1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KẾT QUẢ CHẨN đoán và điều TRỊ các BỆNH ở hệ TIÊU hóa của CHÓ tại BỆNH xá THÚ y TRƯỜNG đại học cần THƠ

51 322 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN THÚ Y Đề tài: “Kết quả chẩn đoán và điều trị các bệnh ở hệ tiêu hóa của chó tại Bệnh xá Thú Y Trường Đại học Cần Thơ”

Trang 1

LĂNG QUANG TUÂN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Cần Thơ, 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y

Đề tài: “Kết quả chẩn đoán và điều trị các bệnh ở hệ tiêu hóa của chó tại Bệnh xá Thú Y Trường Đại học Cần Thơ”

Do sinh viên: Lăng Quang Tuân MSSV: 3072618 thực hiện tại: Bệnh Xá Thú Y

Trường Đại học Cần Thơ Từ ngày 4/01/2011 đến 15/3/2011

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2011 Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2011 Duyệt Bộ Môn Duyệt giáo viên hướng dẫn

Nguyễn Dương Bảo

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2011 Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại học Cần Thơ, Ban Chủ Nhiệm Khoa, Bộ môn Thú Y Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập

Chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Dương Bảo đã tận tình hướng dẫn, động viên, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong học tập cũng như trong thời gian tiến hành đề tài

Cám ơn ban lãnh đạo Bệnh Xá Thú Y, các anh chị ở Bệnh Xá đã tạo điều kiện, tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực tập vừa qua

LĂNG QUANG TUÂN

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG BÌA i

TRANG DUYỆT ii

LỜI CẢM TẠ iii

DANH SÁCH HÌNH vi

DANH SÁCH BẢNG vii

TÓM LƯỢC viii

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA CHÓ 2

2.1.1 Thân nhiệt 2

2.1.2 Nhịp thở 2

2.1.3 Nhịp tim 2

2.1.4 Màu sắc kết mạc 2

2.2 SINH LÝ TIÊU HÓA CỦA CHÓ 3

2.2.1 Tiêu hóa ở miệng 3

2.2.2 Tiêu hóa ở dạ dày 3

2.2.3 Tiêu hóa ở ruột non 3

2.2.4 Tiêu hóa ở ruột già 4

2.3 HIỆN TƯỢNG NÔN VÀ RỐI LOẠN CÂN BẰNG NƯỚC- ĐIỆN GIẢI 4

2.3.1 Hiện tượng nôn 4

2.3.2 Hiện tướng rối loạn cân bằng nước-điện giải 5

2.3.2.1 Hiện tượng mất nước ngoại bào 5

2.3.2.2 Hiện tượng tăng ngấm nước tế bào 5

2.4 CƠ CHẾ GÂY TIÊU CHẢY 5

2.5 SỐT 6

2.6 CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH HỆ TIÊU HÓA CỦA CHÓ 6

2.6.1 Các nguyên nhân không truyền nhiễm 6

2.6.2 Các nguyên nhân do vi khuẩn, virus, protozoa 7

2.6.2.1 Bệnh do Parvovirus 7

Trang 5

2.6.2.3 Bệnh viêm ruột cấp do nhiễm khuẩn 14

2.6.2.4 Bệnh do giun móc 15

2.6.2.5 Bệnh lỵ do Amip 17

2.6.2.6 Bệnh lỵ do Giradia 18

2.7 MỘT SỐ LOẠI THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG CÁC PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ 21

2.7.1 Dịch truyền 21

2.7.2 Thuốc chống nôn .21

2.7.3 Thuốc kháng sinh .22

2.7.4 Thuốc trị ký sinh trùng .24

2.7.5 Thuốc bổ trợ .25

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 28

3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM .28

3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 28

3.2.2 Đối tượng thí nghiệm .28

3.2.3 Dụng cụ hóa chất 28

3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 28

3.2.1 Phương pháp chẩn đoán .29

3.2.2 Điều trị bệnh 30

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN .32

4.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT TỶ LỆ BỆNH ĐƯỜNG TIÊU HÓA TRÊN CHÓ TẠI BỆNH XÁ THÚ Y .32

4.2 TẦN SUẤT XUẤT HIỆN TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG PHỔ BIẾN Ở CÁC CA CHÓ BỊ BỆNH Ở ĐƯỜNG TIÊU HÓA 32

4.3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT MÀU SẮC TRẠNG THÁI PHÂN 35

4.4 TỶ LỆ NHIỄM GIUN MÓC TRÊN CHÓ 36

4.5 KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN BỆNH 37

4.6 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ 38

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 6

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1 Virus lây nhiễm chủ yếu ở tim và hệ tiêu hóa 8

Hình 2 Virus gây bệnh ở hệ hô hấp, tiêu hóa, thần kinh .10

Hình 3 Phân lỏng đỏ có màng nhầy 34

Hình 4 Chó đi phân kiết 34

Hình 5 Phân lỏng đỏ 35

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1 Thành phần một số dịch truyền 21

Bảng 2 Phác đồ I điều trị bệnh Carê 30

Bảng 3 Phác đồ II điều trị kiết lỵ 30

Bảng 4 Phác đồ III điều trị bệnh do Parvovirus 31

Bảng 5 Phác đồ IV điều trị bệnh do giun móc 31

Bảng 6 Phác đồ V điều trị rối loạn tiêu hóa 31

Bảng 7 Kết quả khảo sát tỷ lệ bệnh đường tiêu hóa trên chó 32

Bảng 8 Tần suất xuất hiện các triệu chứng lâm sàng phổ biến ở chó bị bệnh đường tiêu hóa 33

Bảng 9 Trạng thái màu sắc phân 35

Bảng 10 Tỷ lệ nhiễm giun móc trên chó (n=161) 36

Bảng 11 Kết quả định danh bệnh qua chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm phân 37

Bảng 12 Tỷ lệ điều trị khỏi các bệnh đường tiêu hóa 38

Trang 8

TÓM LƯỢC

Đề tài được thực hiện từ ngày 4/01/2011 đến 15/3/2011, tại Bệnh Xá Thú

Y Trường Đại Học Cần Thơ Trong quá trình thực tập thí nghiệm chúng tôi đã tiến hành khảo sát 420 ca chó bệnh đươc các chủ nuôi đem đến khám, điều trị và thu được một số kết quả, bao gồm : Qua kết quả hỏi bệnh và khám lâm sàng, chúng tôi sơ bộ chẩn đoán được có 161 ca chó bị bệnh đường tiêu hóa chiếm tỷ

lệ 38,33% Các triệu chứng lâm sàng phổ biến là: số ca có triệu chứng ói kết hợp với tiêu chảy chiếm 80,75%, tiêu chảy máu (68,95%) và tiêu chảy không máu (11,80%), ói (4,97%) Bệnh đường tiêu hóa thường xảy ra do virus (carê, do

Parvovirus), do ký sinh trùng, do ngộ độc thức ăn Những ca do virus gây nên

thường có tỷ lệ chết cao, đặc biệt là bệnh carê Nhìn chung, hiệu quả điều trị bệnh đường tiêu hóa ở Bệnh Xá Thú Y đạt hiệu quả khá cao, tuy nhiên, hiệu quả điều trị còn phụ thuộc vào sự kết hợp của cán bộ thú y và chủ vật nuôi

Trang 9

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ lâu, chó được con người thuần hóa và coi như là người bạn gần gũi, thân thiện Chó dễ nuôi, trung thành với chủ, các giác quan phát triển, thông minh, nhanh nhẹn và có tính thích nghi cao với điều kiện sống khác nhau Do vậy chó được nuôi khắp nơi trên thới giới, phục vụ các mục đích khác nhau Những năm gần đây, nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống người dân được nâng cao và cải thiện, do vậy việc nuôi chó để giữ nhà, làm cảnh và làm kinh tế được quan tâm chú ý trong nhiều gia đình

Với sự gia tăng về số lượng và chủng loài, thì tình hình dịch bệnh trên chó cũng ngày càng phổ biến, đa dạng và phức tạp hơn Trong đó bệnh ở đường tiêu hóa xảy ra với một tỷ lệ khá cao, do hệ tiêu hóa là một hệ thống mở hoàn toàn từ miệng đến trực tràng, và đây cũng là con đường mầm bệnh dễ dàng tấn công Do vậy, việc chẩn đoán

và điều trị bệnh đường tiêu hóa trên chó ở bệnh xá thú y rất phổ biến và quan trọng

Đi từ thực tiễn trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Kết quả chẩn đoán và điều trị các bệnh hệ tiêu hóa của chó tại Bệnh Xá Thú Y Trường Đại Học Cần Thơ”

Đề tài được thực hiện với mục đích:

Thu thập sơ bộ các biểu hiện của bệnh đường tiêu hóa chó, từ đó làm cơ sở để chấn đoán xác định bệnh tiêu hóa xảy ra trên chó

Thông qua kết quả chẩn đoán lâm sàng trên chó để phân loại bệnh đường tiêu hóa

Xác định hiệu quả điều trị bệnh đường tiêu hóa trên chó tại Bệnh xá Thú y trường Đại học Cần Thơ thông qua các phác đồ điều trị

Trang 10

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA CHÓ

2.1.1 Thân nhiệt

Thân nhiệt trung bình ở trực tràng: 38,5-390C

Chó con mới sinh, trong 2 tuần đầu không điều hòa được thân nhiệt Chó sơ sinh thân nhiệt dao động từ 35,6-36,10C, sau đó sẽ tăng lên 37,80C trong vòng một tuần (Bunch và Nelson, 1982)

2.1.2 Nhịp thở

Chó con: 15-35 lần/phút Chó trưởng thành: 10-35 lần/phút

Tần số hô hấp tăng trong các trường hợp chó bị sốt, bị bệnh truyền nhiễm cấp tính, bị thiếu máu nặng, cơ năng tuần hoàn bị trở ngại, các bệnh làm hẹp thể tích của phổi, chó bị đau đớn.Tần số hô hấp giảm trong các trường hợp hẹp thanh quản, khí quản, phế quản, trúng độc, bệnh gan nặng, chức năng thận bị rối loạn, liệt sau khi sinh, hấp hối (Hồ Văn Nam,1982)

và ctv, 1997)

2.1.4 Màu sắc kết mạc

Bình thường kết mạc có màu hồng và không thấy được các mạch quản lớn Sự thay đổi màu sắc niêm mạc là do có sự thay đổi về hoạt động của hệ tuần hoàn, thành phần máu và sự trao đổi khí CO2 ở phổi, hoặc do viêm cục bộ (Theo Trần Thi Minh Châu, 2005)

Trang 11

Khám niêm mạc ngoài việc biết được niêm mạc có bệnh gì, còn có thể định được tình trạng chung của cơ thể, tuần hoàn và thành phần máu, trao đổi khí CO2

ở phổi qua sự thay đổi của niêm mạc: khi con vật sốt cao, tim đập nhanh và mạnh thì niêm mạc bị sung huyết và có màu đỏ, khi con vật có hội chứng hoàng đản thì niêm mạc có màu vàng, khi thiếu máu niêm mạc có màu trắng nhợt (Trần Thi Minh Châu, 2005)

2.2 SINH LÝ TIÊU HÓA CỦA CHÓ

2.2.1 Tiêu hóa ở miệng

Chó dùng miệng và lưỡi lấy thức ăn, nếu là thức ăn thịt khối dùng răng nanh để xé Các loại thức ăn vào khoang miệng được nhai sơ bộ có nước bọt làm ướt chuyển xuống dạ dày theo thực quản Nước bọt có các muối vô cơ, các chất hữu cơ, các men tiêu hóa như amylase thủy phân tinh bột (Phạm Sỹ Lăng và ctv, 2006)

2.2.2 Tiêu hóa ở dạ dày

Ở dạ dày thức ăn được tiêu hóa bằng hai quá trình cơ học và hóa học Tiêu hóa bằng hóa học chủ yếu là tác động của dịch vị Dịch vị có các chất vô cơ HCl (acid chlohydric), các chất hữu cơ, chất nhầy mucin, nguyên men Pepsinogen, Prezurase, Lipase Pepsinogen nhờ có HCl xúc tác biến thành pepsin hoạt động, phân hủy các chất protid thức ăn thành polypeptid Prezurase thường thấy ở dạ dày con vật còn đang bú sữ, có tác dụng tiêu hóa đạm của sữa Lipase phân hủy những hạt mỡ đã nhũ tương hóa thành glycerol và acid béo (Phạm Sỹ Lăng và ctv, 2006)

HCl tác dụng biến pepsinogen thành pepsin hoạt động, ngăn thức ăn khỏi lên men thối trong dạ dày, điều khiển đóng mở van hạ vị, gián tiếp kích thích tụy tạng tiết dịch tụy Kết quả thức ăn vào dạ dày chó, biến thành chất nhuyễn gọi là dưỡng chất Dưỡng chất gồm có những chất bột đã chín tiêu hóa dở tiếp tục tiêu hóa ở dạ dày thành đường maltose Chất protid vào dạ dạy được thủy phân thành polypeptid và một số acid amin Cũng ở dạ dày một số rất ít lipid được tiêu hóa (Phạm Sỹ Lăng và ctv, 2006)

2.2.3 Tiêu hóa ở ruột non

Niêm mạc ruột non có 2 loại tuyến có nhiệm vụ tiết dịch ruột: Tuyến Brunner, Liberkiihe.Dịch ruột mang tính kiềm (pH=7,4-7,7) gồm có các chất hữu

cơ và các chất vô cơ (chất nhầy, men maltase, lactase, saccharase, amylase…) Tham gia tiêu hóa ở ruột non có gan và tụy tạng tiết dịch tụy gồm các chất vô cơ

và chất hữu cơ như: amylapsin nguyên men trysinogen men lipase và maltase Gan tiết mật tiêu hóa mỡ, mật trung hòa đường dưỡng chất để men trysin hoạt động,

Trang 12

mật sát trùng tránh lên men thối, làm tăng nhu động ruột, gan có nhiệm vụ phân hủy và tổng hợp chất đường, tổng hợp ure, giải độc, tiêu hủy hay dự trữ mỡ, sản xuất fibrinogen làm đông máu và heparin chống đông máu trong quá trình tuần hoàn, sản xuất và tiêu hủy hồng cầu, dự trữ sắt, biến caroten thành vitamin A (Phạm Sỹ Lăng và ctv, 2006)

Ở ruột, protid được tiêu hóa theo quá trình phân giải của men trypsin Nguyên men trysinogen ở tụy mới tiết ra chưa hoạt động, nhờ có men glycopeptide và tiếp tục biến polypeptide thành các acid amin (Phạm Sỹ Lăng và ctv, 2006)

2.2.4 Tiêu hóa ở ruột già

Những chất còn lại chưa tiêu hóa hết ở ruột non bị tống xuống ruột già, tiếp tục tiêu hóa nhờ các men từ ruột non cùng chuyển xuống Ở ruột già còn có sự lên men thối và sinh ra chất độc ở đây còn có quà trình tái hấp thụ nước và muối khoáng, nên phân thường rắn và tạo khuôn thải ra ngoài.Phân gồm những chất cặn

bã của quá trình tiêu hóa thức ăn, các biểu mô của niêm mạc bong ra, các muối và

vi sinh vật….(Phạm Sỹ Lăng và ctv, 2006)

2.3 HIỆN TƯỢNG NÔN VÀ VÀ RỐI LOẠN CÂN BẰNG NƯỚC - ĐIỆN GIẢI

2.3.1 Hiện tượng nôn

Nôn là phản ứng có tính chất bảo vệ cơ thể, là một động tác phản xạ phức tạp Nhờ nôn mà động vật đem chất có hại trong ống tiêu hóa thải ra ngoài (Trần

Cừ, 1975)

Cơ chế sinh nôn: khi chất hóa học kích thích, tác động lên ruột, dạ dày, hầu, họng, màng nhày lưỡi Nôn bắt đầu từ nhu động ngược của ruột đẩy chất chứa trong ruột lên dạ dày Sau đó nhờ sự co bóp của cơ dạ dày, vách bụng sườn cơ hoành, cơ vòng thượng vị mở ra đẩy chất chứa trong dạ dày lên thực quản, nhu động ngược của thực quản sẽ đẩy chất chứa này lên miệng ra ngoài Xung động thần kinh truyền về trung tâm nôn ở trong thần kinh phế vị, thần kinh lưỡi, hầu và một số thần kinh khác Trung tâm nôn nằm trong hành não ở đáy buồng não thứ

IV Thần kinh phế vị và thần kinh giao cảm giúp điều hòa ruột, dạ dày, thực quản,

và một số thần kinh điều hòa cơ hoành, cơ vách ngực và bụng (Trần Cừ, 1975)

Trong khi nôn ngoài sự hưng phấn của trung tâm nôn còn có sự hưng phấn của các trung tâm khác: hô hấp, tim mạch, tiết nước bọt Động vật ăn cỏ và động vật gặm nhắm rất ít khi nôn hoặc không nôn còn động vật ăn thịt và động vật ăn tạp dễ phát sinh nôn Khi đường tiêu hóa bị căng quá mức hoặc bị kích thích quá

Trang 13

mức, đặc biệt là ở dạ dày và tá tràng thì nôn sẽ xảy ra để tống thức ăn ở phần trên đường tiêu hóa ra ngoài Động tác nôn là do sức ép của cơ thành bụng lên dạ dày phối hợp với sự mở đột ngột của các thắt thực quản làm cho thức ăn trong dạ dày

bị tống ra ngoài (Trần Cừ, 1975)

2.3.2 Hiện tượng rối loạn cân bằng nước-điện giải

2.3.2.1 Hiện tượng mất nước ngoại bào

Hiện tượng mất nước ngoại bào là hiện tượng mất nước do thiếu nước và muối với với đặc điểm chủ yếu là giảm thể tích huyết tương Mất chất điện phân ngoại bào gây giảm thể tích của khu vực ngoại bào có thể lên đến 30% (Hồ Văn Nam và ctv,1997)

Dấu hiệu lâm sàng: dầu hiệu đầu tiên là suy nhược, mệt mỏi, kiệt sức dẫn đến tình trạng toàn thân sút kém Khi khám da: lấy 2 ngón tay véo vào da, da nhăn

và lâu trở lại trạng thái cũ cho thấy tình trạng độ đàn hồi của da kém Có xu hướng

bị xẹp mạch như huyết áp hạ, mạch yếu và hơi nhanh, hiệu số huyết áp giảm Nước tiêu chứa ít Clorua và Natri Trong máu thường có dầu hiệu cô máu thể hiện qua tăng thể tích huyết cầu, tăng hàm lượng protein huyết tương đồng thời tỷ trọng

và độ nhớt huyết tương tăng, giảm hàm lượng Clorua và Natri của huyết tương Hàm lượng urê trong máu tăng (Hồ Văn Nam và ctv,1997)

2.3.2.2 Hiện tượng tăng ngấm nước tế bào

Hiện tượng tăng ngấm nước tế bào là hiện tượng quá nhiều nước tập trung

ở khu vực tế bào Hiện tượng này ít xảy ra đơn độc mà thuộc phạm vi những rối loạn cùng xảy ra một lúc của 2 khu vực ngoại bào và tế bào (Hồ Văn Nam và ctv,1997)

Cơ chế: giảm trương lực khu vực ngoài tế bào do tiết quá nhiều nước hoặc mất những ion Na+ của khu vực ngoại bào dẫn đến tăng áp lực thẩm thấu khu vực

tế bào nên làm cho nước bị hút từ nội mô đến tế bào % (Hồ Văn Nam và ctv,1997)

2.4 CƠ CHẾ GÂY TIÊU CHẢY

Tiêu chảy là tình trạng tăng số lần đại tiện với tăng thể tích của khối lượng phân, tăng mất nước và chất điện giải theo phân do tổn thương khả năng hấp thu nước của ruột Tiêu chảy xảy ra khi:

Trang 14

Tăng quá nhiều chất hấp thu, làm áp lực thẩm thấu trong ruột cao hơn trong máu và tổ chức, sẽ kéo nước ra ngoài lòng ruột Xảy ra khi có viêm ở ruột do các nguyên nhân khác gây nên như nhiễm khuẩn, ngộ độc (Vũ Triều An, 1991)

Giảm hấp thu do rối loạn tiêu hóa Lượng nước tiết dịch mỗi ngày trong toàn bộ ống tiêu hóa có thể tăng lên đến 10 lit mà phần lớn được tái hấp thu tại ruột Vậy chỉ cần khả năng hấp thu của ruột giảm đi một phần thì lượng chất lỏng

có trong ruột cũng rất lớn (Vũ Triều An, 1991)

Tăng cơ bóp ruột do tăng các chất phải hấp thu hay do giảm hấp thu nên lượng các chất có trong lòng ruột quá nhiều, sẽ kích thích ruột tăng co bóp nhanh chóng đẩy các chất ra ngoài, gây nên tiêu chảy Nhưng cũng có trường hợp hoàn toàn do rối loạn co bóp của ruột như khi bị kích thích do viêm phúc mạc, u manh tràng hay do rối loạn thần kinh như cường phó giao cảm Khi này tình trạng tăng

co bóp có thể tăng tiết dịch, giảm hấp thu dẫn đến tiêu chảy (Vũ Triều An, 1991)

2.5 SỐT

Sốt là hiện tượng thân nhiệt trên mức bình thường Các dấu hiệu thường đi kèm với sốt là nhịp tim-mạch gia tăng, nhịp tim và nhịp thở tăng do mức biến dưỡng trong cơ thể tăng Thú có thể bỏ ăn, buồn nôn, khát nước, táo bón, nước tiểu ít và mất nước Sốt do nguyên nhân nhiễm trùng (vi khuẩn hoặc độc tố của vi khuẩn) sẽ gây rối loạn chuyển hóa trong quá trình sốt do các chất gây sốt làm gia tăng sự oxy hóa các chất đạm, chất bột đường và mỡ Rối loạn biến dưỡng đạm làm gia tăng urê thải ra Sự oxy hóa mỡ không toàn làm cho nước tiểu có aceton nên thú phải gia tăng nhịp thở để bớt CO2, lượng acid HCl trong cơ thể gia tăng do nước tiểu ít được thành lập và việc bay hơi quá mức bị giảm Kém ăn có thể gây ra biến chứng thiếu sinh tố (Đỗ Trung Giã, 2005)

Ý nghĩa của phản ứng sốt: giúp cơ thể tăng cường sức phòng thủ, sự tăng nhiệt độ sẽ làm gia tăng sự hoạt động của bạch cầu, chúng thoát mạch dễ dàng vì vậy hiện tượng thực bào xảy ra mạnh hơn Sốt kích thích tủy xương sản xuất ra nhiều bạch cầu nhất là bạch cầu đa nhân trung tính tăng gấp 2,3 lần bình thường nhưng chúng thường ở dạng không trưởng thành Đồng thời làm tăng tốc độ của máu lên 4 lần để đưa nhanh bạch cầu tới nơi nhiễm khuẩn, sốt còn giúp cơ thể tăng cường sản xuất kháng thể Mức độ sốt mà cơ thể chịu đựng được cũng có thể làm ngăn cản sức tăng trưởng của một số vi khuẩn và làm giảm độc lực của các độc tố

do chúng tiết ra (Đỗ Trung Giã, 2005)

2.6 CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH Ở ĐƯỜNG TIÊU HÓA CHÓ

2.6.1 Các nguyên nhân không truyền nhiễm

Trang 15

Chất độc: các hóa chất nông dược, thuốc tẩy giun sán, bã chuột lẫn các thức

ăn gây ngộ độc Biểu hiện tiêu chảy, chảy nước dãi, nghiến răng, đau bụng, nôn mửa, co giật, suy tim rồi chết

Dùng thuốc kháng sinh lâu ngày gây tổn thương màng nhày niêm mạc ruột, rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột… gây tiêu chảy

Bội thực: chó ăn quá nhiều, quá nhanh, stress do thay đổi khẩu phần đột ngột, quá nhiều chất béo có thể gây tiêu chảy cấp

Dị ứng thức ăn: thức ăn có nhiều mảnh xương nhỏ không tiêu hóa gây viêm ruột cấp

2.6.2 Các nguyên nhân do vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, protozoa

2.6.2.1 Bệnh do Parvovirus

Đây là một bệnh lây lan rất mạnh, gây thiệt hại nhiều chó Thể hiện bằng triệu chứng tiêu chảy nghiêm trọng, gây xuất huyết và hoại tử đường ruột hoặc viêm cơ tim Bệnh bắt đầu được chú ý từ năm 1978 (Nguyễn Văn Biện, 2001)

Parvovirus là nhóm virus có kích thước nhỏ, lây bệnh cho nhiều loài thú (chó, mèo, chuột, lợn, trâu, bò) Parvovirus ở mỗi loài động vật khác nhau có

kháng nguyên khác nhau Chúng có kích thước khoảng 18-24nm nhân chứa DNA một sợi, capxit có 32 capsomer Virus nhân lên và phát triển trong nhân tế bào vật

chủ (Phạm Sỹ Lăng và ctv, 2006) Parvovirus có khả năng tồn tại trong phân ở

nhiệt độ phòng khoảng trên 1 năm và trong đất nhiễm bẩn trên 5 tháng, virus đề kháng với nhiều loại chất tẩy rửa và thuốc tẩy uế Virus được thải ra ngoài từ chó nhiễm bệnh (Mc Candlish, 1998)

- Đặc điểm

Bệnh tiêu chảy do Parvovirus có thể thấy ở 2 dạng (Nguyễn Văn Biện,

2001)

+ Dạng đường ruột: Chó ở các lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, nhưng

thường thấy nhất từ 6 tuần tới 1 năm

+ Dạng tim: dạng này thường xảy ra ở chó con 4-8 tuần tuổi Bệnh

thường không kịp xuất hiện triệu chứng gì mà chỉ thấy chó chết thình lình

Trang 16

- Triệu chứng

Dạng đường ruột: thường xảy ra ở chó 6 tuần tuổi đến 1 năm Dạng này

phổ biến hơn cả Lúc đầu chó còn ăn, chơi đùa, nhưng sau đó chó buồn bã, ăn ít rồi bỏ ăn Chó sốt, thông thường cơn sốt kéo dài từ khi bắt đầu chó mệt đến lúc tiêu chảy nặng Thân nhiệt chỉ giảm khi chó kiệt sức và lịm dần Chó tiêu chảy nặng, lúc đầu tiêu lỏng, phân loãng và thối, sau đó tiêu ra máu Thông thường phân có màu hồng, thậm chí máu tươi Chó gầy sút rất nhanh, bỏ ăn hoàn toàn sau

đó suy kiệt rồi chết (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

Dạng tim: thông thường ở chó từ 4 – 8 tuần tuổi, biểu hiện chủ yếu là suy

tim Biểu hiện chính là chó thiếu máu nặng, niêm mạc nhợt nhạt hay thâm tím, gan sưng, túi mật sưng – các biểu hiện ruột không rõ ràng – chó chết nhanh (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

Hình 1 Virus lây nhiễm chủ yếu ở tim và hệ tiêu hóa

(http://www.dog-health-guide.org/parvovirustreatment.html)

- Chẩn đoán

Rất khó phân biệt giữa bệnh carê và bệnh do Parvovirus, bởi vì cả 2 bệnh

này đều xảy ra ở chó con và tiêu chảy ra máu, nhưng 2 bệnh này có một số đặc điểm khác nhau: trong bệnh carê phân thường có màu cà phê, còn bệnh do

Parvovirus phân thường có màu hồng Bệnh carê có dấu hiệu thần kinh và các

mụn mủ ở da (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

- Điều trị

Trang 17

Bổ sung nước và chất điện giải cho cơ thể: truyền nước sinh lý hay sinh lý mặn ngọt, hoặc dung dịch ringer lactate để chống hiện tượng suy sụp do tiêu chảy, trợ sức bằng vitamin B1 (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

Dùng thuốc chống nôn bằng Atropin sunfat 0,1%

Dùng thuốc nâng cao sức đề kháng cho cơ thể và bền vững thành mạch để chống chảy máu: tiêm canxi clorua 10% và vitamin C, kết hợp tiêm vitamin K

Thụt rữa ruột bằng thuốc tím loãng (0,1%) để thải chất độc ra ngoài

Chống vi khuẩn bội nhiễm bằng kháng sinh như: Streptomycin, Kanamycin, Penicillin…

- Phòng bệnh

Phòng bệnh bằng vaccin: Chó con cai sữa nên được tiêm ngừa

vaccine sống nhược độc mỗi 2-3 tuần cho đến khi 16-18 tuần tuổi Chó nên tiêm ngừa nhắc lại hằng năm Ở chó già thì sự đáp ứng miễn dịch với vaccine

Parvovirus thấp hơn chó non, chó trưởng thành (Clarence, 1986)

Chó bệnh là nguồn lây lan chủ yếu, chó thải virus ra ngoài qua dịch mũi, nước mắt, nước bọt, nước tiểu và phân, thức ăn, nước uống là nguồn tàng trữ virus Chó trưởng thành nhiễm virus nhưng không phát bệnh, mà trở thành nguồn tàng trữ virus nguy hiểm nhất.( Vương Đức Chất – Lê Thị Tài, 2004)

- Đặc điểm

Carê là bệnh truyền nhiễm chủ yếu ở chó con do virus họ Paramycoviridae

gây bệnh hàng loạt trên chó, với các hội chứng sốt, viêm phổi, viêm ruột, niêm mạc và các nốt sài ở chỗ da mỏng (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

Cuối thời kỳ bệnh thường có triệu chứng thần kinh Sự kế phát của các vi khuẩn cũ trú sẵn trong đường tiêu hóa, hô hấp thường làm cho bệnh trầm trọng

Trang 18

thêm, lúc đó bệnh thể hiện chủ yếu ở 2 dạng (viêm phổi và viêm ruột) (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

Bệnh xuất hiện nhiều khi do sự thay đổi thời tiết, đặc biệt ở những ngày mưa nhiều, độ ẩm cao

Đặc điểm và đặc tính của virus gây bệnh carê: virus có cấu trúc đa dạng có

thể là hình cầu hoặc hình sợi, đường kính khoảng 100-300 nm, có vỏ bọc xù xì với những gai dài 9-15nm, bao quanh nucleocapside đối xứng hoặc xoắn ốc Virus dễ

vô hoạt bởi môi trường ngoài nên khó lây lan gián tiếp Trong môi trường lỏng, virus rất dễ vô hoạt ở 560C trong 2-3 phút, ở 450C trong 10 phút, ở 370C trong 60 phút Đối với các chất hóa học, virus dễ bị vô hoạt bởi những chất hòa tan lipid: ether, chloroform Với tia phóng xạ, virus dễ bị vô hoạt bởi tia cực tím, tia gamma (Trần Thanh Phong, 1996)

Virus đề kháng kém với ánh sáng mặt trời và dễ cảm thụ bởi hầu hết các chất kháng khuẩn như xà phòng (Thompson, 1998)

Hình 2 Virus gây bệnh ở hệ hô hấp, tiêu hóa, thần kinh

(http://bakerinstitute.vet.cornell.edu/animalhealth/page.php?id=1088)

- Triệu chứng

Biểu hiện bệnh rất đa đạng, tùy thuộc vào tuổi chó, tình trạng sức khỏe, chế

độ chăm sóc nuôi dưỡng và độc lực của mầm bệnh

Đầu tiên chó xuất hiện các triệu chứng chung: chó mệt mỏi, ủ rũ ăn ít, không thích vận động, lông xù, sau đó chó sốt (thân nhiệt tăng lên 40 – 41,50C trong 24 – 48giờ) Lúc sốt chó bỏ ăn, mắt đỏ Sau đó cơn sốt giảm xuống, thân

Trang 19

nhiệt trở lại bình thường, chó ăn ít tuy vẫn mệt, 3-4 ngày sau xuất hiện đợt sốt thứ

2 (cơn sốt thứ 2 kéo dài, thường kéo dài 3-4 ngày), chó rất mệt Lúc này nhịp thở tăng rõ, gương mũi khô, niêm mạc mũi, miệng, đường hô hấp viêm cata Hiện tượng viêm phổi và viêm ruột thể hiện rõ (chó thở khò khè, tiêu chảy, trong phân

có lẫn máu và niêm mạc ruột bong ra, làm cho phân có mùi tanh khẳm rất khó chịu và phân có màu cà phê) Do chó không ăn và tiêu chảy, vì vậy chó bị gầy sút nhanh chóng, hố mắt trũng sâu, bụng hóp, lông xơ xác, chó đi xiêu vẹo hay nằm một chỗ Mắt nhắm nghiền, hậu môn bẩn (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

Một dấu hiệu khác thường thấy là sự xuất hiện các mụn mủ ở bụng, ngực, háng, trong đùi Các mụn mủ thường bằng các hạt đậu xanh, hạt gạo, lúc đầu đỏ, sau bội nhiễm nên mềm ra có mủ Khi vỡ ra các mụn mủ làm lông bết, ướt Nếu chó chết sớm, thường không thấy dấu hiệu thần kinh Nếu bệnh kéo dài khoảng 10 ngày, chó xuất hiện triệu chứng thần kinh Khi đụng phải vật cản, chó nổi cơn co giật có khi sùi cả bọt mép (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

Xác chết thường gầy, hố mắt trũng sâu, niêm mạc mũi, miệng viêm cata, đỏ mộng sưng dầy lên, có nhiều chất nhớt, lỏng hay hơi đặc Phổi viêm nặng có khi

có mủ, có khi viêm cả thùy, nhưng thường xuất huyết thành từng điểm bằng hạt đậu, màu sẫm hoặc đỏ Niêm mạc ruột, dạ dày có nhiều điểm huyết, có khi bị bào mỏng, trong ruột chứa màu màu cà phê Thành ruột có những điểm loét sâu màu nâu sẫm Lách sưng có nhồi huyết ở rìa Gan sưng, xuất huyết, có khi xuất huyết thành vệt, có khi thành những điểm bằng hạt đậu Tim nhão, lớp vỏ vành tim đôi khi bị xuất huyết Niêm mạc bàng quang nhiều khi bị xuất huyết (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

- Chẩn đoán

Chẩn đoán bệnh carê dựa vào các triệu chứng như chất tiết ở mắt và mũi, xáo trộn hô hấp với các biểu hiện ho, hắt hơi, viêm phổi Trên hệ tiêu hóa gây rối loạn tiêu hóa như ói, tiêu chảy Trên da với các dấu hiệu viêm da, nổi những mụn

mủ ở vùng da mỏng, sừng hóa (keratin hóa) bàn chân, gương mũi Trên hệ thần kinh làm xáo trộn thần kinh gây co giật, bại liệt (Trần Thanh Phong, 1996)

Trang 20

Các nhà khoa học đã thành công tạo kháng huyết thanh chống bệnh Ca rê nhưng chỉ đạt hiệu quả khi mới chớm bệnh (sau 2 – 3 ngày nhiễm bệnh) Nên tiêm kháng huyết thanh cho những con khỏe đã tiếp xúc với chó bệnh (Vương Đức Chất và Lê Thị Tài, 2004)

- Phòng bệnh

Có 2 biện pháp phòng bệnh cơ bản: phòng bệnh bằng chăm sóc nuôi dưỡng

và phòng bệnh bằng vaccin

Phòng bệnh bằng chăm sóc nuôi dưỡng

Như tất cả các bệnh truyền nhiễm của chó , việc chăm sóc nuôi dưỡng cẩn thận, vệ sinh chu đáo có vai trò quan trọng trong phòng bệnh.Khi phát hiện chó bị bệnh Ca rê phải cách ly triệt để, các chất thải của chó bệnh phải được quét dọn, sát trùng tiêu độc (Vương Đức Chất và Lê Thị Tài, 2004)

Phòng bệnh bằng vaccin

Chó con được tiêm ngừa vaccine sống nhược độc có hiệu quả khi trong cơ thể chúng không có sự can thiệp của kháng thể từ chó mẹ Chó con được tiêm ngừa vaccine sống nhược độc sau khi cai sữa (thường vào 6-9 tuần tuổi), và được tiêm lặp lại ở 3-4 tháng tuổi (để chủng ngừa cho những con tiêm lần đầu không hiệu quả do sự can thiệp của kháng thể từ mẹ) (Clarence, 1986)

Trang 21

Virus Distemper ở chó

Tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp

Sao chép ở mô lympho của đường hô

hấp trên Nhiễm virus vào máu (tế bào được kết hợp)

Tấn công vào biểu mô

Bình phục hoàn toàn

Bệnh nhẹ Bệnh nặng hay trung

Trang 22

2.6.2.3 Bệnh viêm ruột cấp do nhiễm khuẩn

Các vi khuẩn gây viêm ruột cấp tính như: Salmonnella, E.coli, Clostridium,… những vi khuẩn này phát triển trong đường tiêu hóa gây ra bệnh

Bệnh lây lan trực tiếp từ chó bệnh sang chó khác hoặc gián tiếp qua thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

Nhóm vi khuẩn thương hàn (các chủng Samonella enteritidis, S paratiphi

A, B, S murium)

Nhóm vi khuẩn E Coli (thường do những E Coli có kháng nguyên O và K chiếm ưu thế)

Nhóm vi khuẩn yếm khí (Clostridium perfringens, Necrophorus)

Những vi khuẩn khác (Ngoài 4 nhóm vi khuẩn kể trên, một số vi khuẩn khác cũng tham gia và quá trình gây viêm ruột của chó như Proteus vulgaris, Klebsielle, Listeria monocitogenes)

- Triệu chứng

Trong 1-2 ngày đầu chó ăn ít hoặc bỏ ăn, mệt mỏi uống nước nhiều, thân nhiệt tăng (39,5-400C), đặc biệt khi nhiễm khuẩn Samonella, Staphylococus và Clostridium perfringens, chó sẽ sốt cao (40-410C) trong vài ngày (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

Trang 23

Sau đó chó nôn mửa liên tục, uống nước cũng nôn, tiêu chảy, phân đầu tiên táo bón sau lỏng như nước, có màu xám vàng hoặc xanh xám, có lẫn dịch nhầy, có mùi tanh khẳm Chó tiêu chảy nhiều lần trong ngày Do nôn mửa và tiêu chảy liên tục, chó bị mất nước và chất diện giải rất nhanh, và chết nhanh Bệnh diễn biến trong thời gian 2-4 ngày Trước khi chết chó thường bị tụt nhiệt độ (chỉ còn 36-

370C), hạ huyết áp, tim đập nhanh 120 – 150 nhịp/phút Giai đoạn này chó bị kiệt sức không đi lại được, chỉ nằm một chỗ, phân lỏng rỉ ra hậu môn không kiềm chế được và khi tiêm thuốc chó mất cảm giác đau Nếu không được chửa kịp thời, tỷ lệ chết rất cao 70-100% chỉ trong thời gian 2-4 ngày (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

- Điều trị

Có thể dùng một trong các loại kháng sinh sau đây điều trị (Norfloxacin, Enrofloxacin, Tetraxcylin, Steptomycin, Kanamycin, Biseptol) (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

Truyền dung dịch sinh lý mặn ngọt, hoặc mặn đẳng trương, hoặc dung dịch Ringer lactate kết hợp với thuốc trợ tim, vitamin C vào tĩnh mạch

Các dạng thuốc chống nôn Atropin sunfat 0,1%, Stugerol

Dùng thuốc chống chảy máu vitamin K, Pamba

Dùng thuốc làm se niêm mạc ruột, giảm số lần tiêu chảy: Termina, tanin

2.6.2.4 Bệnh do giun móc

Bệnh giun móc ở chó là rất phổ biến và gây bệnh nặng trên chó nhất là chó

con Ở nước ta đã phát hiện được 3 loài Ancylostoma caninum, A braziliense, Uncinaria stenocephala Một số nơi ở nước ta tỉ lệ nhiễm bệnh giun móc rất cao,

có thể lên trên 70% Đặc biệt chó trên 12 tháng tuổi tỉ lệ này có thể lên 96% (Nguyễn Văn Biện, 2001)

- Đặc điểm

Bệnh giun móc là một trong những bệnh về giun tròn gây thiệt hại nhiều nhất cho chó.Chó nhiễm bệnh giun móc biểu hiện các triệu chứng lâm sàng đặc trưng: thiếu máu, viêm ruột cấp và mãn tính có kèm theo chảy máu ruột Đặc biệt chó non từ 2 – 4 tháng tuổi Khi mắc bệnh thì chó chết với tỷ lệ cao (50 – 80%) Bệnh giun móc xảy ra quanh năm ở chó, nhưng thường gặp nhiều nhất vào cuối mùa xuân và mùa thu nước ta, là thời gian có mưa nhiều, ẩm ướt, thời tiết ấm áp (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

