1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KIỂM TRA HIỆU QUẢ đáp ỨNG MIỄN DỊCH đối với VACCINE h 5n1 TRÊN đàn vịt đã TIÊM PHÒNG của THÀNH PHỐ CAO LÃNH và HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP

58 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 420,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả được ghi nhận như sau: Trong 84 mẫu huyết thanh của các đàn vịt TP Cao Lãnh thì có 76 mẫu dương tính với kháng thể kháng virus cúm gia cầm chiếm tỷ lệ là 90.48%, trong đó hiệu gi

Trang 1

Cần Thơ, 05/2009

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

VÕ TRƯỜNG THỊNH

KIỂM TRA HIỆU QUẢ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH ĐỐI VỚI VACCINE H5N1 TRÊN ĐÀN VỊT ĐÃ TIÊM PHÒNG CỦA THÀNH PHỐ CAO LÃNH VÀ HUYỆN

THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI THÚ Y

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI THÚ Y

KIỂM TRA HIỆU QUẢ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH ĐỐI VỚI VACCINE H5N1 TRÊN ĐÀN VỊT ĐÃ TIÊM PHÒNG CỦA THÀNH PHỐ CAO LÃNH VÀ HUYỆN

THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

PGS TS LƯU HỮU MÃNH VÕ TRƯỜNG

THỊNH

MSSV: 3052469 Lớp: CNTY K31

Trang 3

Cần Thơ, 05/2009

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

KIỂM TRA HIỆU QUẢ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH ĐỐI VỚI VACCINE H5N1 TRÊN ĐÀN VỊT ĐÃ TIÊM PHÒNG CỦA THÀNH PHỐ CAO LÃNH VÀ HUYỆN

THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI THÚ Y

Cần Thơ, ngày tháng năm 2009 Cần Thơ, ngày tháng năm

Trang 4

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan:

Đề tài “ Kiểm tra hiệu quả đáp ứng miễn dịch đối với vaccine H5N 1 trên đàn vịt đã tiêm phòng của TP Cao Lãnh và huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp ”

được thực hiện từ ngày 01/2009 đến ngày 05/2009 là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi, các số liệu trong đề tài là có thực và chưa được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào

VÕ TRƯỜNG THỊNH

Trang 5

Xin gởi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy Lưu Hữu Mãnh, cô Nguyễn Nhựt Xuân Dung, là người thầy người cô kính mến đã hết lòng hướng dẫn, dạy dỗ, khuyên răn

và giúp đỡ em để em hoàn thành đề tài này

Xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy, các cô của trường Đại Học Cần Thơ và đặc biệt là các thầy các cô của khoa Nông Nghiệp Và Sinh Học Ứng Dụng đã tận tình chỉ dạy và giúp đỡ em trong suốt thời gian theo học tại trường

Xin cảm ơn chú Nguyễn Văn Hoàng cùng các anh, các chị trong trung tâm chẩn đoán xét nghiệm bệnh động vật của chi cục thú y Đồng Tháp Đồng thời xin cảm ơn chú Nguyễn Bá Thành, cô Trương Thị Kim Dung cùng các anh các chị trong cơ quan thú y vùng VII đã tạo mọi điều kiện hết sức thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện đề tài

Xin cảm ơn các bạn trong lớp Chăn Nuôi Thú Y K31 đã cùng tôi chia sẽ những buồn vui, những khó khăn trong quá trình học tập và trong cuộc sống khi tôi còn đang trên ghế nhà trường

Cuối cùng xin kính chúc quý thầy, quý cô, các chú, các anh, các chị cùng các bạn có sức khỏe thật dồi dào và thành công trong công việc

Trang 6

Mục lục

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1 BỆNH CÚM GIA CẦM 3

2.1.1 Định nghĩa 3

2.1.2 Lịch sữ của bệnh 3

2.1.2.1 Trên thế giới 3

2.1.2.2 Ở Việt Nam 4

2.1.3 Căn bệnh 5

2.1.3.1 Phân loại 5

2.1.3.3 Thành phần hóa học 7

2.1.3.4 Quá trình sinh sản của virus 8

2.1.3.5 Độc lực của virus cúm gia cầm 8

2.1.3.6 Sức đề kháng của virus 8

2.1.3.7 Cách đặt tên chủng 9

2.1.4 Dịch tể học 9

2.1.4.1 Phân bố dịch bệnh 9

2.1.4.2 Động vật mắc bệnh 9

2.1.4.3 Chất chứa mầm bệnh 9

2.1.4.4 Đường xâm nhập của virus vào cơ thể 10

2.1.4.5 Cơ chế sinh bệnh và phương thức lây lan 10

2.1.4.6 Tính chất mùa của bệnh cúm gia cầm 10

2.1.4.7 Phân bố địa lý, loại hình và quy mô chăn nuôi ảnh hưởng đến dịch bệnh 10

2.1.5 Thời gian ủ bệnh, triệu chứng và bệnh tích 11

2.1.5.1 Thời gian ủ bệnh 11

2.1.5.2 Triệu chứng 11

2.1.5.3 Bệnh tích 12

2.1.6 Chẩn đoán 13

2.1.6.1 Chẩn đoán lâm sàng 13

2.1.6.2 Chẩn đoán virus học 13

2.1.6.3 Chẩn đoán huyết thanh học 14

2.1.7 Điều trị 14

2.2 MIỄM DỊCH HỌC 14

2.2.1 Khái niệm 14

2.2.2 Phân loại miễn dịch 14

2.2.3 Đặc điểm của hệ thống miễn dịch trên gia cầm 15

2.2.4 Tính miễn dịch của gia cầm đối với virus cúm 16

2.2.4.1 Miễn dịch chủ động .16

2.2.4.2 Miễn dịch thụ động .16

2.2.5 Hiệu giá kháng thể 17

2.3 VACCINE VÀ TIÊM PHÒNG 17

2.3.1 Vaccine 17

2.3.1.1 Khái niệm 17

2.3.1.2 Yêu cầu của một vaccine 17

2.3.1.3 Hiệu quả vaccine phụ thuộc vào 18

2.3.1.4 Ưu điểm và hạn chế khi sử dụng vaccine 18

2.3.1.5 Những nguyên tắc cơ bản trong việc sử dụng vaccine cúm gia cầm 18

Trang 7

2.3.1.6 Một số loại vaccine đã được các nước sử dụng sau khi xảy ra dịch cúm gia

cầm 19

2.3.1.7 Những điều cần lưu ý khi sử dụng vaccine cúm gia cầm 20

2.3.2 Tiêm phòng vaccine 20

2.3.2.1 Khái niệm 20

2.3.2.2 Loài gia cầm được tiêm, lịch tiêm và liều lượng tiêm 21

2.3.2.3 Theo dõi sau tiêm phòng 22

2.3.4 Tình hình tiêm phòng vaccine cúm gia cầm của Đồng Tháp trong thời gian qua .22

Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 26

3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 26

3.1.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 26

3.1.2 Phương tiện thí nghiệm 26

3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 26

3.2.1 Lấy mẫu xét nghiệm 28

3.2.1.1 Địa điểm lấy mẫu 28

3.2.1.2 Cách lấy mẫu và bảo quản mẫu 29

3.2.1.3 Chuẩn bị mẫu 30

3.2.2 Thực hiện xét nghiệm 30

3.2.2.1 Chuẩn bị hỗn dịch hồng cầu gà (RBC) 10% và 0.5% 30

3.2.2.2 Xử lý huyết thanh bằng RDE 30

3.2.2.3 Chuẩn độ kháng nguyên cúm gia cầm (HA – Hemagglutination) 31

3.2.2.4 Chuẩn bị dung dịch kháng nguyên 4 đơn vị ( 4 HAU)/25 µl cho phản ứng HI 32

3.2.2.5 Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu HI (Hemagglutination – Inhibition) 33

3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 34

Chương 4 – KẾT QUẢ THẢO LUẬN 35

4.1 KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM HUYẾT THANH HỌC TRÊN ĐÀN VỊT TP CAO LÃNH BẰNG PHẢN ỨNG HI 35

4.1 KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM HUYẾT THANH HỌC TRÊN ĐÀN VỊT HUYỆN THANH BÌNH BẰNG PHẢN ỨNG HI 38

4.3 SO SÁNH CÁC MỨC HIỆU GIÁ KHÁNG THỂ TRÊN ĐÀN VỊT CỦA TP CAO LÃNH VÀ HUYỆN THANH BÌNH 42

5.1 KẾT LUẬN 43

5.2 ĐỀ NGHỊ 43

Tài Liệu Tham Khảo 44

Trang 8

Danh sách chữ viết tắt

ARN: Acid ribonucleic

FAO: Tổ chức Nông Lương Thế Giới

HA: Haemagglutinin

HAU: Hemagglutination unit

HI: Hemagglutination - Inhibition

HPAI: Highly Pathogenic Avian Influenza (độc lực cao) LPAI: Low Pathogenic Avian Influenza (độc lực thấp)M: Protein Matrix

Trang 9

Danh mục bảng

Bảng 2.1: Tình hình tiêm phòng vaccine cúm gia cầm đợtI/2008 23

Bảng 2.2: Tình hình tiêm phòng vaccine cúm gia cầm đợt II/2008 24

Bảng 2.3: Tình hình tiêm phòng vaccine cúm gia cầm đợt I/2009 25

Bảng 3.1: Số mẫu được lấy và lịch tiêm phòng cụ thể của TP Cao Lãnh và huyện Thanh Bình 29

Bảng 4.1: Kết quả xét nghiệm huyết thanh học trên đàn vịt TP Cao Lãnh bằng phản ứng HI của 2009 36

Bảng 4.2: Sự phân bố mẫu dương tính ở các mức hiệu giá kháng thể khác nhau của đàn vịt TP Cao Lãnh 37

Bảng 4.3: Kết quả xét nghiệm huyết thanh học trên đàn vịt huyện Thanh Bình bằng phản ứng HI của năm 2009 39

Bảng 4.4: Sự phân bố mẫu dương tính ở các mức hiệu giá kháng thể khác nhau của đàn vịt huyện Thanh Bình 41

Bảng 4.5: So sánh các mức hiệu giá kháng thể trên đàn vịt của TP Cao Lãnh và huyện Thanh Bình 42

Danh mục hình Hình 2.1: Cấu trúc của virus cúm gia cầm 7

Hình: 2.2 Xuất huyết màng treo và niêm mạc ruột 13

Hình 3.1: Phản ứng xảy ra khi có sự cân bằng giữa kháng nguyên và kháng thể 31

Hình 3.2: Trường hợp thừa kháng thể 31

Hình 3.3: Trường hợp thừa kháng nguyên 32

Hình 4.1: Sự phân bố mẫu dương tính ở các mức hiệu giá kháng thể khác nhau của đàn vịt TP Cao Lãnh 37

Hình 4.2: Sự phân bố mẫu dương tính ở các mức hiệu giá kháng thể khác nhau của đàn vịt huyện Thanh Bình 41

Trang 10

Tóm Lược

Đề tài “Kiểm tra hiệu quả đáp ứng miễn dịch đối với vaccine H5N 1 trên đàn vịt

đã tiêm phòng của TP Cao Lãnh và huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp ” được thực hiện từ tháng 1/2009 đến tháng 5/2009, được tiến hành trên các đàn vịt của hai địa điểm là TP Cao Lãnh và huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp Với mục tiêu kiểm tra đánh giá mức độ bảo hộ của các đàn vịt ở hai địa phương trên sau đợt tiêm phòng vừa qua Từ đó đánh giá công tác tiêm phòng dịch bệnh trên địa bàn và biết được khả năng đáp ứng miễn dịch của vaccine cúm gia cầm bằng phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu HI Vaccine sử dụng là vaccine H5N1 do Trung Quốc sản xuất dùng tiêm cho vịt Kết quả được ghi nhận như sau: Trong 84 mẫu huyết thanh của các đàn vịt TP Cao Lãnh thì có 76 mẫu dương tính với kháng thể kháng virus cúm gia cầm chiếm tỷ lệ là 90.48%, trong đó hiệu giá kháng thể tập trung nhiều ở mức hiệu giá 1/64 với tỷ lệ 26.32% trong tổng số mẫu dương tính

Còn trên các đàn vịt huyện Thanh Bình với 154 mẫu xét nghiệm huyết thanh học thì

có 137 mẫu dương tính với kháng thể kháng virus cúm gia cầm, chiếm tỷ lệ 88.97%, trong đó hiệu giá kháng thể tập trung nhiều ở mức 1/256 với tỷ lệ 24.09% trong tổng số mẫu dương tính

Trang 11

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh cúm gia cầm chủng độc lực cao (HPAI) được phát hiện lần đầu tiên ở Italia

vào năm 1878 Bệnh do virus cúm type A thuộc họ Orthomyxoviridae với nhiều

phân type khác nhau gây ra Đây là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cấp tính và lây lan rất mạnh ở gia cầm và các động vật hữu nhũ khác trong đó có con người Theo cảnh báo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), Tổ Chức Thú Y Thế Giới (OIE),

Tổ chức Nông Lương Thế Giới (FAO), thế giới đang đứng trước nguy cơ xảy ra dịch cúm gia cầm và đại dịch cúm A (H5N1) ở người Đồng thời theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) khi đại dịch xảy ra, ở Việt Nam sẽ có khoảng 10% dân số mắc bệnh (tức khoảng 8.2 triệu người) và khoảng 1% tử vong (tức 820,000 người) (Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn, Ban Chỉ Đạo Quốc Gia Phòng Chống Dịch Cúm Gia Cầm, 2007)

Trên thế giới, kể từ khi ổ dịch cúm gia cầm được phát hiện gần đây là vào năm

2003 đến nay, bệnh đã tác động đến hàng chục quốc gia thuộc hầu khắp các châu lục trên thế giới Bệnh đã gây ra những hậu quả to lớn về mặt kinh tế - xã hội cho các vùng có dịch Hàng trăm triệu gia cầm đã chết hoặc bị tiêu hủy Hàng trăm triệu USD đã phải bỏ ra để chi phí cho công tác phòng chống dịch

Ở nuớc ta, dịch cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên vào cuối năm 2003 và sau đó là liên tiếp cá đợt dịch xãy ra và đặc biệt là trong những tháng đầu năm 2009 vừa qua, dịch cúm gia cầm lại một lần nữa bùng phát ở đồng bằng sông Cửu Long đặc biệt là trên các đàn thủy cầm và gây ra những thiệt hại hết sức nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi nói riêng và cho nền kinh tế nuớc ta nói chung Sau đó bệnh lây lan trên khắp ba miền của đất nước có khoảng vài 52 nghìn con gia cầm bị chết hoặc bị tiêu hủy… Đặc biệt từ khi mới xuất hiện dịch bệnh cho đến nay bệnh đã làm cho 109 người bị nhiễm virus cúm, trong đó 52 người người bị tử vong (Cục Thú y, 2009) Mặc dù trong thời gian gần đây dịch cúm gia cầm đã có phần lắng dịu xuống, song tiềm ẩn của mầm bệnh vẫn còn là rất lớn, vì chủng virus này có khả năng sống khá lâu trong môi trường Chính vì thế mà mầm bệnh vẫn có khả năng phát triển thành dịch nếu công tác phòng chống dịch cúm gia cầm của chúng ta lơ là

Đồng Tháp là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, tuy thời gian vừa qua dịch cúm gia cầm không xuất hiện trên địa bàn của tỉnh nhưng điều kiện tự nhiên của Đồng Tháp lại hết sức thuận lợi cho dịch cúm gia cầm có thể xâm nhập vào như hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt, đồng ruộng mênh mông là nơi lý tưởng cho các đàn chim di trú và các đàn vịt chạy đồng từ những tỉnh khác vào Đồng thời do hình

Trang 12

thức chăn nuôi của tỉnh còn nhỏ lẻ, nuôi theo hình thức nông hộ chạy đồng là chủ yếu và quy mô đàn khá lớn nên rất khó quản lý, chính vì thế mà rất có nhiều khả năng dịch cúm gia cầm gia cầm có thể xuất hiện trên địa bàn của tỉnh

Xuất phát từ thực tế trên và với đặc tính nguy hiểm của dịch cúm gia cầm cho nên

chúng tôi tiến hành đề tài “ Kiểm tra hiệu quả đáp ứng miễn dịch đối với vaccine

H 5 N 1 trên đàn vịt đã tiêm phòng của TP Cao Lãnh và huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp ”

Trang 13

Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 BỆNH CÚM GIA CẦM

2.1.1 Định nghĩa

Bệnh cúm gia cầm (Avian influenza) hay còn gọi là bệnh cúm gà Là một bệnh truyền nhiễm cấp tính rất nguy hiểm đối với gà, vịt, ngan, ngỗng, gà tây, đà điểu và chim cút Người và một số loài động vật hữu nhũ khác như heo, hổ, mèo… cũng có thể bị bệnh cúm gia cầm

Căn nguyên của bệnh do virus cúm type A chủng H5N1 thuộc họ Orthomyxoviridae

gây ra Đây là virus có độc lực cao gây thiệt hại rất lớn về kinh tế - xã hội và đặc biệt là có khả năng lây nhiễm và gây chết người Bệnh cúm gia cầm độc lực cao (HPAI) được Tổ Chức Thú Y Thế Giới (OIE) xếp vào bảng A (Bảng danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất ở động vật) của Luật Thú y quốc tế ( Cục Thú

Vào năm 1894, một ổ dịch bệnh nghiêm trọng đã xảy ra ở miền Bắc nước Ý và phát tán tới miền đông nước Áo, Đức, Bỉ và Pháp thông qua gà Đầu thế kỉ 20, bệnh cúm gia cầm độc lực cao được báo cáo ở Thụy Sỉ, Nga, Hà Lan, Hungary, Trung Đông, Châu Á, Nam phi và Bắc Mỹ Ở nhiều nước Châu Âu, cúm gia cầm độc lực cao là bệnh dịch địa phương cho đến vào giữa thập niên 30 Cúm gia cầm thể độc lực cao được báo cáo ở Mỹ vào năm 1924 – 1925 và 1929 Ổ dịch cúm gia cầm độc lực cao bắt đầu vào năm 1924 gây tổn thất nghiêm trọng ở New York và sau đó là New Jersey và Philadelhia, Pennsylvania Năm 1925 người ta phát hiện các trại, chợ ở Connecticut, West Virginia, Indiana, Michigan, và Missouri bị nhiễm cúm gia cầm Vào năm 1929 dịch bệnh xuất hiện trên một vài đàn ở New Jersey Các biện pháp kiểm dịch, giảm đàn, tiêu độc sát trùng đã được thực hiện để thanh toán cúm gia

Trang 14

cầm độc lực cao ở Mỹ Các ổ dịch cúm gia cầm độc lực cao từ giữa năm 1901 và giữa thập niên 50 là do các chủng mà hiện nay đã được định danh thuộc subtype

H7N1 và H7N7 Tuy nhiên, một ổ dịch vào năm 1959 trên đàn gà ở Scotland và nhạn biển vào 1961 ở Nam Phi do subtype mới là H9N9 và H5N3 Điều này dẫn đến một quan niệm sai lầm là tất cả các virus cúm H5 và H7 là các chủng độc lực cao Tuy nhiên vào năm 1971, một đàn gà tây ở Oregon bị bệnh hô hấp nhẹ kết hợp tiêu chảy

và người ta đã phân lập được H7N3 Từ năm 1971 nhiều virus cúm gia cầm độc lực thấp subtype H5 và H7 đã được phân lập làm xóa bỏ quan niệm H5 và H7 là chủng

có độc lực cao

Nhiều virus cúm gia cầm được phân lập từ chim hoang không có triệu chứng Đầu tiên, một cuộc khảo sát về huyết thanh học trên thủy cầm di trú cho thấy có bằng chứng bị nhiễm virus cúm gia cầm Từ đó, nhiều cuộc khảo sát đã chứng minh rằng chim hoang dã khỏe mạnh không có triệu chứng là nguồn chứa mầm bệnh cúm gia cầm

Các cuộc hợp quốc tế chuyên đề về cúm gia cầm được tổ chức vào các năm 1981,

1986, 1992, 1997 và 2002, 2003, 2004 (www.chicucthuyhcm.org.vn)

2.1.2.2 Ở Việt Nam

Việt Nam dịch cúm gia cầm đầu tiên xuất hiện vào cuối tháng 12 năm 2003 và được xác định là virus cúm type A, subtype H5N1 gây ra làm thiệt hại gần 46 triệu con gia cầm Từ năm 2003 đến nay dịch cúm gia cầm đã nổ ra trên hầu khắp đất nước và thiệt hại do dịch bệnh mang lại là rất lớn Có thể tóm tắt quá trình phát dịch trong thời gian qua thành các đợt dịch như sau:

Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003- 30/4/2004 xảy ra ở 2.574 xã, phường, thị trấn của 381 huyện thị của 57 tỉnh thành trong cả nước Tổng gia cầm mắc bệnh và tiêu hủy là 43.9 triệu con (30.4 triệu con gà, 13.5 triệu con vịt)

Đợt thứ hai từ 4/2004 – 11/2004 xảy ra ở 46 xã, phường, thị trấn của 17 tỉnh thành trong cả nước Tổng gia cầm mắc bệnh và tiêu hủy là 84.078 con (55.999 con gà, 8.132con vịt và cút là 19.947 con)

Đợt thứ ba từ 12/2004 – 4/2005 dịch xảy ra trên 670 xã, phường, thị trấn của 182 huyện thị của 17 tỉnh thành trong cả nước Tổng gia cầm mắc bệnh và tiêu hủy là 1,847.293 con (470.495 con gà, 825.809 con vịt, ngan và 551.029 con cút)

Đợt thứ tư từ 1/10/2005 – 15/12/2005 dịch xảy ra trên 305 xã, phường, thị trấn của

108 huyện thị của 24 tỉnh thành trong cả nước Tổng gia cầm mắc bệnh và tiêu hủy

Trang 15

là 3,972.943 con (1,338.523 con gà, 2,135.116 con vịt, ngan và 499.304 con chim cảnh)

Đợt thứ năm từ 12/2006 – 3/2007 dịch xảy ra trên 83 xã, phường, thị trấn của 33 huyện thị của 11 tỉnh thành trong cả nước Tổng gia cầm mắc bệnh và tiêu hủy là 99.040 con (11.950 con gà, 87.090 con vịt, ngan)

Đợt thứ sáu từ 5/2007 – 6/2007 dịch xảy ra trên 56 xã, phường, thị trấn của 18 tỉnh thành trong cả nước (Nguyễn Khắc Chung Thẩm, 2008)

Vào năm 2008 dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 80 xã thuộc 54 huyện, quận, thị xã của 27 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm chết và buộc phải tiêu huỷ là 106.508 con (gồm gà, ngan và vịt) Dịch chỉ xuất hiện ở các điểm dịch với những đàn gia cầm quy mô từ 100-2,000 con, không được tiêm phòng vaccine (44,59%), hoặc đàn thuỷ cầm mới tiêm phòng lần thứ 1(16,21%), ổ dịch trên thuỷ cầm chiếm 52,7%

(www.chicucthuyhcm.org.vn) Đặc biệt đợt dịch gần đây nhất là vào đầu năm 2009,

đã xảy ra hơn 40 ổ dịch tại hơn 20 huyện thuộc 13 tỉnh, thành phố được phát hiện từ đầu năm đến nay đã khiến cho trên 52 nghìn gia cầm phải tiêu hủy, trong số này có đến 73% là dịch phát từ thủy cầm (vịt, ngan) ( Báo cáo của Cục Thú Y, 2009 ) Diễn biến dịch ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong những tháng đầu năm

2009 diễn biến hết sức phức tạp và có chiều hướng bùng phát ra diện rộng do đàn vịt không được quản lý và tiêm phòng vaccine theo quy định

(www.chicucthuyhcm.org.vn)

2.1.3 Căn bệnh

2.1.3.1 Phân loại

Virus cúm gia cầm thuộc họ Orthomyxoviridae Các virus cúm trong họ này được

phân thành các type A, B và C dựa vào sự khác biệt về bề mặt kháng nguyên là nucleoprotein và matrix protein Virus cúm gia cầm thuộc type A Các loại virus cúm lại được phân nhỏ thành các type phụ tùy theo thành phần kháng nguyên protein hemagglutinin (H) và neuraminidase (N) nằm trên lớp vỏ protein bao bọc lõi virus Có 16 type phụ H và 9 type phụ N của virus cúm type A và virus cúm gia cầm có đại diện của tất cả các type phụ này

2.1.3.2 Hình thái học

Hầu hết các virus cúm có hình dạng dễ thay đổi, có vỏ bọc, nhân ARN chuỗi đơn

có kích thước từ 80 – 120 nm Chiều dài nhân của virus có mối tương quan với trọng lương phân tử của các acid ribonucleic (ARN)

Trang 16

Bộ gen ARN của virus cúm type A và B có 8 phân đoạn mã hóa cho 10 loại protein khác nhau trong khi đó bộ gen của virus cúm type C chỉ có 7 phân đoạn Các phân đoạn gen ARN của virus cúm được xác định đặc tính bởi các cầu nối phân đoạn 5’

và đầu 3’ Có thể xác định virus dựa vào việc xác định các kháng nguyên protein chủ yếu của virus, gồm nucleoprotein (NP) và protein Matrix (M), người ta có thể phân biệt được sự khác nhau giữa virus cúm type A với virus cúm type B và C Gen M mã hóa cho hai loại protein đan xen lẫn nhau, gồm protein M1 rất ổn định chứa 250 acid amin và protein M2 chứa acid amin không ổn định Trong đó, protein M1 là một thành phần cấu trúc chiếm đa số Protein này cùng với protein M2 tạo thành giá đỡ ở lớp nội mạc của vỏ virus

Tương tự như vậy, protein ở lớp vỏ của kháng nguyên NP bao gồm: PA, PB1 và PB2 cũng liên quan chặt chẽ với các đoạn cấu trúc sợi đơn ARN trong việc hình thành ribonucleoprotein Việc bám gắn của virus là do protein màng loại 1 chịu trách nhiệm và loại protein này có liên quan đến quá trình giải phóng các hạt virus cũng như sự trung hòa virus Điểm khác biệt khác của virus cúm type A là chúng có một loại protein màng khác là protein M2 cho dù protein haemagglutinin (HA) chíêm đa số còn protein NA chỉ có một lượng nhỏ

Ngoài ra, hai loại protein màng vỏ quan trọng là HA và protein NA của virus đóng vai trò quyết định pH nội mạc của virus cũng như chúng giữ vai trò chủ chốt trong quá trình giải thoát virus ở giai đoạn đầu nhân lên Trong các loại protein, protein M đóng vai trò quan trọng trong việc xác định đặc tính loài Loại protein này được phân biệt giữa các dòng virus và nó cũng phản ánh sự thích nghi theo loài do áp lực lựa chọn được hình thành để thích nghi với hệ thống miễn dịch của vật chủ và nó cũng giữ vai trò quan trọng trong việc xác định sự hình thành các sợi của virus Bên cạnh đó, virus cúm type A còn có một lớp vỏ bọc kép đa dạng theo loài vật chủ, ở

đó protein M2 của virus có thể được gắn vào cũng giống như các loại glycoprotein

HA và NA mã hóa của virus Lớp giá đỡ bên trong của protein M cũng như các nucleocapsid được hình thành để chứa đựng phần genome ( bộ gen) của virus Một đặc điểm quan trọng của virus cúm là protein HA được mã hóa bởi đoạn gen số 4 ARN Lớp protein này đóng vai trò như một protein màng không thể thiếu và giữ vai trò bám dính của virus vào các thụ thể của tế bào vật chủ có chứa acid sialic và

để giải phóng virus giữa tế bào của vật chủ và lớp vỏ bọc của virus

Lớp màng lipid của virus được hình thành từ lớp màng tương bào của tế bào vật chủ

bị nhiễm và trở thành một thành phần của của hạt virus trong quá trình hình thành

Để hình thành đặc tính truyền nhiễm của virus, protein HA phải phân đoạn hình

Trang 17

thành các tiểu phần protein HA1 và HA2 ở một vị trí đặc biệt bởi tác động của một loại emzyme có tác dụng phát tán có nguồn gốc từ vật chủ Ngoài ra, protein còn có hoạt tính bám dính thụ thể ở phần trên cùng của phân tử và hoạt tính phân tán qua màng được hoạt hóa ở pH thấp trong nội bào trong quá trình xâm nhập vào tế bào Protein HA là đích quan trọng của hệ thống đáp ứng miễn dịch của vật chủ, vì vậy việc lựa chọn những thay thế acid amin của virus được điều chỉnh thường xuyên bởi

áp lực của hệ thống đáp ứng miễn dịch

NA là một loại glycoprotein màng trong của virus được mã hóa bởi phân đoạn số 6, protein này có họat tính phá hủy thụ thể để giải phóng các virus mới được hình thành từ bề mặt của tế bào bị nhiễm, loại protein này phân tách acid sialic từ cầu nối giữa virus và tế bào vật chủ ở giai đoạn cuối cùng của quá trình nhân lên của virus

để giúp các virus biến đổi giải phóng Vì vậy, những virus này có chức năng giúp tự giải phóng ra khỏi thụ thể của tế bào của vật chủ, cũng như cho phép các virus thế

hệ con cháu thoát khỏi tế bào bị nhiễm, kết quả là chúng có cơ hội được bài thảy ra ngoài và lây nhiễm sang các loại vật chủ khác ( Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn, Ban Chỉ Đạo Quốc Gia Phòng Chống Dịch Cúm Gia Cầm, 2007)

2.1.3.3 Thành phần hóa học

Các hạt virus có thành phần bao gồm 0.8 – 1 % RNA, 5 – 8 % carbohydrate, 20% lipid và 70% protein

Vỏ bọc bên ngoài là lớp lipid

Thành phần chính protein của virus chủ yếu là glycoprotein ( Lê văn Năm, 2004)

Hình 2.1: Cấu trúc của virus cúm gia cầm

Trang 18

2.1.3.4 Quá trình sinh sản của virus

Quá trình sinh sản của virus cũng đã được Kingsbury 1985, Fener và cộng sự mô tả

và tóm tắc như sau:

Virus được hấp thu vào bề mặt tế bào nhờ vào cơ quan cảm thụ (receptor) mà bản chất là glycoprotein chứa acid sialic, từ đấy virus chui qua màng tế bào nhờ vào loại men đặc biệt để vào trong nguyên sinh chất và nhân tế bào Tại đây virus sinh trưởng nhanh chóng và phát triển theo phương thức tự nhân đôi ( Lê văn Năm, 2004)

2.1.3.5 Độc lực của virus cúm gia cầm

Virus cúm có độc lực thay đổi từ không gây ra triệu chứng cho đến độc lực rất mạnh Người ta chia virus cúm gia cầm làm hai loại LPAI (Low Pathogenic Avian Influenza) độc lực thấp và HPAI (Highly Pathogenic Avian Influenza) độc lực cao

Để đánh giá virus thuộc loại độc lực nào người ta sử dụng phương pháp gây bệnh cho gà 3- 6 tuần tuổi bằng cách tiêm tĩnh mạch sau đó đánh giá mức độ bệnh của gà

để cho điểm (chỉ số IVPI) Điểm tối đa là 3 điểm và đó là virus có độc lực cao nhất Theo quyết định của Tổ Chức Dịch Tể Thế Giới (OIE) thì virus cúm nào có chỉ số (điểm) IVPI từ 1.2 trở lên là thuộc loại có độc lực cao (HPAI) và thấp hơn 1.2 là thuộc loại có độc lực thấp Các vụ dịch lớn đều do virus thuộc loại HPAI gây ra Các loại virus cúm gia cầm gây ra các vụ dịch lớn thường là virus có kháng nguyên

H5, H7 và H9 Riêng với H5 và H7 thông thường bắt nguồn là virus có độc lực thấp, sau quá trình lây truyền trên gà và chim cút độc lực tăng lên rất nhanh và gây ra các

vụ dịch ( Nguyễn Tiến Dũng, Bộ Môn Virus, Viện Thú Y)

ở điều kiện nhiệt độ thấp và ẩm độ cao

Virus có thể sống trong chuồng gà tới 35 ngày, trong phân gia cầm bệnh tới 3 tháng Virus cúm dễ dàng bị tiêu diệt ở nhiệt độ từ 60 – 700C trong thời gian 5 phút Trong

tủ lạnh và tủ đá, virus sống được trong hàng tháng

Những chất sát trùng thông thường đều tiêu diệt được virus cúm gia cầm như: Xút 2%, Formol 3%, Crezin 5%, Chloramin B 3%, Cồn 70 – 900, vôi bột hoặc nước vôi

Trang 19

10%, nước xà phòng đặc…Người ta có thể dùng các chất này để tổng tẩy uế chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi và các thiết bị chăn nuôi khi cơ sở bị đe dọa ( Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn, Ban Chỉ Đạo Quốc Gia Phòng Chống Dịch Cúm Gia Cầm, 2007)

2.1.3.7 Cách đặt tên chủng

Người ta đã thiết lập cách đặt tên quốc tế chuẩn cho các chủng virus cúm, việc đặt tên cho các chủng virus cúm bao gồm các type (A, B, C ), vật chủ gốc (ngoại trừ người), vị trí địa lý, số chủng (nếu có), năm phân lập và cuối cùng là type phụ kháng nguyên chỉ rõ HA và NA ( trong dấu ngoặc đơn)

Ví dụ một virus cúm type A được phân lập từ gà ở Pennsylvania vào năm 1983 và được định danh là H5N2 được đặt tên như sau: A/ chicken/ Pennsylvania/1370/83 ( H5N2)

Trang 20

2.1.4.4 Đường xâm nhập của virus vào cơ thể

Virus từ không khí, thức ăn, nước uống xâm nhập theo đường hô hấp và tiêu hóa vào cơ thể Ở đó chúng sinh sôi nhanh chống rồi lan tỏa đi các cơ quan khác

2.1.4.5 Cơ chế sinh bệnh và phương thức lây lan

Virus gây bệnh bằng cách phá vỡ các mạch máu gây xuất huyết tràn lan, đồng thời hủy hoại nhanh chống các tổ chức tế bào ở đường hô hấp, gây sốt cao, rối loạn các quá trình sinh hóa bình thường của cơ thể

Sự lây truyền được thực hiện qua hai con đường:

Lây trực tiếp do gia cầm tiếp xúc với gia cầm hoặc chim hoang dã mắc bệnh thông qua không khí đã được bài thải từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức ăn, nước uống

bị nhiễm mầm bệnh

Lây gián tiếp qua các dụng cụ chứa virus do gia cầm, chim trời mắc bệnh thải ra qua phân, hoặc do thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo của người tiếp xúc, xe cộ vận chuyển hoặc do côn trùng …Virus cúm gia cầm dễ dàng lây truyền tới các vùng khác nhau do con người đưa gia cầm mắc bệnh đi hoặc quần áo giầy dép bị ô nhiễm mầm bệnh…Đối với gia cầm nuôi thì nguồn dịch đầu tiên thường thấy là: (1) Từ các gia cầm nuôi khác nhau ở trong cùng một trang trại hoặc trang trại khác liền kề, hoặc các hộ nuôi chung quanh (2)Từ gia cầm nhập từ nơi khác tới (3) Từ chim di trú, đã có những bằng chứng về đường dẫn nhập virus cúm A của các loài chim di trú, đặc biệt là thủy cầm hoang dã vào đàn gia cầm nuôi

2.1.4.6 Tính chất mùa của bệnh cúm gia cầm

Trong khoảng thời gian từ 2003 – 2005, cho thấy bệnh có khuynh hướng hay phát

ra theo mùa đông, sau đó lây lan và lưu hành từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, thời gian gần đây, bệnh phát ra không theo mùa như trước mà phát ra ngay cả những tháng mùa hè Nói chung hiện nay bệnh không phát ra theo mùa nữa mà có thể phát ra theo bất kì thời gian nào trong năm Lý do được đưa ra là những năm đầu phát dịch do làm tốt công tác tiêu độc tại vùng dịch nên virus đã bị tiêu diệt ngoài môi trường Đến mùa đông, chim di trú quay trở lại, mang theo mầm bệnh và truyền bệnh khi tiếp xúc với đàn gia cầm Vài năm gần đây, dịch bệnh do virus H5N1 phát triển và lây lan rộng dần dần đưa đến tình trạng thích nghi tiềm ẩn trong đàn gia cầm nuôi tại địa phương Từ đó bệnh dễ dàng phát tán rộng rãi khi có điều kiện thích hợp

2.1.4.7 Phân bố địa lý, loại hình và quy mô chăn nuôi ảnh hưởng đến dịch bệnh

- Phân bố địa lý:

Trang 21

Dịch phát ra tập trung ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng Đặc điểm chung của hai vùng này là đất thấp, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, mật độ gia cầm cao, nuôi theo tập quán thả rong và chạy đồng là chính

- Về loại hình và quy mô chăn nuôi:

Dịch phát ra ở tất cả các loại hình và quy mô chăn nuôi Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở đàn gà có từ 100 – 500 con chíêm tỷ lệ 25.6% ở đợt dịch 2004 và 33.2% ở đợt dịch

2005 Trong đợt dịch từ 12/2004 đến 2005, dịch xảy ra chủ yếu ở hộ chăn nuôi nhỏ

lẻ Loại hình chăn nuôi chung với thủy cầm có tỷ lệ dịch xãy ra cao nhất ( Bùi Quý Huy, 2007)

2.1.5 Thời gian ủ bệnh, triệu chứng và bệnh tích

2.1.5.1 Thời gian ủ bệnh

Thời gian ủ bệnh ngắn từ vài giờ trên gia cầm được tiêm truyền trong mạch đến 3 ngày trên gà nhiễm tự nhiên và 14 ngày trong toàn đàn Thời gian ủ bệnh còn tùy thuộc vào liều lượng virus, đường xâm nhập và loài mắc bệnh

Trong trường hợp do các chủng có độc lực cao thì triệu chứng trầm trọng hơn, tỉ lệ bệnh và tỉ lệ chết có thể lên tới 100%

Một số gia cầm chết nhanh không kịp thể hiện triệu chứng

Gia cầm sốt cao (44 – 450C), đi siêu vẹo, run rẩy, bỏ ăn hoặc ăn kém, uống nhiều nước lúc đầu sau đó giảm dần, mệt mỏi, ủ rũ Triệu chứng là những bất thường thể hiện ở tất cả bộ máy hô hấp, tiêu hóa, sinh dục và thần kinh

Chảy nước mắt, mũi, mi mắt sưng mọng, đỏ tấy Mào, tích thâm tím, đầu mặt sưng phù Ho nhảy mũi, âm ran khí quản Thở khó, há mồm thở dốc, vươn cổ thở, thỉnh thoảng có những con vẩy mạnh mỏ khạc đờm nhầy đặc, đôi khi có lẫn máu rất giống như bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm nhưng tiếng ho và cách ho rất giống bệnh hô hấp mãn tính

Trang 22

Tiêu chảy nặng, phân có màu trắng hoặc xanh, gà mất nước, da khô, gầy, lông xù, hậu môn xuất huyết Gà ít vận động, hay nằm, nhiều con đi không vững, run rẩy, và khi bị xua đuổi đầu và cổ bị co giật hoặc bị lắc lư không bình thường Một số trường hợp biễu hiện thần kinh biễu hiện rõ như: gà chạy tán loạn, có con nhảy sốc lên lăn đùng, giãy giụa, xoay vòng một lúc rồi chết Xuất huyết da ống chân, kẻ ngón chân là biểu hiện đặc trưng Ở gà đẻ sản luợng trứng sụt giảm mạnh, có những đàn ngưng đẻ hoàn toàn

2.1.5.3 Bệnh tích

- Bệnh tích đại thể

Thay đổi tùy thuộc vào chủng virus gây bệnh và loài gia cầm cảm nhiễm Trong trường hợp nhẹ, bệnh tích thường gặp là viêm cata có tơ huyết ở xoang mũi, có bã đậu trong xoang, khí quản phù thủng có dịch và chất bã đậu, viêm túi khí, viêm ruột cata có tơ huyết

Trong trường hợp nặng bệnh tích sung huyết, xuất huyết, phù, hoại tử nhiều bộ phận và cơ quan nội tạng Mào và tích thâm tím, quăn lại hoặc phù nề Chỉ sau một hoặc hai ngày thấy rõ xuất huyết rìa mào và tích, thậm chí trên mào và tích có chỗ

bị hoại tử, chảy mủ và dịch thẩm xuất đặc quánh Xung quanh lỗ huyệt bẩn, niêm mạc hậu môn bị phù nề và xuất huyết khá nặng Xoang mũi và trán bị viêm từ cata đến có mủ Khí quản viêm xuất huyết, nhiều đờm và đôi khi có lẫn máu Thực quản

và diều không biến đổi, diều chứa một ít thức ăn Dạ dày tuyến viêm xuất huyết khá nặng, một số trường hợp bị viêm khá sâu, Xuất huyết mỡ bụng, mỡ màng treo ruột,

mỡ bao tim rất rõ và là đặc điểm riêng của bệnh cúm gà Xuất huyết cơ đùi ngực đặc biệt là cơ tim và thành lồng ngực và đây cũng là đặc điểm bệnh lý của cúm gia cầm Viêm buồng trứng, ống dẫn trứng thường gặp ở gia cầm đẻ Những trường hợp nặng trứng non bị phá vỡ gây viêm dính phúc mạc với các cơ quan nội tạng khác Hầu như trong tất cả các trường hợp gà bị cúm phổi điều bị viêm sung huyết đến hoại tử rất nặng, túi khí bị viêm và có nhiều tơ huyết Viêm xuất huyết đường ruột đặc biệt là vùng hậu môn, van hồi manh tràng, dạ dày tuyến, niêm mạc tá tràng là những bệnh tích thường xuyên ở bệnh cúm gia cầm và rất giống như những biến đổi của bệnh Newcastle Lách bị biến màu lốm đốm, màu vàng, rắn chắc hơn bình thường Tụy khô và giòn, đôi khi có nhiều đốm hoại tử Thận sung và có nhiều điểm xuất huyết, hai ống dẫn nước tiểu chứa đầy urat trắng Có một số trường hợp có xuất huyết ở gan Ở gà từ 1- 3 tháng ở một số ca bệnh có thấy túi Fabricius sưng rất

to giống như bệnh Gumboro nhưng khi cắt đôi túi ra xem các nếp nhăn vẫn đều và không có xuất huyết Bệnh tích đại thể trên thủy cầm cũng tương tự như trên gà

Trang 23

Tuy nhiên, bệnh tích thường tập trung chủ yếu ở phổi, tim, buồng trứng và sau cùng mới là hệ tiêu hóa Triệu chứng hô hấp trên thủy cầm thường nhẹ hơn, ít thấy hơn

so với gà nhưng bệnh tích ở phổi lại phổ biến hơn Phổi phù nề, tụ huyết rất nặng Xuất huyết màng xương lồng ngực (đặc thù của bệnh) Viêm tơ huyết túi khí, thành túi khí dày và đục Xoang bao tim có nhiều dịch viêm có tơ huyết Gan hơi sưng, một số ít trường hợp bị phủ bởi tơ huyết

- Bệnh tích vi thể

Các biến đổi đặc trưng về tổ chức học bao gồm: phù nề, sung huyết, xuất huyết và thâm nhập lâm ba cầu đơn nhân ở cơ vân, cơ tim, lách, phổi, mào tích, gan, thận, mắt và hệ thần kinh

Bệnh tích ở mào và tích rất điển hình, thâm tím, sưng tấy, phù nề xuất huyết Viêm xuất huyết và hoại tử ở tim, gan, lách, thận, phổi,…Xuất huyết ở mỡ bụng, mỡ tim,

mỡ màng treo ruột, niêm mạc hậu môn, dưới da, cơ đùi,…

2.1.6.2 Chẩn đoán virus học

Phương pháp thích hợp để phân lập virus là tiêm truyền qua phôi trứng gà hoặc tế bào nuôi cấy Tiêm 0.1ml bệnh phẩm thu được đã qua xử lý vào túi niệu của phôi gà

9 – 11 ngày tuổi Phôi được ấp tiếp ở nhiệt độ 370C trong 2-3 ngày Một số chủng

Hình: 2.2 Xuất huyết màng treo ruột

Trang 24

virus có độc lực cao có thể gây chết phôi khoảng 18 – 24 giờ, trứng thu hoạch để ở nhiệt độ 40C qua một đêm Virus nhân lên trong nước trứng và khi thực hiện phản ứng HA (Hemagglutination) thì có hiện tượng gây ngưng kết hồng cầu gà Nếu không gây ngưng kết hồng cầu gà thì có thể lấy nước trứng thu được tiêm lần sau cho phôi gà Giám định virus phân lập được bằng phản ứng HI, phản ứng ELISA và phản ứng RT – PCR

2.1.6.3 Chẩn đoán huyết thanh học

Gần đây việc sử dụng Amatadine hydrochlorid và Rimantadine hydrochlorid pha vào nước uống đã làm giảm tỷ lệ chết, nhưng gia cầm bị bệnh vẫn tiếp tục bài thải virus

Các biện pháp điều trị hỗ trợ khác là làm chống suy hô hấp, dùng kháng sinh để giảm tác động của các vi khuẩn cộng nhiễm với virus cúm ( Bùi Quang Anh, 2004)

2.2 MIỄM DỊCH HỌC

2.2.1 Khái niệm

Theo những quan niệm ban đầu “miễn dịch là trong khi cơ thể này không mắc bệnh truyền nhiễm còn những cá thể khác lại mắc bệnh truyền nhiễm tuy trong cùng một điều kiện” Hiện nay miễn dịch được định nghĩa “miễn dịch là khả năng phòng vệ của toàn bộ cơ thể đối với các yếu tố mang thông tin di truyền ngoại lai (thông tin lạ)” ( Trần Ngọc Bích, 2000 )

2.2.2 Phân loại miễn dịch

Dưới sự điều khiển của hệ thống thần kinh trung ương, miễn dịch bao gồm:

Trang 25

- Miễn dịch dịch thể: là các kháng thể, dịch thể đặc hiệu và không đặc hiệu Đặc

hiệu gồm các loại immunoglobuline (Ig), không đặc hiệu bao gồm các bổ thể,

interferon…

- Miễn dịch tế bào: là kháng thể dịch thể được gắn trên tế bào tham gia phản ứng

miễn dịch, miễn dịch tế bào là các yếu tố đặc hiệu như các tế bào lympho

(lymphocyte) các yếu tố không đặc hiệu gồm các tế bào da, niêm mạc, võng mạc…(

Trần Ngọc Bích, 2000)

2.2.3 Đặc điểm của hệ thống miễn dịch trên gia cầm

Khác với các loài động vật hữu nhũ một chút, các loài gia cầm có túi Fabricius là

nơi kích thích hình thành kháng thể khi có sự kích thích của protein, virus, vi

khuẩn… Đây là túi nhỏ nằm phía trên ổ nhớp Niêm mạc tạo thành các nếp gấp cao,

bao phủ lấy túi tuyến Dưới niêm mạc có nhiều nốt bạch huyết (gà 40 – 50 nốt trong

túi), những nốt bạch huyết thường tập trung ở vùng vỏ, vùng tủy ít hơn Bên trong

nốt bạch huyết chứa nhiều tế bào lympho Túi Fabricius phát triển mạnh ở gia cầm

non và bắt đầu teo khi trưởng thành ( Lăng Ngọc Huỳnh, 2007) Đây là nơi để các

tế bào lympho B chín Tuy nhiên để đáp ứng miễn dịch ở gia cầm một cách cơ bản

và toàn diện thì còn tùy thuộc vào 3 loại tế bào: đại thực bào, tế bào lympho B và tế

bào lympho T

- Đại thực bào: Có nguồn gốc từ tủy xương Chúng có khả năng kết dính, bao bọc

và tiêu hủy các tác nhân gây bệnh Đại thực bào là tế bào di động và phân bố rộng

rãi trong cơ thể gia cầm Được hoạt hóa chúng có khả năng gia tăng thực bào và

chuyển đến ổ dịch để tấn công sự lây nhiễm

- Lympho T: Các tế bào tiền thân dạng lympho từ tổ chức tạo máu ( tủy xương ) đi

đến tuyến ức, phân chia, biệt hóa thành các tế bào lympho chịu trách nhiệm đáp ứng

miễn dịch qua trung gian tế bào được gọi là tế bào lympho T Lymphocyte T chiếm

khoảng 70% tổng số lympho bào máu ngoại vi và chiếm đa số các lympho bào ở

các mô lympho

Chức năng chính của lymphocyte T là gây độc qua trung gian tế bào ( Tc), quá mẫn

chậm ( Tdth), hỗ trợ tế bào lympho B (Th), điều hòa miễn dịch thông qua các

cytokine của Th và Ts

Quá trình biệt hóa lympho T ở tuyến ức:

Vùng vỏ: Các tiền lympho T từ tủy xương được tăng sinh và biệt hóa thành lympho

T chưa chín rồi đi vào vùng tủy

Trang 26

Vùng tủy: Là nơi trưởng thành của các lympho T chưa chín thành chín rồi đi vào máu đến các cơ quan lympho ngoại vi

- Lympho B: Là các tế bào sinh ra kháng thể dịch thể, tế bào này gọi là lympho bào

B và hoạt động của chúng phụ thuộc vào túi Fabricius (còn ở người và động vật hữu nhũ khác là tủy xương)

Khi có kháng nguyên xâm nhập, bên trong cơ thể sẽ diễn ra đáp ứng miễn dịch Kháng thể bị đại thực bào bắt, nuốt và xử lý Sau đó chúng mang kháng nguyên đã được xử lý đến trình diện cho tế bào lympho chín

Quá trình biệt hóa của lympho B: có thể chia thành 2 giai đoạn

Các tế bào nguồn được biệt hóa thành tế bào lympho B chín

Các tế bào lympho B chín biệt hóa thành tương bào

Đáp ứng kháng thể thay đổi theo loài lớn nhất là gà rồi đến công , gà tây, cút và cuối cùng là vịt

Trên gà đẻ khả năng bảo hộ ngăn ngừa các biễu hiện lâm sàng và không bị chết có thể tối thiểu 30 tuần sau khi tiêm 1 mũi vaccine Miễn dịch của các protein bên trong của virus không bảo hộ được các biểu hiện lâm sàng hoặc không bị chết nhưng có thể làm rút ngắn thời gian nhân lên và bài thảy của virus

Trang 27

2.2.5 Hiệu giá kháng thể

Bằng cách sử dụng một số lượng kháng nguyên cố định và huyết thanh hay các dịch thể sinh học với các độ pha loãng khác nhau, có thể định lượng được hoạt tính của kháng thể có trong các dịch thể đó Độ pha loãng cao nhất (nghĩa là hàm lượng thấp nhất) của huyết thanh hay dịch sinh học còn cho phản ứng dương tính (còn giữ lại được ít nhất 50% hoạt tính) trong một phản ứng huyết thanh học được gọi là hiệu giá của huyết thanh hay dịch sinh học đó Hiệu giá càng cao nghĩa là hàm lượng kháng thể trong dịch thể đó càng lớn ( Tô Long Thành, 2006)

Thuật ngữ vaccine được Jenner dùng lần đầu tiên, xuất phát từ “vacca” (tiếng La Tinh có nghĩa là bò cái) và “vaccinia” ( có nghĩa là virus gây bệnh đậu bò) để chỉ hiện tượng khi dùng vẫy đậu bò tiêm cho người sẽ phòng không bị bệnh đậu mùa (

Tô Long Thành, 2009)

2.3.1.2 Yêu cầu của một vaccine

Vaccine phải chứa các kháng nguyên và các kháng nguyên đó phải được hệ thống miễn dịch coi là mục tiêu cần “tấn công”

- Các kháng nguyên có trong vaccine phải kích thích sinh đáp ứng miễn dịch phòng

hộ, nghĩa là vaccine không kích thích sinh các đáp ứng miễn dịch không phòng hộ

Sự phòng hộ phải đạt được khi cơ thể tiếp xúc với mầm bệnh và lý tưởng nhất sự phòng hộ này phải kéo dài

- Vaccine phải kích thích đáp ứng miễn dịch mạnh và tốt nhất là không cần chất bổ trợ

- Vaccine kích thích đáp ứng miễn dịch tốt mà không cần dùng nhắc lại (bổ sung)

và tốt nhất là đường dùng vaccine nên đơn giản

Trang 28

- Vaccine phải an toàn, bản thân vaccine không gây nên bệnh hoặc gây chết ở con vật được dùng vaccine

( Tô Long Thành, 2006)

2.3.1.3 Hiệu quả vaccine phụ thuộc vào

- Bản thân bệnh

- Chủng vi sinh vật dùng để sản xuất vaccine

- Quy trình sử dụng vaccine có được áp dụng đúng hay không

- Một số cá thể không hình thành đáp ứng miễn dịch khi được dùng một số loại vaccine, nghĩa là đối với vaccine tốt và vaccine được sử dụng đúng quy trình cũng không kích thích sinh miễn dịch ở con vật

+ Giảm khả năng lây truyền bệnh

+ Giảm thiệt hại kinh tế

- Hạn chế

+ Vaccine không ngăn chặn được quá trình nhiễm virus, do đó những gia cầm được tiêm vaccine vẫn có thể mang virus

+ Vaccine làm trở ngại trong cho việc chẩn đoán huyết thanh học khi dùng kỹ thuật

HI (Hemagglutination – Inhibition), làm hiểu sai về tình hình thật của dịch bệnh

Vì thời gian nung bệnh ngắn (1 -3 ngày) do vậy phòng chống bằng vaccine sẽ rất khó có hiệu quả khi dùng trong các ổ dịch ( Nguyễn Khắc Chung Thẩm, 2008)

2.3.1.5 Những nguyên tắc cơ bản trong việc sử dụng vaccine cúm gia cầm

Phải tuân thủ theo những qui định của Tổ Chức Thú Y Thế Giới (OIE - Office International Epizooted) về việc sử dụng vaccine cúm gia cầm

Trang 29

Chuẩn bị đầy đủ vaccine, chỉ sử dụng vaccine được sản xuất theo qui trình công nghệ phù hợp với các hướng dẫn của (OIE)

Phải xem việc sử dụng vaccine như là một trong những biện pháp để khống chế, tiến tới thanh toán dịch bệnh, do đó các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, quy hoạch vùng chăn nuôi, giảm mật độ đàn đặc biệt là thủy cầm phải được tiến hành đồng thời

Chỉ tiêm vaccine cho các đàn gà, vịt khỏe mạnh, nếu trong vùng tiêm phòng đã có dịch xãy ra thì ít nhất là sau 60 ngày không phát sinh thêm ổ dịch mới

Trong trường hợp có dịch xãy ra, ngoài biện pháp tiêu hủy trong ổ dịch, biện pháp tiêm phòng bao vây xung quanh ổ dịch phải được thực hiện ( Nguyễn Khắc Chung Thẩm, 2008)

2.3.1.6 Một số loại vaccine đã được các nước sử dụng sau khi xảy ra dịch cúm gia cầm

- Vaccine vô hoạt đồng chủng (Inactivated homologus vaccine) là những vaccine chứa cùng những virus cúm gà giống như chủng gây bệnh trên thực tế Hiệu lực của vaccine nay là khả năng ngăn ngừa bệnh và giảm lượng virus thải ra môi trường Bên cạnh đó nhược điểm của loại vaccine này là không phân biệt được gia cầm được tiêm chủng vaccine với gia cầm tiếp xúc với mầm bệnh Trên thực tế loại vaccine này đã được sử dụng để khống chế bệnh cúm gà ở Pakistan và Mexico nhưng vaccine lại chưa thành công trong việc loại bỏ tận gốc sự lây truyền

- Vaccine vô hoạt dị chủng (Inactivated heterologus vaccine) được sản xuất như vaccine vô hoạt đồng chủng nhưng khác nhau ở chổ là các chủng virus sử dụng trong vaccine có kháng nguyên H giống như chủng virus trên thực địa nhưng có kháng nguyên N khác Chiến lược sử dụng vaccine vô hoạt dị chủng đã được sử dụng thành công ở bang Minnesota của Mỹ Tuy nhiên các trường hợp sử dụng vaccine này chưa khống chế được bệnh gây ra bởi virus cúm type H5 và H7

- Vaccine tái tổ hợp (Reobinat vaccine) Vaccine với vecto là virus đậu gia cầm chứa kháng nguyên H Việc sử dụng loại vaccine tái tổ hợp để khống chế bệnh cúm

gà duy nhất được thực hiện ở Mexico nơi vaccine đã được sử dụng trong chiến dịch tiêm phòng chống lại virus cúm gà có tính gây bệnh thấp

Tuy nhiên, trong tự nhiên gia cầm nuôi có thể bị nhiễm với bất kỳ phân type nào của virus cúm gia cầm, do vậy khó có thể chẩn đoán được phân type nào gây bệnh trên gia cầm nên việc phòng chống cúm gia cầm bằng vaccine chưa được phổ biến rộng rãi ( Hồ Hữu Tường, 2008)

Ngày đăng: 12/04/2018, 01:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w