1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG PROTEIN của HAI KHẨU PHẦN THỨC ăn đến SINH TRƯỞNG, TIÊU tốn THỨC ăn gà THỊT THƯƠNG PHẨM LƯƠNG PHƯỢNG GIAI đoạn từ 26 54 NGÀY TUỔI NUÔI tại ĐỒNG NAI

72 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 3,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với gà sản xuất hướng trứng protein chiếm 18 – 20%, với gà sản xuất hướng thịt protein chiếm 20 – 25% và protein trong khẩu phần không được phép nhỏ hơn 16%...Lã Thị Thu Minh, 2000.A

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

THẠCH CHỰC

ẢNH HƯỞNG PROTEIN CỦA HAI KHẨU PHẦN THỨC ĂN ĐẾN SINH TRƯỞNG, TIÊU TỐN THỨC ĂN GÀ THỊT THƯƠNG PHẨM

LƯƠNG PHƯỢNG GIAI ĐOẠN

TỪ 26 - 54 NGÀY TUỔI NUÔI

TẠI ĐỒNG NAI

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y

Cần Thơ, 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LƯƠNG PHƯỢNG GIAI ĐOẠN

TỪ 26-54 NGÀY TUỔI NUÔI

TẠI ĐỒNG NAI

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

NGUYỄN NHỰT XUÂN DUNG THẠCH CHỰC

VŨ VĂN HƯỚNG MSSV: 3060581 NGÔ THỊ MINH SƯƠNG Lớp: CN K32

Cần Thơ, 2010

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LƯƠNG PHƯỢNG GIAI ĐOẠN

TỪ 26 - 54 NGÀY TUỔI NUÔI

TẠI ĐỒNG NAI

Cần thơ, ngày tháng năm 2010 Cần thơ, ngày tháng năm 2010

Giáo viên hướng dẫn Duyệt bộ môn

Nguyễn Nhựt Xuân Dung Nguyễn Văn Thu

Ngô Thị Minh Sương

Cần thơ, ngày tháng năm 2010Duyệt khoa Nông nghiệp & SHƯD

Cần Thơ, 2010

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Thạch Chực

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Cảm ơn ba mẹ là người sinh con ra và cực khổ nuôi dạy con nên người

Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Nhựt Xuân Dung là một người cô

đáng kính đã hết lòng dạy bảo và hết lòng hướng dẫn em thực hiện và hoàn thành tốt đề tài

Cảm ơn cô Trần Thị Điệp đã hết lòng giúp đỡ em trong suốt quá trình học và thực

hiện đề tài này

Cảm ơn các thầy cô đã dạy dỗ em từng kiên thức để em nên người

Em xin chân thành cảm ơn BSTY.Nguyễn Thanh Phi Long là người đã hết lòng

hỗ trợ trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn BSTY.Vũ Văn Hướng là người đã giúp đỡ em trong

suốt quá trình thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn chị KS.Ngô Thị Minh Sương đã giúp đỡ suôt thời gian

qua

Cảm ơn anh em trại gà Trà Cổ đã tạo điều kiện và hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm luận văn ở trại

Cảm ơn các bạn học cùng khóa đã hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài

Xin chân thành cảm ơn tất cả quý thầy cô Bộ môn Chăn nuôi khoa Nông Nghiệp

& SHUD trường ĐH Cần Thơ đã trang bị cho em những kiến thức vô cùng quý

báu

Thạch Chực

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM TẠ ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH SÁCH BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ vii

DANH SÁCH HÌNH vii

TÓM LƯỢC ix

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

2.1 Sơ lược về giống gà Lương Phượng 2

2.2 Các giống gà thả vườn nuôi chủ yếu ở Việt Nam 2

2.2.1 Gà Ri 2

2.2.2 Gà Đông Tảo 2

2.2.3 Gà Hồ 2

2.2.4 Gà Mía 2

2.2.5 Gà Ác 3

2.2.6 Gà Ai Cập 3

2.3 Chuồng trại 4

2.3.1 Vai trò chuồng trại trong chăn nuôi 4

2.3.2 Yêu cầu chính của một chuồng nuôi 5

2.3.3 Chọn vị trí xây dựng chuồng trại 5

2.3.4 Hướng chuồng 5

2.3.5 Loại chuồng gà công nghiệp 6

2.4 Phương thức nuôi 7

2.4.1 Nuôi thâm canh trên lớp độn chuồng 7

2.4.2 Nuôi trên sàn 8

2.5 Tiêu chuẩn về điệu kiện tiểu khí hậu 8

2.5.1 Nhiệt độ 8

2.5.2 Ẩm độ 9

2.5.3 Ánh sáng 9

2.5.4 Tốc độ gió 10

2.6 Dinh dưỡng và thức ăn 10

2.6.1 Dinh dưỡng protein 11

2.6.1.1 Vai trò của protein 11

2.6.1.2 các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu và sử dụng protein 13

2.6.2 Vai trò của năng lượng 14

2.6.2.1 Nhu cầu năng lượng cho nhu cầu và sản xuất 16

2.6.2.2 Môi tương quan giữa năng lượng và protein 17

2.6.3 Vai trò chất béo trong dinh dưỡng động vật 18

2.6.4 Vai trò của nước 19

2.6.5 Vai trò của các chất khoáng 20

2.6.6 Vai trò của các vitamin 21

Trang 7

2.7.1 Giai đoạn nuôi úm gà con 21

2.7.2 Giai đoạn nuôi gà thịt 25

2.8 Quy trình vệ sinh phòng bệnh 26

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 28

3.1 Phương tiện thí nghiệm 28

3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 28

3.1.2 Chuồng trại thí nghiệm 28

3.1.3 Động vật thí nghiệm 29

3.1.4 Thức ăn thí nghiệm 30

3.1.5 Dụng cụ thí nghiệm 31

3.2 Phương pháp thí nghiệm 32

3.2.1 Bố trí thí nghiệm 32

3.2.2 Thí nghiệm cân bằng dinh dưỡng 33

3.2.3 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 34

3.2.4 Quy trình phòng bệnh 36

3.2.4.1 Quy trình tiêm vaccine 36

3.2.4.2 Quy trình phòng bệnh 37

3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 37

3.3.1 Tiêu tốn thức ăn 37

3.3.2 Tăng trọng 37

3.3.3 Hệ số chuyển hóa thức ăn (HSCHTA) 38

3.3.4 Tỷ lệ hoa hụt 38

3.3.5 Chỉ tiêu cân bằng dinh dưỡng 38

3.3.6 Các chỉ tiêu phân tích 38

3.3.7 Hiệu quả kinh tế 38

3.4 Xử lý số liệu thống kê 38

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Nhận xét chung về đàn gà thí nghiệm 39

4.2 Kết quả thí nghiệm 39

4.2.1 Tiêu tốn thức ăn trung bình của các nghiệm thức 39

4.2.2 Trọng lượng trung bình qua các tuần tuổi của các nghiệm thức 41

4.2.3 Tăng trọng tuyệt đối trung bình qua các tuần tuổi của các nghiệm thức 42

4.2.4 Tăng trọng trung bình trên ngày của các nghiệm thức 43

4.2.5 Hệ số chuyển hóa thức ăn (HSCHTA) qua các tuần tuổi của các nghiệm thức 44

4.2.6 Tỷ lệ hao hụt 45

4.2.7 Ảnh hưởng của thức ăn thí nghiệm đến tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất 46

4.2.8 Hiệu quả kinh tế của 2 loại khẩu phần thức ăn thí nghiệm 46

Trang 8

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

5.1 Kết luận 47

5.2 Đề nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 9

ME: năng lượng tiêu hóa

TLTHDC: tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất

TLDC: tỷ lệ dưỡng chất

DC: dưỡng chất

Trang 10

DANH SÁCH BẢNG VÀ SƠ ĐỒ Trang

Bảng 2.1: Khả năng sinh trưởng của gà ác Việt Nam 3

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của gà Ai Cập sinh trưởng 4

Bảng 2.3: Tương quan giữa nhiệt độ môi trường và thân nhiệt của gà 9

Bảng 2.4: Năng lượng sinh ra khi đốt cháy 1 gam chất dinh dưỡng 15

Sơ đồ 2.1: Hệ thống biểu thị năng lượng của gia cầm 16

Bảng 2.5: Tỷ lệ chuyển hóa năng lượng vào tăng trọng của gà 16

Bảng 2.6: Chỉ số năng lượng/protein theo giống và tuổi gà 18

Bảng 2.7: Khả năng tiêu hóa các chất béo của gà 19

Bảng 3.1: Thành phần hóa học thức ăn gà Lương Phượng giai đoạn 1-26 ngày tuổi 30

Bảng 3.2: Thành phần hóa học thức ăn gà Lương Phượng giai đoạn 26-42 ngày tuổi Bảng 3.3: Thành phần hóa học thức ăn gà Lương Phượng giai đoạn 43-54 ngày tuổi 31

Bảng 3.4: Cách bố trí thí nghiệm 32

Bảng 3.5: Cách bố trí thí nghiệm cân bằng dinh dưỡng 34

Bảng 3.6: Nhiệt độ úm 35

Bảng 3.7: Quy trình tiêm vaccine của trại gà thí nghiệm 36

Bảng 3.8: Quy trình dùng thuốc của trại gà thí nghiệm 37

Bảng 4.1 Tiêu tốn thức ăn qua các tuần tuổi của gà thí nghiệm ở khẩu phần 1 và khẩu phần 2 (g/con/ngày) 39

Biểu đồ 4 1 Biểu đồ so sánh tiêu tốn thức ăn giữa nghiệm thức 1 và 2 qua các tuần tuổi 39

Biểu đồ 4.1 Biểu đồ so sánh tiêu tốn thức ăn giữa nghiệm thức 1 và 2 qua các tuần tuổi 41

Bảng 4.2 Bảng trọng lượng bình quân qua các tuần tuổi của gà thí nghiệm ở khẩu phần 1 và khẩu phần 2 (g/con) 41

Biểu đồ 4.2 Trọng lượng trung bình của gà khẩu phần 1 và khẩu phần 2 qua các tuần tuổi 42

Bảng 4.3 Tăng trọng tuyệt đối trung bình qua các tuần tuổi của gà thí nghiệm của khẩu phần 1 và khẩu phần 2 (g/con/ngày) 42

Biểu đồ 4.3 Tăng trọng tuyệt đối của gà thí nghiệm ở khẩu phần 1 và khẩu phần 2 qua các tuần tuổi 43

Bảng 4.4 Tăng trọng trung bình trên ngày của gà thí nghiệm ở khẩu phần 1 và khẩu phần 2 (g/con/ngày) 43

Biểu đồ 4.4 Tăng trọng trung bình trên ngày của gà thí nghiệm ở khẩu phần 1 và khẩu phần 2 qua các tuần tuổi Bảng 4.5 Hệ số chuyển hóa thức ăn (HSCHTA) qua các tuần tuổi của gà thí ở khẩu phần 1 và khẩu phần .44

Biểu đồ 4.5 Hệ số chuyển hóa thức ăn của gà thí nghiệm ở 45

khẩu phần 1 và khẩu phần 2 qua các tuần tuổi Bảng 4.6.Tỷ lệ hao hụt của gà lương phượng trong suốt thí nghiệm (%) 45

Bảng 4.7.Tỷ lệ tiêu hóa các dưỡng chất của gà thí nghiệm 46

Trang 11

DANH SÁCH HÌNH

Hình 3.1: Chuồng nuôi gà thí nghiệm 28

Hình 3.2: Máng ăn và máng uống tự động trong chuồng 29

Hình 3.3: Gà trong ô thí nghiệm 29

Hình 3.4: Máy phát điện và phun sương tắm gà 31

Hình 3.5: Bồn pha thuốc cho gà uống 32

Hình 3.6: Trại thí nghiệm ở khẩu phần 1 33

Hình 3.7: Trại thí nghiệm ở khẩu phần 2 33

Trang 12

TÓM LƯỢC

Đề tài “Ảnh hưởng protein của hai khẩu phần thức ăn đến sinh trưởng, tiêu tốn

thức ăn gà thịt thương phẩm Lương Phượng giai đoạn 26-54 ngày tuổi nuôi tại Đồng Nai” Thí nghiệm nuôi dưỡng được bố trí ngẫu nhiên với 2 nghiệm thức là

khẩu phần 1 (KP 1) với 2 mức protein (17,65% CP ở giai đoạn từ 26-42 ngày tuổi)

và (16,20% CP ở giai đoạn từ 43-54 ngày tuổi) tương ứng với nghiệm thức 1 (NT1)

và khẩu phần 2 (KP 2)với 2 mức protein (14,38% CP ở giai đoạn từ 26-42 ngày tuổi) và (13,57% CP ở giai đoạn từ 43-54 ngày tuổi) tương ứng với nghiệm thức 2 (NT2) Mỗi nghiệm thức được nuôi ở mỗi dãy chuồng riêng với 6 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 đơn vị thí nghiệm có 340 con gà thịt Kết quả thí nghiệm được ghi nhận như sau:

Tiêu tốn thức ăn trung bình (g/con/ngày) của KP1 là 57,28 thấp hơn KP2 là 57,61 Trọng lượng bình quân (g/con) của KP1 là 1556,1 cao hơn KP2 là 1505,8.

Tăng trọng tuyệt đối (g/con/ngày) của KP1 là 1514,6 với khác biệt có ý nghĩa với P=0.00 so với KP2 là 1463,4.

Hệ số chuyển hóa thức ăn (kg thức ăn/kg tăng trọng) của 2 nghiệm thức:KP1 là 2,053 và KP2 là 2,113, khác biệt có ý nghĩa với P=0,007.

Tỉ lệ hao hụt (%) của KP1 là 1,9 và KP2 là 2.

Tỉ lệ tiêu hóa dưỡng chất (%) giữa 2 KP đều khác biệt có ý nghĩa với P=0,00 Các chỉ tiêu của KP1 và KP2 lần lượt là: Vật chất khô: 68,63 và 63,4; Chất hữu cơ: 72,76 và 67,35; Nitơ tích lũy: 85,62 và 77,03; Béo thô: 95,01 và 92,43; Xơ trung tính: 31,02 và 36,51.

Tiền lợi nhuận của khẩu phần 1 (KP1=19.385 đồng) và khẩu phần 2 (KP2=18.289 đồng), chênh lệch tiền lợi nhuận (1096 đồng)

Kết quả nghiên cứu trên cho thấy gà của KP1 tăng trọng và chuyển hóa thức ăn tốt hơn gà KP2, khả năng tiêu hóa dưỡng chất trong thức ăn của gà KP1 cũng cao hơn

gà KP2 Cho dù chi phí thức ăn của KP1 cao hơn KP2 nhưng về mặt kinh tế thì KP1 lại cao hơn KP2.

Trang 13

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Tại Việt Nam, chăn nuôi gia cầm đã có tữ lâu đời và cho đến nay nó vẫn được duy trì phổ biến ở nhiều địa phương, bên cạnh đó còn góp phần rất lớn trong việc phát triển kinh tế ở nông hộ và kinh tế đất nước Sản phẩm chủ yếu của ngành gia cầm là thịt và trứng, đó là nguồn cung cấp phần lớn thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Từ đó, trên thế giới đã lấy nhu cầu tiêu dùng sản phẩm chăn nuôi gia cầm làm thước đo mức sống người dân Thịt và trứng gia cầm là loại thực phẩm ngon, bổ dưỡng, dễ chế biến, dễ tiêu hóa, tiêu thụ rỗng rãi và được xem như một trong những protein động vật quan trọng đối với con người

Ngày nay, mức sống của người dân ngày càng tăng cao, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm gia cầm cũng tăng lên một cách rõ rệt, bên cạnh đó, từ khi nước ta gia nhập WTO thì vấn đề cạnh tranh giá bán và chất lượng sản phẩm dang là vấn đề được nhiều nhà chăn nuôi quan tâm Từ đo, mô hình sản xuất theo kiểu truyền thống mang tính tự cung tự cấp, quy mô nhỏ lẻ không còn phù hợp nữa Đứng trước thách thức giá cả thức ăn ngày một tăng ảnh rất lớn đến giá cả sản xuất từ đó đòi hỏi người chăn nuôi phải cung cấp hợp lý chất dinh dưỡng cho vật nuôi để hạ giá thành sản xuất Trong dinh dưỡng động vật protein và năng lượng là hai thành phần đặc biệt quan trọng Người chăn nuôi phải cung cấp đủ nhu cầu protein và năng lượng cho gà mới đảm bảo cho chúng sinh trưởng, sinh sản và phát triển bình thường Tuy nhiên mức sử dụng protein trên gà hiệu quả, phụ thuộc rất nhiều vào nguồn năng lượng cung cấp

từ thức ăn, thiếu hoặc thừa đều không tốt

Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi thực hiện đề tài: “ Ảnh hưởng protein của khẩu phần thức ăn đến sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn lên gà thịt thương phẩm Lương phượng giai đoạn từ 26-54 ngày tuổi nuôi tại Đồng Nai”

Mục tiêu của đề tài: So sánh sự ảnh hưởng protein của 2 khẩu phần thức ăn thí nghiệm đến tăng trọng, tiêu tốn thức ăn của gà Lương Phượng

So sánh hiệu quả kinh tế giữa 2 khẩu phần thức ăn thí nghiệm Từ đó tìm ra mức protein trong khẩu phần thức ăn cho tăng trọng tốt nhất và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất

Trang 14

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về giống gà Lương Phượng

Gà Lương Phượng là một trong những giống gà Tam Hoàng, gà Tam Hoàng có nguồn gốc từ Quảng Đông – Trung Quốc, được nhập vào Việt Nam nước ta vào năm 1992 Gà Tam Hoàng có 3 dòng: dòng 882, dòng Jiangcun và dòng Lương Phượng (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2000)

Là giống gà có ngoại hình giống gà Ri, lông đa dạng sẫm, vàng, đen, cú, màu cờ, yếm, tai màu hồng Gà mái đầu thanh, thân săn chắc, chân thấp nhỏ, màu lông vàng tía đến 8o% Gà có tỷ lệ nuôi sống 96 – 98%, sản lượng trứng 157 – 167 trứng/mái, khối lượng trứng 55 – 56 gam Gà nuôi thịt 70 ngày tuổi con trống nặng 1,87 kg, con mái nặng 1,58 kg, tỷ lệ nuôi sống 93%, tiêu tốn thức ăn 2,53 kg/kg tăng trọng (

5 tháng tuổi) Sản lượng trứng 90 – 120 quả/mái/năm, khối lượng trứng nhỏ (38 –

42 g), gà mái có tính ấp bóng cao, ấp trứng và nuôi con khéo Nuôi thịt có tốc độ tăng trưởng chậm, thịt thơm ngon Gà Ri thích hợp với nuôi chăn thả hoặc bán chăn thả (Đặng Vũ Bình, 2007)

2.2.2 Gà Đông Tảo

Gà Đông Tảo có xuất xứ ở vùng Khoái Châu, Hưng Yên Gà Đông Tảo có thân hình to, gà trống trưởng thành nặng 3,8-4,0 kg/con; gà mái nặng 3,0-3,5 kg/con Lông màu vàng nhạt hoặc hung đỏ, chân to Sản lượng trứng 60-80 quả/năm, trứng nặng 50-55 g/quả (Trịnh Quang Khuê và Nguyễn Văn Vinh, 2003)

2.2.3 Gà Hồ

Gà Hồ có nguồn gốc từ thôn Song Hồ thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh Tầm vóc, hình dáng và màu sắc của gà Hồ tương tự gà Đông Tảo Ở tuổi trưởng thành con trống nặng 3,5 – 4 kg, con mái nặng 3 – 3,5 kg Gà mái đẻ trứng muộn, sản lượng trứng 50 – 60 quả/mái/năm, trứng to (50 – 60 g), tỷ lệ ấp nở thấp, gà mái

ấp trứng và nuôi con vụng (Đặng Vũ Bình, 2007)

2.2.4 Gà Mía

Gà Mía có nguồn gốc từ thôn Đường Lâm thuộc huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây Gà Mía

có tầm vóc tương đối to, mào đơn (mào cờ), con trống có lông màu đen, con mái màu nâu sẫm và có yếm ở lườn Ở tuổi trưởng thành con trống nặng 3 – 3,5 kg, con mái nặng 2 – 2,5 kg Khả năng sinh sản thấp: gà mái đẻ trứng muộn, sản lượng trứng 55 – 60 quả/mái/năm, khối lượng trứng 52 – 58 g (Đặng Vũ Bình, 2007)

Trang 15

Gà Ác là một giống gà đặc biệt ở nước ta, chúng chủ yếu được nuôi nhiều ở vùng nông thôn Miền Nam Gần đây chúng cũng được nuôi nhiều ở Miền Bắc Gà Ác có đầu nhỏ, cổ ngắn, mỏ màu đen Toàn thân có màu lông trắng Da có màu đen, chân

có màu xám xanh, bàn chân có năm ngón (được gọi là ngũ trảo) Gà ác dễ nuôi, thích ứng với nhiều phương thức nuôi dưỡng khác nhau, thích hợp với điều kiện tự nhiên của nước ta, có khả năng kiếm mồi tốt, tỉ lệ nuôi sống cao Đây là giống gà nhỏ được nuôi để ăn thịt, thịt gà được coi là loại thức ăn để bồi bổ sức khỏe Xương

gà cũng có màu xám đen, gà được nuôi đến khi đạt trọng lượng cơ thể khoảng 300g là bán được Gà Ác được nuôi theo đàn nhỏ trong các hộ dân Theo Đào Đức Long (2004) thì gà Ác có các chỉ tiêu năng suất sau: khối lượng cơ thể ở tuổi trưởng thành con trống đạt 700-800g và con mái từ 500-600g Sản lượng trứng đạt 80-90 trứng/mái/năm Khối lượng trứng từ 20-30g Tỉ lệ trứng có phôi 90% Tỉ lệ nở trên tổng số trứng ấp tự nhiên 70-80% Tỉ lệ nuôi sống gà con 90% Khối lượng cơ thể lúc giết thịt được 50-60 ngày tuổi là 250-300g Tiêu tốn thức ăn để tăng 1 kg thể trọng đến lúc giết thịt là 0,8-3,2 kg Riêng theo Nguyễn Văn Thiện et al (1999) thì

250-gà Ác có sức sống cao, tỉ lệ nuôi sống từ 1 n250-gày đến 56 n250-gày tuổi trung bình đạt 98%, cá biệt có đàn đạt 100% Trọng lượng lúc mới nở là 16,3-16,5g, 60 ngày tuổi đạt 299g và 120 ngày tuổi đạt 639-757g

95-Bảng 2.1: Khả năng sinh trưởng của gà Ác Việt Nam

Chỉ tiêu Đơn vị Trung bình

Sinh trưởng tuyệt đối cao nhất (9 tuần tuổi) G 9,8 - 13,8

Tỉ lệ thịt đùi (8 tuần tuổi)

Tiêu tốn thức ăn giai đoạn 8 tuần tuổi

Nguồn: Trần Thị Mai Phương et al., (2004)

2.2.6 Gà Ai Cập

Gà Ai Cập lúc mới nở có thân lông màu xám nhạt, lưng có 2 sọc nâu sẫm, lông cổ

màu trắng, chân màu chì (Nguyễn Huy Đạt et al., 2008) Đối với gà Ai Cập trưởng

thành có tầm vóc nhỏ, tiết diện hình nêm, mào đơn tích đỏ, có lông đầu, cổ màu trắng, thân mình lông đốm màu trắng đen, lông đuôi đen tuyền cong và dài, chân cao màu đen chì và có 2 hàng vảy thể hiện gà hướng trứng, da trắng (Phùng Đức

Tiến et al., 2004)

Trang 16

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của gà Ai Cập sinh trưởng

KLCT lúc 20 tuần tuổi của con trống 1486 g

Thức ăn tiêu thụ 0-19 tuần tuổi 7,55 kg/mái/giai đoạn

KLCT: khối lượng cơ thể Nguồn: Phùng Đức Tiến et al (2007)

2.3 Chuồng trại

2.3.1 Vai trò chuồng trại trong chăn nuôi

Tăng năng suất vật nuôi.

Trong chăn nuôi hiện đại, vật nuôi bị giam giữ hoàn toàn nên kỹ thuật chuồng trại đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất vật nuôi Do đo, ta phải tạo điệu kiện tieu3 khí hậu và vệ sinh môi trường chung quanh vật nuôi để vật nuôi dễ thích nghi, phát triển và cho năng suất tối đa Ngược lại khi điều kiện khí hậu không phù hợp sẽ làm giảm năng suất vật nuôi

Tăng năng suất lao động

Đối tượng quản lý và chăm sóc vật nuôi là con người Do đó, để mang lại hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi thì ta phải thiết kế chuồng nuôi sao cho thỏa mãn các điệu kiện làm việc để có thể tăng năng suất lao động

Khấu hao xây dựng thấp.

Một vai trò quan trọng của chuồng nuôi là cho khấu hao xây dựng trên một đơn vị sản phẩm thấp Như vậy chuồng nuôi phải có thời gian sử dùng lâu dài và chi phí xây dựng thấp

Không gây ô nhiễm môi trường.

Vai trò không kém phần quan trọng ngày nay liên quan đến ngành chăn nuôi chúng

ta là nạn ô nhiễm môi trường và việc xử lý chất thải từ chuồng nuôi

Do đó, khi thiết kế chuồng nuôi ta phải chú ý đến khâu xử lý chất thải từ chuồng nuôi nhằm hạn chế những mầm bệnh có thể lây cho vật nuôi và không gây ô nhiễm môi trường chung quanh

Trang 17

Do chuồng trại đóng nhiều vai trò quan trọng nên việc thiết kế và xây dựng chuồng trại phải thỏa mãn các yêu cầu sau đây:

Tạo được điều kiện tốt cho vật nuôi và con người

Thuận lợi cho việc lao động và quản lý của người chăn nuôi

Khấu hao xây dựng thấp

Thuận lợi giao thông

Không gây ô nhiễm môi trường

thuận tiễn cho việc mở rộng và kết hợp với các mô hình sản xuất nông nghiệp khác

Có cảnh quan vệ sinh đẹp (Võ Văn Sơn, 2002)

2.3.3 Chọn vị trí xây dựng chuồng trại

Trước khi xây dựng chuồng trại nuôi gà, người chăn nuôi cần quan tâm đến vị trí được chọn để xây dựng chuồng trại như sau: chuồng trại phải cao ráo, thoáng mát, không đọng nước, vệ sinh Trong quá trình úm gà con rất cần vitamin D do vậy trong quá trình xây dựng chuồng trại nên chú ý việc tận dụng nguồn vitamin này bằng cách bố trí chuồng trại soa cho tận dụng được nguồn ánh sáng mặt trời Tuy nhiên, ánh sáng sau 10 giờ sẽ không còn tác dụng đối với gà con (Nguyễn Đức Hiền, 1999)

2.3.4 Hướng chuồng

Hướng chuồng được các nhà chăn nuôi quan tâm đặc biệt để tránh các nhân tố bất lợi như gió lùa, mưa tạt, ánh sáng gay gắt chiếu thẳng vào chuồng Người ta thường lấy trục đối xứng dọc của dãy chuồng để chọn hướng chuồng thích hợp cho việc xây dựng chuồng trại Thông thường trục dọc dãy chuồng chạy theo hướng Đông Bắc –Tây Nam hoặc chạy theo hướng Đông – Tây là có thể tránh được gió lùa Đông Bắc thổi vào chuồng, tránh được mưa và gió Tây Nam, tránh được nắng Đông vào buổi sáng, nắng Tây vào buổi chiều chiếu thẳng vào chuồng Nếu trục dọc dãy chuồng chạy theo hướng thích hợp kể trên thì hai đầu hồi (hai tường chắn đầu dãy) của chuồng, hoặc hướng về Đông Bắc – Tây Nam, hoặc hướng về Đông và Tây ngăn cản các luồng gió, luồng mưa, các tia nắng gay gắt bất lợi (Võ Văn Ninh, 2003).Tuy nhiên không phải bất cứ nơi nào, ta cũng có thể chọn lấy hướng như ý Cho nên trên thực tế tùy theo thế đất, ta có thể xây dựng theo hướng Đông – Nam hoặc Tây –Nam, và khắc phục bằng cây chắn gió, che nắng (Bùi Quang Toàn và ctv, 1980)

2.3.5 Loại chuồng gà công nghiêp

Ngành gà công nghiệp hiện nay cơ bản có 3 loại chuồng nuôi: Chồng nền, chuồng sàn, chuồng lồng (gà đẻ)

Chuồng nền

Trang bị chuồng nền có thể đơn giản, dễ sử dụng, dễ thay thế, sửa chữa so vơi loại dùng ở chuồng lồng, chuồng sàn

Trang 18

Trên thực tế ngành ga, chuồng nền dễ sử dụng Có thể nuôi bất kỳ các loại gà nào

và bất kỳ lứa tuổi nào bằng chuồng nền mà không cần thay đổi nhiều cơ cấu dùng

cụ chuyên dùng

Trong điệu kiện công nghiệp phục vụ ngành gà chưa phát triển, phương thức nuôi

gà bằng chuồng nền vẫn là chủ yếu tốt hơn, dễ thực hiện hơn

Tùy điệu kiện kinh tế, khoa học kỹ thuật và đặc điểm đất đai, khí hậu mà chuồng nền có những dạng khác nhau về cấu trúc nhất là trang bị dụng cụ đi kèm Về đặc điểm cấu trúc, chuồng nền có loại kín (chuồng tối) và loại hở (chuồng thông thoáng

tự nhiên)

Chuồng kín

chuồng kín là loại chuồng một hoặc nhiều tầng, có vách, cửa ngăn cách với bên ngoài, có hệ thống diều hòa nhiệt độ và điều tiết ánh sáng nhân tạo theo nhu cầu phát triển từng giai đoạn của gà, bất kể thời tiết, khí hâu, ngày hay đêm

Việc điều tiết khí hậu nhất là việc chống nóng lâu nay thường dùng máy điều hòa nhiệt độ (thổi không khí lạnh) hoặc “màng nước” kết hợp với quạt hút Gần đây, đơn giản hơn; chỉ dùng quạt hút theo phương pháp “hang gió” (tunnel ventilation) với điều kiện chuồng như sau:

Chuồng thông thoáng nhưng dài, có trần thấp khoảng 2,5 m Nếu chuồng có mái tole lạnh, mặt dưới lót lớp cách nhiệt thì không cần trần, với chiều cao mái 3 – 4 m.Hai vách lưới chuồng có rèm cơ động bằng nylon dày Khi che kín rèm hai bên vách tạo thành một cái hang đúng nghĩa đen chảy dài từ đầu đến cuối chuồng Đầu chuồng chữa “cửa” và dàng lạnh để không khí vào, cuối chuồng lắp hệ thống quạt hút có công suất lớn Khi vận hành quạt hút đẩy không khí ra khỏi chuồng, tạo thành dòng không khí (gió) chuyển động liên tục dọc theo chuồng với vận tốc 2 –2,5 m/s

Nếu gà đang giai đoạn cần nhiều giờ ánh sáng, thì dùng rèm che vách ngăn nylon trong suốt để tận dụng ánh sáng ban ngày “Cửa” gió vào là vách lưới để trống Trường hợp phải cắt giảm giờ ánh sáng, vách chuồng được thay thế bằng tấm nylon đen ngăn ánh sáng “Cửa” gió vào, gió ra cũng được che tối hoàn toàn

Chuồng hở

Chuồng hở thường là loại chuồng có đặc điểm chung thông thoáng, ánh sáng tự nhiên vì bốn phía vách lưới Loại chuồng này kết cấu nhẹ, rẻ tiền, dễ xây dựng, rất thích hợp với vùng nhiệt đới

Ở Việt Nam ta, với điều kiện khí hậu cả nước nói chung nóng nhiều, nóng đều quanh năm ở phía Nam, hoặc có vài tháng rét nhẹ về mùa đông ở phía Bắc, nên chọn loại chuồng hở là thích hợp và cho hiệu quả kinh tế cao Với loại chuồng hở này ta có thể khai thác được tối đa yếu tố nhiệt độ, ánh sáng, gió, mà thiên nhiên ưu đãi mà là tiềm năng vô tận của khí hậu nhiệt đới, để giảm bớt chí phí giảm giá thành sản phẩm

Trang 19

Về cơ bản chuồng sàn tương tự như chuồng nền, chỉ thêm cái sàn chiếm toàn bộ hoặc một phần lớn diện tích chuồng Chuồng sàn thích hợp cho giống gà thịt đi tiêu phân có nhiều nước Gà nuôi trên sàn tương tự như trên lồng, hạn chế việc tiếp xúc với phân rác Nhược điểm của chuồng sàn là đi lại, thao tác thủ công không thuận lợi (Võ Bá Thọ, 1996).

Cần chú ý

Nền chuồng kiên cố tránh ẩm ướt, dễ sát trùng, có độ nghiên nhất định để không làm đọng nước, có sự thoát nước tốt Có hệ thống thoát nước dưới các điểm đặt máng uống

Mái chuồng: có thể sử dụng các loại vật liệu có độ cách nhiệt tốt Có thể bố trí các vòi nước phun lên mái để tạo mưa nhân tạo lúc trời nóng

Vách chuồng: phải dễ làm vệ sinh và xát trùng, không có gờ dưới chân tường làm cản trở việc vệ sinh và quét chuồng trại Nếu nuôi trên nền thì tường chỉ xây cao vừa tầm đứng của gà khoảng 30 – 40 cm, phần trên là lưới đủ kín để bảo vệ gà, nên

có hệ thống rèm che phòng mưa tạt, gió lùa Nếu nuôi lồng chuồng phải có cửa ra vào, cửa sổ phải cao hơn tầm đứng của gà trong lồng (Nguyễn Đức Hiền, 1999)

2.4 Phương thức nuôi

Ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới đang sử dụng một số phương pháp nuôi sau: nuô thâm canh trên lớp độn chuồng, nuôi trên sàn gỗ hay lưới, nuôi trong lồng (Lê Hồng Mận, Hoàng Hoa Cương, 1999)

2.4.1 Nuôi thâm canh trên lớp độn chuồng

Phương pháp nuôi gà con

Yêu cầu gà con phải cùng lứa tuổi vì nếu nuôi gà có những lứa tuổi khác nhau dễ sinh bệnh, đặc biệt là các bệnh đường hô hấp và tiêu hóa Nuôi theo phương pháp này gà con hoàn toàn không được thả ra ngoài Phương pháp này có những ươu điểm như sau: có khả năng cơ giới hóa các quá trình làm việc làm giảm nhiều sức lao động, quan sát đàn gà dễ dàng hơn, nó cho phép tiềm ra những con bệnh một cách nhanh chóng và áp dụng các phương pháp phòng ngừa bệnh tật một cách có hiệu quả, gà con ít chết, lớn đồng đều , ít gặp rủi ro

Những nguyên liệu được dùng làm chất độn chuồng phải thỏa mãn những yêu cầu sau: rẻ và nhẹ khi vận chuyển; khô và không bị nấm mốc; có khả năng hút ẩm; có khả năng hút nhiệt tốt, không tạo thành nhiều bụi Chất độn chuồng có nhiều loài có thể sử dụng được như: dâm bảo, mùn cưa, rơm rạ, vỏ trấu Mỗi loài chất độn chuồng này có khả năng hút ẩm khác nhau, tùy điệu kiện nguyên liệu có sẵn ở từng nơi mà chúng ta chọn chất độn chuồng Người tta có thể nuôi gà trên lớp độn chuồng thay đổi hoặc lớp độn chuồng không thay đổi

Lớp độn chuồng thay đổi dày 5 cm, trong thời gian nuôi có thể thay đổi vài lần hoặc thay đổi hàng tuần Sự thay đổi như vậy tuy có sạch sẽ, tránh được bệnh tật nhưng

nó cũng có nhiều nhược điểm là: sự cách nhiệt của nền chuồng không đảm bảo, tốn nguyên vật liệu động chuồng, tốn nhiều sức lao động

Lớp độn chuồng không thay đổi: Gà con được nuôi trên lớp độn chuồng không thay đổi lần nào trong suốt quá trình nuôi như vậy tiết kiệm được sức lao động Lớp độn

Trang 20

chuồng dày 20 – 30 cm, bảo đảm cách nhiệt tốt trong thời gian nuôi thường xuyên xới lật chất độn để phân lẫn vào chất độn chuồng mà không vón thành cục lớn, nhờ vậy mà chất độn vẫn khô và ký sinh trùng không sinh sôi nảy nở được.

Phương pháp nuôi gà thịt

Yêu cầu phương pháp nuôi gà thịt thâm canh trên lớp độn chuồng: lớp dđộn chuồng phải luôn luôn xốp, được rải dày 15 cm Nếu độn chuồng có độ cách nhiệt không tốt thì nền chuồng phải rải dày 20 – 25 cm (Lã Thị Thu Minh, 2000)

Số lần thay đổi lớp độn chuồng tùy thuộc vào hoàn cảnh và tiểu khí hậu trong vùng, mật độ nuôi, trang thiết bị kỹ thuật

Không để lớp độn chuồng quá khô hoặc quá ẩm vì nếu quá khô gây bụi cho gà, nếu quá ẩm thì nên xới cho cho nền xốp Nếu chuồng ướt tạo điều kiện cho cầu trùng phát triển (Nguyễn Đức Hiền, 1999)

2.4.2 Nuôi trên sàn

Sàn gỗ hay sàn lưới sắt đặt ở độ cao 50 – 60 cm so với nền chuồng

Nuôi trên sàn dễ vệ sinh, ít khí độc, hạn chế được gà tiếp xúc với mầm bệnh trên đất

và phân, hạn chế được sự lây lan bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng, có thể lấy phân ra ngoài một cách thường xuyên mà không ảnh hưởng tới gà (Lê Hồng Mận, Hoàng Hoa Cương, 1999)

2.5 Tiêu chuẩn về điều kiện tiểu khí hậu

2.5.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố điều kiện môi trường Nó gắn liền với đời sống của gà từ lúc phôi trong máy ấp đến lúc nở, trưởng thành và tái sản xuất, trong từng giai đoạn của gà đòi hỏi nhiệt độ khác nhau Nhiệt độ lý tưởng nhất đối với gà chính là nhiệt độ thích hợp cho từng giai đoạn, trong đó, gà có thể sống và phát triển thuận lợi nhất Nhiệt độ trong chuồng lý tưởng nhất cho gà phát triển là 20-250C (Võ Bá Thọ, 1996)

Ảnh hưởng của nhiệt độ lên gà Hệ thống điều nhiệt của gà hoàn toàn khác loại hữu nhủ Gà không có tuyến mồ hôi và lớp lông rất dày cản trọ sự thoát nhiệt của bức xạ

và thoát hơi trên da Vì vậy, thoát nhiệt chủ yếu qua đường hô hấp Gà con mới nở hoàn toàn không có khả năng điều nhiệt nên thân nhiệt của chúng phù thuộc vào nhiệt độ môi trường

Bảng 2.3: Tương quan giữa nhiệt độ môi trường và thân nhiệt của gà

Môi trường Thân nhiệt

Trang 21

Gà con mới nở chưa có khả năng điều nhiệt, 4 – 6 sau khi nở gà con mới có khả năng điều nhiệt và 4 tuần tuổi mới hoàn thiện khả năng này.

Ẩm độ tương đối của không khí chuồng nuôi hoàn toàn phù thuộc vào kỹ thuật nuôi, mật độ nuôi, phương pháp cho uống và thể thức lưu thông không khí của chuồng nuôi Khi ẩm độ cao gà có biểu hiện khó thỏ dễ bị các bệnh đường hô hấp, ảnh hưởng đến cơ chế điều tiết thân nhiệt của cơ thể gà Ẩm độ còn gây ra các bất lợi gian tiếp là tạo điều kiện cho các mầm bệnh phát triển như: vi khuẩn, nấm mốc, đặt biệt là cầu trùng Mật độ càng cao thì ẩm độ càng cao (Võ Bá Thọ, 1996)

Ẩm độ tối hảo cho các loài là: 60 – 80% Trung bình 70%

Dưới 60% là thấp

Dưới 50% gây bệnh hô hấp

Trên 80% là cao

Trên 90% khó khăn cho giải nhiệt và dễ bị nóng

Ẩm độ khô nhu cầu nước uống cho gà tăng lên đồng thời nhu cầu về thức ăn sẽ giảm, gà dễ mất nước, chuồng bụi Giữa nhiệt độ và ẩm độ tương đối có quan hệ nghịch với nhau Thông thường ẩm độ tốt nhất cho gà là 65-75% (Dương Thanh Liêm, 1999)

2.5.3 Ánh sáng

Tác dụng của bức xạ trên sự hình thành vitamin D

UV biến Ergosterol thành vitamin D2 và 7 – dehydrocholesterol thành D3

Trang 22

giáp trạng, tuyến sinh dục từ đó ảnh hưởng đến sinh trưởng và sinh sản (Võ Văn Sơn, 2002).

Nuôi gà thịt broiler nên sử dụng ánh sáng nhè nhẹ, trời nắng sáng cần che bớt nhưng phải đảm bảo thoáng để tránh gà hoạt động nhiều, tăng trọng kém Chế độ ánh sáng tuần đầu 24 giờ/ ngày đêm, tuần 2 là 23 giờ/ngày đêm, tuần 3 trở đi là 22 giờ/ ngày đêm

Công suất chiếu sáng: 1 – 3 tuần tuổi; 3,5 – 4 W/m2 chuồng, 4 -5 tuần tuổi: 2 W/m2, sau 5 tuần tuổi: 0,2 – 0,5 W/m2 (Lê Hồng Mận,1999)

Cường độ chiếu sáng 2 tuần đầu cao đảm bảo đủ ánh sáng cho gà con nhìn rõ thức

ăn và nước uống, sau đó giảm dần theo độ tuổi Gà sau 5 tuần tuổi chỉ thấp đèn công suất nhỏ, hoặc có nút điều chỉnh cường độ điện Sáng quá gà thịt bị stress ánh sáng, chạy nhảy nhiều làm giảm tăng trọng (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002)

2.5.4 Tốc độ gió

Thông thường tốc độ gió có hai tác động lên cơ thể động vật Sự chuyển động vừa phải của không khí sẽ làm tăng khả năng trao đổi khí oxy và các chất khí khác trong môi trường giúp sự tuần hoàn của động vật được hoàn hảo Tuy nhiên, sự chuyển động của không khí trong khi những yêu tố môi trường khác như nhiệt độ và ẩm độ bất lợi sẽ làm trầm trọng thêm hay hạn chế sự bất lợi này

Tốc độ gió tối hảo trong chuồng nuôi là 0,2 – 0,4 m/giây (7,2 – 14,4 Km/giờ) và không nên vượt quá 1,1 m/giây (39,6 Km/giờ)

Khi nhiệt độ môi trường cao, sự chuyển động của không khí sẽ làm tăng lượng nước bốc hơi trên cơ thể và làm cho con vật giải nhiệt tốt hơn Tuy nhiên, khi nhiệt độ môi trường quá nóng (trên 40oC) sự chuyển động không khí quá cao sẽ làm tăng sự tiếp xúc của không khí nóng vào da làm cho con vật nóng hơn

Ngược lại, khi nhiệt độ môi trường thấp ( trời lạnh) tốc độ gió cao sẽ làm tăng sự truyền nhiệt và làm cho con vật bị mất nhiệt nhiều hơn

2.6 Dinh dưỡng và thức ăn gà

Ngày nay khoa học về di truyền tạo giống gia súc và gia cầm nhất là gà đã tạo được nhiều dòng giông gà thịt có tốc độ phát triển cơ thể cao Để khai thác tiềm năng sản xuất thịt nhanh đó, con người phải cung cấp thức ăn tối ưu (thỏa mãn) với đầy đủ các vật chất dinh dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein và các acid amin với năng lượng, giữa năng lượng và protein với các acid amin và khoáng vi lượng Ngoài ra thức ăn hỗn hợp cho chúng, còn được bổ sung hàng loạt các chế phẩm hóa sinh học, tuy không mang ý nghĩa về dinh dưỡng, nhưng nó kích thích sinh trưởng

và làm tăng chất lượng thịt như các enzyme (Amilaza, Proteaza), các hormone sinh trưởng, một số kháng sinh không gây hại cho con người (theo EC), một số sắc tố làm tăng màu vàng của da (Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 2001)

2.6.1 Dinh dưỡng protein

2.6.1.1 Vai trò của protein

Trang 23

Protein là chất quan trọng nhất để duy trì sự sống, tham gia mõi hoạt động sống, vai trò chủ yếu trong việc cấu tạo nên cơ thể và các sản phẩm Thành phần cơ bản của protein là các acid amin (Lê hồng Mận, 1999).

Protein tham gia cấu tạo tế bào là thành phần quan trọng của sự sống, chiếm đến 5

1 khối lượng cơ thể của gia cầm,17 - 18 khối lượng trứng Protein là hợp chất hữu cơ quan trọng không có chất dinh dưỡng nào thay thế vai trò của protein trong

tế bào sống vì phân tử protid ngoài carbon, hydro, oxy, nitơ lưu huỳnh và phospho

mà các phân tử mỡ, đường bột không có

Sản phẩm thịt, đều cấu tạo từ protid Không đủ protein trong thức ăn, năng suất chăn nuôi giảm Protid tham gia cấu tạo các men sinh học, các hormone làm chức năng xúc tác, điều hòa quá trình đồng hóa các chất dinh dưỡng của thức ăn cho cơ thể Tinh trùng gà trống, trứng gà mái đều cấu tạo từ protid Đồng thời protein còn cung cấp năng lượng cho cơ thể

Nhu cầu protein trong cơ thể là sự cân đối acid amin không thay thế Đối với gà con, gà dò, nhu cầu protein cho duy trì cơ thể và cho phát triển sinh trưởng của các

bộ phận mô cơ Ở gà thịt broiler mức sử dụng protein cho phát triển đến 64% ( Lê Hồng Mận, 2001)

Cấu tạo nên hệ thống đệm giữ pH ổn định, hệ thống vận chuyển dịch gian bào Do

có cấu trúc phức tạp, nhiều bậc và phân tử lớn nên protein có thể vận chuyển nhiều hợp chất phức tạp và các ion kim loại nặng, phần lớn do các -globulin còn gọi là protein vận chuyển đảm nhiệm

Tạo kháng thể đặc hiệu và không đặc hiệu Kháng thể trong máu chủ yếu là globulin Một khẩu phần thiếu protein sẽ làm cho cơ thể chống bệnh tật kém, đáp ứng miễn dịch sau khi chủng ngừa yếu

-Khả năng tiêu hóa, sử dụng protein trong thức ăn hoàn toàn phụ thuộc vào giống tuổi, tính năng sản xuất của gia cầm Ở gia cầm non, protein có ý nghĩa nhiều hơn

so với gà trưởng thành Điều đó có nghĩa gia cầm non yêu cầu protein và chất lượng protein cao hơn gia cầm trưởng thành và già (Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1999).Thiếu Protein gà chậm lớn, còi cọc, đẻ kém, sinh bệnh tật Cần cân đối protein theo nhu cầu gà con, gà thịt, gà đẻ Thức ăn giàu protein là bột cá, bột thịt, bột sữa,

đỗ tương , khô lạc Thường bổ sung vào thức ăn hai loại acid amin hay thiếu là lysine và methionine tổng hợp với tỷ lệ thấp (Lê Hồng Mận, 1999)

Tỷ lệ protein thô trong khẩu phần thức ăn gà con 0 – 4 tuần tuổi 22 – 24%, 5 – 8 tuần tuổi 21 -22%, gà dò 19 – 21%, gà thịt cao hơn 1 – 2%

Lượng protein trong khẩu phần thức ăn thay đổi tùy theo gà con được nuôi theo nhừng phương thức khác nhau: đối với gà thịt protein chiếm tỷ lệ 20 – 25%, năng lượng đảm bảo 2300Kcal/kg thức ăn (gà con từ 1 – 8 tuần tuổi), đối với gà trống cơ bản và sinh sản từ 1 – 9 tuần tuổi protein chiếm 20 – 21%, năng lượng đảm bảo từ

1800 – 2300Kcal/kg thức ăn (Bùi Quang Toàn, Đào Đức Long, Nguyễn Chí Bảo, 1980)

Trang 24

Đối với gà sản xuất hướng trứng protein chiếm 18 – 20%, với gà sản xuất hướng thịt protein chiếm 20 – 25% và protein trong khẩu phần không được phép nhỏ hơn 16% (Lã Thị Thu Minh, 2000).

Acid amin: là những đơn vị được trùng hợp lại thành protid, bao gồm 2 nhóm acid amin: acid amin không thay thế và acid amin thay thế

Nhom acid amin không thay thế hay là acid amin thiết yếu, là nhóm mà cơ thể động vật không tổng hợp được trong cơ thể, phải cung cấp từ thức ăn để tạo protein.Nhóm này gồm 10 acid amin có vai trò chủ yếu trong thức ăn gia cầm là: aginin, histidin, leucin, isoleusin, phenylalanin, valin, threonin, lysin, methionin, tryptophan,còn glysin cần cho thức ăn gà dò, nhưng không quan trọng cho thức ăn

gà lớn trưởng thành

Lysin: quan trọng nhất làm tăng sinh trưởng, tăng đẻ trứng, cần cho tổng hợp nucleopriteid, hồng cầu,trao đổi ozot, tạo sắc tố melanin của lông, da, thiếu lysin gà chậm lớn, giảm năng suất thịt, trứng, hồng cầu, giảm tốc độ chuyển hóa canxi, phospho, gây còi xương, rối loạn sinh dục, cơ thoái hóa

Thiếu lysin có thể bổ sung L-lysin tổng hơp từ vi sinh vật

Methionin: rất quan trọng, có chứa lưu huỳnh (S) ảnh hưởng đến sự phát triển cơ thể, chức năng gan và tụy, điều hòa trao đổi chất béo, chống mỡ hóa gan, cần thiết cho sự sinh sản tế bào, tham gia quá trình đồng hóa dị, hóa trong cơ thể

Thiếu methionin làm mất tính thèm ăn của gà, thiếu máu, cơ thoái hóa, gan nhiễm

mỡ, giảm sự phân hủy chất độc, thải ra, hạn chế tổng hợp hemoglobin

Tryptophan: cần cho sự phát triển của gia cầm non, duy trì sự sống cho gia cầm lớn, điều hòa chức năng các tuyến nội tiết, tham gia tổng hợp hemoglobin của hồng cầu, cần cho sự phát triển của tế bào tinh trùng, của phôi

Thiếu tryptophan giảm tỷ lệ ấp nở, phá hủy tuyến nội tiết, giảm khối lượng cơ thể Argnin: cần cho sự phát triển của gia cầm non, tạo sụn, xương, lông Thiếu arginin chết phôi cao, giảm sức phát triển của gà

Histidin: cần cho sự tổng hợp acid nucleotid và hemoglobin, điều chỉnh quá trình trao đổi chất, nhất là cho sự phát triển của gia cầm non Thiếu histidin làm thiếu máu, giảm tính thèm ăn, chậm lớn

Leucin: tham gia tổng hợp protid của plasma, duy trì hoạt động của tuyến nội tiết Thiếu leucin phá hủy sự cân bằng ozot, giảm tính thèm ăn, gà chậm lớn

Isoleucin: cần cho sử dụng và trao đổi

các acid amin trong thức ăn thiếu isoleucin giảm tính ngon miệng, cản trở phân hủy các vật chất chứa ozot thừa trong thức ăn thải qua nước tiểu, giảm tăng trọng Trong thức ăn thường đủ isoleusin

Phenylalanin: duy trì hoạt động bình thường tuyến giáp và tuyến thượng thận, tham gia tạo sắc tố và độ thành thục của tinh trùng, sự phát triển của phôi trứng

Trang 25

Threonin: cần cho việc trao đổi chất và việc sử dụng các acid amin trong thức ăn, kích thích sự phát triển của gia cầm non Thiếu threonin gây sự thỉa ozot ( từ nguồn thức ăn nhận được) theo nước tiểu làm giảm khối lượng sống thức ăn nguồn gốc động vật có đủ threonin cho gia cầm.

Nhóm acid amin thay thế: cơ thể gia cầm có thể tự tổng hợp được 13 acid amin từ sản phẩm trung gian trong quá trình trao đổi acid amin, các acid béo và từ hợp chất chứa nhóm amino , đó là các acid amin thay thế, gồm: alanin, aspaginin, aspartic, cystin, acid glutamic, glycin, hydroprolin, prolin, serin, cystein và hydroxylyzin

2.6.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu và sử dụng protein

Việc xác định nhu cầu protein đều dựa trên số liệu thí nghiệm nhưng trong thực tế sản xuất nhu cầu này rất biến động Vì vậy, cần phải hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng

để có thể tác động kịp thời nhằm đạt được mức độ tối ưu trong sản xuất Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu và sử dụng protein gồm các yếu tố sau:

Yếu tố cơ thể (bao gồm giống, lứa tuổi, tính biệt)

Những giống gà có tốc độ sinh trưởng nhanh thường lợi dụng protein thức ăn để chuyển hóa vào thịt rất cao Do đó, nhu cầu cũng cao vì thế nhu cầu protein của gà thịt thường cao hơn ở giống gà chuyên trứng

Osborn và Melden (1919) đã đưa ra công thức xác định hiệu quả sử dụng protein (protein hiệu dụng) thức ăn của gia súc, gia cầm nói chung như sau:

Tăng khối lượng gia súc, gia câm, g

HSSDpR = x 100

Protein tiếp nhận, g

Thông thường lứa tuổi còn non khả năng tích lũy protein tốt hơn lứa tuổi già

Về tính biệt thì gà trống tăng trọng nhanh hơn gà mái, vì vậy nhu cầu và việc sử dụng protein cũng cao hơn

Yếu tố năng lượng

Yếu tố năng lượng cũng ảnh hưởng đến việc sử dụng protein của gia cầm được Kakuk (1979) đã tìm ra mối quan hệ phần trăm (%) giữa proein tích lũy trên năng lượng ăn vào theo công thức sau :

Trang 26

Tỷ lệ năng lượng/protein (NL/Pr) phải được cân đối và xác định trên từng lứa tuổi

gà Tỷ lệ NL/Pr ở thức ăn gà thịt khoảng 128 – 130 lúc gà dưới 3 tuần tuổi, 150 –

155 lúc gà trên 3 tuần tuổi, còn gà đẻ khoảng 170 – 175 (Hiệp hội xuất khẩu trứng

và gia cầm Hoa Kỳ, 2007)

Yếu tố môi trường

Nhiệt độ môi trường cao sẽ làm giảm tính ngon miệng của gia cầm với thức ăn, gà thở nhiều

2.6.2 Vai trò của năng lượng

chất bột đường là thành phần dinh dưỡng chiếm tỷ lệ lớn nhất so với các chất dinh dưỡng khác trong thức ăn gia cầm (> 50%) Nó là nguyên liệu ban đầu để chuyển hóa ra chất béo, cung cấp khung carbon để tạo ra các acid amin thiết yếu và nhiều chất ttrong cơ thể (Dương Thanh Liêm, 1999)

Các chất hưu cơ trong thức ăn: hydratecarbon, mỡ, protein cung cấp năng lượng cho cơ thể gà phát triển, duy trì các hoạt động sống bình thường, duy trì nhiệt độ, sản xuất thịt trứng Khi năng lượng dư thừa sẽ được tích lũy thành mỡ mà không bị thải ra ngoài

Khi nhiệt độ tăng cao gà phản ứng tự nhiên để chống lại là điều tiết thân nhiệt bằng cách tăng dần tần số hô hấp, ăn ít và uống nhiều nước Khi đó việc tăng năng lượng

và protein trong khẩu phần là rất cần thiết để bù đắp hao tồn nói trên nhưng khi nhiệt độ tiếp tục tăng quá 27% thì cơ thể gà bắt đầu rối loạn, nhiệt độ tiếp tục tăng nữa thì cơ thể gà không bị mất năng lượng như trên mà lúc này chúng ta phải biết giảm năng lượng trong thức ăn một cách hợp lý (Trần Thị Kim Oanh, 1998)

Cần thấy rằng, nguồn năng lượng trong thức ăn không được cơ thể gà đồng hóa hoàn toàn, thường chỉ 70 – 90% giá trị năng lượng toàn phần, phần còn lại bị mấy

đi cùng với phân, nước tiểu, thải nhiệt

Gia cầm không tự điều chỉnh được sự tiêu thụ năng lượng, khi thức ăn có mức năng lượng cao sẽ được tích lũy mỡ trong cơ thể, khi thức ăn thiếu năng lượng gà phát triển không bình thường và gầy đi

Theo nhiều tài liệu nguyên cứu cho thấy nhu cầu năng lượng cho gà thịt luôn thay đổi theo từng giai đoạn tăng trưởng khác nhau

Yêu cầu năng lượng đối với gà con tương đối cao, nhất là gà thịt (broiler): 3000

-3300 Kcal/Kg thức ăn hỗn hợp, đồng thời phải có protein, khoáng và vitamin thích hợp Năng lượng thấp gà gầy, chậm lớn (Lê Hồng Mận, 2001)

Muốn xác định nhu cầu năng lượng cho tăng trưởng và sản xuất của gia cầm rất khó khăn vì phải biết chính xác thành phần của sự tăng trọng, mà thành phần của sự tăng trọng cũng rất biến động và khó thực hiện một cách khoa học Tuy nhiên qua thực hành phần nuôi dưỡng chúng ta có thể tính được Năng lượng của các chất dinh dưỡng được sinh ra trong khi đốt cháy thức ăn trong bình đo năng lượng không hoàn toàn giống với sự đốt cháy trong cơ thể gia cầm Đối với các chất như bột đường, chất béo trong cơ thể, năng lượng sinh ra gần giống như đốt trong bình đo

Trang 27

Vì vậy, người ta nhận thấy việc phối hợp khẩu phần của thức ăn cho gia cầm dư protein, hoặc mất cân đối acid amin đều dẫn đến khai thác năng lượng của thức ăn không hiệu quả.

Bảng 2.4: Năng lượng sinh ra khi đốt cháy 1 gam chất dinh dưỡng

Các chất dinh dưỡng Đốt trong bình nhiệt lượng kế

3,7 4,2 9,5 4,0

(Dương Thanh Liêm, 1999)

Trong cơ thể gia cầm, cả 2 quá trình đồng hóa và dị hóa xảy ra liên tục, có liên quan chặc chẽ với nhau để tạo ra các mô bào riêng biệt và tạo ra các sản phẩm chăn nuôi

Ở gia cầm độ tuổi trung bình, các quá trình đồng hóa và dị hóa cân bằng nhau Ở gia cầm có độ tuổi còn non, sự đồng hóa chiếm ưu thế, ngược lại, gia cầm ở độ tuổi già thì sự dị hóa lại tăng lên

Hệ thống biểu thị năng lượng (NL) của gia cầm:

Trang 28

NL thuần

NL duy trì NL sản xuất

(Lưu Hưu Mạnh và ctv, 1999)

Sơ đồ 2.1: Hệ thống biểu thị năn lượng (NL) của gia cầm

2.6.2.1Nhu cầu năng lượng cho sinh trưởng và sản xuất

Theo tài liệu của Kakuk và Schmidt (1988) thì khả năng chuyển hóa năng lượng vào thành phần tăng trọng của gà được trình bày ở bảng 2.5

Bảng 2.5: Tỷ lệ chuyển hóa năng lượng vào tăng trọng của gà

Các loại gia cầm Tỷ lệ chuyển hóa ME vào sản phẩm

2.6.2.2 Mối tương quan giữa năng lượng và protein

Trong nhu cầu dinhh dưỡng, năng lượng và protein là 2 yếu tố hàng đầu duy trì hoạt động sống vả cấu thành phát triển các mô cơ

Số lượng thức ăn hàng ngày gà thu nhận có tỷ lệ nghịch với hàm lượng năng lượng trong khẩu phần: Năng lượng cao gà ít ăn thức ăn hơn, năng lượng thấp gà ăn nhiều hơn (Lê Hồng Mận, 2001)

Trong cơ thể gà chất bột đường có vai trò cung cấp phần lớn năng lượng cung cần thiết cho mõi hoạt động sống, duy trì thân nhiệt cho cơ thể, tích lũy năng lượng dưới dạng glycogen trong gan, trong cơ và mỡ Do đó năng luo7ng5 có ảnh hưởng quyết định đến việc tiêu thụ thức ăn hay nói cách khác lượng thức ăn gà ăn hàng ngày có liên quan nghịch với hàm lượng năng lượng trong khẩu phần thức ăn, gà sẽ

ăn nhiều thức ăn với mức năng lượng trong khẩu phần thức ăn thấp, ngược lại ăn ít thức ăn với mức năng lượng cao (Võ Bá Thọ, 1996)

Sự sử dụng protein của gà chịu ảnh hưởng của mức protein, mức năng lượng và tuổi

Trang 29

Việc tổng hợp protein trong cơ thể đòi hỏi số lượng lớn mức năng lượng, khi trị số Calo trong khẩu phần thấp, protein sẽ cung cấp phần thiếu này và như vậy một phần protein được sử dụng không phải để sản xuất ra sản phẩm mà để cung cấp năng lượng không có lợi về kinh tế Cho nên mức độ xác định của protein cần phải được tương ứng với mức độ năng lượng tối ưu của khẩu phần Sự tương ứng này được biểu thị bằng tỷ lệ năng lượng, protein Nó chỉ ra rằng có bao nhiêu năng lượng được trao đổi xảy ra trên 1% protein Cách biểu thị chỉ số quan hệ giữa na8ngg lượng và protein là cách tính tỷ lệ (C : calor; P : protein) Theo hệ thống quốc tế đo lường Châu Âu công thức được tính như sau:

Năng lượng/Protein= Số Kcalo ME trong 1 kg thức ăn/Số % protein trong thức ănChỉ số năng lượng/protein thay đổi tùy theo giống và tuổi gà Chỉ số này được trình bày ở bảng 2.6

Bảng 2.6: Chỉ số năng lượng/protein theo giống và tuổi gà

Các loại gà Chỉ số C/P (hệ thống Châu Âu)

Gà con giống (0-8 tuần)

(Morgan và Lewis, 1962)

Trang 30

Qua bảng ta thấy, chỉ số này rất biến động gà càng lớn thi chỉ số càng tăng.

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ năng lượng/protein:

Yếu tố cơ thể

Giống, loài, tinh biệt, lứa tuổi và sức sản xuất khác nhau có nhu cầu tỷ lệ C/P khác nhau Riêng về tính biệt cùng có sự khác nhau về trống mái Con trống thường có nhu cầu C/P nhỏ hơn con mái Điều này chứng tỏ nhu cầu protein cho sinh trưởng ở con trống cao hơn con mái

Yếu tố môi trường

Trong điệu kiện nhiệ độ môi trường cao, gia cầm ăn ít nên thiếu protein cho sinh trưởng và sản xuất, trong khi đó nhu cầu năng lượng không cao Do đó cần phải tăng tỷ lệ protein trong thức ăn lên, làm cho C/P nhỏ và ngược lại

Phương thức chăn nuôi

Gà nuôi thả nền thì nhu cầu năng lượng/protein cao hơn gà nuôi lồng Lý do là nuôi nền gà vận động nhiều, tiêu hao năng lượng thức ăn nhiều hơn

Yếu tố thức ăn

Nếu protein trong khẩu phần có tỷ lệ tiêu hóa cao, giá trị sinh vật học cao, được cân đối acid amin thiết yếu tốt, thức ăn có đầy đủ vitamin và các chất khoáng thì gia cầm chuyển hóa tốt thành thịt hoặc trứng nên không có hiện tượng lấy lượng bù chất Từ đó không cần nhiều protein trong thức ăn

2.6.3 Vai trò chất béo trong dinh dưỡng động vật

Năng lượng cung cấp chất béo cao hơn gấp 2 – 2,5 lần so với chất bột đường và chất protein Khả năng tiêu hóa của vài chất béo được trình bày ở bảng 2.7

Bảng 2.7: Khả năng tiêu hóa các chất béo của gà

Các loại chất béo Khả năng tiêu hóa kcalME/kg TĂ

9,168 7,378 8,785 7,208 420

Trang 31

lượng của bắp) để giảm stress nhiệt Nếu thay đổi năng lượng đột ngột, sự tiêu thụ thức ăn bị ảnh hưởng gà mái phải mất 12 ngày để điểu chỉnh sự tiêu thụ thức ăn để phủ hợp với năng lượng bị thay đổi.

Vào mùa hè nên giảm năng lượng từ nguyên liệu ngũ cốc và thay vào mỡ, để dễ hấp thu năng lượng và giảm stress nhiệt (Scott, 1977)

Chất béo trong thức ăn cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm : nếu thức ăn chứa nhiều acid béo chưa no thì mở động vật lỏng, ngược lại thiếu acid béo chưa no thì

mở cứng (Dương Thanh Liêm, 1999)

2.6.4 Vai trò của nước

Đối với tất cả sinh vật, nước có hai chức năng quan trọng : là thành phần chủ yếu trong việc trao đổi của cơ thể và là yếu tố chính trong việc điều hòa thân nhiệt của

cơ thể

Cơ thể cần phải tiếp thu đầy đủ nước để bù đắp lượng nước mất đi cộng với lượng nước để thành lập tổ chức mới và tạo sản phẩm Nhưng nhu cầu nước thay đổi do nhiều yêu tố luôn biên động điều khiển lượng nước bài thải Do đó, việc lập nhu cầu nước cho gia súc, gia cầm có khó khăn và những số liệu tìm được chỉ có giá trị tương đối Dẫu sao nhu cầu nước cũng không quá khắt khe, con vật uống quá nhiều nước cũng không có gì tai hại lắm

Chất lượng nước ảnh hưởng đến sự tiêu thụ thức ăn, nếu chất lượng nước giảm, sự tiêu thụ nước giảm kéo theo sự tiêu thụ thức ăn giảm và con vật bị giảm năng suất ( Lưu Hữu Mạnh và ctv, 1999)

Tuy nước không cung cấp năng lượng nhưng nó có vai trò quan trọng trong đời sống động vật Người ta có thể sống khi mất toàn bộ mỡ và hơn một nữa protein của

cơ thể, nhưng nếu mất 15 lít nước thì sẽ chết

Nước cần cho việc phân tích protein, lipid, và glucid trong ống tiêu hóa nước vận chuyển các chất khoáng, các vitamin tan trong nước, các sản phẩm phân hủy khác trong ống tiêu hóa Nước là môi trường cần thiết cho quá trình lên men của trao đổi chất trong cơ thể cũng như đối với sự thẩm thấu và khuyết tán các chất Malekhin et

tế bào, cho việc trao đổi chất của cơ thể Thiếu nước, gà con chết nhanh gấp 10 lần

so với chết đói Lượng nước uống không đủ làm cho thức ăn cứng, đọng lại trong diều, từ đó gây táo kiết Ngược lại, nếu nước nhiều quá thì dẫn tới rối loạn tiêu hóa

Để đảm bảo nước uống cho gà con cần lưu ý mấy điểm sau : lượng nước, phẩm chất nước, nguồn nước, vệ sinh nước (Bùi Quang Toàn và ctv, 1980)

Trang 32

Nước rất quan trọng chiếm 60 – 70% khối lượng cơ thể của gà Gà sẽ bị chết khi cơ thể thiếu 210 lượng nước, ở nhiệt độ 22oC gà cần nước gấp 1,5 – 2 lần lượng thức

ăn, nhưng ở nhiệtđộ 35oC thì gấp lên 4,7 – 5 lần (Lê Hồng Mận, 1999)

Phương pháp cung cấp nước tốt nhất cho gà là cho chúng tiếp xúc trực tiếp với nguồn nước để chúng được uống thỏa thích Tuy nhiên cần chú ý đảm bảo các chỉ tiêu vệ sinh nước uống, nồng độ chất hòa tan không vượt quá 15g/1 lít Nước tốt chứa 2,5g chất hòa tan/1 lít Nacl không vượt quá 10g/1 lít, muối sunfat không quá 1g/1 lít, muối natritoi61 đa 50 – 100ppm Không cho vật nuôi uông nước có chứa các tác nhân gây bệnh ký sinh trùng, truyền nhiễm hoặc các chất độc hại (Vũ Duy Giảng, 1997)

2.6.5 Vai trò của các chất khoáng

Người ta phát hiện trong cơ thể động vật có tới 70 nguyên tố của bảng hệ thống tuần hoàn Có khoảng 4% trọng lượng cơ thể thuộc về tro của chúng Trong cơ thể các nguyên tố đa lượng bao gồm : Ca, P, K, Cl, Mg, S chiếm 1,01% Các nguyên tố vi lượng : Fe, Cu, Co, Zn, Mn, I, Se chiếm từ 10-3– 10-6% (Melekhin et al, 1977)

Ca, P giữ vai trò dinh dưỡng khoáng quan trọng, trước hết nó là thành phần cấu trúc của xương, răng Phospho có trong thành phần của acid nucleic, phospholipid tham gia vào phản ứng phosphoryl hóa và những phản ứng chuyển hóa năng lượng Ca và

Mg có vai trò kích thích thần kinh Hai nguyên tố này có tác dụng ức chế sự hứng phấn Cho nên thiếu chúng có thể dẫn đến hiện tượng tetani Ngoài ra các nguyên tố khoáng còn duy trì trạng thái cân bằng toan kiềm và áp suất thẩm thấu (Vũ Duy Giảng, 1997)

Khoáng vi lượng thì cơ thể cần ít nhưng không thể thiếu được, chúng thường được trộn trong thức ăn dưới dạng premix

Tóm lại chất khoáng rất cần thiết cho cơ thể, thừa hay thiếu đều có hại đến vật nuôi Khi thừa khoáng này sẽ làm mất cân bằng của một số khoáng khác

2.6.6 Vai trò của các vitamin

Vitamin là một hợp chất hữu cơ, tham gia vào phản ứng sinh hóa với lượng rất nhỏ, đảm bảo cho quá trình phát triển bình thường của động vật (Vũ Duy Giảng, 1997).Nhu cầu vitamin thay đổi tùy theo tuổi, thể trạng và chức năng sinh lý của gà, gà con cần lượng vitamni hơn gà trưởng thành Đối với gà nuôi nhốt tập trung toàn bộ thức ăn là do người nuôi cung cấp thì việc bồ sung vitamin là rất cần thiết

Thiếu vitamin sẽ dẫn đến rối loạn trong hoạt động sinh lý của cơ thể và tiếp theo đó

là bệnh tật phát sinh (Nguyễn Văn Thưởng, 1992)

Vitamin A : cần cho việc bảo vệ niêm mạc của cơ thể chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh Thiếu vitamin A gà có biểu hiện khô lông, khô da, viêm kết mạc mắt, gà còi cọc, rối loạn thần kinh gà chết ồ ạt như bị dịch Gà mái đẻ giảm, trứng ấp nở kém

Trang 33

Vitamin E : cần cho khả năng sinh sản Thiếu vitamin E gà trống bị teo dịch hoàn,

gà mái bị thoái hóa buồng trứng khả năng thụ tinh ấp nở giảm hoặc mất hẳn

VitaminB1: là tác nhân chống phù thủng, viêm thần kinh đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất bột đường

Vitamin B2: là tác nhân quan trọng cho quá trình oxi hóa của tế bào, chống rối loạn thần kinh, đảm bảo tỷ lệ đẻ Thiếu vitamin B2 gà bị khòe chân chậm lớn Nếu bị nặng thì bị liệt, run rẩy và chết trong 3 tuần đầu tiên

Vitamin B6: cần cho quá trình trao đổi chất đạm, chất béo để phát triển cơ thể, chống viêm da

Vitamin B12: rất quan trọng trong cấu tạo máu, tổng hợp các protid tế bào, thúc đẩy quá trình sinh trưởng bình thường của cơ thể, mọc lông, đảm bảo tỷ lệ ấp nở của trứng

Vitamin K: là nhân tố làm đông máu, chống chảy máu

Vitamin C: làm tăng sức đề kháng cho gia cầm với các yếu tố stress hoặc bị bệnh và tránh tình trạng vỏ trứng bị mỏng (Võ Bá Thọ, 1995)

2.7 Kỹ thuật nuôi

2.7.1 Giai đoạn nuôi úm gà con

Chọn gà con

Trước khi mua về nuôi cần tìm hiểu nguồn gốc, tình trạng sức khỏe của chúng, nắm

rõ quy trình chủng ngừa của gà bố mẹ và việc chủng ngừa gà con ở 1 ngày tuổi.Biết được khả năng sản xuất của giống gà dự kiến nuôi để dự đoán sức sản xuất của đàn con (Nguyễn Đức Hiền, 1999)

Chọn gà con 1 ngày tuổi có khối lượng cơ thể 32 gam trở lên, lông bóng, khô, chân bóng mập, đứng vững, nhanh nhẹn, rốn khép kín, khô Đàn gà bố mẹ không mắc bệnh truyền nhiễm (Newcastle, Gumboro, CRD, IB ), khỏe mạnh

Loại bỏ những gà khuyết tật, khoèo chân, hở rốn, vèo mỏ, lông ướt bết, cánh sã Những gà dưới 32 gam nếu không khuyết tật thì nuôi riêng, giá hạ hơn

Chọn xong bỏ vào hộp bằng carton hoặc nhựa xung quanh có lỗ nhỏ đường kính 1,0 – 1,2 cm, khoảng cách 8 – 10 cm/lỗ Mỗi hộp nhốt 80 – 100 gà con, sau đó đặt gà trong phòng kín gió, ấm nhưng thoáng khí

Trước khi cho gà vào hộp nên dùng thuốc phòng vaccine đa giá (phòng nhiều bệnh), hoặc từng loài như Marek

Vận chuyển gà

Vận chuyển gà con trên xe chuyên dùng (kín có điều hòa tiểu khí hậu tự động), hoặc xe thường nhưng phải kín gió và thông thoáng, tránh gà bị ngạt thở Mùa đông vận chuyển gà khoảng từ 9 - 10 giờ Mùa hè vào lúc trời mát, tránh nắng gắt (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002)

Mật độ nuôi

Gà từ 1 – 2 tuần tuổi: 80 – 100 con/m2

Trang 34

Gà từ 3 – 4 tuần tuổi: 50 – 70 con/m2

Có thể nâng lên 80 con/m2ở thời điểm 3 – 4 tuần tuổi

Đối với gà thịt thương phẩm do tốc độ lớn nhanh người ta thường úm gà ở nền trấu rộng rãi, bố trí đèn úm tạo nhiệt độ thích hợp toàn ô chuồng nuôi (Nguyễn Đức Hiền, 1999)

Đối với nuôi trên lớp độn chuồng muốn quản lý được tốt người ta thành lập nhóm mỗi nhóm 50 – 600 con gà (Lã Thị Thu Minh, 2000)

Chăm sóc - nuôi dưỡng

Trước khi đem gà về nuôi cần làm vệ sinh, sát trùng chuồng trại

Hàng ngày quan sát hoạt động của gà xem có thích nghi với điều kiện nuôi để cải thiện kịp thời, nếu có những con có biểu hiện bệnh lý thì phải cách ly ngay

Tốc độ tăng trưởng phù thuộc vào khẩu phần thức ăn cũng như lượng thức ăn cho

ăn hàng ngày Ngày đầu tiên khi đem gà về thì không cần cho ăn, nhưng phải đảm bảo lượng nước uống đầy đủ Ngày thứ 2, thứ 3 tập ăn cho gà bằng bột bắp, hoặc thức ăn hỗn hợp cho gà con mới nở

Ngày thứ tư trở đi dùng thức ăn hỗn hợp cho gà con

Thức ăn cho gà cion đảm bảo một số yêu cầu sau:

gà con dẫn đến tiêu chảy, mất nước, sưng gan

Khoáng

Gia cầm cần các loại khoáng Ca, P, Mg, Mn, K, Na, I, Fe, Cu, Zn, Co Trong đó Ca

và P là nhu cầu nhiều nhất, do đó phải trộn vào khẩu phần bột sò, bột xương Hàm lượng khoáng trong khẩu phần đòi hỏi phải có sự cân bằng giữa tỷ lệ Ca/P = 1,6/1.Vitamin

Nếu gà nuôi thả từ do thì tự chúng có thể cung cấp đủ vitamin, nhưng nếu gà nuôi công nghiệp thì phải cung cấp đầy đủ vì không thể tự tiềm kiếm thức ăn Vì vậy cần quan tâm đến việc cung cấp vitamin cho gà con

Thiếu vitamin dẫn đến rối loạn chức năng sinh sản và trao đổi chất của gà Các vitaamin cần thiết cho gà là vitamin A, D, E, K, PP, vitamin nhóm B Gà con từ 0 –

2 tuần tuổi dễ bị nhiễm cầu trùng làm mất nhiều máu vì vậy cần bổ sung vitamin K

Trang 35

Kháng sinh

Trong chăn nuôi gia cầm kháng sinh được sử dụng tương đối rộng rãi nhất là gia cầm chăn nuôi lấy thịt Kháng sinh khi sử dụng với một liệu nhất định thì làm cho

gà tăng trọng nhanh hơn và có khả năng chống lại một số bệnh thông thường Mức

độ hiệu quả hơn trong tăng trọng 10 – 20% Chuyển hóa thức ăn giảm xuống 5 –15% Số gà con còi cọc bị giảm đi, mức độ đồng đều của đàn gà tăng lên, vi trùng

có hại trong cơ thể giảm xuống vì vậy giúp cho đàn gà sinh trưởng tốt hơn (Nguyễn Đức Hiền, 1999)

Chất lượng thức ăn

Phải đảm bảo thức ăn tối ưu để phát huy ưu thế lai và tốc độ phát triển cơ thể rất cao của gà lai Thức ăn cân đối đầy đủ chất dinh dưỡng, bổ sung các chế phẩm sinh học kích thích tăng trưởng, làm tăng chất lượng thịt như các enzyme, hormone không hại cho người, một số sắc tố làm tăng màu da vàng, lòng đỏ trứng đậm Khẩu phần

ăn cho gà theo ngày tuổi, không thừa, không thiếu vì thừa hay thiếu đuề lãng phí (Lê Hồng Mận, 1999)

Chú y những thực liệu dễ hư như bánh dầu, bột cá, bắp vì những dạng thực liệu này khó bảo quản, chúng dễ nhiễm Aflatoxine gây độc cho gà, có thể làm chết gà con (Nguyễn Đức Hiền, 1999)

Phương pháp cho ăn

Nuôi gà broiler không hạn chế thức ăn và cho ăn thỏa mãn nhu cầu, thức ăn nghiền nhỏ 1 – 1,5 mm cho gà 2 – 3 tuần đầu, sau đó cho thức ăn viên hiệu quả hơn Thức

ăn luôn có trong máng 24 giờ/ngày Có thể cho gà ăn theo bữa trong ngày để gà ăn hết thức ăn Nhuu7ng không nên để gà đói quá 2 giờ

Muốn cho gà ăn nhiều chóng lớn không có nghĩa là ta cứ đổ đầy thức ăn vào trong máng ăn mà hãy tuân thủ nguyên tắc đối với gà là cho ăn từng ít một, chia nhiều lần

vì sở thích gà luôn tìm kiếm thức ăn mới Dù gà đã ăn no tới cổ nhưng khi ta đổ thức ăn mới dù thức ăn không ngon gà vẫn tiếp tục ăn vào Đấy là cách nhồi nhét gà

Phương pháp cho uống

Luôn đảm bảo nước uống sạch và đầy đủ cho gà con 24/24 giờ

Tuần 1: 100 con/1,7 lít trong ngày

Tuần 2: 100 con/4,2 lít trong ngày

Tuần 3: 100 con/5,7 lít trong ngày

Tuần 4: 100 con/7,5 lít trong ngày

Gà có thể uống nhiều hoặc ít hơn tùy thuộc vào thức ăn và điều kiện thời tiết

Trang 36

Cho gà uống bằng những máng nhỏ để trong chuồng, khi gà được 1 tuần tuổi chuyển từ những máng nhỏ sang máng uống bình thường, nên giữ lại các máng uống nhỏ đầu tiên trong khoảng 5 – 7 ngày cho đến khi tất cả gà con đều quen với máng thứ hai (Nguyễn Đức Hiền, 1999).

Những yêu cầu của gà con đối với điều kiện môi trường

Yêu cầu về nhiệt độ

Gà con có một đặc điểm khác với những gia súc khác: thân nhiệt cao 41 – 41,5oC (so với heo 38oC, bò 38,5oC), gà không có tuyến mồ hôi, gà con rất dễ nhảy cảm với

sự thay đổi thời tiết, khi mới sinh ra cơ thể gà chưa thật hoàn chỉnh, khả năng điều tiết nhiệt độ trong những ngày đầu chưa có, từ 10 ngày trở đi khả năng này mới bắt đầu thể hiện Vì thế thời kỳ đầu tức là hai tuần đầu nếu gà con không được sống trong điều kiện thích hợp thì sẽ có hại rất nhiều (Lã Thị Thu Minh, 2000)

Gà rất nhảy cảm với sự thay đổi của nhiệt độ ở môi trường bên ngoài, do đó cần bảo đảm nhiệt độ úm thích hợp Nhiệt độ thích hợp trong giai đoạn úm của gà là:

gà con nằm trải ra đều là nhiệt độ úm thích hợp (Nguyễn Đức Hiền, 1999)

Yêu cầu về ánh sáng

Chương trình chiếu sáng chiếm một vị trí quan trọng trong chăn nuôi gà con Nếu kéo dài thời gian chiếu sáng sẽ làm tăng đòi hỏi về thức ăn và kích thích cơ thể phát triển nhưng lại làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn Nếu giảm thời gian chiếu sáng

sẽ gây một hiệu quả ngược lại tức là làm giảm nhu cầu thức ăn, giảm tăng trọng nhưng lại tăng hiệu quả sử dụng thức ăn

Số thời gian chiếu sáng thường áp dụng như sau:

1 – 2 ngày đầu 24/24 giờ

Ngày đăng: 12/04/2018, 01:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w