Trang 24

Ancylostoma caninum ký sinh ở ruột non chó, mèo, hổ, báo Ancylostoma caninum thường sống ở không tràng, tá tràng hoặc kết tràng Con đực dài 9-12mm,

con cái dài 10-20mm giun cái đẻ từ 7700-28000 trứng/ngày Trứng hình bầu dục, hay đầu thon đều, có lớp vỏ mỏng, trứng mới thảy ra bên ngoài có 8 tế bào phôi Khi chui qua da ấu trùng gây viêm da Bước tiếp ấu trùng đến phổi rồi trở lên khí quản, hầu để được nuốt vào ruột non, còn ở chó cái ấu trùng thường nằm nghỉ ở

cơ, chờ khi chó cái có thai ấu trùng sẽ hoạt động và truyền cho chó con qua sữa Sau 14-16 ngày ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành trong ruột chó Thời gian giun móc ký sinh trong ruột chó từ 43-100 tuần (Phạm Sỹ Lăng, 2006)

Uncinaria stenocephala nhỏ hơn Ancylostoma caninum chỉ dài trung bình

khoảng 9-12mm Trứng theo phân ra ngoài, sau đó trứng sẽ phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm L3, từ đây ấu trùng có thểm xuyên qua da gây viêm da, hoặc được chó ăn vào để đến ruột non và trưởng thành ở đây (Phạm Sỹ Lăng, 2006)

A braziliense ký sinh ở ruột non chó mèo có khi ở người Con đực dài

6-6,75 mm, con cái dài 7-10 mm, giun cái đẻ được 4000 trứng/ngày Trứng giống

như Ancylostoma caninum, trứng mới thải ra bên ngoài có 8 tế bào phôi (Phạm Sỹ

Lăng, 2006)

- Triệu chứng

Chó bị bệnh giun móc có 2 thể: Cấp tính và mãn tính (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

Thể cấp tính: thường thấy ở chó non khi cảm nhiễm nặng Thể này làm cho

chó bệnh chết với tỷ lệ cao Đặc biệt chó dưới 4 tháng tuổi có thể chết 60 – 100% Chó bệnh thể hiện nôn mửa liên tục, có khi nôn ra máu, bỏ ăn hoặc ăn rất ít, tiêu chảy dữ dội, phân có lẫn máu màu cà phê, có dịch nhày và có mùi tạnh khẳm Chó thường chết do mất nước, mất nước nên rối loạn chất điện giải trong máu, trụy tim mạch và kiệt sức

Thể mạn tính: triệu chứng thể hiện bệnh mãn tính cũng giống như thể cấp

tính, nhưng thể hiện nhẹ hơn và thời gian dài hơn Một tháng sau khi nhiễm ấu trùng, chó thể hiện hội chứng thiếu máu, chảy máu ruột nhưng sau đến 2 – 3 tháng những triệu chứng này mất dần Trong điều kiện vệ sinh, chăm sóc chó được tốt, dinh dưỡng đủ chất có thể làm cho chó khỏi bệnh hoàn toàn

- Điều trị

Kết hợp tẩy giun, trị nhiễm trùng, trợ sức (Nguyễn Văn Biện, 2001)

Trang 25

Thuốc tẩy giun có thể dùng Mebendazole, Levamisole, Pyrantel pamoate, Fenbendazole, Dichlorvos, Dithiazanine

Mebendazole là thuốc có hiệu quả nhất đối với giun móc, dùng 22 mg/kg ngày uống một lần, uống trong 3 ngày Thuốc không sử dụng cho mèo

Levamisole 7mg/kg cho uống, hay tiêm dưới da

Pyrantel pamoate 5mg/kg cho uống sau bữa ăn, lập lại sau 7 đến 10 ngày Kháng sinh chống nhiễm trùng thứ phát:

Tectracycline: 25 – 50 mg/kg, ngày ba bốn lần cho uống, hoặc dùng 7 mg/kg ngày 2 lần

Kanamycin 10 – 12 mg/kg cho uống ngày 4 lần, hoặc 5 – 7,5 mg/kg tiêm dưới da hay tiêm thịt ngày 2 lần

Bồi dưỡng trợ sức: Vitamin K, truyền dịch

- Phòng bệnh

Định kỳ 3 – 4 tháng kiểm tra phân chó một lần Khi phát hiện thấy có trứng giun móc thì phải tẩy ngay cho chó Nếu không có điều kiện kiểm tra thì cứ 4 tháng tẩy giun cho chó 1 lần Nuôi dưỡng chăm sóc chó chu đáo để nâng cao sức

đề kháng với bệnh dịch nói chung và bệnh giun móc nói riêng Cho chó ăn uống sạch sẽ để ngăn ngừa nhiễm mầm bệnh (ấu trùng giun móc) (Phạm Ngọc Thạch, 2010)

2.6.2.5 Bệnh lỵ do Amip

- Đặc điểm

Bệnh lỵ do Amip xảy ra ở tất cả các lứa tuổi của chó, nhưng thường gặp cấp

tính ở chó dưới 1 năm tuổi và thể mãn tính ở chó trưởng thành trên 1 năm tuổi

Người mắc bệnh lỵ amip có thể lây sang chó, mèo và ngược lại Chó bị bệnh mãn

tính là nguồn tàng trữ mầm bệnh và là nguồn lây lan cho chó khỏe mạnh (Nguyễn Văn Biện, 2001)

- Triệu chứng

Trong thời kỳ ủ bệnh, chó thường kém ăn, di tiêu táo bón nhưng không tăng nhiệt độ Sau đó chó tiêu phân lỏng có màu vàng xám, có mùi tanh Đặc biệt chó

Ngày đăng: 12/04/2018, 01:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm