khô rất nhanh, làm bịt kín mũi và mỏ của gà con làm gà chết ngạt, cũng có thể làm lông dính bết Có khi dính cả vỏ trứng làm gà không cử động được Nguyên nhân là thức ăn cho bà bố mẹ thiếu vitamin, thừa chất đạm Ngoài ra, gà con mới nở cũng có thể bị bệnh hở rốn, lông xoăn tỷ lệ chết cao,

2.5.6 Phân tích tỉ lệ chết phôi

Theo Bùi Hữu Đoàn 2009 , trong thực tế, trao đổi chất của phôi gà là kết quả của

nhiệt độ trong máy ấp Nhiệt độ cao làm phôi phát triển nhanh và ngược lại Khi phôi phát triển nhanh, các tế bào sẽ sử dụng nhiều oxy để oxy hoá các chất dinh dưỡng trong trứng đồng thời thải ra nước, CO2… khi phôi phát triển chậm thì quá trình này chậm lại Để quá trình trao đổi chất của phôi diễn ra bình thường và ở mức cân bằng thì nhiệt độ ấp phải được đặt ở độ chính xác Ở các máy ấp hiện đại, nhiệt

độ này là 37,5 o

C hay là 99,5 oF Tuy nhiên, trong máy ấp, nhiệt độ hay bị thay đổi cần phải thường xuyên kiểm tra

* Giai đoạn 1: Chết trước khi được đẻ ra

Sự hình thành phôi dạ là một giai đoạn quyết định trong quá trình phát triển phôi Khi trứng ở trong cơ thể gà quá lâu, sự phát triển phôi vượt quá giai đoạn hình thành phôi dạ, và sự chết phôi trong quá trình lưu giữ trứng sau khi trứng được đẻ ra tăng lên đáng kể Cũng làm tăng tỷ lệ chết phôi trong qúa trình lưu giữ trứng nếu giai đoạn hình thành phôi dạ chưa hoàn chỉnh trước khi trứng được đẻ ra

Một số yếu tố có liên quan đến thời gian trứng đi qua vòi trứng Những quả trứng lớn cần nhiều thời gian hơn những quả nhỏ Trứng có vỏ dày cũng đi qua vòi trứng lâu hơn trứng vỏ mỏng Gà mà có trứng tăng ít nhất về khối lượng trong suốt giai đoạn đẻ sẽ đẻ những quả trứng tốt hơn cho việc ấp sau này

Trứng có thể được đẻ non, yếu tố này rút ngắn quá trình ấp trứng trước khi đẻ Những quả trứng này được đặc trưng bởi lớp vỏ mỏng hoặc trong trường hợp của những quả trứng có vỏ nâu, là trứng có màu vỏ sáng hơn Những bệnh đường hô hấp trong những đàn gà đẻ gây nên hiện tượng đẻ non

Trứng ở những con gà đẻ kém cần nhiều thời gian hơn trong vòi trứng, nhiều khi lên đến 27 giờ và phôi phát triển quá lâu trước khi trứng được đẻ ra Đó là một lí do giải thích tại sao trứng của gà đẻ tốt lại có tỉ lệ ấp nở cao hơn

Trang 29

* Giai đoạn 2: Phôi chết sớm

Đó là những phôi chết trong giai đoạn 3 ngày đầu tiên của qúa trình ấp nở Một số trứng không khởi động lại được quá trình phát triển khi được đặt vào máy ấp Phần nhiều là do những điều kiện bảo quản trứng kém, làm giảm sức sống của phôi Phôi chết sớm được phân loại dựa vào sự xuất hiện của máu đông, và không thể nhận ra được cho đến sau khi hệ tuần hoàn bắt đầu phát triển Nếu hệ thống mạch máu đã phát triển khá hoàn chỉnh khi phôi non chết, máu sẽ tuần hoàn ở rìa ngoài của hệ thống mạch máu và bị đông ở đó, để lại một vòng huyết Xông quá nhiều formaldehit trong quá trình bảo quản trứng làm tăng tỉ lệ chết trong giai đoạn 2

* Giai đoạn 3: Chết trong giai đoạn 8 – 18 ngày

Chết phôi trong giai đoạn 3 thường là thấp, nhưng đôi khi lại rất cao Trong suốt giai đoạn này sự thiếu dinh dưỡng trong khẩu phần gà đẻ là tác động lớn nhất đến phôi, mặc dù việc quá ít vitamin A gây nên sự chết phôi hàng loạt trong giai đoạn 3

từ khi vitamin A tham gia vào quá trình phát triển của hệ tuần hoàn

Không chỉ sự giới hạn dinh dưỡng trong khẩu phần gà đẻ gây nên quá trình tăng tỉ

lệ chết trong giai đoạn 3 mà cả sự bất bình thường của phôi

* Giai đoạn 4: Chết trong những ngày thứ 19, 20 và 21

Những ngày này là một giai đoạn then chốt Rất nhiều thay đổi xảy ra trong quá trình phát triển của gà con ở giai đoạn 4 Hầu hết chết phôi trong giai đoạn 4 gây ra bởi những yếu tố do thời gian tồn tại quá lâu Đối với những gà con không thể nở

ra, 50% có những vị trí không bình thường và gây hậu quả nghiêm trọng nhất là khi trứng không được đặt với buồng khí quay lên trên

2.6 GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG GÀ ROSS 308

Gà Ross 308 là giống gà chuyên thịt có năng suất cao trên thế giới, thời gian nuôi ngắn, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn trên đơn vị sản phẩm thấp Tập đoàn AVIAGEN, 2007)

2.6.1 Khả năng sinh trưởng, phát triển của gà Ross 308 bố mẹ

Đặc điểm về ngoại hình: Gà Ross 308 có ngoại hình của giống gà chuyên thịt, thân hình cân đối, ngực sâu rộng, chân chắc, ức phát triển, có thiết diện vuông Qua quan sát gà từ giai đoạn gà 1 ngày tuổi thấy gà Ross 308 mới nở có màu lông trắng, chân

và mỏ có màu vàng nhạt, trong quá trình nuôi có thể phân biệt con trống, mái bằng tốc độ mọc lông Gà trưởng thành có màu lông trắng tuyền, mào cờ, tích tai phát triển có màu đỏ tươi, da và chân màu vàng nhạt Tập đoàn AVIAGEN, 2007

Trang 30

Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn hậu bị sơ sinh đến 24 tuần tuổi : Tỷ lệ nuôi sống của gà Ross 308 giai đoạn hậu bị đạt tỷ lệ nuôi sống cao ở 24 tuần tuổi gà mái đạt tỷ lệ 92,86%, gà trống đạt 93,50% Ở giai đoạn 6 tuần tuổi tỷ lệ nuôi sống của gà Ross

308 đạt 94 – 95% là tương đối cao và tương đương với các giống gà màu địa phương Đây là thời điểm rất quan trọng để đánh giá khả năng thích nghi của gà vì đây là giai đoạn chuyển loại thức ăn, đồng thời cơ thể chưa có khả năng thích nghi cao, sức đề kháng thấp Tập đoàn AVIAGEN, 2007

Sinh trưởng tuyệt đối: Sinh trưởng tuyệt đối của gà tăng dần theo tuần tuổi, từ tuần tuổi 1 – 8 và đạt đỉnh cao nhất từ tuần tuổi thứ 5 – 8, con trống đạt 25,7 g/con/ngày, con mái đạt 21 g/con/ngày Đây là giai đoạn phát triển mạnh của gà và cũng là giai đoạn nhạy cảm với các bệnh Nên lượng thức ăn cung cấp cho gà ở giai đoạn này tăng nhằm nâng cao sức đề kháng Tập đoàn AVIAGEN, 2007

Sinh trưởng tương đối: Sinh trưởng tương đối của gà Ross 308 bố mẹ từ sơ sinh đến

24 tuần tuổi tuân theo quy luật chung của gia súc gia cầm Sinh trưởng tương đối đạt cao nhất ở giai đoạn sơ sinh đến 1 tuần tuổi với con trống là 90,91%, con mái là

100 %, sau đó giảm mạnh qua các tuần tuổi Sinh trưởng tương đối của gà Ross 308 giảm dần cùng với sự tăng lên về tuổi Tập đoàn AVIAGEN, 2007

Tiêu thụ thức ăn qua các tuần tuổi: Lượng thức ăn của gà tiêu thụ tăng dần qua các tuần tuổi Gà mái ở tuần tuổi đầu tiên tiêu thụ bình quân 26,80g/con/ngày, đến tuần tuổi thứ 6 tiêu thụ 50 g/con/ngày Gà trống tuần tuổi đầu tiên tiêu thụ 37,50 g/con/năm, tuần tuổi thứ 6 tiêu thụ 70g/con/ngày Gà giai đoạn hậu bị thấp hơn, đối với gà trống tiêu tốn 13.969,9g/con, con mái 11.186,98g/con Tập đoàn AVIAGEN, 2007)

Tình hình mắc bệnh và tỷ lệ loại thải của gà Ross 308 giai đoạn hậu bị: Gà chết do mắc bệnh thấp, với gà mái chết 6,07%, gà trống 5,00% Gà Ross 308 thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm ở Việt Nam Tỷ lệ loại thải giai đoạn hậu bị thấp, với

gà trống 5,2%, gà mái 4,94%, điều này cho thấy tỷ lệ đồng đều của đàn gà Ross 308 Tập đoàn AVIAGEN, 2007

2.6.2 Khả năng sinh sản của gà Ross 308

Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên: Gà Ross 308 có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là 174 ngày Tập đoàn AVIAGEN, 2007

Tỷ lệ đẻ và tỷ lệ trứng loại 1 qua các tuần tuổi: Tỷ lệ đẻ của gà Ross 308 tăng dần theo tuổi và đạt cao nhất ở tuần tuổi 31 – 37 với tỷ lệ đẻ đạt 84,24% Tỷ lệ trứng loại 1 cũng tăng theo tuổi của gà và đạt tỷ lệ cao trên 90 %, cao nhất ở tuần tuổi 51 đạt 96,99 % Tập đoàn AVIAGEN, 2007

Trang 31

Tỷ lệ ấp nở: Tỷ lệ trứng có phôi của gà thí nghiệm đạt cao 92 – 94% Tỷ lệ nở trung bình đạt 86 – 87 % trên tổng trứng có phôi Tập đoàn AVIAGEN, 2007

2.7 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC

2.7.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Cùng với những tiến bộ nhanh chống về di truyền, ngành chăn nuôi gia cầm đã có nhiều tiến bộ vượt bậc Hiện nay, có nhiều giống gà mới được tạo ra có năng suất cả

về thịt, trứng cũng như đàn gia cầm chất lượng cao Đó là nhờ kết quả của quá trình nghiên cứu chọn lọc tạo dòng giống mới của các nhà di truyền giống Năm 2002, đàn gia cầm trên thế giới đã lên tới 17 triệu con, trong đó gà chiếm tới 94%

Theo In.K.Han 1998 , dẫn theo Nguyễn Văn Thiện 2004 , năng suất trứng trung bình đạt 270 – 280 quả/mái/năm Để tăng nhanh số lượng đàn gia cầm, nhiều nước trên thế giới đã đưa khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi Từ hệ thống chuồng trại cho đến quy trình ấp nở đã được đưa máy móc với các chương trình tự động đã được cài đặt sẵn vào sản xuất, đem lại hiệu quả kinh tế cao

Theo Wilson H.R 1991 cho biết, kết quả ấp nở thường cao đối với những quả trứng có các chỉ tiêu về khối lượng, chỉ số hình thái, chỉ số lòng đỏ, chí số lòng trắng,…gần với giá trị chỉ tiêu trung bình của giống, còn các quả trứng có chỉ tiêu quá lớn hoặc nhỏ so với chỉ tiêu trung bình của giống thì cho tỷ lệ ấp nở kém Những quả trứng ở đầu và cuối chu kỳ đẻ thường cho tỷ lệ trứng sáng, trứng tắc, tỷ

lệ chết phôi cao, nhiều gà con nở ra không đủ đạt tiêu chuẩn gà loại I Khối lượng

gà sơ sinh phụ thuộc vào khối lượng trứng đem ấp, nó chiếm khoảng 62 – 75% trọng lượng của quả trứng

Kết quả ấp nở còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như dinh dưỡng gà mẹ, sức khoẻ đàn

gà, tỷ lệ trống mái, khâu bảo quản trứng, chế độ nhiệt độ và ẩm độ trong quá trình ấp,… Theo Eidth Asada.A 1990 , nghiên cứu những thay đổi xảy ra trong trứng khi bảo quản cho biết là trứng gà bảo quản ở 19,5 oC trong 6, 8 hoặc 12 ngày ở vị trí bình thường trước khi ấp cho tỷ lệ gà loại I tương ứng là 81,1%, 75,8%, 60,4%

2.7.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Chăn nuôi gia cầm ở nước ta đã tồn tại hàng nghìn năm, chủ yếu là quy mô nhỏ, phân tán, mang tính tự cung tự cấp, đa số các giống gà địa phương có chất lượng thịt gà thơm ngon nhưng năng suất thấp, đồng thời chế độ dinh dưỡng chăm sóc chưa hợp lý nên hiệu quả chăn nuôi đem lại còn thấp Các giống gà nội ở nước ta chủ yếu là gà Ri, gà Đông Tảo, gà Hồ, gà Mía, có trọng lượng thấp Theo Nguyễn Thị Bình 1998 , cho thấy tỷ lệ đẻ trung bình trong 12 tháng đẻ: 36,34% với năng suất trứng 122,4 quả; khối lượng trứng trung bình đạt 42,2 ± 0,3 gam khối lượng

Trang 32

lượng lòng trắng 24,16 gam chiếm 59,98%, tỷ lệ lòng trắng so vơi lòng đỏ là 1,66 theo Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Ân và Nguyễn Thị Hoà, 1975

Theo Nguyễn Đăng Vang, Lê Thị Nga và cộng sự 1997 , cho biết năng suất trứng trên 36 tuần đẻ là 54,77 quả, tỷ lệ trứng có phôi là 89,54%, tỷ lệ gà loại I so với tổng trứng đem ấp là 70,08%

Theo Hoàng Thanh 1996 , cho biết là sản lượng trứng ở gà mía trên 6 tháng đẻ là 44,77 quả, tỷ lệ trứng có phôi là 91,53%, tỷ lệ nở so với số trứng đem ấp là 90,81% Hiện nay, giống gà nội ở Việt Nam bị mất dần, nhiều giống gà như gà Mía, gà Hồ

có nguy cơ bị mất thẳn Ngoài việc phải nghiên cứu, chọn lọc nuôi giữ giống gà nội trong những năm gần đây các nhà nghiên cứu đã và đang chọn lọc, lai tạo ra nhiều giống gà từ các giống gà nhập ngoại và các giống gà địa phương để nâng cao năng suất chăn nuôi

Theo Bùi Quang Tiến, Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc và Vũ Thị Thảo 1995 cho biết, thành phần của trứng gà Goldine-54 như sau: lòng đỏ chiếm khoảng 63,93 – 64,57%; tỷ lệ vỏ 10,31 – 10,42%; độ chịu lực của vỏ cao 3,2 – 3,4 kg/cm2

Theo Nguyễn Quý Khiêm, Bạch Thị Thanh Dân, Phạm Thị Thanh và Nguyễn Thị Bích Liên 2003 nghiên cứu trên gà ác cho biết: khối lượng trứng trung bình 35,21kg, tỷ lệ các thành phần của trứng là: lòng trắng 57,37%, lòng đỏ 35,10%, vỏ 11,53% So với các giống gà công nghiệp chuyên trứng như Goldline – 54 (57,4 –62,00g); gà Hybro- HV 85 (55 – 57g thì khối lượng gà ác bằng 55 – 60%, tỷ lệ nở

so với tổng số trứng đem ấp và tỷ lệ nở so với số trứng có phôi cao nhất là 86% và 92,14% ; thấp nhất là 80% và 86,96%

Trang 33

Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PH P THÍ NGHIỆM 3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM

3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm

Thí nghiệm được tiến hành từ ngày 6 tháng 01 năm 2013 đến ngày 6 tháng 3 năm

2013, tại cơ sơ ấp trứng gà công nghiệp Phước Tân

Thuộc Ấp Việt Kiều, Xã Phước Tân, Huyện Xuyên Mộc, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Tổng số gà trên 15.185 con gà giống Ross 308 nhập từ Úc trong đó:

- Gà Ross tơ vào tuần đẻ thứ 4 được 29 tuần tuổi là 7.808 con có 6.927 con mái

Trang 34

- Gà Ross già vào tuần đẻ thứ 22, được 47 tuần tuổi : 4.032 trứng

3.1.5 Má ấp để thí nghiệm

Đề tài được thực hiện trên 1 máy ấp đa năng hiệu PT100, hoàn toàn tự động Do công ty cổ phần CP Thái Lan sản xuất, năng suất của 1 máy ấp tối đa là 90.720 trứng

Các bộ phận của máy ấp:

- Vỏ máy là chất cách nhiệt và cách âm tốt

- Máy gồm 4 cửa 2 cửa trước và 2 cửa sau, 2 cửa sau có gắn 6 cánh quạt, 2 cửa trước bên ngoài có bộ điều khiển

- Bộ phận tạo nhiệt độ là heater

- Bộ phận tạo ẩm độ là đầu béc phun sương

- Hệ thống dây hơi đảo trứng gắn trên xe ấp

- Bên trên máy ấp được thiết kế phòng kín có gắn máy lạnh để điều hòa nhiệt độ thông xuống máy ấp

- Bên trong máy ấp được thiết kế theo 2 dãy song song có lối đi giữa, chứa xe đựng

có hệ thống làm lạnh để điều hòa nhiệt khi nhiệt độ đột ngột tăng quá cao và hệ thống bảo vệ còi

3.1.7 Phòng trữ trứng

Bên trong phòng trữ trứng được thiết kế bởi các vật liệu cách nhiệt và cách âm tốt được đặt một nhiệt kế để đo nhiệt độ trong phòng, một hệ thống làm lạnh và có hệ thống quạt điều chỉnh ẩm độ khi ẩm độ trong phòng xuống thấp hơn mức cho phép 75%

Trang 35

Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 8 nghiệm thức (nghiệm

thức đối chứng và 7 nghiệm thức còn lại) Mỗi nghiệm thức tương ứng với số ngày trữ và cả 2 đàn gà đẻ

Nghiệm thức DC : Trứng gà được trữ 0 ngày của đàn gà 4 tuần đẻ – gà 22 tuần đẻ Nghiệm thức 1: Trứng gà được trữ 1 ngày của đàn gà 4 tuần đẻ – gà 22 tuần đẻ Nghiệm thức 2: Trứng gà được trữ 2 ngày của đàn gà 4 tuần đẻ – gà 22 tuần đẻ Nghiệm thức 3: Trứng gà được trữ 3 ngày của đàn gà 4 tuần đẻ – gà 22 tuần đẻ Nghiệm thức 4: Trứng gà được trữ 4 ngày của đàn gà 4 tuần đẻ – gà 22 tuần đẻ Nghiệm thức 5: Trứng gà được trữ 5 ngày của đàn gà 4 tuần đẻ – gà 22 tuần đẻ Nghiệm thức 6: Trứng gà được trữ 6 ngày của đàn gà 4 tuần đẻ – gà 22 tuần đẻ Nghiệm thức 7: Trứng gà được trữ 7 ngày của đàn gà 4 tuần đẻ – gà 22 tuần đẻ

Trang 36

3.2.2 Qu trình làm việc nhà má ấp

3.2.2.1 Quy trình nhận trứng

Chuẩn bị bàn nhận trứng, kiểm tra phiếu giao hàng, kiểm tra số lượng trứng, kí phiếu, chuyển trứng vào kho, ghi ngày lên quả trứng, phân loại màu vĩ, sắp xếp và dọn vệ sinh khu vực nhận trứng

3.2.2.2 Quy trình sang trứng vào vĩ trắng

Chuẩn bị vĩ trắng, lót 1 vĩ không ở dưới vĩ trứng để hạn chế nhiệt dưới nền, loại bỏ trứng méo trứng dập, sang trứng chất thành cây 8 hoặc 10 vĩ trứng cho 1 cây , sắp xếp gọn gàng giữa 2 cây trứng có khe hở, ghi ngày tuổi đẻ lên cây trứng, dọn dẹp vệ sinh và ghi trứng loại và dập lên bảng trứng

3.2.2.3 Quy trình vào trứng ấp

Chuẩn bị xe, làm theo lịch ấp được đưa xuống, vào đầu 4 của vĩ trắng trước thành 1 hàng 4 vĩ trắng, hàng vĩ không sau khi vào máy ấp phải quay về hướng quạt, dọn

vệ sinh phòng và khu vực vào trứng

3.2.2.4 Quy trình đưa trứng vào máy ấp

Kiểm tra béc phun sương, mở cửa máy ấp, tắt quạt, rút dây hơi, dây đảo trứng, tháo bạt, quét quạt và dọn vệ sinh trong máy ấp

Đẩy xe vào máy, gắn bạc, gắn dây hơi, gắn dây đảo trứng và tắt máy lạnh khi nhiệt

độ máy ấp lên bằng theo cài đặt thì bật máy lạnh

3.2.2.5 Quy trình soi trứng

Trứng được 15 ngày tuổi bắt đầu soi, không soi lúc trời mưa và buổi sáng sớm Chuẩn bị bàn, đèn, vĩ trắng, vĩ màu và thùng đựng trứng hư

Rút dây hơi, tháo bạt, cân bằng xe, kéo xe ra rút hàng trứng ra rồi soi

Khi soi loại bỏ trứng nổ, trứng bể, trứng chết phôi, trứng không phôi và trứng bể trong xe phải lấy ra hết

Soi xong nếu xe còn trống phải đưa vỉ trắng không vào đầy xe, đẩy xe vào máy ấp cân bằng, lắp bạt lại nhưng không gắn dây hơi đảo trứng

Dọn phòng, chuyển trứng không phôi vào chổ quy định và đến 18 ngày đưa qua máy nở

Trang 37

3.2.2.6 Quy trình sang trứng vào máy nở

* Bước 1: Chuẩn bị máy nở

Sau khi ra gà xong phải dọn vệ sinh: Quét lông gà con trong máy nở, vệ sinh quạt cạo cánh quạt và vệ sinh lông ga trên quạt , rửa máy nở, dây điện quạt gắn vào vị trí quy định, thay hộp nước ẩm độ, gở cửa gió và vệ sinh

Rửa xe nở: Rút hết các hàng ra ngoài rửa từng hàng rồi đưa vào xe, rửa trên nóc và bánh xe và sau khi rửa xong xe được đưa vào chổ quy định

Kiểm tra phun sương: Lấy cây phun sương vệ sinh vào nước và đem kiểm tra Đưa xe nở vào máy nở: Sau khi vệ sinh tất cả xong thì lắp quạt vào trước phải chú ý không cho quạt, heater và cửa gió chạm nhau, lắp 3 thanh chắn đẩy xe vào, gắn phun sương, chạy máy cho khô xe, xông máy (160g thuốc tím + 320ml phormol , xông khoảng 15 phút, mở cửa cho giảm mùi phormol rồi đóng lại chờ nhiệt độ lên

đủ mới tiến hành sang trứng

* Bước 2: Cách sang trứng vào máy nở

Xe trứng được di chuyển từ máy ấp qua máy nở phải nhẹ nhàng, chuẩn bị bàn, cây rút trứng, khi sang vào máy nở phải sang xe giữa trước, ở xe ấp nếu rút hàng trên trước thì xe nở phải rút hàng dưới lên, thao tác phải nhẹ nhàng, loại bỏ trứng dập, sau khi sang xong phải xem lại nhiệt độ, độ ẩm và còi và dọn vệ sinh khu vực sang trứng

3.2.2.7 Xông phormol gà con

Khi gà nở được 30% trên tổng số hàng tiến hành xông phormol, vệ sinh dụng cụ xông phormol, phải điều chỉnh bằng nước trước cho nhỏ từng giọt, một máy nở xông 500ml phormol, phải có dụng cụ hướng ở dưới và phải kiểm tra trong lúc xông phormol vì nó dễ bị nghẹt do lông gà bám vào

3.2.2.8 Quy trình ra gà

Khi gà con nở khô lông tiến hành ra gà, kéo xe ra từ máy nở không được tắt quạt, chuyển vào phòng ra gà, phòng phải được vệ sinh sạch sẽ trước và bật quạt rồi mới đưa xe gà vào, rút nhẹ nhàng

Tiến hành phân loại gà con: Gà con phải để nhẹ nhàng, gà con loại I được cho vào khay trắng, trứng sát để vào vĩ riêng và gà chết và gà loại để khay riêng

3.2.2.9 Phân loại gà con

Ngày đăng: 12/04/2018, 01:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm