1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG PHỤ PHẨM cá TRA(Pangasius hypophthalmus) ủ CHUA và tỷ lệ TIÊU hóa TRÊN HEO YORKSHIRE TĂNG TRƯỞNG

55 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 460,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG ¾—&–¾ VÕ HOÀNG KỲ ĐỀ TÀI ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG PHỤ PHẨM CÁ TRA Pangasius hypophthalmus Ủ CHUA VÀ TỶ LỆ TIÊU HÓA TRÊN HEO YORKSHIRE TĂNG TRƯỞNG LUẬ

Trang 1

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

¾—&–¾

VÕ HOÀNG KỲ

ĐỀ TÀI

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG PHỤ PHẨM CÁ

TRA (Pangasius hypophthalmus) Ủ CHUA VÀ

TỶ LỆ TIÊU HÓA TRÊN HEO YORKSHIRE TĂNG TRƯỞNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ CHĂN NUÔI THÚ Y

Cần Thơ, tháng 02/2007 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 2

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ CHĂN NUÔI – THÚ Y

ĐỀ TÀI

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG PHỤ PHẨM CÁ

TRA (Pangasius hypophthalmus) Ủ CHUA VÀ

TỶ LỆ TIÊU HÓA TRÊN HEO YORKSHIRE

TĂNG TRƯỞNG

Nguyễn Thị Thủy Võ Hoàng Kỳ

Lớp: CN-TY K 28

Cần Thơ, tháng 02/2007 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 3

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG PHỤ PHẨM CÁ

TRA (Pangasius hypophthalmus) Ủ CHUA VÀ

TỶ LỆ TIÊU HÓA TRÊN HEO YORKSHIRE

TĂNG TRƯỞNG

Cần Thơ, ngày …tháng…năm 2007 Cần Thơ, ngày …tháng ….năm 2007

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN DUYỆT BỘ MÔN

Nguyễn Thị Thủy

Cần Thơ, ngày …….tháng …….năm 2007

DUYỆT KHOA NÔNG NHIỆP VÀ SHƯD

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH ii

CHỮ VIẾT TẮT iii

TÓM LƯỢC iv

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

2.1 Khái quát về tình hình sản xuất cá Tra xuất khẩu tại ĐBSCL 3

2.2 Phụ phẩm và việc sử dụng phụ phẩm cho ngành chăn nuôi 3

2.2.1 Các phương pháp bảo quản phụ phẩm cá Tra làm thức ăn trong chăn nuôi 4

2.2.2 Sản xuất bột cá 10

2.3 Giống heo Yorkshire 13

2.4 Cấu tạo và chức năng bộ máy tiêu hóa của heo 13

2.5 Nhu cầu dinh dưỡng của heo 14

2.5.1 Nhu cầu năng lượng 14

2.5.2 Nhu cầu protein 15

2.6 Các phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa ở heo 17

2.6.1 Khái niệm về tỷ lệ tiêu hóa 17

2.6.2 Phương pháp trực tiếp 18

2.6.3 Phương pháp gián tiếp hay sử dụng chất chỉ thị màu 18

2.6.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa thức ăn của heo 19

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 21

3.1 Thí nghiệm 1: Ủ CHUA PHỤ PHẨM CÁ 21

3.1.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm 21

3.1.2 Vật liệu thí nghiệm 21

3.1.3 Phương pháp thí nghiệm 21

3.2 Thí Nghiệm 2: SO SÁNH TỶ LỆ TIÊU HÓA CỦA PHỤ PHẨM Ủ VỚI BỘT CÁ 22

3.2.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm 22

3.2.2 Đối tượng thí nghiệm 22

3.2.3 Vật liệu thí nghiệm 22

3.2.4 Phương pháp thí nghiệm 23

3.2.5 Cách thu thập số liệu 24

3.2.6 Tính toán 25

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 Thí nghiệm 1: Ủ CHUA PHỤ PHẨM CÁ 27

4.1.1 Nhiệt độ và ẩm độ nơi ủ 27

4.1.2 Đánh giá bằng cảm quan 27

4.1.3 Độ pH của các nghiệm thức qua các thời gian ủ 27

4.1.4 Sự thay đổi vật chất khô (DM) của các nghiệm thức qua các thời gian ủ 30

4.1.5 Đạm thô (CP) của các nghiệm thức qua các thời gian ủ 31

4.1.6 Sự thay đổi về lượng N-NH 3 của các nghiệm thức qua thời gian ủ 32

4.2 Thí nghiệm 2: SO SÁNH TỶ LỆ TIÊU HÓA CỦA PHỤ PHẨM Ủ VỚI BỘT CÁ 33

4.2.1 Thành phần hóa học của các khẩu phấn thí nghiệm 33

4.2.2 Tỷ lệ tiêu hóa của các khẩu phần thí nghiệm 33

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38

5.1 Kết luận 38

5.2 Đề nghị 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của bột cá sản xuất từ thịt vụn + đầu xương và phần bụng

11

Bảng 2.2: Thành phần hóa học của bột cá sản xuất từ phụ phẩm đầu xương 12

Bảng 2.3: Thành phần hóa học sản xuất từ nước thải sau nấu và đầu xương nấu không tách nước 12

Bảng 2.4: Nhu cầu năng lượng của heo từ sơ sinh đến 100 kg 15

Bảng 2.5: Nhu cầu CP của heo từ sơ sinh đến 100 kg 17

Bảng 2.6: Tiêu chuẩn dinh dưỡng cho lợn ngoại nuôi thịt 17

Bảng 3.1: Công thức khẩu phần của thức ăn thí nghiệm 23

Bảng 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 24

Bảng 4.1: Giá trị pH của các nghiệm thức qua các thời gian ủ 28

Bảng 4.2: Vật chất khô của các nghiệm thức qua các thời gian ủ 30

Bảng 4.3: Sự thay đổi CP (% VCK) của các nghiệm thức qua các thời gian ủ 31

Bảng 4.4: Biến đổi N – NH3 ( % ) của các nghiệm thức qua thời gian ủ 32

Bảng 4.5: Công thức và thành phần hóa học của khẩu phần thí nghiệm 33

Bảng 4.6: Tỷ lệ tiêu hóa của khẩu phần thí nghiệm 33

Bảng 4.7: Tỷ lệ tiêu hóa của thực liệu thí nghiệm 36

DANH MỤC HÌNH Trang Hình 1: Đồ thị biểu diễn pH của mẻ ủ 29

Hình 2: Đồ thị biểu diễn tỷ lệ tiêu hóa của các khẩu phần thí nghiệm 35

Hình 3: Đồ thị biểu diễn tỷ lệ tiêu hóa của các thực liệu thí nghiệm 37 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

TÓM LƯỢC

Đề tài “Đánh giá chất lượng phụ phẩm cá Tra ủ chua và tỷ lệ tiêu hóa của chúng trên heo Yorkshire tăng trưởng” Với mục đích là tìm ra phương pháp thích hợp để bảo quản phụ

phẩm cá Tra Đồng thời tiến hành so sánh tỷ lệ tiêu hóa của phụ phẩm cá ủ chua với bột cá

Đề tài được tiến hành với hai thí nghiệm:

Thí nghiệm 1: Ủ chua phụ phẩm cá Tra

Thí nghiệm bao gồm 6 nghiệm thức và 3 lần lập lại Ủ chua phụ phẩm cá Tra với 2 loại chất độn khác nhau là cám và rỉ mật đường ở 3 tỷ lệ khác nhau (8:2; 7:3 và 6:4) Gồm có các nghiệm thức sau: 8 cá + 2 cám (PPC82), 7 cá + 3 cám (PPC73), 6 cá + 4 cám (PPC64), 8

cá +2 mật (PPM82), 7 cá + 3 mật (PPM73), 6 cá + 4 mật (PPM64) Tổng số túi ủ là 108, mỗi một nghiệm thức ở mỗi lần lập lại được chia làm 6 túi nhỏ ( 2 kg/túi) để lấy mẫu vào các thời điểm (7, 14 , 21, 28, 42 và 56 ngày) Các chỉ tiêu thu thập là màu, mùi, pH, DM, CP, N-

NH 3

Kết quả thu được như sau:

- pH: Đối với chất độn là cám thì nghiệm thức PPC82 có pH không giảm và giữ ở mức >5, trong khi nghiệm thức PPC73 pH giảm đều qua thời gian, pH xuống thấp nhất ở 21 ngày (4,43) và ổn định đến 42 ngày ( 4,46 ) Sau đó hơi tăng nhẹ ở 56 ngày ( 4,8 ) Nghiệm thức PPC64 có pH giảm đều thấp nhất ở 14 ngày ( 4,30 ), giữ ổn định đến 28 ngày (4,46) Sau đó tăng cao ở 42 ngày ( 5,00 ) và 56 ngày ( 5,10 ) Đối với chất độn là mật đường thì nghiệm thức PPM82 có pH giảm đều theo thời gian, thấp nhất ở 14 ngày (4,0) và ổn định qua thời gian Bắt đầu tăng nhẹ ở 42 ngày ( 4,63 ) và 56 ngày ( 4,93 ) Tương tự với nghiệm thức PPM73 có pH thấp nhất ở 21 ngày (4,06) và bắt đầu tăng lên ở 42 ngày( 4,73) và 56 ngày ( 5,03) Nghiệm thức PPM64 pH không giảm xuống tới mức yêu cầu lớn hơn 4,5 Sự thay đổi

pH qua thời gian ủ thì rất có ý nghĩa thống kê

- DM và CP của mẻ ủ ít bị ảnh hưởng ở các thời gian ủ khác nhau, sự thay đổi DM và CP là không có ý nghĩa thống kê

- N-NH 3: Đối với chất độn là cám thì N-NH 3 giảm khi tăng tỷ lệ cám trong mẻ ủ Cụ thể ở nghiệm thức PPC82: 1,29%, PPC73: 0,56% và PPC64: 0,49% lúc 7 ngày ủ, và N-NH 3 tăng dần theo thời gian ủ, lúc 56 ngày ủ tăng ở nghiệm thức PPC82: 2,61%, PPC73: 1,78% và PPC: 0,83% Đối với chất độn là mật đường thì tương tự N-NH 3 cũng tăng theo thời gian ủ

và khi tăng tỷ lệ mật đường trong mẻ ủ Cụ thể ở nghiệm thức PPM82: 0,56% và 1,06%, PPM73 : 0,61% và 1,08%, PPM 64: 0,9 % và 1,37% tương ứng với 7 và 56 ngày ủ Sự khác nhau này rất có ý nghĩa thống kê

Thí nghiệm 2: So sánh tỷ lệ tiêu hóa của phụ phẩm cá ủ với bột cá trên heo Yorkshire tăng trưởng

Thí nghiệm bố trí theo hình vuông la tinh gồm 4 heo đực thiến Yorkshire ở 3 tháng tuổi (35 kg/con ) được nhốt trên 4 lồng thí nghiệm dinh dưỡng cá thể, 4 heo được cho ăn với 4 khẩu phần quay vòng theo 4 giai đọan Các khẩu phần thức ăn thí nghiệm bao gồm: Khẩu phần

cơ bản (KCB) gồm có tấm (20%), cám (39,8%), bắp xay (40%) và premix vitamin (0,2%); khẩu phần bột cá (KBC) bao gồm 90% KP cơ bản +10% bột cá(BC); khẩu phần có phụ phẩm cá ủ cám (KPPC) bao gồm 76% KP cơ bản +24% phụ phẩm cá ủ với cám (PPC); khẩu phần có phụ phẩm cá ủ mật (KPPM) bao gồm 77% KP cơ bản +23% phụ phẩm ủ với

Trang 8

trọng lượng Mẫu đại diện của thức ăn, phân và nước tiểu của mỗi giai đọan đã được phân tích thành phần dinh dưỡng DM, OM, CP, EE, Ash và tính tỷ lệ tiêu hóa của khẩu phần và thức ăn thí nghiệm

Kết quả thu được:

Tỷ lệ tiêu hóa DM, OM của các khẩu phần có phụ phẩm ủ đều cao hơn ở khẩu phần bột cá

Cụ thể là 80,05% và 82,01% ở khẩu phần KPPM; 79,43% và 81,23% đối với khẩu phần KPPC; ở khẩu phần KBC là 79,38% và 80,82% Tuy nhiên sự khác nhau này không có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ tiêu hóa CP và EE của các khẩu phần thí nghiệm là khác nhau có ý nghĩa thống kê Trong đó tỷ lệ tiêu hóa ở khẩu phần KPPM là cao nhất (75,25% và 55,15%), khẩu phần KPPC là 74,23% và 53,42 Trong khi ở khẩu phần KBC có tỷ lệ tiêu hóa CP, EE thấp hơn ( 72,08% và 50,93% )

Tỷ lệ tiêu hóa DM, OM và CP của thực liệu thức ăn phụ phẩm ủ với mật ( PPM ) là 80,59%, 83,68% và 92,41% vẫn cao hơn ở phụ phẩm ủ với cám (PPC) là 77,96%, 80,26% và 87,24%

và bột cá (BC) là 74,71%, 74,59% và 89,67% Tuy nhiên sự khác nhau này không có ý nghĩa thống kê Riêng tỷ lệ tiêu hóa EE trong PPM (72,75%) và PPC ( 64,91%) cao hơn có ý nghĩa

so với BC (58,46%)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đồng Bằng Sông Cửu Long là nơi sản xuất cá Tra (Pangasius hypophthalmus) lớn

nhất trong cả nước, do có diện tích bề mặt rộng lớn và hệ thống sông ngòi chằng chịt Đây chính là điều kiện thuận lợi cho nghề nuôi cá phát triển đặc biệt là nuôi cá Tra xuất khẩu Năm 2006, riêng sản lượng cá Tra trong tỉnh An Giang ước đạt gần 182 ngàn tấn Với số lượng như thế để chế biến cá fillet xuất khẩu thì lượng phụ phẩm thải

ra tương đương với 118,3 ngàn tấn Năm 2006 Công ty Agifish An Giang đã xuất khẩu 20,000 tấn thành phẩm cá Tra đứng hàng thứ hai cả nước

(http://www.fistenet.gov.vn)

Cùng với sự tăng lên về sản lượng cá fillet xuất khẩu thì lượng phụ phẩm là rất lớn Tuy nhiên không ít các nhà máy sản xuất bột cá từ phụ phẩm cá Tra đang gặp khó khăn về ô nhiểm môi trường, biến động về thị trường, giá cả thực liệu thức ăn trong chăn nuôi Do đó lượng phụ phẩm này được người dân sử dụng nhiều trong việc tự chế biến thức ăn cho thủy sản Vấn đề đặt ra với các phụ phẩm này là bảo quản như thế nào với một số lượng lớn như hiện nay để sử dụng cho ngành chăn nuôi Với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng phụ phẩm cá Tra trong chăn nuôi Nhưng bằng những phương pháp đơn giản, dễ làm, dễ áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi heo của vùng Chúng tôi nghiên cứu phương pháp ủ chua phụ phẩm cá để bảo quản và dự trữ phụ phẩm cá trong thời gian dài Đồng thời hy vọng rằng sản phẩm này sẽ làm tăng khả năng tiêu hóa cũng như tính thèm ăn trên heo

Chăn nuôi là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế Nông Nghiệp Việt Nam Cùng với trồng trọt, chăn nuôi cung cấp nguồn thực phẩm đáng kể và thường xuyên cho xã hội Chăn nuôi heo góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế của đất nước Nó

đã giúp rất nhiều hộ nông dân thoát khỏi đói nghèo và vươn lên khá giả đặc biệt là vùng nông thôn Thế nên chăn nuôi heo ngày càng phát triển, tăng nhanh về số lượng cũng như chất lượng trên cả hai mô hình chăn nuôi công nghiệp và chăn nuôi hộ gia đình Tuy nhiên giá cả của thức ăn cho chăn nuôi nói chung và chăn nuôi heo nói riêng trên thị trường thường xuyên biến động theo chiều hướng ngày càng tăng Đây

là vấn đề gây trở ngại lớn cho ngành chăn nuôi Hiện nay nhiều trang trại và nhiều hộ chăn nuôi heo đã phải giải thể do chi phí thức ăn quá cao Do vậy việc tận dụng nguồn phụ phẩm có sẵn tại chổ để làm thức ăn trong chăn nuôi Trong đó có chăn nuôi heo cũng được nhiều người quan tâm Kéo theo quá trình tận dụng phụ phẩm là bảo quản, chế biến nhằm tăng giá trị dinh dưỡng, kích thích heo ăn nhiều mau lớn để hạ thấp chi phí chăn nuôi Một trong những phụ phẩm mà chúng tôi có thể tận dụng trong chăn nuôi heo là phụ phẩm cá Tra Sau khi thử nghiệm được quy trình ủ chua phụ phẩm này, chúng tôi tiến hành thí nghiệm tiêu hóa trên heo nhằm xác định tỷ lệ tiêu hóa của phụ phẩm ủ chua trên heo có được cải thiện hay không

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 10

Để xác định được phương pháp cũng như chất lượng của phụ phẩm ủ chua và tỷ lệ tiêu hóa của nó trong chăn nuôi heo Được sự phân công của Bộ môn Chăn Nuôi- Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học Cần Thơ, và sự hướng

dẫn của cô Nguyễn Thị Thủy Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp

“Đánh giá chất lượng phụ phẩm cá Tra ủ chua và tỷ lệ tiêu hóa trên heo Yorkshire tăng trưởng”

Đề tài được tiến hành với mục tiêu:

- Có thể dự trữ phụ phẩm cá Tra bằng phương pháp ủ để làm thức ăn cho gia súc

- Phụ phẩm cá ủ có thể sử dụng trong chăn nuôi heo để thay thế bột cá

- Tỷ lệ tiêu hóa của phụ phẩm cá ủ chua với cám và mật mía có thể được cải thiện

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Khái quát về tình hình sản xuất cá Tra xuất khẩu tại ĐBSCL

Theo số liệu điều tra của Nguyễn Tấn Lộc (2006) vào khoảng thời gian 10/2005, tình

hình nuôi cá Tra ở ĐBSCL đang tăng nhanh về số lượng Đặc biệt là hệ thống nuôi ao hầm và đăng quầng đang phát triển mạnh Sản lượng cá thu được trong 10 tháng của năm 2005 cụ thể ở một số tỉnh là: An Giang 108,750 tấn; Cần Thơ 90,000 tấn; Đồng Tháp 75,000 tấn; Tiền Giang 9,000 tấn Với tổng lượng lớn ở các tỉnh như thế khi chế biến xuất khẩu thì mỗi ngày phải loại ra một lượng phụ phẩm tương đương 723,7 tấn/ngày

Do sự gia tăng về họat động xuất khẩu cá Tra fillet sang các nước trên thế giới ngày càng tăng trong những năm gần đây Cho nên đã kích thích sự phát triển mạnh về ngành nuôi cá Tra, đặc biệt là ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long Người nuôi cá Tra có thu nhập rất cao Tuy nhiên hiện nay họ cũng gặp phải những khó khăn nhất định là giá cả thị trường đang giảm do cung lớn hơn cầu Theo nhận định của các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu thì điều đáng lo ngại là hiện nay nhiều địa phương ào ạt mở rộng diện tích nuôi cá Tra, khả năng sang quý 1-2007 sẽ thừa nguyên liệu và cá rớt giá

Bên cạnh khó khăn về giá, thì thời tiết và con giống cung cấp cũng như dịch bệnh đã gây nhiều khó khăn cho những hộ nuôi cá Tra Ngoài con giống đang bị thoái hóa, cá nuôi chậm lớn, môi trường ngày càng ô nhiễm Cùng với việc sử dụng các loại thuốc trị bệnh vô tội vạ cộng với chất lượng thức ăn đang có vấn đề v.v là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng cá chết hàng loạt (tp://www.fistenet.gov.vn) Theo một số hộ dân nuôi cá ở An Giang, Cần Thơ, tình hình cá Tra bắt đầu chết rộ trong những tháng cuối năm 2006, đặc biệt là sau khi cơn bảo số 9 quét qua ĐBSCL Theo báo Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày 08/01/2007, trao đổi với phóng viên Báo SGGP, ông Bùi Hữu Trí, Chủ tịch Hiệp hội Thủy sản Cần Thơ cho biết tình hình cá Tra chết hàng loạt ở ĐBSCL trong những ngày qua đã thuyên giảm Tuy nhiên, với sự xuất hiện của nhiều cơn mưa trái mùa, chưa biết tình hình sẽ diễn biến ra sao trong những ngày tới vì cá Tra vốn rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường nước

2.2 Phụ phẩm và việc sử dụng phụ phẩm cho ngành chăn nuôi

Phần phụ phẩm này bao gồm: Thịt vụn, đầu xương, phần bụng, da Đa số phần phụ phẩm này sẽ được chuyển đến các nhà máy chế biến bột cá, chỉ một số nhỏ được đưa

về dân để tiêu thụ và tự chế thành thức ăn nuôi cá Tại các nhà máy chế biến bột cá thì phụ phẩm này sẽ đựợc xay nhỏ, nấu để tách mỡ, phần bã còn lại sẽ được sấy khô và nghiền trở thành bột cá Tra làm thức ăn cho thủy sản và chăn nuôi

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

2.2.1 Các phương pháp bảo quản phụ phẩm cá Tra làm thức ăn trong chăn nuôi

@ Làm khô

Dự trữ bằng phương pháp làm khô các loại thức ăn, các vật dụng trong gia đình đã được con người biết đến rất sớm vì nó đơn giản, dễ làm Những nơi thuộc vùng cao thì

áp dụng phương pháp này nhiều hơn

Nguyên lý của việc làm khô

Nước khuếch tán từ bên trong ra bề mặt của khối thực liệu và từ bề mặt bốc hơi ra khỏi khối thực liệu Quá trình diễn ra liên tục trong khi phơi đến lúc thực liệu được coi như là khô có thể dự trữ được Tốc độ làm khô phụ thuộc nhiệt độ môi trường và thời gian làm khô

Ở giai đoạn đầu việc làm khô phụ thuộc vào hơi nước thoát ra khỏi bề mặt của vật liệu được làm khô Sau đó nó còn chịu ảnh hưởng vào hơi nước thoát ra khỏi bề mặt và cả tốc độ khuếch tán từ trong lòng khối vật liệu ra ngoài bề mặt Do đó giai đọan đầu, tốc

độ làm khô không đổi do lệ thuộc vào sự chuyển khối trên bề mặt của khối vật liệu Sau đó tốc độ này giảm do phụ thuộc vào tốc độ khuyếch tán hơi nước từ trong ra ngoài (Lê Minh Kha, 3003)

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình làm khô

- Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí: Nhiệt độ thấp thì quá trình làm khô sẽ chậm

Nhưng nếu nhiệt độ quá thấp thì quá trình làm khô sẽ ngừng lại Nhiệt độ cao quá trình làm khô sẽ nhanh hơn Ngược lại nếu quá cao sẽ làm chín khối vật liệu, mà

không làm khô khối vật liệu

- Ảnh hưởng của tốc độ gió: Nếu làm khô trong điều kiện có gió thì hơi nước được

đẩy khỏi bề mặt vật liệu nhanh hơn Do đó trong quá trình làm khô vật liệu người ta thường tạo điều kiện có gió để đẩy nhanh quá trình làm khô

- Ảnh hưởng của ẩm độ không khí: Ẩm độ thấp thì quá trình thoát hơi nước ra khỏi

vật liệu sẽ mau hơn, quá trình làm khô nhanh hơn Ẩm độ cao sự thoát hơi nước của khối vật liệu bị hạn chế, quá trình làm khô sẽ chậm lại Ẩm độ trên 60% quá trình làm

khô giảm, 80% thì sự làm khô bị dừng và hút ẩm, ẩm độ thích hợp là 50-65%

- Ảnh hưởng của kích thước và bản thân của nguyên liệu: Nguyên liệu được nghiền

nhỏ và dàn mỏng thì quá trình làm khô sẽ nhanh hơn những nguyên liệu có kích thước

to và không được dàn mỏng Nguyên liệu có hàm lượng nước cao trong quá trình làm

khô chậm hơn những nguyên liệu có hàm lượng nước thấp hơn

Các phương pháp làm khô

- Phương pháp sấy

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

+ Sấy bằng không khí nóng ở điều kiện áp lực thường: Dùng nhiệt độ ở điều kiện thường để làm hơi nước thoát ra khỏi vật liệu cần làm khô, thường tạo thêm điều kiện

có gió khi sấy để vật liệu mau khô hơn

Phương tiện dùng đơn giản là một vĩ sấy đặt ở trên nguồn nhiệt, nhiệt độ chạy đều dưới vĩ sấy từ đầu nầy đến đầu kia nhờ hệ thống quạt Nguyên liệu được trải mỏng trên vĩ sấy và thường xuyên được đảo lộn để tạo điều kiện cho vật liệu tiếp xúc đều với nhiệt độ

Nguồn nhiệt thường được sử dụng ở đây là: Than đá, than gỗ, điện v.v đây là những vật liệu rẻ tiền cho hiệu quả cao

+ Sấy bằng bức xạ nhiệt: Khi tia hồng ngoại chiếu vào vật liệu sấy thì năng lượng của

nó biến thành nhiệt độ một cách nhanh chóng và làm cho nước trong vật liệu bị bốc hơi đi Đặc biệt tia hồng ngoại có tính xuyên cao nên vật liệu sấy trong thời gian rất ngắn

Dụng cụ thường dùng trong phương pháp này là: Bóng đèn hồng ngoại, khí nóng khi đốt thanh kim loại hay thanh sứ, năng lượng mặt trời v.v

+ Sấy chân không: Dưới độ chân không thấp thì nhiệt bốc hơi của nước thấp, sản phẩm của phương pháp này sẽ ít bị biến tính nhiều, nếu sau khi sấy mà ta cho sản phẩm này vào nước thì chúng trở lại trạng thái gần như ban đầu

- Phương pháp sử dụng năng lượng mặt trời

Đây là phương pháp được áp dụng từ rất sớm, do nó đơn giản và dễ áp dụng Người ta chỉ cần trải vật liệu mỏng ngoài trời khi có nắng, nhiệt độ của mặt trời sẽ làm cho hơi nước trong vật liệu bốc hơi đi

Nhược điểm của phương pháp này là nguyên liệu dễ bị nhiễm bẩn, nhiễm vi sinh vật gây mầm bệnh cho vật nuôi Để khắc phục tình trạng này người ta chế tạo ra “Buồng sấy dùng năng lượng mặt trời”, “Liều sấy dùng năng lượng mặt trời” Nguyên tắc cơ bản của hai dụng cụ này là ở đáy nơi trải vật liệu lên thì có màu đen nhằm hấp thu năng lượng của mặt trời, tăng nhiệt độ sấy tại nơi sấy Phía trên và xung quanh được bao kín bằng vật liệu trong suốt để tia nắng mặt trời có thể xuyên qua Tạo nên hiệu ứng nhà kín, tăng nhiệt độ bên trong Đồng thời hạn chế được chất bẩn, cũng như vi sinh vật xâm nhập vào vật liệu sấy (Lê Minh Kha, 2003)

@Ủ chua

Định nghĩa

Là biện pháp sinh vật học để bảo quản thức ăn nhiều nước Dùng kỹ thuật ủ yếm khí thức ăn, nhờ hệ vi sinh vật lên men lactic tạo ra một lượng acid hữu cơ để ức chế các hoạt động của vi sinh vật khác Quá trình lên men lactic xảy ra nhờ chính nhóm vi Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

khuẩn lactic trên bề mặt các chất thêm vào Nhằm cung cấp carbohydrat cho mẻ ủ hoặc nhờ phương pháp bổ sung thêm một số hóa chất tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lên men (Bùi Văn Chính, 1995)

Ủ chua để dự trữ thức ăn ở trạng thái tươi là phương pháp đã có từ lâu đời và phát triển rộng rãi với qui mô lớn ở nhiều nước trên thế giới Bên cạnh việc ủ chua các lọai

cỏ cây và phụ phẩm có nguồn gốc thực vật sử dụng cho đại gia súc Một số tác giả đã nghiên cứu thành công ủ chua các lọai thức ăn và phụ phẩm có nguồn gốc động vật, bằng hai phương pháp ủ lên men và ủ bằng acid Nguyên tắc ủ cá và phụ phẩm động vật cũng giống như những thức ăn khác, tạo đìều kiện yếm khí và quá trình lên men nhanh để nguyên liệu ủ không bị hư

Sử dụng mật đường trong quá trình ủ chua

Mật đường là sản phẩm phụ của công nghiệp sản xuất đường mía hay đường củ cải Chúng thường có hàm lượng đường dễ hòa tan cao: 700g / 1 kg chất khô của rỉ mật Bùi Văn Chính, 1995) Theo Đỗ Thành Phương (2001) khi trộn mật đường vào trong

mẻ ủ chua thì nó được xem như là nguồn cung cấp năng lượng cho các vi sinh vật acid lactic lên men Đối với những thức ăn thô, ngũ cốc nghèo carbohydrat hòa tan thì mật đường được trộn vào mẻ ủ còn có tác dụng là cung cấp thêm nguồn carbohydrat

Khi bổ sung rỉ mật vào cây cỏ ủ chua sẽ làm tăng quá trình lêm men lactic, làm hạ pH xuống dưới 4.5 – 4 Đồng thời làm giảm rõ rệt hàm lượng amoniac trong thức ăn Do

đó làm tăng chất lượng của thức ăn ủ chua (Bùi Văn Chính, 1995)

Lợi ích của việc ủ chua thức ăn

Việc dự trữ thức ăn nhiều nước bằng phương pháp phơi, sấy thì rất thuận lợi và dễ dàng trong mùa nắng Nhưng khi mùa mưa nhiều thì phương pháp này rất khó làm và tốn kém Đối với dự trữ bằng phường pháp ủ chua thì rất thích hợp trong mùa mưa, kể

cả trong mùa nắng Đây là phương pháp dễ thực hiện và không đòi hỏi nhiều trang thiết bị

Theo Nguyễn Thị Hồng Nhân (2005), ủ chua thức ăn có những lợi ích sau đây:

+ Ít bị hao hụt dưỡng chất: Đối với cỏ nếu ủ chua đúng phương pháp thì trung bình chỉ tổn thất dưỡng chất không quá 10%, hao hụt protein không đáng kể Trong điều kiện bình thường, cỏ khô trung bình dưỡng chất bị tổn thất 30% Trong điều kiện thời tiết xấu có thể lên đến 40-50 %

+ Thức ăn có tỷ lệ tiêu hóa tương đối cao

+ Có thể dự trữ trong một thời gian dài mà không bị biến chất

+ Rất ít bị phụ thuộc vào điều kiện thời tiết

+ Có thể tận dụng được rộng rãi các nguyên liệu làm thức ăn cho gia súc

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

+ Có lợi ích về mặt kinh tế: các dụng cụ thiết bị ủ rẽ tiền và dễ làm

Nguyên lý của ủ chua thức ăn

Quá trình ủ chua thông qua 3 giai đoạn chính: Hô hấp hiếu khí, hô hấp kỵ khí và lên men vi sinh vật

- Hô hấp hiếu khí

Đây là giai đọan hô hấp của các vi sinh vật hiếu khí tạo ra khí CO2, và tác dụng lên men của thức ăn sinh ra nhiệt, làm tăng nhiệt độ và khí CO2 trong mẻ ủ Quá trình này xảy ra tương đối mạnh và kéo dài trong 5-6 giờ sau khi ủ Nếu mẻ ủ không được nén chặt thì không khí còn sót lại nhiều, làm quá trình hô hấp hiếu khí càng mạnh và càng kéo dài Khi đó thức ăn ủ chua càng nóng lên, lượng CO2 được sinh ra nhiều Nếu nhiệt độ sinh khối ủ cao hơn 400C thì protein và các acid amin sẽ phản ứng với đường tạo thành những phức hợp bền vững mà gia súc không thể hấp thu được (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2005) Vì vậy để hạn chế giai đoạn này cần phải loại trừ không khí trong

mẻ ủ càng nhiều càng tốt

- Hô hấp yếm khí (quá trình tự phân giải )

Giai đoạn này lượng oxy trong mẻ ủ giảm dần, đến một lúc nào đó thì lượng oxy trong

mẻ ủ không còn nữa Đây là điều kiện cho các vi khuẩn yếm khí và lên men yếm khí hoạt động Chúng phân giải đường tạo thành các chất hữu cơ như acid lactic:

C6H12O6 2 C2H5OH + 2 CO2 + 105 Kj

C2H5OH + O2 CH3COOH +H2O

Những sản phẩm này tích lũy dần trong mẻ ủ, làm cho pH của mẻ ủ từ từ giảm xuống

ức chế hoạt động của các vi khuẩn lên men thối Ở giai đọan này có thể có hoạt động của một số vi sinh vật lên men thối do pH giảm chưa nhiều Để hạn chế vi sinh vật lên men thối người ta thường thêm vào mẻ ủ những chất ức chế hoạt động của chúng hay chất làm pH giảm xuống nhanh ( pH từ 4.5-3.8) Thời kỳ này men phân giải protid cho pepton và các acid amin đã hoạt động mạnh, chất đạm tăng lên rõ rệt và tương đối nhanh

- Lên men vi sinh vật

Vi khuẩn lactic phát triển mạnh mẽ và acid lactic tích tụ được nhiều Phần lớn các vi khuẩn gây thối bị ức chế vì pH của môi trường giảm Thời kỳ này rất quan trọng trong quá trình lên men lactic Vì sản phẩm tích tụ được lượng acid cao và có hương vị đặc trưng cho sản phẩm Sự chuyển hóa chất hữu cơ tạo thành hương thơm là rất phức tạp, đòi hỏi thời gian cần thiết Khi acid lactic tích tụ một lượng quá nhiều thì các vi khuẩn lactic cũng bị ức chế Nếu trên bề mặt xuất hiện những lớp váng trắng nghĩa là các Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

nấm mốc, nấm men phát triển Các vi sinh vật này ăn acid lactic làm cho pH của mẻ ủ giảm xuống, tạo điều kiện cho các vi sinh vật gây thối hoạt động

Quá trình lên men trong ủ chua nhờ hai nhóm vi khuẩn Lactic và Clostridium, gồm có hai dạng: Lên men lactic hemoferment và hetroferment

Lên men lactic dạng hemoferment là quá trình lên men dễ hòa tan của vi sinh vật và các sản phẩm chính tạo thành là acid lactic và một phần acid hữu cơ khác

Glucose 2 acid lactic

Fructose 2 acid lactic

Pentose 1 acid lactic + 1 acid axetic

Lên men dạng heteroferment của vi sinh vật là quá trình lên men không chỉ tạo ra acid lactic mà còn sản sinh ra các sản phẩm phụ khác (như rượu, CO2, mannitol v.v ) Glucose acid lactic + ethanol + CO2

Fructose acid lactic + mannitol + acid axetic + CO2

Tóm lại các vi sinh vật gây chua, các vi sinh vật và enzym phân giải protid quyết định

sự lên men Nếu chúng hoạt động càng mạnh thì càng tốt Vì vậy khi ủ chua tạo điều kiện cho chúng phát triển mạnh như: nén chặt, đẩy nhanh sự giảm pH, thêm chất ức chế các vi sinh vật lạ v.v

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ủ chua thức ăn

- Độ pH: Đây là điều kiện quyết định mẻ ủ có thành công hay không, pH ở khoảng 4-5

là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn lên men lactic hoạt động tốt Và cũng là điều kiện

ức chế hoạt động của vi sinh vật gây thối làm hư hại vật liệu ủ Nếu pH cao ( kiềm tính ) việc ủ chua hoàn toàn bị thất bại Vì đây là điều kiện tốt cho vi sinh vật gây thối phát triển, ức chế hoạt động của vi khuẩn lên men lactic Ngược lại, nếu pH quá thấp (dưới 3.5) thì ức chế hoạt động của cả vi khuẩn lên men lactic, quá trình lên men sẽ bị dừng lại

- Lượng nước: Theo Dương Thanh Liêm và ctv ( 1982 ) thức ăn đem ủ tương đối khô thì việc nén sẽ khó khăn, không nén chặt được còn nhiều lỗ trống chứa không khí trong khối thực liệu Tạo điều kiện cho vi khuẩn hô hấp hiếu khí hoạt động mạnh, các

vi khuẩn gây thối phát triển nhanh chống ức chế hoạt động của vi khuẩn lên men lactic nên việc ủ chua bị thất bại

- Nhiệt độ: Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng rất lớn đến thời gian lên men, ảnh hưởng đến lượng acid cũng như acid amin, lượng NH3 tạo thành Mỗi loài vi sinh vật có một khoảng nhiệt độ thích hợp để hoạt động

+ Vi khuẩn lactic ưa ấm: 25-350C

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

+ Vi khuẩn lactic ưa nhiệt: 40-450C

+ Vi khuẩn lactic ưa lạnh: 50C hoặc thấp hơn

+ Đối với enzym thủy phân: Nhiệt độ hoạt động thích hợp là 37-500C

- Không khí: Sự lên men chua được tiến hành trong điều kiện yếm khí Vì các vi khuẩn lên men lactic hoạt động tốt trong điều kiện không có oxy không khí Các vi sinh vật khác như vi khuẩn axetic, các nấm men, nấm mốc hoạt động trong điều kiện hiếu khí cao độ Do cần tạo điều kiện yếm khí trong khi ủ bằng cách nén thật chặt để loại không khí và làm kín, ngăn không cho không khí vào

- Kích thước nguyên liệu: Nguyên liệu có kích thước càng nhỏ càng dễ nén, tạo điều kiện yếm khí dễ dàng khi ủ Ngược lại, nguyên liệu có kích thước lớn việc nén khó khăn và để lại nhiều lổ trống chứa không khí trong mẻ ủ

- Hydratcarbon: Theo Bùi Văn Chính (1995) hydratcarbon có vai trò quan trọng trong quá trình ủ chua Đồng thời cung cấp thêm nguồn vi sinh vật có sẵn trên bề mặt của chúng và tham gia vào quá trình lên men lactic Là đối tượng đầu tiên bị phân giải bởi các men vi sinh tạo ra đường, làm nguyên liệu cho nhóm vi khuẩn lên men lactic hoạt động Hydratcarbon bị biến đổi nhanh nhất trong quá trình ủ chua do tạo thành acid lactic và các acid hữu cơ khác Nếu bổ sung vào một lượng thích hợp làm tăng nhanh quá trình lên men lactic, hạ pH xuống dưới 4.5 – 4 Đồng thời làm giảm rõ rệt hàm lượng amoniac trong bột cá ủ chua, làm tăng chất lượng của bột cá ủ chua Các loại nguyên liệu có thể sử dụng để bổ sung nguồn hydratcarbon trong ủ chua bột cá là: Cám, rỉ mật đường, bột các loại khoai củ v.v Đã có nhiều nghiên cứu bổ sung chúng trong ủ cá với các tỉ lệ khác nhau Theo Devedra và Gohl (1970) công thức ủ là 50%

cá + 20% bột citric + 20 bột lúa mì + 10 rỉ mật đường hoặc 58% cá + 40% bột lúa mì

và 2% mạch nha Trong thành phần ủ chua, đảm bảo nguyên liệu chiếm 60%, hydratcarbon chiếm 40% Còn theo Domunguez (1988) đề nghị sử dụng bột các loại khoai như là nguồn hydratcarbon để ủ cá với tỷ lệ sau: 30-50% bột khoai củ, 10% rỉ mật, 40-60% phụ phẩm cá

Đánh giá chất lượng của thức ăn ủ chua

Người ta dựa vào độ pH, hàm lượng các acid hữu cơ, hàm lượng amoniac, hàm lượng nước để đánh giá chất lượng ủ chua

Khi pH đạt giá trị 4.5-3.8, chất lượng ủ chua được coi là tốt nhất Giá trị pH càng cao thì chất lượng ủ chua càng kém Khi pH của mẻ ủ chua đạt 5-6 thì hàm lượng acid lactic thường thấp, còn hàm lượng acid axetic và butyric khá cao Đồng thời hàm lượng amoniac rất cao Hàm lượng acid lactic càng cao thì chất lượng ủ chua càng tốt Người ta cũng dựa vào màu sắc, mùi vị của thức ăn ủ chua để đánh giá chất lượng Thức ăn phải có màu đặc trưng của nó và có mùi đặc trưng của acid lactic Ngược lại Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

ta thấy có màu trắng tức là có nấm mốc phát triển, mùi hôi thối Điều đó chứng tỏ là thức ăn ủ chua đã hư

2.2.2 Sản xuất bột cá

Nguyễn Tấn Lộc (2006) đã điều tra vào tháng 10/2005, ở một số tỉnh của ĐBSCL các

cơ sở sản xuất bột cá từ phụ phẩm cá Tra, cá Basa đều sử dụng một trong ba qui trình sau:

Phần bã: người ta vớt cho vào cần xé để ráo nước Sau đó cho vào chảo sấy lần một bằng than đá với nhiệt độ là 700-8000C Nhưng nhiệt độ trên mặt chảo nơi tiếp xúc với

bã cá khoảng 400C, sấy khoảng 8 giờ Sau đó để nguội trộn hóa chất chống nấm mốc, chống oxy hóa, và cho vào chảo sấy lần hai Cuối cùng là nghiền thành phẩm Tùy theo giá bán bột cá thành phẩm là 100% bột cá hay có thể trộn thêm bột bắp, bột mì khác nhau

Phần nước: Phần nước để chế biến nước mắm bán, phần này rất dễ gây ô nhiễm môi trường Nếu dự trữ thời gian lâu sẽ có mùi hôi thối

-Phần thịt vụn thường để chế biến riêng, vì bột thịt này có hàm lượng đạm cao hơn Đồng thời với giá bán cao hơn rất nhiều (7000-8000đ/kg) so với bột đầu xương (3600-4000đ/kg) Đối với thịt vụn thì bỏ qua công đoạn xay, chỉ bắt đầu từ công đoạn nấu Các công đoạn sau giống như qui trình sản xuất bột đầu xương

Qui trình 2

Đầu xương sau khi tách nội tạng có thể trộn với da hoặc thịt vụn đem xay nhuyễn, nấu, để nguội Sau đó cho vào chảo để khử mỡ, còn phần bã và phần nước không tách riêng mà cho phụ phẩm bột mì vào tiếp tục nấu cô đặc lại, phần đó gọi là bột ướt Bột ướt tiếp tục được đem phơi nắng, sau đó sấy bằng máy, nghiền thành bột cá

Với qui trình không có tách phần nước dự trữ riêng nên hạn chế được ô nhiễm môi trường Nhưng cần có một sân bãi lớn để phơi bột cá hoặc lò sấy để làm khô, sau đó xay nhuyễn bột cá Trong quá trình phơi cũng bốc mùi hôi làm ô nhiễm môi trường xung quanh

Qui trình 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

Phần bụng cá xay rồi nấu để tách mỡ riêng Sau đó chế biến mỡ lại, phần bã vớt đem xay, ly tâm rồi đánh tơi, cho vào vĩ sấy, để nguội nghiền thành bột cá khô

Đầu xương đem nấu, dùng vợt vớt ra, đem xay, rồi ly tâm cho rỏ nước, trong quá trình

ly tâm có đảo cho nứơc rỏ đều Sau khi ly tâm bã cá cho vào máy đánh tơi Sau đó cho vào vĩ sấy, hệ thống sấy (đốt bằng than đá) gồm một đầu có quạt đẩy, một đầu có quạt hút Vĩ sấy ở đầu có quạt đẩy thì phải đảo thường xuyên vì ở gần lửa, đốt bằng than đá

dễ cháy mẫu Sau khi sấy để nguội và nghiền thành phẩm

Phần nước sau ly tâm và sau khi tách mỡ, tách cái bán cho người dân làm thức ăn gia súc, làm nước mắm

Theo phân tích của Nguyễn Tấn Lộc (2006) thì chất lượng dinh dưỡng của bột cá sản xuất từ phụ phẩm cá Tra, cá Basa như sau:

Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của bột cá sản xuất từ thịt vụn, thịt vụn + đầu xương

Trang 20

Bảng 2 2: Thành phần hóa học của bột cá sản xuất từ phụ phẩm đầu xương cá Tra

Nơi lấy mẫu

Chỉ tiêu

Cần Thơ

Cần Thơ

Cần Thơ

Vĩnh Long

Tiền Giang

Đồng Tháp

Trang 21

2.3 Giống heo Yorkshire

Heo Yorkshire có nguồn gốc từ vùng Yorshire của Anh Có ba nhóm heo được phân theo kiểu hình:

+ Yorkshire Small White

+ Yorkhire Middle White

+ Yorkshire Large White

Từ những năm 30, heo Yorkshire Middle White đã nhập vào Việt Nam có lông da trắng, lưng thẳng, bụng gọn, tai vừa, đứng, mõm ngắn và gãy, mặt nhăn, chân hơi ngắn Do đó nhiều heo hiện tại ở Đồng Bằng Sông Cửu Long vẫn còn có kiểu hình này Ngoại hình: lông da trắng có thể có đốm đen Mặt rộng, mõm thẳng, tai vừa, đứng hoặc hơi nghiêng về phía trước Cổ trung bình, bụng gọn, lưng thẳng, mông nở, đùi to, vai lớn đây là heo hướng nạt

+ Hiệu suất thịt là 74%, trọng lượng trưởng thành là 300-400kg Có thể đạt 112 kg lúc 7.5-8 tháng tuổi

+ Số con đẻ ra là 11 con /ổ, trọng lượng sơ sinh là 1.25 kg/con

Trong thời gian từ năm 1980, nhất là sau năm 1989, heo Yorkshire Large White được nhập vào Việt Nam nhiều với các dòng khác nhau (theo quốc gia) như: Bỉ, Canada,

Úc, Nhật, Mỹ v.v Có ngoại hình như mô tả trên nhưng tính năng sản xuất được cải thiện nhiều, nhất là độ dày mỡ lưng mỏng, nhiều nạc, tỉ lệ thịt đùi cao Heo Yorekshire Large White thích nghi với điều kiện Đồng Bằng Sông Cửu Long, phát triển tốt và được xem là giống heo có trong nhiều công thức lai ở cơ sở và nông hộ (Trương Chí Sơn, 1999)

2.4 Cấu tạo và chức năng bộ máy tiêu hóa của heo

Miệng: Dùng để lấy thức ăn Thức ăn vào miệng được răng nghiền nhỏ để dễ tiêu

hóa Đồng thời được làm ướt bởi nước bọt được tiết ra bởi ba tuyến lớn là: Tuyến mang tai, tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi Tác dụng của nước bọt là làm ướt thức ăn

để dễ nhai, làm dính thức ăn thành từng viên giúp động vật nuốt dễ dàng Trong nước bọt có hai men tiêu hóa là Amylase và Maltase có tác dụng tiêu hóa tinh bột

Tinh bột Amylase Maltose

Maltose Maltase Glucose

Yết hầu: Nằm kế xoang miệng đó là một ống ngắn, dài khoảng 3- 4 cm, thông với hốc

mũi, miệng, thanh quản và thực quản Nhiệm vụ của yếu hầu là dẫn thức ăn vào thực quản và đưa không khí vào khí quản

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

Thực quản: Là một ống thông từ yếu hầu đến dạ dày Chia làm ba phần: phần cổ,

phần ngực và phần bụng Nhiệm vụ của thực quản là chuyển thức ăn từ miệng xuống

dạ dày

Dạ dày: Có hình chữ J, cửa vào gọi là thượng vị, cửa ra gọi là hạ vị Niêm mạc mặt

trong dạ dày chứa nhiều tuyến tiết dịch tiêu hóa, được chia làm 4 vùng: Vùng thực quản, không tuyến; vùng tuyến thượng vị; vùng tuyến thân vị; vùng tuyến hạ vị Chức năng dạ dày chứa thức ăn, nghiền, tiết dịch vị tiêu hóa một phần thức ăn và phần còn lại được chuyển xuống ruột non để tiêu hóa tiếp

Tuyến dạ dày tiết ra acid chlohydric (HCl) làm cho môi trường dạ dày có pH thấp Men tiêu hóa dạ dày là men pepsin có tác dụng phân giải protein của thức ăn thành polypeptid, pepton và một ít acid amin

Ruột: Là một ống dài gấp đi gấp lại nhiều lần, bắt đầu từ hạ vị và tận cùng là hậu

môn Đây là nơi diễn ra sự tiêu hóa và hấp thu mạnh nhất của bộ máy tiêu hóa Tùy chức năng chúng được chia ra hai phần đó là ruột non và ruột già Ruột non có tổng chiều dài khoảng 15- 20 mét, đường kính 2-3 cm được chia thành 3 đoạn không ranh giới rõ ràng gồm: Tá tràng, manh tràng và hồi tràng Ruột già có chiều dài khoảng 4 mét gồm: Manh tràng, kết tràng và trực tràng (Lăng Ngọc Huỳnh, 2003)

2.5 Nhu cầu dinh dưỡng của heo

2.5.1 Nhu cầu năng lượng

@ Nhu cầu năng lượng duy trì

Là nhu cầu cần thiết để con heo bảo tồn thể trọng, không tăng cũng không giảm thể trọng Nhu cầu năng lượng duy trì phụ thuộc vào các yếu tố sau: Thể trọng, điều kiện nhiệt độ, tốc độ gió, giới tính v.v

Theo Hoàng Văn Tiến (1995) có thể dùng công thức sau để tính năng lượng duy trì của heo như sau:

Năng lượng duy trì = 0,50 Mj x p0,75 (P là trọng lượng)

@ Nhu cầu năng lượng cho tăng trọng

Theo Hoàng Văn Tiến, 1995 nhu cầu tổng hợp một số chất trong cơ thể như sau: Năng lượng tổng hợp 1 kg protein có thể trung bình khoảng 69 MJ, bản thân 1 kg protein chứa 24 MJ, nghĩa là 45 MJ tiêu tốn cho quá trình tổng hợp

Để chuyển hóa mỡ thành mỡ lợn quá trình đơn giản hơn nhiều Hiệu suất năng lượng tích lũy mỡ là 75% Nhu cầu năng lượng để chuyển hóa 1 kg mỡ là 54 MJ, bản thân 1

kg mỡ chứa 39 MJ, năng lượng cần tổng hợp 1kg mỡ là 15 MJ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

Theo NRC (1988) nhu cầu năng lượng (ME/kg thức ăn) của heo từ sơ sinh đến 100 kg như sau:

Bảng 2.4: Nhu cầu năng lượng của heo từ sơ sinh đến 100kg

Trong lượng heo (kg) ME/kg thức ăn

2.5.2 Nhu cầu protein

Sự phân bố protein trong khẩu phần

Vai trò của protein trong cơ thể động vật:

-Tham gia vào cấu trúc của tế bào

-Cấu tạo nên chất xúc tác tham gia vào các phản ứng trong cơ thể như: Emzym, hoocmon

-Là hệ thống đệm duy trì sự ổn định của pH, hệ thống vận chuyển, dịch gian bào tải nhiều hợp chất phức tạp: các ion và ion kim loại nặng

-Thành phần cấu tạo nên kháng thể bảo vệ cơ thể khỏi sự xâm nhập của mầm bệnh -Tạo nên chất thông tin, chuyển tải, di truyền chủ yếu là nucleoprotein

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

-Cấu trúc nên hệ thống tế bào sinh dục

-Tham gia chuyển tải, phân phối năng lượng và nhiều hợp chất quan trọng trong cơ thể

- Đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát dục bình thường

- Nguyên liệu chính cấu tạo nên sản phẩm chăn nuôi: Thịt, sữa, trứng v.v

Theo Hoàng Văn Tiến, 1995 có ba nguyên lý cơ bản cần phải lưu ý trong dinh dưỡng protein của heo:

+ Protein có nguồn gốc động vật ( bột cá, bột sữa, bột thịt v.v ) và protein nấm men

có giá trị sinh học cao

+ Sự đa dạng trong thành phần thức ăn giúp khắc phục sự thiếu hụt các acid amin Do

đó nên sử dụng nhiều loại thức ăn trộn lại với nhau hơn là dùng một lọai thức ăn đơn điệu

+ Bổ sung vào khẩu phần một lượng protein hơi cao hơn nhu cầu của khẩu phần để đảm bảo cân bằng acid amin trong khẩu phần

Muốn nâng cao hiệu suất sử dụng protein cần đảm bảo tỷ lệ cân đối với năng lượng

Vì quá trình tổng hợp protein trong cơ thể đòi hỏi rất nhiều năng lượng Nếu nguồn năng lượng cung cấp không cân đối với số lượng thì một phần protein tiêu hóa sẽ bị oxy hóa để cung cấp năng lượng

Cơ thể heo không dự trữ các acid amin riêng lẻ được Do đó cơ thể không thể phối hợp acid amin dư trong lần thức ăn trước với acid amin trong lần thức ăn sau Để các acid amin phối hợp được với nhau, thì điều kiện cần thiết là chúng hiện diện cùng một lúc hoặc thời gian càng gần nhau trong cơ thể càng tốt Thời gian tồn trữ acid amin thấp hơn 24 giờ (Lê Thị Mến, 2000)

Heo đang lớn phát triển về xương và cơ thể là chủ yếu, tỷ lệ protein trong toàn bộ cơ thể thay đổi từ 12.4-16.1% Riêng trong bắp cơ tỷ lệ protein chiếm 17-21% Điều đó cho thấy heo rất cần protein để phát triển cơ

Để đảm bảo nhu cầu thức ăn cho heo, không chỉ đơn thuần là cung cấp đủ số lượng

mà đòi hỏi phải cung cấp đầy đủ các acid amin với tỷ lệ phù hợp Các amino acid không cân đối so với nhu cầu của cơ thể sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng chúng, làm tăng sức tiêu tốn thức ăn để làm ra một đơn vị sản xuất trong chăn nuôi

Theo Hoàng Văn Tiến (1995) cơ thể heo cũng như nhiều động vật khác, thực vật khác

kể cả con người được cấu tạo từ 21 loại acid amin khác nhau Trong số 21 acid amin

có 9 acid amin mà cơ thể heo không thể tổng hợp được mà phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung cấp từ thức ăn, được gọi là acid amin không thay thế Còn 12 acid amin kia cơ thể heo có thể tổng hợp từ các loại acid amin khác do thức ăn cung cấp Nếu số Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

lượng acid amin không thay thế, không được cung cấp đầy đủ và cân đối với các lọai acid amin khác và năng lượng thì hiệu quả sử dụng protein sẽ rất thấp gây lãng phí Khi thiếu protein sẽ đưa đến sự tác hại, đặc biệt là heo con sự sinh trưởng sẽ chậm lại, khả năng sống kém Nếu thiếu kéo dài thì quá trình trao đổi chất sẽ rối loạn (Trần Cừ,1982)

Theo NRC (1988) nhu cầu protein ở heo như sau

Bảng 2.5: Nhu cầu protein ở heo từ sơ sinh đến 100 kg

Trọng lượng heo (kg) Nhu cầu protein (%)

(NRC, 1988)

Theo Hoàng Văn Tiến (1995) tiêu chuẩn dinh dưỡng cho lợn nuôi thịt như sau:

Bảng 2.6: Tiêu chuẩn dinh dưỡng cho lợn ngoại nuôi thịt

Thể trọng (kg)

Ngày tuổi

5-10 21-40

11-25 41-70

26-60 71-130

61-100 131-180 Vật chất khô phải đạt (%)

Năng lượng trao đổi (kcal/kg thức ăn)

90

3320

18 1,1 0,65 1,05 0,75

87

3040

15 0,8 0,5 0,8 0,6

87

3040

13 0,7 0,42 0,7 0,5

(Hoàng Văn Tiến, 1995) 2.6 Các phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa ở heo

2.6.1 Khái niệm về tỷ lệ tiêu hóa

Sự tiêu hóa là giai đoạn đầu của việc nuôi dưỡng Do đó việc nghiên cứu sự tiêu hóa

là bước đầu cần phải làm trong việc nghiên cứu dinh dưỡng của thức ăn Quá trình này diễn ra dưới tác động vật lý như: Sự nhai nghiền thức ăn, sự nhu động ruột để phân Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

tán thức ăn thành những viên nhỏ Đồng thời cũng diễn ra dưới tác động của vi sinh vật và tác động hóa học như: tác động của emzym tiêu hóa để biến đổi chất dinh dưỡng có phân tử lớn như protein, tinh bột lipid v.v thành các chất dinh dưỡng có phân tử nhỏ dễ tiêu hóa như acid amin, glucose và glycerin, acid béo v.v Rồi mới hấp thu qua niêm mạc ruột vào máu Lúc này cơ thể mới hấp thu được Phần còn lại không được tiêu hóa hấp thu của thức ăn, cùng với cặn bã của dịch tiêu hóa, niêm mạc biểu

bì, xác vi sinh vật và những sản phẩm trao đổi chất khác được tống ra ngoài gọi là phân

Từ đó ta nói tỷ lệ tiêu hóa thức ăn là tỷ lệ phần trăm giữa các chất dinh dưỡng tiêu hóa hấp thu so với chất dinh dưỡng ăn vào Công thức tính như sau:

TLTH% = (Lượng chất dinh dưỡng ăn vào – lượng chất dinh dưỡng thải trong phân)*100/Lượng chất dinh dưỡng ăn vào

Thí nghiệm để xác định tỷ lệ tiêu hóa bằng các phương pháp sau: Phương pháp trực tiếp, phương pháp gián tiếp hay phương pháp xác định chất chỉ thị màu

2.6.2 Phương pháp trực tiếp

Toàn bộ lượng thức ăn thí nghiệm, lượng phân và lượng nước tiểu thải ra trong thí nghiệm phải được cân, đong, ghi chép cẩn thận, đầy đủ và chính xác Phân tích hàm lượng dưỡng chất của chúng, từ đó ta tính được tỷ lệ tiêu hóa của dưỡng chất ấy Thức

ăn nên trộn đều để cho heo thí nghiệm ăn trước thí nghiệm trong thời gian nhất định Nhằm để tạo cho con vật thích nghi với thức ăn và làm sạch bộ máy tiêu hóa của những thức ăn trước Số heo thí nghiệm cũng có số lượng nhất định Theo tài liệu của Schiemann (1981) thì thời gian thí nghiệm tiêu hóa đối với heo từ 40-90 kg thể trọng gồm thời gian chuẩn bị là 7 ngày, thời gian thí nghiệm là 5 ngày Số lượng heo thí nghiệm tối thiểu là 3 con Công thức tính tỷ lệ tiêu hóa trực tiếp như sau:

TLTH% = (Lượng chất dinh dưỡng ăn - lượng chất dinh dưỡng thải ra trong phân)*100/ Lượng dưỡng chất ăn vào

Heo được nuôi nhốt trong lồng thử tiêu hóa biến dưỡng, chuồng này có thể điều chỉnh vừa kích thước của thú Nhưng có thể cử động đứng lên nằm xuống dễ dàng Sàn chuồng làm bằng song sắt, ở giữa khoảng 1/3 lồng trở về sau thì không có song sắt để phân và nước tiểu lọt xuống dễ dàng mà không bị dính lại làm sai số khi thu thập Ở nơi hứng nước tiểu có lưới căng ngang để tránh chất khác lọt vào

2.6.3 Phương pháp gián tiếp hay sử dụng chất chỉ thị màu

Đây là phương pháp không cần đo toàn bộ lượng chất dinh dưỡng ăn vào, cùng toàn

bộ lượng chất dinh dưỡng thải ra theo phân như phương pháp trên.Vì làm như thế rất tốn kém và mất nhiều công sức để thử mức tiêu hóa Hơn nữa, trong một số trường hợp thiếu trang thiết bị hay điều kiện thí nghiệm không thể đo lường trực tiếp lượng Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

thức ăn mà thú ăn được, và lượng phân mà thú thải ra Cho nên người ta xác định gián tiếp với việc sử dụng “chất chỉ thị màu” Các chất này có thể trộn vào thức ăn như cromic oxid (Cr2O3), hay là những chất có sẳn trong thức ăn như lignin, chất khoáng không tan Trong thí nghiệm này mẫu đại diện của thức ăn và phân phải được lấy và phân tích hàm lượng chất chỉ thị màu và chất dinh dưỡng trong phân, cũng như trong thức ăn rồi áp dụng công thức tính tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến của tác giả Merchen (1987) như sau:

TLTH (%) =100-100 x %chất chỉ thị trong thức ăn x % chất dd trong phân

%chất chỉ thị trong phân %chất dd trong TĂ

Để cho việc xác định chính xác thì các yêu cầu chất chỉ thị phải đạt các yêu cầu sau đây:

+ Không gây hại cho thú

+ Không làm ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa

+ Không hấp thu, cũng không biến đổi trong ống tiêu hóa

+ Di chuyển cùng tốc độ với thức ăn và phân bố đều trong ống tiêu hóa

+ Có thể trộn dễ dàng và đều trong thức ăn

+ Dễ dàng phân tích chất chỉ thị này trong thức ăn cũng như trong phân

2.6.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa thức ăn của heo

Giống: Do khác nhau về cách chăn nuôi nên có ảnh hưởng đến cấu tạo và phát triển

của bộ máy tiêu hóa.Vì thế giữa các giống khác nhau có thể có khả năng tiêu hóa khác nhau.Ví dụ: Các giống heo nạt có năng suất cao, tiêu hóa chất xơ rất kém Trái lại tiêu hóa thức ăn tinh rất tốt.Vì vậy khẩu phần cần có nồng độ chất dinh dưỡng cao Ngược lại, với giống heo địa phương như heo Móng Cái, Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu hoặc heo Mọi thì có khả năng tiêu hóa chất xơ cao hơn heo ngoại Vì lẽ đó cần nên nghiên cứu tiêu chuẩn, khẩu phần riêng mới đáp ứng tối ưu nhu cầu của chúng

Tuổi: Sự tiêu hóa thức ăn của gia súc cũng phụ thuộc vào sự phát triển của bộ máy

tiêu hóa Sự khác biệt rõ nhất là giữa tuổi trưởng thành và thời kỳ còn bú Thú non còn đang bú sữa thì tiêu hóa tinh bột rất kém Vì chưa có hình thành đầy đủ hệ enzym Nhưng khả năng tiêu hóa chất béo trong sữa và đường lactose lại cao hơn cả thú trưởng thành

Tình trạng bệnh lý: Thú trong tình trạng bệnh lý, nhất là bệnh đường tiêu hóa như

bệnh cầu trùng, viêm ruột tiêu chảy, bệnh thương hàn v.v thì sự tiêu hóa thức ăn kém hơn thú bình thường

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 12/04/2018, 01:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w