1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề Xuất Tăng Cường Năng Lực Thống Kê Cho Bộ Y Tế

66 111 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 777,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Vụ/cục này có một bộ phận CNTT và các đơn vị khác để hỗ trợ cho hoạt động thống kê chẳng hạn như bộ phận xuất bản, hành chính… Các cán bộ thống kê tham gia vào tất cả các lĩnh vực

Trang 1

ĐỀ XUẤT TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC

Báo cáo của Dự án 00040722

"Hỗ trợ Giám sát phát triển kinh tế-xã hội "

Tổng cục Thống kê- Hà Nội

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

I Lời giới thiệu ……… 1

II Đánh giá thực trạng cơ cấu tổ chức thống kê …… 2

2.1 Chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động ……… 2

2.2 Đề xuất các thay đổi ……… 9

III Đánh giá về các hoạt động thống kê của Bộ ……… 9

3.1 Hệ thống chỉ tiêu thống kê y tế ……… 9

3.2 Tiểu hệ thống thông tin về điều trị ……… 10

3.3 Tiểu hệ thống thông tin về sức khỏe sinh sản ……… 11

3.4 Tiểu hệ thống thông tin về chương trình phòng chống lao ……… 11

3.5 Tiểu hệ thống thông tin về chương trình phòng chống suy dinh dưỡng quốc gia …… 12

3.6 Tiểu hệ thống thông tin về thu thập thông tin về phòng chống sốt rét ………… 12

3.7 Giám sát các bệnh truyền nhiễm ……… 13

3.8 Hệ thống thông tin từ các Bộ, ngành khác ……… 13

3.9 Đề xuất giải pháp ……… 14

IV Đánh giá về các cuộc điều tra chính do bộ thực hiện ……… 14

4.1 Điều tra y tế quốc gia ……… 15

4.2 Điều tra dinh dưỡng ……… 15

4.3 Điều tra bướu cổ ……… 16

4.4 Đề xuất hành động ……… 16

V Đánh giá các chỉ tiêu y tế trong mối quan hệ với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia/Chương trình điều tra quốc gia ……… 17

5.1 Niên giám Thống kê y tế ……… 17

5.1.1 Đề xuất các bước thực hiện ……… 18

5.2 Các chỉ tiêu thống kê y tế ……… 18

5.2.1 Đề xuất cải tiến các chỉ tiêu y tế ……… 19

VI Đánh giá về đội ngũ cán bộ thống kê y tế và trình độ của cán bộ trong hoạt động thống kê y tế ……… 21

6.1 Thực trạng Cán bộ thống kê ngành y tế ……… 21

6.1.1 Quan điểm và nhận định ……… 22

6.2 Những vấn đề khác có liên quan ……… 25

6.2.1 Các đề xuất bổ sung ……… 25

VII Tóm tắt về phần nhận định, kết luận và kiến nghị ……… 26

Trang 3

DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU

Biểu 1 – Số lượng cán bộ thống kê bộ phận Thống kê-tin học phân theo giới tính và trình độ

cao nhất đạt được ………… 21

Biểu 2 – Số lượng cán bộ thống kê bộ phận Thống kê-tin học phân theo giới tính và các khóa đào tạo ……… 23

Biểu 3 – Đề xuất tăng cường năng lực cho ngành y tế ……… 27

SƠ ĐỒ Hình 1 – Sơ đồ tổ chức Bộ y tế ……… 2

Hình 2 – Bốn tuyến thông tin của ngành y tế ……… 3

Hình 3 – Bộ phận/đơn vị thống kê ở từng kênh thông tin ……… 7

Hình 4 – Đường đi thông tin của các tuyến khác nhau ……… 8

PHỤ LỤC Phụ lục A – Các chỉ tiêu thống kê y tế ……… 38

Phụ lục B- So sánh các chi tiêu thuộc NSIS và SEDP……… 49

Phụ lục C- Tóm tắt một số phần mềm phân tích điều tra……… 51

Trang 4

HSIS Hệ thống chỉ tiêu thống kê y tế

ICD Bảng phân loại quốc tế về các loại bệnh

MNRE Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bộ Y Tế Bộ Y tế

MOI Bộ Công nghiệp

MOLISA Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

NSIS Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

NSP Chương trình điều tra thống kê quốc gia

Trang 5

I Lời giới thiệu

Việt Nam là một trong những quốc gia có nhu cầu ngày càng tăng đối với ngành

y tế Chính phủ Việt Nam đã thành lập Bộ Y tế với tư cách là cơ quan quan trọng nhất thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân cũng như thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ công trong khuôn khổ kiểm soát của bộ và quản lý nguồn vốn nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) theo quy định của pháp luật Bộ Y tế có 14 vụ, cục, văn phòng và ban thanh tra Bộ cũng có các đơn vị chuyên môn như bệnh viện trung ương, viện nghiên cứu và phòng chống, công ty dược phẩm, các chương trình y tế, trường đại học và cao đẳng, v v Xin hãy xem thêm trong phần sơ đồ tổ chức của Bộ Y tế ở trang sau

Mỗi vụ/cục có chức năng và nhiệm vụ riêng phù hợp với sứ mệnh của Bộ Y tế Ngoài những nhiệm vụ này, một số vụ, cục và đơn vị chuyên môn trực thuộc Bộ còn thu thập và tổng hợp thông tin về y tế Phòng thống kê tin học trực thuộc Vụ Kế hoạch và Tài chính là cánh tay phải đắc lực thực hiện các hoạt động thống kê của Bộ và chịu trách nhiệm chính về quản lý cơ sở dữ liệu thống kê y tế, đặc biệt là Hệ thống Thông tin Thống

kê y tế (HTTTTKYT) Những vụ, viện và đơn vị chuyên môn khác trong Bộ có trách nhiệm bổ sung thông tin y tế cho HTTTTKYT thuộc lĩnh vực mình phụ trách và các chương trình y tế quốc gia do Chính phủ Việt Nam đầu tư thông qua hợp tác đa phương hay song phương với các tổ chức quốc tế Mỗi chương trình có một tiểu hệ thống thông tin riêng và đã cung cấp một khối lượng lớn các thông tin Hiện nay có khoảng 10 chương trình y tế quốc gia do các Vụ, cục, bệnh viện và bệnh viện chuyên khoa trực thuộc Bộ Y tế quản lý và điều hành, bao gồm: a) chương trình Lao do bệnh viện Lao và bệnh Phổi quản lý và điều hành; b) chương trình Sốt Rét do viện Sốt Rét KST& CT; c) chương trình Bướu cổ do bệnh viện Nội Tiết; d) chương trình phòng chống Phong do viện Da Liễu; e) Chương trình tiêm chủng mở rộng và chương trình phòng chống sốt xuất huyết do Viện Vệ Sinh Dịch Tế trung ương; f) Chương trình sức khỏe sinh sản do

vụ SKSS; g) Chương trình phòng chống suy Dinh Dưỡng do viện Dinh dưỡng; h) Chương trình sức khỏe Tâm thần do Bệnh viện Tâm Thần Trung ương; i) chương trình

an toàn thực phẩm do cục an toàn thực phẩm, và j) chương trình phòng chống HIV/AIDS

do cục phòng chống HIV/AIDS quản lý và điều hành

Trang 6

Hình 1 – Cơ cấu tổ chức Bộ Y tế

BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ

Thứ trưởng

II Đánh giá thực trạng cơ cấu tổ chức thống kê

Hoạt động của ngành y tế được chia thành 4 tuyến (Xem sơ đồ 2 ở trang 3) bao gồm tuyến trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã Những tuyến này là các mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế và thông tin thống kê về y tế có quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau Xét về khía cạnh thông tin thống kê, bốn kênh này chịu trách nhiệm thu thập số liệu phục vụ công tác quản lý, phân tích và đánh giá các hoạt động của ngành y

tế cũng như các chương trình thuộc từng lĩnh vực và tình trạng sức khỏe nhân dân

2.1 Chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động

Hai chức năng của mỗi tuyến sẽ được trình bày trong phần này

Cuc Thuốc phòng bệnh

Vụ SKSS Văn phòng

Cục quản lý Thực phẩm Việt Nam

Thứ trưởng

Vụ Pháp Chế

Thứ trưởng

Viện Chiến lược

và Chính sách

Cục Phòng Chống HIV/AIDS

Trang 7

Hình 2 – Bốn tuyến thông tin của ngành y tế

CHÍNH PHỦ

BỘ Y TẾ

- 14 Vụ, Cục, Văn phòng và Ban thanh tra

UBND tỉnh/thành phố

SỞ Y TẾ

Các đơn vị chuyên môn trực thuốc Bộ Y tế

- Điều trị: 30 bệnh viên có giường

- Dự phòng: 17 viện và trung tâm

- Quản lý chất lượng: 5Viện và trung tâm

- Đào tạo: 14 trường đại học và cao đẳng

- Trung tâm giáo dục truyền thông y tế: 17 đơn vị

Các đơn vị chuyên môn trực thuộc sở y tế

- Bệnh viện đa khoa và chuyên khoa

- Trung tâm y tế dự phòng

- Kiểm tra và quản lý chất lượng

- Đào tạo:Trường trung học và cao đẳng Y tế

- Trung tâm giáo dục và tuyên truyền y tế

- Bệnh viện ĐK quận/huyện Trung tâm y tế dự phòng huyện

3 Tuyến quận huyện

4 Tuyến xã/phường

Quản lý nhà nước Hướng dẫn chuyên môn Ghi chú:

Trang 8

Page 4

Tuyến trung ương

Tuyến trung ương chính là Bộ Y tế Bộ y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước

về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, bao gồm điều trị, dự phòng, kiểm nghiệm chất lượng, chữa bệnh, phục hồi chức năng, y học cổ truyền, thuốc phòng chữa bệnh cho người, mỹ phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, an toàn vệ sinh thực phẩm và trang thiết bị y tế Để thu thập được các thông tin phục vụ cho việc thực hiện và đánh giá những chức năng này, Bộ Y tế đã giao cho bộ phận thống kê-tin học, vụ Kế hoạch tài chính, Bộ Y tế là đầu mối chỉ đạo và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các hoạt động thống kê y tế cũng như xây dựng chính sách và chiến lược nhằm tăng cường và phát triển lĩnh vực thông tin thống kê y tế Bộ phận thống kê-tin học quản lý HTTTTKYT

và thực hiện tất cả các bước của hoạt động thống kê của Bộ từ giai đoạn lập kế hoạch, triển khai tổ chức và quản lý các cuộc điều tra, giám sát các trung tâm thu thập số liệu,

xử lý, tổng hợp, biên soạn số liệu, đến phân tích, xuất bản, phổ biến và lưu trữ thông tin y

tế Ngoài ra, Bộ phận thống kê-tin học còn thực hiện các cơ chế cung cấp và sử dụng số liệu, thực hiện chế độ báo cáo thống kê đối với TCTK, các bộ ngành, cơ quan chính phủ

và tổ chức quốc tế khác bởi đây là bộ phận duy nhất có nhiệm vụ cung cấp sô liệu thống

kê y tế để công bố trong và ngoài nước

Cụ thể, Bộ phận thống kê-tin học còn chịu trách nhiệm thu thập và tổng hợp báo cáo về họat động y tế của 64 tỉnh trong cả nước, báo cáo của các vụ, vục, viện, các chương trình y tế quốc gia và các thông tin về dân số, kinh tế - xã hội, môi trường của Tổng cục thống kê Tính toán và phân tích tình hình thực hiện mục tiêu chiến lược của ngành, xuất bản các ấn phẩn về thống kê y tế như Niên giám thống kê, tóm tắt số liệu

và các ấn phẩm thống kê khác; Thực hiện chế độ báo cáo cho các cơ quan chính phủ Các Vụ, cục khác của Bộ Y tế cũng có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho Bộ phận thống kê-tin học- Vụ Kế hoạch Tài chính Vụ Điều trị thu thập, tổng hợp và báo cáo số liệu về hoạt động điều trị bệnh tật và tử vong theo ICD 10 Vụ SKSS chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp và báo cáo số liệu về chăm sóc sức khỏe sinh sản Đối với 10 chương trình y tế quốc gia, mỗi vụ/cục/đơn vị chuyên môn của Bộ phụ trách về một chương trình

cụ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin có liên quan, chẳng hạn như Bệnh viện Lao và các Bệnh về phổi có trách nhiệm cung câp thông tin về số người mắc bệnh lao, số người chết vì lao, v v

Tuyến Tỉnh/thành phố

Sở Y tế, tuyến thông tin y tế ở tỉnh, hỗ trợ UBND tỉnh thực hiện quản lý nhà nước

về chăm sóc sức khỏe con người, bao gồm: y tế dự phòng, khám và điều trị, phục hồi chức năng, y học cổ truyền và dược, ảnh hưởng mỹ phẩm đến sức khỏe con người, vệ sinh an toàn thực phẩm, trang thiết bị và các cơ sở y tế, quản lý hành chính, dịch vụ y

tế công thuộc ngành y tế; và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh theo quy định của pháp luật Sở Y tế chịu sự chỉ đạo quản lý

về tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND cấp tỉnh đồng thời chịu sự chỉ đạo hướng dẫn, giám sát và kiểm tra về mặt chuyên môn của Bộ Y tế Các đơn vị chuyên môn: Điều trị có bệnh viện đa khoa và chuyên khoa: Dự phòng có các trung tâm y tế dự phòng, sốt rét, trung tâm phòng chống các bệnh xã hội, trung tâm sức khỏe sinh sản, các trường trung học và cao đẳng y tế

Trang 9

Công tác thống kê y tế toàn tỉnh được giao cho Phòng Kế hoạch và Thống kê-

Sở Y tế Phòng Kế hoạch và Thống kê xây dựng và phát triển hệ thống thông kê y tế trong tỉnh và thành phố; thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp số liệu thống kê y tế phục vụ yêu cầu của Bộ Y tế về chế độ báo cáo, và đáp ứng nhu cầu xây dựng kế hoạch và điều hành họat động của địa phương như UBND và Cục Thống kê; tổ chức kiểm tra giám sát công tác thống kê của tỉnh và các trung tâm y tế tuyến dưới

Đối với những tỉnh chưa thành lập phòng y tế huyện hoặc phòng y tế huyện chưa có đủ số lượng cán bộ thì cán bộ thống kê của sở có nhiệm vụ thu thập và tổng hợp số báo cáo về hoạt động y tế trên toàn tỉnh bao gồm: báo cáo của các đơn vị y tế tuyến tỉnh, trung tâm y tế dự phòng huyện, bệnh viện huyện, PKBĐK và phòng y tế Sau khi ổn định tổ chức y tế tuyến huyện và khi phòng y tế có đủ số lượng cán bộ thống kê thì trung tâm y tế dự phòng huyện, bệnh viện huyện sẽ không phải báo cáo cho sở y tế, mà phòng Y tế huyện có trách nhiệm tổng hợp thông tin của những đơn vị này gửi cho sở Các thông tin liên quan như kinh tế-xã hội và dân số của tỉnh sẽ được thu thập và đối chiếu với Cục thống kê tỉnh Báo cáo của sở y tế được gửi cho UBND tỉnh và Bộ Y tế (Bộ phận thống kê - tin học, vụ KH-TC)

Tuyến huyện

Trung tâm y tế quận/huyện có chức năng nhiệm vụ chăm sóc và tăng cường sức khỏe cho nhân dân trong huyện, bao gồm: y tế dự phòng, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, y học cổ truyền và dược, ảnh hưởng mỹ phẩm đến sức khỏe con người,

vệ sinh an toàn thực phẩm, trang thiết bị và các cơ sở y tế Trung tâm y tế quản lý toàn bộ các trạm y tế xã/phường trong huyện, thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo phân cấp của ủy ban nhân dân cấp tỉnh và ủy quyền của sở y tế Phòng y tế chịu

sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND huyện đồng thời chịu

sự hướng dẫn, chỉ đạo giám sát và kiểm tra về hoạt động chuyên môn của Sở Y tế.Các

cơ quan chuyên môn của Trung tâm y tế bao gồm Bệnh viện Quận huyện, phòng khám

đa khoa khu vực, Nhà hộ sinh khu vực

Việc phân chia chức năng của Trung tâm y tế huyện cho 3 cơ quan: Phòng y tế quận/huyện, Bệnh viện quận/huyện và Trung tâm Y tế Dự phòng huyện đã làm cho mạng lưới thông tin y tế tại tuyến huyện có sự thay đổi rõ rệt Phòng Y tế quận/huyện thuộc quản lý trực tiếp của UBND quận/huyện và có trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực y tế trong địa bàn huyện và quản lý trực tiếp các trạm y tế xã Bệnh viện và trung tâm y tế dự phòng quận/huyện chịu trách nhiệm gián tiếp chỉ đạo chuyên môn cho tuyến xã, báo cáo chuyên môn cho phòng y tế huyện và chịu sự quản lý trực tiếp của

Sở y tế

Phòng y tế quận/ huyện có nhiệm vụ hướng dẫn các đơn vị y tế trong huyện và trạm y tế thu thập, ghi chép hệ thống biểu mẫu và làm báo cáo gửi Sở y tế và UBND tỉnh

Việc thay đổi cơ cấu tổ chức y tế tuyến huyện đã gây không ít khó khăn cho hệ thống thống tin y tế Điều này làm cho các cán bộ thống kê có chuyên môn tốt đã bỏ sang làm công tác khác mà có nhiều cơ hội mới Vì vậy dẫn đến tình trạng cán bộ làm kiêm nhiệm công tác thống kê song cùng với các nhiệm vụ khác Hầu hết cán bộ thống

kê của các phòng y tế huyện không được đào tạo về công tác thu thập và xửlý thông tin nên họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai chế độ báo cáo

Trang 10

Ngòai ra, thiếu cơ sở, vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hệ thống thông tin ở nhiều phòng y tế huyện làm cho việc xử lý số liệu, phân tích và làm báo cáo tại phòng y

tế hết sức khó khăn gây ảnh hưởng không nhỏ đến toàn bộ hệ thống thông tin

Tuyến xã

Trạm y tế xã phường là tuyến thứ 4, là một bộ phận của hệ thống y tế nhà nước Trạm y tế có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm các bệnh dịch và ổ dịch, điều trị những bệnh thông thường và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Ngoài ra trạm y tế xã còn thực hiện một số dịch vụ khác như huy động sự tham gia của cộng đồng về thực hiện KHHGĐ, vệ sinh môi trường, phòng bệnh và tăng cường sức khỏe

Việc thành lập, sát nhập hoặc giải tán trạm y tế sẽ do UBND tỉnh/ thành phố quyết định trên cơ sở đề nghị của UBND xã, huyện và giám đốc sở y tế

Trạm y tế thu thập thông tin về tình hình sức khoẻ của cộng đồng thông qua mạng lưới y tế thôn/ bản và tổng hơp số liệu về cung cấp dịch vụ y tế, tình trạng sức khoẻ trong xã để báo cáo phòng y tế quận/ huyện, UBND xã/ phường và Trung tâm Y

Trang 11

Hình 3 – Sơ đồ tổ chức của Hệ thống thông tin thống kê y tế tổng hợp

BỘ Y TẾ (Bộ phận TK-TH, vụ

Kế hoạch & Tài chính)

Viện nghiên cứu

& CTYTQG

Bệnh viện Trung ương

Cơ sở y tế TW khác

SỞ Y TẾ ( Phòng kế hoạch)

Phòng Y tế quận/

huyện

Trạm Y tế xã/phường

Trung tâm y tế

Dự phòng tỉnh

Trung tâm sức KSS tỉnh

Cơ sở y tế tuyến tỉnh khác Bệnh viện tỉnh

Trang 12

Sơ đồ 4 ở trang 8 mô tả luồng thông tin từ tuyến xã đến tuyến huyện, tỉnh và trung ương Sơ đồ cũng cho thấy mối liên hệ giữa Bộ Y tế và TCTK, và mối quan hệ giữa bộ phận Thống kê-tin học với các vụ, cục và đơn vị chuyên môn khác của Bộ

Hình 4 – Luồng thông tin từ các tuyến thông tin khác nhau

BỘ Y TẾ Đơn vị Thống kê-tin học, vụ KH-TC

tư nhân trên địa bàn tỉnh

Trung tâm y tế

Dự phòng &

Sức khỏe Sinh Sản

Cơ sở y tế khác tuyến tỉnh

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

đa khoa huyện

Trao đổi thông tin

UBND huyện Phòng y tế

Trung tâm y tế dự phòng và MCH/FP huyện

Trang 13

2.2 Đề xuất các thay đổi

Bộ phận thống kê-tin hoc ít nhất cần phải tổ chức gặp mặt thường xuyên với tuyến thông tin tỉnh hàng năm Buổi gặp mặt này sẽ là nơi thảo luận các vấn đề có liên quan đến công tác thống kê và những nhu cầu về mặt kỹ thuật của các cán bộ có liên quan đến quá trình xử lý, phân tích và làm báo cáo thống kê Cần ghi lại biên bản của các buổi gặp mặt này nhằm có thể theo dõi được các quyết định và giải pháp đã được đưa ra trong buổi họp mặt Tương tự như vậy các Sở y tế ở các tỉnh cũng nên tổ chức gặp mặt hàng quý với các tuyến thông tin quận huyện để truyền đạt lại những quyết định và giải pháp đưa ra trong cuộc họp thường kỳ với Bộ phận thống kê-tin học Sở Y

tế nên thảo luận các vấn đề có liên quan đến công tác thống kê ở quận huyện và ghi chép lại các kết quả của từng cuộc họp Tuyến quận huyện cũng nên tổ chức buổi làm việc tương tự với tuyến xã Nếu buổi gặp mặt hàng năm này đòi hỏi phải có thêm ngân sách cho tuyến thông tin ở trung ương cũng như các tuyến thông tin khác thì có thể lồng ghép cuộc họp này vào các chuyến đi làm việc/giám sát (kết hợp với các công việc khác) đến các tỉnh/huyện/xã

Ở một số nước, tổ chức/cơ quan thống kê của các bộ ngành thường đóng vai trò chính trong việc thực hiện các hoạt động thống kê Tổ chức thống kê hầu hết thường được đặt ở cấp vụ/cục để có cùng một cấp với các đối tác trong cơ quan thống kê quốc gia Trong Vụ/cục này có một bộ phận CNTT và các đơn vị khác để hỗ trợ cho hoạt động thống kê chẳng hạn như bộ phận xuất bản, hành chính… Các cán bộ thống kê tham gia vào tất cả các lĩnh vực của công tác thống kê từ lập kế hoạch và chuẩn vị các công cụ thu thập số liệu (biểu mẫu hay là bảng hỏi), các qui trình thu thập số liệu và hiệu đính, lập biểu, tổng hợp, tính toán và ước tính; phối hợp giữa công tác xử lý số liệu với xây dựng các chỉ tiêu ởcác bộ phận CNTT; phân tích các chỉ tiêu tổng hợp; phổ biến và xuất bản thông tin đến các nhà dùng tin chính và các đối tượng dùng tin khác

Bộ phận Thống kê tin học nên được nâng tầm lên thành cấp vụ/cục để có cùng cấo với đối tác của họ tại TCTK Nếu điều này không thể thực hiện được thì Bộ phận Thống kê- tin học nên được củng cố về số lượng cán bộ để bộ phận này có thể tham dự và hỗ trợ công tác thống kê của các vụ khác trong bộ

Chức năng phối hợp của Bộ phận Thống kê tin học cần được làm rõ, chú trọng đến “sự hợp tác” của các đơn vị khác trong bộ trong tất cả các giai đoạn của công tác thống kê nhất là trong chia sẻ thông tin Bộ phận Thống kê- Tin học cũng nên đi đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ về lưu trữ, tìm kiếm tra cứu tất cả thông tin y tế (trong quá khứ, hiện tại và tương lai) cũng như lưu trữ các thông tin này vào hệ thống cơ sở

dữ liệu chính Hệ thống cơ sở dữ liệu này nên được đưa vào một máy chủ có thể tích hợp được tất cả các thông tin thu thập được trong quá khứ, hiện tại và tương lai Máy chủ này cần được đặt ở Bộ phận Thống kê-tin học và cần được kết nối với tất cả các

cơ sở dữ liệu của các đơn vị xử lý số liệu thống kê khác trong bộ

Mặt khác, nếu Bộ phận Thống kê tin học bắt đầu xây dựng hoặc đã xây dựng được một cơ sở dữ liệu chính thì cơ sở dữ liệu này nên bao gồm tất cả các file số liệu y

tế được bộ thu thập từ quá khứ, hiện tại và tương lai cũng như các số liệu do các bộ ngành khác sản xuất Hệ thống cơ sở dữ liệu chính này và những hệ thống ở các đơn

vị khác của Bộ Y tế cần được bảo dưỡng và nâng cấp khi nhu cầu số liệu của bộ tăng

Trang 14

lên để bảo đảm tính hiệu quả và thuận tiện của việc tiếp cận và khai thác số liệu thống

kê y tế Đồng thời các qui định về an ninh cũng nên được thực hiện

Một nhiệm vụ cũng cần nên được bổ sung vào chính là nhiệm vụ lập kế hoạch

và tổ chức các chương trình đào tạo thống kê hàng năm Việc triển khai các chương trình đào tạo này không nhất thiết có nghĩa là giảng viên phải bắt buộc là cán bộ của Bộ phận Thống kê tin học Đối với các khóa đào tạo trong nước do bộ triển khau, Bộ có thể mời giảng viên từ các bộ ngành khác hoặc từ các trường đại học trong nước chẳng hạn như từ TCTK Bộ cũng có thể cử cán bộ tham gia vào các khóa đào tạo do TCTK hoặc các bộ ngành/công ty tư nhân tổ chức hoặc tham gia vào các khóa đào tạo do các cơ quan quốc tế ở các nước khác tổ chức

Khi xây dựng chương trình hoạt động hàng năm của mình, Bộ phận Thống kê- tin học cần đưa vào kế hoạch/chương trình đào tạo

III Đánh giá về công tác thống kê của Bộ

Cũng giống như tất cả các số liệu thống kê khác, số liệu thống kê y tế được lấy

từ nhiều nguồn khác nhau và sử dụng các phương tiện khác nhau Việc thu thập, xử lý, tập hợp và phân tích những số liệu này đòi hỏi không những rất nhiều thời gian mà còn

cả nguồn nhân lực, cố gắng và lòng kiên nhẫn Phần này tập trung đánh giá công tác thống kê của Bộ Y tế, đặc biệt là HTTTTKYT và các tiểu hệ thống khác cấu thành nên

số liệu thống kê y tế

3.1 Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Y tế

Năm 2006, được sự hỗ trợ của UNDP và TCTK, Bộ phận Thống kê-tin học, Vụ KHTC Bộ y tế đã phối hợp với các vụ, cục, viện, các chương trình y tế quốc gia xây dựng Danh mục chỉ tiêu thống kê y tế Những chỉ tiêu này được đưa vào một hệ thống được gọi là Hệ thống Chỉ tiêu (thông tin) thống kê y tế viết tắt là HTTTTKYT Hệ thống này là một hệ thống cơ sở dữ liệu được xây dựng nhằm cung cấp thông tin về y tế và dich vụ y tế, bao gồm điều trị, dự phòng, chăm sóc SKSS, phòng chống các bệnh xã hội, sản xuất và buôn bán các sản phẩm dược, đào tạo và phục hồi chức năng…

Hiện nay Bộ phận thống kê-tin học đang chuẩn hóa về khái niệm, định nghĩa, phương pháp thu thập, công thức tính toán, nguồn số liệu Theo đánh giá của các vụ, cục, viện, các chương trình y tế quốc gia, hệ thống chỉ tiêu này tương đối đầy đủ và đáp ứng được nhu cầu thông tin phục vụ phân tích, đánh giá và hoạch định chính sách của ngành cũng như phục vụ quản lý giám sát và điều hành các hoạt động của các lĩnh vực, các chương trình y tế quốc gia Bộ trưởng Bộ Y tế đã phê duyệt bảng danh mục chỉ tiêu này đồng thời xác định rõ vị trí và mối quan hệ giữa Hệ thống thống kê tổng hợp và các tiểu hệ thống nhằm hạn chế được sự chồng chéo trong thu thập và xử lý

số liệu

Tuy nhiên, việc thu thập các chỉ tiêu trên sẽ gặp nhiều khó khăn: (1) Hệ thống biểu mẫu sổ sách, báo cáo hiện nay không thể cung cấp những thông tin phục vụ tính toán một số chỉ tiêu, vì vậy cần phải có sự sửa đổi từ các sổ sách ghi chép ban đầu đến các báo cáo của các cơ sở y tế, các tuyến (2) Việc ứng dụng công nghệ tin học

Trang 15

trong lĩnh vực y tế còn quá chậm nên không thể cũng cấp những thông chi tiết phục vụ phân tổ của các chỉ tiêu, chẳng hạn như theo đặc điểm dân số: tuổi, giới, nhóm thu nhập…; theo Đơn vị hành chính: tỉnh, huyện, xã, nông thôn thành thị; như bệnh tật theo tuổi, giới tính; nhân lực phân theo tuổi/giới/ dân tộc (3) Kinh phí đầu tư cho công tác thống kê quá thấp và không đủ nên rất khó khăn cho việc sửa đổi, triển khai hệ thống biểu mẫu mới và đầu tư ứng dụng công nghệ tin học cho lĩnh vực thống kê ngành y tế 3.2 Tiểu hệ thống thông tin thống kê điều trị

Tiểu hệ thống thông tin điều trị do vụ Điều trị, Bộ y tế thực hiện Nhiêm vụ của Bộ phận thống kê vụ Điều trị là thu thập và tổng hợp những thông tin phản ảnh hoạt động của các bệnh viện từ tuyến huyện đến trung ương, xây dựng và ban hành hệ thống biểu mẫu ghi chép ban đầu và báo cáo cho các bệnh viện, hướng dẫn ghi chép biểu mẫu, bệnh tật và tử vong theo ICD 10

Hiện tại vụ điều trị có 2 bác sỹ làm kiêm nhiệm thống kê Trung bình mỗi bệnh viện TW và bệnh viện tỉnh có 1 cán bộ thống kê, thường nằm trong bộ phận kế hoạch Những bệnh viện nhỏ như bệnh viện Huyện, thị xã có cán bộ làm công tác thống kê kiêm nhiệm Y tá trưởng của các khoa phòng có nhiệm vụ tổng hợp số liệu về hoạt động của khoa mình gửi phòng kế hoạch tổng hợp Cán bộ thống kê bệnh viện tổng hợp số liệu của toàn bệnh viện

Theo quy định của vụ Điều trị , tất cả các bệnh viện từ huyện, tỉnh và trung ương báo cáo số liệu trực tiếp cho vụ Điều trị, Bộ Y tế, đồng thời báo cáo cho Sở Y tế để quản lý và tổng hợp báo cáo gửi vụ Kế hoạch tài chính, Bộ Y tế (Hệ thống thông tin thống kê tổng hợp)

3.3 Tiểu hệ thống thông tin thống kê SKSS

Tiểu Hệ thống thông tin Sức khoẻ Sinh sản do vụ SKSS làm đầu mối và thực hiện Hiện nay vụ có 1 bác sỹ làm kiêm nhiệm thống kê Ở tuyến tỉnh, Trung tâmy tế tỉnh và phòng SKSS của trung tâm y tế Dự phòng có cán bộ làm thống kê kiêm nhiệm Ở trạm

y tế xã và NHS, y sỹ sản nhi hay trưởng trạm có trách nhiệm tổng hợp số liệu về hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản Tại khoa sản các bệnh viện, y tá trưởng có nhiệm

vụ tổng hợp báo cáo Công cụ thu thập thông tin về CSSKSS cũng đã được xây dựng

và ban hành tại các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS

Việc thu thập và tổng hợp thông tin về SKSS được thực hiện từ cấp thấp nhất là trạm y tế Theo đó thì tại trạm y tế, NHS tổng hợp báo cáo gửi bộ phận sức khoẻ sinh sản của trung tâm y tế dự phòng huyện Trung tâm y tế dự phòng huyện tổng hợp báo cáo của các trạm y tế và khoa sản bệnh viện gửi trung tâm sức khoẻ tỉnh (TTSKSS) Trung tâm sức khoẻ sinh sản tỉnh tổng hợp báo cáo của các trung tâm y tế dự phòng huyện và khoa sản bệnh viện tỉnh, TW đóng trên địa bản tỉnh gửi Vụ Sức Khoẻ Sinh Sản, Bộ Y tế và Sở y tế để tổng hợp gửi Vụ Kế hoạch tài chính, Bộ Y tế

3.4 Tiểu hệ thống thông tin thống kê của Chương trình phòng chống Lao

Trang 16

Trưởng phòng thuộc Bệnh viện Lao và các bệnh về phổi trung ương phụ trách tiểu hệ thống thông tin cùng 2 cán bộ quản lý thông tin thu thập được Số liệu về bệnh nhân và kết quả điều trị bệnh lao được tổng hợp từ tuyến quận huyện lên đến các cấp cao hơn

Số liệu về lao được thu thập từ các tuyến khác nhau Một bệnh viện ở miền Nam phụ trách việc thu thập và xử lý số liệu về phòng chống lao tại các tỉnh miền Nam và gửi các số liệu này cho chương trình phòng chống lao trung ương Trung tâm y tế phòng chống các bệnh xã hội có nhiệm vụ thu thập và tổng hợp số liệu về hoạt động phòng chống Lao của toàn tỉnh và gửi báo cáo cho chương trình phòng chống lao và

Sở Y tế

Trung tâm Y tế Dự phòng huyện có nhiệm vụ thu thập các thông tin về hoạt động chống Lao trong huyện gửi trung tâm Phòng chống các bệnh xã hội Trạm y tế xã có nhiệm vụ quản lý và phát thuốc cho bệnh nhân Lao trong xã theo phác đồ điều trị của tuyến trên

Những thông tin mà tiểu hệ thống phòng chống Lao thu thập bao gồm:

• Tổng số bệnh nhân Lao tòan quốc và mỗi tỉnh, trong đó Lao phổi : AFB(+) mới, AFB (+) tái phát, AFB(-) và Lao ngoài phổi

• Kết quả điều trị bệnh nhân AFB (+) mới theo phương pháp 2SHRS/6HE bao gồm số khỏi, số chết

Các chỉ số đánh giá chương trình:

• Tỷ lệ bệnh nhân lao mới phát hiện

• Chỉ số mắc lao phổi AFB(+)/100.000dân

• Tỷ lệ bệnh nhân lao AFB(+) điều trị khỏi

• Tỷ lệ tử vong trong điều trị

3.5 Tiểu hệ thống thông tin thống kê của chương trình phòng chống suy dinh dưỡng quốc gia

Tiểu hệ thống này do viện Dinh dưỡng chỉ đạo và triển khai thực hiện Nhiêm vụ của tiểu hệ thống là thu thập tổng hợp thông tin về tình hình dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em dưới 5 tuổi Việc thu thập và xử lý số liệu về suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ dưới 5 tuổi được dựa trên 3 kênh: Hệ thống báo cáo định kỳ; Hệ thống giám sát SDD hàng năm; và các cuộc điều tra đặc biệt

Hệ thống báo cáo định kỳ thu thập số liệu hàng tháng về cân nặng của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Cộng tác viên dinh dưỡng của các xã có nhiệm vụ cân trẻ dưới 5 tuổi hàng tháng và ghi vào sổ Sau đó số liệu được tổng hợp và báo cáo về Chương trình phòng chống Suy Dinh Dưỡng quốc gia

Hệ thống giám sát SDD hàng năm (bắt đầu thực hiện từ năm 1998) giám sát hàng năm về tình trạng suy dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em dưới 5 tuổi Cỡ mẫu là

1500 trẻ cho từng tỉnh Thông tin thu thập từ hệ thống này bao gồm: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng /tuổi); tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao/ tuổi); Suy dinh dưỡng thể gầy còm (cân nặng /chiều cao); Số liệu thiếu năng lượng trường

Trang 17

diễn ở nhóm đối tượng bà mẹ; tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn và tỷ lệ trẻ em được uống vitamin A

Các cuộc điều tra đặc biệt bao gồm: Tổng điều tra Dinh Dưỡng 10 năm/1 lần; Tổng điều tra vitaminA; Tổng điều tra thiếu máu 5 năm/1lần; Các cuộc điều tra đề tài nghiên cứu khác

3.6 Tiểu hệ thống thu thập thông tin về phòng chống Sốt rét

Tiểu hệ thống này do chương trình phòng chống Sốt rét Quốc gia thuộc Viện sốt rét KST-CT Trung ương làm đầu mối, triển khai và thực hiện Chương trình này xây dựng và củng cố hệ thống thông tin thông qua việc thu thập và tổng hợp số liệu về hoạt động phòng chống sôt rét trên phạm vi toàn quốc Mạng lưới thông tin được xây dựng tại các vùng có viện sốt rét KST-CT Viện sốt rét Trung ương và các viện sốt rét khu vực đều có cán bộ làm công tác thông tin thống kê

Một số tỉnh có trung tâm phòng chống sốt rét KST-CT hoặc có bộ phận phòng chống sốt rét nằm trong Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Tuyến huyện có trung tâm y tế

dự phòng Trung tâm phòng chống sốt rét tỉnh và huyện có cán bộ làm thống kê nhưng kiêm nhiệm Trạm trưởng Trạm y tế có trách nhiệm phân công cán bộ thu thập và tổng hợp báo cáo

Báo cáo của xã chỉ tổng hợp số liệu số mắc/chết sốt rét do trạm y tế phát hiện Trung tâm y tế Dự phòng tổng hợp số liệu mắc/chết sốt rét trong báo cáo xã cộng với

số phát hiện và điều trị tại các cơ sở y tế tuyến huyện gửi Trung tâm y tế Dự phòng Tỉnh Trung tâm y tế dự phòng tỉnh tổng hợp số liệu của các huyện bổ sung số liệu sốt rét được phát hiện và điều trị tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh gửi viện sốt rét & KST-CT các khu vực và Sở y tế Viện sốt rét KST& CT các khu vực tổng hợp số liệu của các tỉnh và

số liệu được phát hiện và điều trị tại các cơ sở trung ương gửi chương trình sốt rét quốc gia Viện sốt rét KST-CT trung ương tổng hợp báo cáo bộ Y tế (Vụ KHTC, Cục Y

tế Dự phòng)

3.7 Hệ thống giám sát các bệnh dịch lây

Tương tự như tiểu hệ thống thông tin sốt rét, Viện vệ sinh dịch tễ trung ương và các viện VSDT khu vực có nhiệm vụ chỉ đạo hệ thống giám sát và ngăn chặn 26 bệnh dich lây nguy hiểm Các thông tin phục vụ cho việc giám sát và báo cáo các bệnh này được thu thập từ xã, kết hợp với sự theo dõi giám sát dịch của Trung tâm y tế Dự phòng Huyện, trung tâm y tế Dự phòng Tỉnh và viện vệ sinh dịch tễ Trung ương, các viện VSDT khu vực Ở mỗi cấp thu thập số liệu (ngoại trừ tuyến xã) đều có một cán bộ làm công tác thống kê có trách nhiệm hướng dẫn ghi chép hệ thống biểu mẫu đồng thời thu thập, tổng hợp số liệu về mắc/chết các bệnh dịch lây

Tại xã, có 2 loại báo cáo, đó là báo cáo tuần và báo cáo tháng Biểu mẫu báo cáo tuần ghi rõ số người mắc trong vụ dịch của cả tuần, kể cả số liệu đã báo cáo khẩn cấp và số mắc tản phát của các bệnh dịch trong tuần gửi lên tuyến trên

Trang 18

Báo cáo tháng ghi rõ số bệnh nhân và số người chết của từng bệnh dịch (26 bệnh) Báo cáo này được gửi lên trung tâm y tế dự phòng huyện

Cần lưu ý rằng việc thu thập số liệu và công tác thống kê khác của một số tiểu

hệ thống thông tin khác của các vụ, cục thuộc Bộ chẳng hạn như Dược … cũng tương

tự như tiểu hệ thống về SKSS Một số tiểu hệ thống thông tin thuộc các chương trình quốc gia (HIV, EPI, Phong, Tâm thần ) cũng có mô hình thu thập số liệu tương tự mô hình của tiểu hệ thống thông tin phòng chống sốt rét

3.8 Hệ thống thông tin của các bộ, ngành khác

Đối với Hệ thống thông tin thống kê quốc gia, Tổng cục Thống kê (tuyến trung ương) thu thập và tổng hợp số liệu từ các tỉnh Ở tỉnh Cục thống kê tỉnh thu thập và tổng hợp số liệu từ quận huyện Ở huyện phòng thống kê nằm trong UBND huyện thu thập và tổng hợp số liệu từ các xã Ở xã cán bộ làm công tác thống kê của UBND thực hiện chức năng thu thập số liệu

Một số thông tin phục vụ nghiên cứu đánh giá tình hình họat động của lĩnh vực y

tế cũng như tình trạng sức khỏe nhân dân được thu thập từ hệ thống thống kê nhà nước như Tổng thu nhập quốc nội, dân số, tử vong, tuổi thọ và một số thông tin khác liên quan đến lĩnh vực y tế

Trong những năm gần đây, sự phối hợp giữa TCTK với Bộ phận thống kê-tin học, Vụ KHTC Bộ Y tế và sự phối hợp giữa các phòng/đơn vị của Bộ đã có sự cải thiện đáng kể, nhất là việc xây dựng Danh mục hệ thống chỉ tiêu thống kê Quốc gia và hệ thống chỉ tiêu ngành Tuy nhiên việc hợp tác trong các cuộc điều tra nghiên cứu và chia sẻ thông tin giữa các hệ thống vẫn còn hạn chế

3.9 Đề xuất các giải pháp

Do Bộ Y tế phải thực hiện nhiều hoạt động thống kê ở nhiều lĩnh vực khác nhau như có thể thấy từ HTTTTKYT, ta có thể cho rằng hàng năm Bộ Y tế, thông qua bộ phận Thống kê-tin học thuộc vụ Kế hoạch –Tài chính, xây dựng chương trình hoạt động hàng năm, bao gồm những hoạt động cần thực hiện, thời gian dự kiến cho từng hoạt động và trách nhiệm của từng vụ/cục/đơn vị trong bộ Nếu trên thực tế, bộ phận này chưa thực hiện công việc vừa nêu trên, thì Bộ phận Thống kê tin học cần bắt đầu việc xây dựng chương trình hoạt động kể cả công tác thống kê cho ba tuyến dưới Chương trình công tác thống kê hàng năm sẽ được dùng như công cụ nhắc nhở toàn bộ các tuyến thông tin và sẽ đưa các hoạt động thống kê vào đúng trật tự của chúng

Cũng cần đánh giá từng hoạt động của tất cả các tuyến để đo lường hiệu quả của việc thực hiện các nhiệm vụ của Bộ Y tế Đánh giá cần thể hiện rõ hoạt động nào được tiến hành mà không gặp phải vấn đề gì lớn, hoạt động nào cần được cải tiến hơn

và hoạt động nào cần nên tiếp tục hoặc dừng Quá trình đánh giá này sẽ giúp Bộ phận Thống kê-tin học, Vụ KHTC sắp xếp các hoạt động thống kê cần được ưu tiên trong Bộ

Những hạn chế trong việc phối hợp có liên quan đến điều tra và chia sẻ thông tin giữa các hệ thống của các vụ/cục/đơn vị khác nhau trong Bộ, với TCTK và các bộ

Trang 19

ngành khác sẽ được cải thiện nếu chức năng phối hợp của Bộ phận Thống kê-tin học,

Vụ KHTC được tăng cường như đã đề cập đến trong phần 2 của báo cáo này

IV Đánh giá các cuộc điều tra chính do Bộ thực hiện

Hầu hết các chỉ tiêu thống kê y tế được thu thập từ các báo cáo định kỳ thông qua hệ thống biểu mẫu sổ sách của các cơ sở y tế Đối với hệ thống thống kê tổng hợp, trạm y tế xã có 9 quyển sổ ghi chép ban đầu để cập nhật tất cả các thông tin về hoạt động của trạm y tế và 7 biểu mẫu báo cáo để trạm y tế tổng hợp gửi Phòng y tế quận/ huyện Phòng y tế có 15 biểu tổng hợp các hoạt động y tế tuyến huyện gửi Sở y tế, và

Sở y tế có 16 biểu tổng hợp hoạt động y tế của toàn tỉnh gửi Bộ phận Thống kê-tin học,

Vụ KHTC- Bộ Y tế

Đối với tiểu hệ thống thông tin điều trị, sổ sách ghi chép ban đầu, hồ sơ bệnh án

và mẫu xét nghiệm cho các khoa phòng cũng đã được ban hành để sử dụng thống nhất trong cả nước, còn đối với các tiểu hệ thống khác sổ ghi chép ban đầu ở cấp xã phù hợp với hệ thống thống kê tổng hợp Tuy nhiên do yêu cầu quản lý và chỉ đạo chuyên môn của từng tiểu hệ thống nên vẫn còn một số sổ sách biểu mẫu riêng

Các chỉ tiêu thống kê y tế cũng được tính toán từ kết quảcác cuộc điều tra và các nghiên cứu

4.1 Điều tra y tế quốc gia

Năm 2001 -2002, Vụ KHTC Bộ y tế với sự tài trợ của SIDA-Thụy Điển đã triển khai điều tra y tế Quốc gia Đây là cuộc điều tra đầu tiên của ngành y tế để thu thập các thông tin đánh giá tình hình sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản như KHHGĐ, chăm sóc thai sản, tiêm phòng và lượng giá tỷ lệ mắc một số bệnh không truyền nhiễm/vấn đề sức khoẻ ưu tiên như tỉ lệ tàn tật, tỷ lệ mắc tâm thân, huyết áp, tai nạn v.v.; các yếu tố nguy cơ hàng đầu như: hút thuốc, uống rượu, vệ sinh môi trường, dinh dưỡng Cỡ mẫu điều tra khoảng 36.000 hộ Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, phân tầng dựa trên dàn mẫu của tổng điều tra dân số năm 1999 Cuộc điều tra đã nhận được hỗ trợ kỹ thuật của các chuyên gia quốc tế từ khâu thiết kế, xây dựng bảng hỏi, xây dựng phần mềm xử lý số liệu và tài liệu hướng dẫn (kể cả đào tạo tập huấn cho điều tra viên) và hậu cần Cuộc điều tra đã thuê điều tra viên là những cán bộ có kinh nghiệm đã từng tham gia nhiều cuộc điều tra của TCTK và có trình độ dịch tễ học

Do đó cuộc điếu tra đã được thực hiện khá tốt

Tuy nhiên, chỉ tiêu thu thập từ cuộc điều tra này chỉ ở cấp quốc gia, do cỡ mẫu điều tra nhỏ Cuộc điều tra chưa lượng giá được tỷ lệ mắc của một số bệnh không truyền nhiễm và sức khoẻ ưu tiên cho cấp tỉnh, huyện Số liệu điều tra về bệnh tật mới phân theo thành thị và nông thôn, chưa phân theo được tuổi và giới tính Nội dung điều tra chưa bao gồm được các lĩnh hoạt động y tế, thiếu các thông tin cơ bản như nguyên nhân tử vong, thông tin về tử vong mẹ và tử vong trẻ em Việc công bố kết quả điều tra chưa được rộng rãi, chủ yếu tại hội nghị trung ương và in sách nên không thuận tiện cho việc khai thác và sử dụng số liệu

4.2 Điều tra dinh dưỡng

Trang 20

Điều tra Dinh dưỡng được thực hiện 10 năm 1 lần Điều tra gần đây nhất được tiến hành vào năm 2000 do Viện Điều Dưỡng Quốc gia thực hiện Mục đích của cuộc điều tra là đánh giá chế độ chế độ ăn uống và tình trạng dinh dưỡng của người dân Việt Nam tại các vùng sinh thái khác nhau Kết quả của cuộc điều tra là cơ sở cho việc

dự báo và xây dựng chiến lược phòng chống suy dinh dưỡng của các năm tiếp theo

Phương pháp điều tra: điều tra chọn mẫu cắt ngang, theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng Đơn vị điều tra là hộ gia đình của 240 xã phường của 61 tỉnh thành đại diện cho 8 vùng sinh thái Như vậy, 7686 hộ gia đình đã được chọn để phỏng vấn về chế độ ăn uống, tình trạng dinh dưỡng của tất cả các thành viên trong hộ gia đình (Trẻ em, bà mẹ, và những người khác trong hộ của các độ tuổi khác nhau), các yếu tố liên quan đến dinh dưỡng như thu nhập, chi phí cho ăn uống, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, nhà cửa và điều kiện sống

Kết quả điều tra đã cung cấp được thông tin về tình trạng dinh dưỡng của người Việt Nam theo tuổi/giới và chế độ ăn uống như Kcal, Protein, lipid, chất khoáng và vitamin Những thông tin thu thập được từ cuộc điều tra này đã được phân tổ theo đơn

vị hành chính thành thị, nông thôn, 8 vùng sinh thái và theo thu nhập: giàu, nghèo Tuy nhiên, do cỡ mẫu điều tra nhỏ nên không thể ước tính được tình trạng dinh dưỡng và chế độ ăn uống của từng tỉnh/thành phố

4.3 Điều tra bướu cổ

Điều tra bướu cổ do Bệnh viện Nội tiết tiến hành Cuộc điều tra được tiến hành

5 năm một lần Phương pháp điều tra là chọn 30 điểm đại diện cho các vùng sinh thái

Điều tra nước tiểu của học sinh từ 8-10 tuổi đang học ở các trường tiểu học để tính tóan tỷ lệ trẻ bướu cổ do thiết hụt I-ốt Điều tra hộ gia đình để đánh giá tình hình sử dụng muối i-ôt và kiến thức của các bà mẹ về sử dụng muối đủ tiêu chuẩn i-ôt

Kết quả điều tra mới suy rộng được số liệu về tỷ lệ trẻ 8-10 tuổi bị bướu cổ, tỷ lệ dân sử dụng muối đủ tiêu chuẩn I-ốt và kiến thức của các bà mẹ về sử dụng muối i-ôt tại tuyến quốc gia và các vùng sinh thái Chưa phân tích được số liệu của các tỉnh và giới của những trẻ bị bướu cổ

Một số cuộc điều tra cũng được thực hiện như điều tra về phòng chống bướu cổ: điều tra chết mẹ, điều tra phòng chống các bệnh sốt rét, điều tra phòng chống tai nạn thương tích v.v Cỡ mẫu và bảng hỏi của những cuộc điều tra này được tính dựa trên kinh phí được cấp Kết quả còn hạn chế Số liệu điều tra thường cung cấp rất chậm và chỉ ở tuyến Quốc gia và vùng nên chưa đáp ứng đông đảo người dùng tin tại tuyến tỉnh

và huyện

4.4 Đề xuất các hành động

Các bảng biểu hoặc báo cáo thống kê được tính toán từ các hoạt động thu thập

số liệu này cần được xem xét và cải tiến Nội dung của các biểu mẫu và sổ ghi chép (kể

cả sổ sách ghi chép ban đầu về bệnh nhân) của các đơn vị y tế cần được kiểm tra về

Trang 21

tính thống nhất để bảo đảm tính chính xác của số liệu từ các báo cáo định kỳ và tìm cách đơn giản hóa các phương tiện thu thập số liệu này

Bộ phận thống kê-tin học của Bộ Y tế cần thiết lập một ủy ban kỹ thuật để thảo luận và giải quyết những vấn đề có liên quan đến điều tra, báo cáo định kỳ và các hoạt động thống kê khác chẳng hạn như đánh giá và cải tiến biểu mẫu dùng cho thu thập số liệu ở xã/thôn, … Với tư cách là cơ quan đầu mối về thống kê y tế của bộ, Bộ phận thống kê-tin học có thể khởi xướng ý tưởng hình thành một Ủy ban Kỹ thuật về thống

kê y tế, và được thông qua bởi Quyết định do Bộ trưởng Bộ Y tế ký Ủy ban Kỹ thuật về thống kê y tế sẽ bao gồm các Vụ trưởng của các Vụ mà có đưa ra các chỉ tiêu/số liệu thống kê Ủy ban này có thể mời các bộ ngành khác cũng tính toán và công bố các số liệu thống kê y tế như TCTK, Bộ LĐTBXH, Bộ Tư pháp…nếu sự hiện diện của các cơ quan này là cần thiết để giải quyết các vấn đề còn khúc mắc Một trong các thứ trưởng của Bộ y tế, hoặc nếu người này vắng mặt thì Vụ trưởng Vụ KHTC có thể đóng vai trò

là chủ tịch của Ủy ban kỹ thuật về thống kê y tế Đồng chủ tịch có thể được chọn từ các

vụ khác Ủy ban này cần họp thường xuyên hàng tháng, hai tháng 1 lần hoặc hàng quý Chức năng chính của Ủy ban này là thảo luận và tìm cách giải quyết các vấn đề có tính

kỹ thuật nảy sinh trong quá trình sản xuất số liệu thống kê y tế như cải tiến chế độ báo cáo, chia sẻ thông tin, tính chính xác của việc phân tích và các chỉ tiêu tính toán… Cần

có biên bản ghi chép lại phần thảo luận và giải pháp đưa ra trong từng cuộc họp

Ủy ban Kỹ thuật về thống kê y tế cần có các nhóm công tác kỹ thuật Dự kiến các nhóm công tác kỹ thuật này bao gồm:

• Các chuẩn thống kê- định nghĩa, phân loại, mã hóa, chia sẻ số liệu, làm báo cáo, các quy trình áp dụng, công cụ/qui trình thu thập số liệu (bảng hỏi/biểu mẫu và tài liệu hướng dẫn) và hướng dẫn chuẩn bị, v v

• Chất lượng số liệu/chỉ tiêu/phân tích- tính chính xác và tính tin cậy của hệ thống chỉ tiêu y tế, phương pháp luận sử dụng, phần mềm phân tích, tổng hợp số liệu, làm báo cáo, phân tích và dự báo, v v

• Xử lý số liệu và Xây dựng/bảo dưỡng Hệ thống cơ sở dữ liệu- quy trình biên tập, lưu trữ số liệu, phần mềm sử dụng cho xử lý và hệ thống cơ sở dữ liệu, tính đầy đủ của số liệu trong hệ thống cơ sở dữ liệu, bảo dưỡng và nâng cấp

hệ thống cơ sở dữ liệu, cập nhật và lưu trữ số liệu, bảo dưỡng trang web về thống kê y tế, v v

• Phổ biến số liệu- các loại xuất bản phẩm, gặp mặt/tham vấn người dùng tin, cập nhật số liệu…

• Phát triển nguồn nhân lực- đào tạo (kỹ thuật và đào tạo từ công việc), các khóa đào tạo thêm, hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm, học tập kinh nghiệm Một trong những nhiệm vụ của Ủy ban Kỹ thuật về thống kê y tế là bắt đầu nghĩ

về điều tra chọn mẫu, nghĩa là đánh giá tính hữu dụng của nó và cải tiến biểu mẫu/bảng hỏi và rà soát lại thiết kế chọn mẫu đang được áp dụng

Cần lưu ý rằng Nhóm công tác kỹ thuật về phổ biến số liệu cũng nằm trong Ủy ban Kỹ thuật về thống kê y tế vì Bộ phận Thống kê- tin học không chỉ nên tham khảo ý kiến của các đối tượng dùng tin hoặc sản xuất niên giám thống kê hoặc các tài liệu đã được xuất bản khác mà còn nên tổ chức các cuộc hội thảo đánh giá về số liệu cho

Trang 22

người dùng tin Trong các cuộc hội thảo này, các đối tượng dùng tin cần được cung cấp thông tin về cách sử dụng và tầm quan trọng của số liệu thống kê y tế, những hạn chế của số liệu thống kê y tế, mức độ sẵn có của những số liệu này và phương thức truy cập các số liệu này ở trong Bộ

Trang web cũng là một phương tiện rất quan trọng để phổ biến số liệu thống kê y

tế Nhóm công tác kỹ thuật về phổ biến số liệu nên hỗ trợ Bộ phận Thống kê-tin học xây dựng trang web này

V Đánh giá về các chỉ tiêu y tế trong mối liên hệ với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia/Chương trình điều tra quốc gia

Hệ thống thông tin Thống kê Tổng hợp và các Tiểu Hệ thống đã có nhiều sản phẩm thông tin phục vụ quản lý, giám sát và điều hành các họat động của ngành cũng như các lĩnh vực, các chương trình y tế quốc gia

5.1 Niên giám thống kê Y tế

Một trong những sản phẩm được đánh giá cao là Niên giám Thống kê y tế hàng năm do Bộ phận thống kê -tin học, vụ KHTC, Bộ y tế biên soạn và xuất bản Nội dung Niên giám bao gồm: số liệu phục vụ đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu chiến lược của ngành và mục tiêu thiên niên kỷ; số liệu hay các chỉ tiêu liên quan đến hoạt động y

tế và sức khỏe con người; số liệu phản ánh đầu tư cho lĩnh vực y tế; thông tin về hoạt động y tế; thông tin phản ánh tác động của họat động y tế như; số liệu về những vấn

đề đang ảnh hưởng lớn đến sức khỏe như mắc/chết do TNGT qua các năm phân theo tỉnh; và thông tin của một số nước trong khu vực và thế gíơi, thuận tiện cho việc phân tích đánh giá và so sánh

Số liệu trong niên giám Thống kê đã được trình bày dưới dạng bảng biểu, biểu

đồ và đồ thị để phục vụ đánh giá nhanh và nhận biết xu hướng bệnh tật và khả năng cung cấp dịch vụ y tế của các cơ sở y tế

Tuy nhiên sản phẩm thống kê chưa phân tích sâu về những nguyên nhân đang tác động đến họat động y tế cũng như thực trạng sức khỏe của người dân Nhiều chỉ tiêu thống kê y tế chưa được phân tổ một cách khoa học đáp ứng đươc nhu cầu của người sử dụng dữ liệu Một số thông tin quan trọng chưa được cung cấp thường xuyên hoặc nếu được cung cấp thì cũng chưa đảm bảo độ tin cậy cần thiết Đó là những thông tin về tử vong mẹ, trẻ em, ngân sách y tế bình quân đầu người v.v

Việc công bố các sản phẩm thống kê chủ yếu thông qua các hội nghị (điều tra)

do thiếu ngân sách và thông qua các ấn phẩm như sách, báo cáo mà khó sử dụng hoặc tiếp cận bởi những người dử dụng khác

5.1.1 Đề xuất các bước thực hiện

Bộ phận thống kê -tin học nên là một thành viên tích cực của Ủy ban liên ngành

về Thống kê y tế trong hệ thống thống kê Việt Nam Ủy ban liên ngành về thống kê y tế

sẽ là một trong những ủy ban liên ngành sẽ được đề xuất trong hệ thống thống kê Việt

Trang 23

Nam và phần đề xuất này sẽ được đề cập đến trong báo cáo tổng hợp của dự án về xây dựng năng lực thống kê cho 5 bộ Thông qua Ủy ban liên ngành về thống kê y tế,

Bộ phận Thống kê-tin học có thể yêu cầu tổ chức cuộc họp định kỳ (có thể là hàng quý hoặc 6 tháng 1 lần hoặc khi có yêu cầu) với sự tham dự của đại diện TCTK, cũng như mời các cơ quan thu thập số liệu về tỷ suất chết để thảo luận về khả năng thu thập số liệu về tỷ lệ chết mẹ, tỷ lệ chết trẻ sơ sinh, tỷ lệ chết trẻ em dưới 5 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh

và tỷ lệ chết phân theo tuổi và giới tính, nguyên nhân chết… nhằm xem xét lại sự khác biệt cũng như thiếu thống nhất trong số liệu công bố bởi các cơ quan và quyết định xem cơ quan nào nên chịu trách nhiệm chính thức công bố số liệu ướ tính chính xác về

tỷ suất chết Ủy ban liên ngành về thống kê y tế nên có một bộ phận thư ký với nhiệm

vụ chuẩn bị tất cả các tài liệu cần thiết cho cuộc họp, chẳng hạn như các số liệu khác nhau của các cơ quan có liên quan, định nghĩa các thuật ngữ cũng như các khái niệm được dùng,…

Bộ phận Thống kê-tin học cũng có thể thông qua Ủy ban liên ngành về thống kê y

tế để yêu cầu TCTK cho phép Bộ Y tế tham gia vào quá trình lập kế hoạch cho cuộc tổng điều tra dân số và bất cứ cuộc điều tra nào về y tế chẳng hạn như Điều tra MICS, điều tra Kế hoạch hóa gia đình và tham gia vào quá trình thiết kế cũng như thông qua kết các công cụ của tổng điều tra/điều tra (bảng hỏi và sổ tay hướng dẫn) và mẫu bảng biểu cũng như tham gia vào quá trình phổ biến kết quả tổng điều tra/điều tra

Đối với các xuất bản phẩm và các sản phẩm đầu ra khác từ các cuộc điều tra và báo cáo định kỳ, nếu có thể thì nên hạn chế xuất bản những cuốn sách dày hoặc báo cáo dày bởi vì những loại xuất bản phẩm dạng này thường khó mang và khó đọc và đôi khi cũng hạn chế việc tiếp cận của người dùng tin, đặc biệt là đối với sinh viên và các nhà nghiên cứu Chỉ nên xuất bản niên giám thống kê Còn các sản phẩm khác nên ở dưới dạng bản tin thống kê (thông thường chỉ bao gồm các bảng biểu thống kê), bản tin không chính thức (bao gồm cập nhật các số liệu đang được sản xuất hoặc thông báo cho công chúng về kết quả các cuộc điều tra mới ), công bố báo chí (dùng để phát hành những số liệu quan trọng cho phương tiện thông tin đại chúng và công chúng; thông thường được dùng để phổ biến kết quả sơ bộ) và tờ gấp (dùng để phân tích các

đề tài cụ thể hoặc số liệu về y tế và các chủ đề khác…) vì thông thường xuất bản tài liệu dưới dạng này sẽ dễ dàng hơn và có thể phân phối cho tất cả các bộ ngành và các

cơ quan của chính phủ, thư viện trường học/cao đẳng/đại học… Cũng rất tốt nếu có thể trình bày một chủ đề nào đó trong một mục trên tờ báo lớn của chính phủ hoặc trên trang web của Bộ Y tế

Hầu hết các chỉ tiêu y tế nằm trong NSIS và SEDP được lấy từ hệ thống báo cáo

từ tuyến xã lên đến trung ương Có 4 lý do làm cho việc công bố định kỳ các chỉ tiêu này gặp nhiều khó khăn, đó là tính thiếu chính xác, tính không sẵn có, tính không kịp

Trang 24

thời và lý do thứ tư thiên về việc “ai sẽ là người chiịu trách nhiệm chính công bố chỉ tiêu” trong trường hợp có hơn một cơ quan được giao cho tính toán cùng một chỉ tiêu

Trong số 123 chỉ tiêu nằm trong HTTTTKYT, chỉ có 6 chỉ tiêu được phân tổ theo giới tính và không có chỉ tiêu nào được phân tổ theo dân tộc Tất nhiên không phải chỉ tiêu nào cũng có thể phân tổ được theo giới tính hay dân tộc nhưng cần phải lưu ý rằng những số liệu nào có liên quan đến cá nhân đều có thể phân tổ được theo giới tính và dân tộc Do đó, HTTTTKYT chưa quan tâm lắm đến vấn đề giới tính cũng như dân tộc của đất nước

Số liệu phân tổ theo giới tính là rất cần thiết để xác định được vai trò của nam giới và phụ nữ ở các lĩnh vực khác nhau của ngành y tế, thí dụ như số người tham gia vào phòng chống sốt rét phân theo giới tính và nghề nghiệp Chỉ tiêu này có thể cung cấp số liệu bác sĩ, y tá, hộ lý phân theo giới tính nam và nữ tham gia vào phòng chống sốt rét Đối với số liệu phân tổ theo giới tính, số lượng người mắc bệnh theo giới tính nam và nữ cũng có thể được xác định Ngoài ra số liệu phân tổ theo giới tính còn được dùng để xác định số lượng nam giới hay phụ nữ có thể tiếp cận được với các phương tiện y tế của chính phủ…

Số liệu phân tổ theo dân tộc cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách ngành y tế, giúp họ xác định được dân tộc nào hay tộc người nào có thể tiếp cận hoặc tiếp cận rất hạn chế với các dịch vụ và phương tiện y tế của chính phủ

5.2.1 Đề xuất cải tiển các chỉ tiêu thống kê y tế

Tính chính xác của 7 chỉ tiêu nằm trong SEDP và 6 chỉ tiêu trong NSIS không được bảo đảm do thiếu số liệu của các trung tâm chăm sóc y tế tư nhân Nếu đây là thực tế đang diễn ra tại Việt Nam thì cần cảnh báo về điều này khi công bố các chỉ tiêu

y tế này Nên có giải thích hay chú thích làm rõ phương thức thu thập số liệu cũng như nguồn thu thập số liệu kể cả phần hạn chế, phạm vi thu thập số liệu Điều này sẽ giúp cho người sử dụng số liệu rất nhiều, nhất là những người không biết cần sử dụng dữ liệu nào hay sử dụng dữ liệu như thế nào Lấy trường hợp số người chết do bệnh AIDS làm thí dụ Số liệu về số người chết do mắc bệnh AIDS chỉ có thể thu thập được từ các

hộ gia đình hoặc những người sẵn lòng chia sẻ thông tin thật về họ hoặc thành viên trong gia đình họ đối với căn bệnh này Nó hầu như không liên quan đến hiệu quả của quá trình thu thập số liệu hay năng lực của cơ quan thu thập số liệu nếu như người ta không muôn tiết lộ thông tin nhạy cảm này Vì vậy để công bố chỉ tiêu như vậy cần cho người dùng tin biết rằng số liệu về số người chết do bệnh AIDS được tính toán từ một nhóm hộ trả lời cho câu hỏi có liên quan đến HIV/AIDS

Một đề xuất khác là cần có thay đổi trong cách dùng từ ngữ nói về các chỉ tiêu, nghĩa là cần làm rõ rằng bệnh viện/đơn vị chăm sóc sức khỏe mà ta nói tới là bệnh viện/phòng khám của nhà nước hoặc đã loại trừ đơn vị chăm sóc y tế tư nhân Thí dụ như thay vì dùng cụm từ số lượng chết mẹ trong thời kỳ mang thai đến dưới 42 ngày sau khi sinh, ta nên dùng cụm từ số lượng chết mẹ trong thời kỳ mang thai đến dưới 42 ngày sau khi sinh trong các bệnh viện/trung tâm chăm sóc y tế/phòng khám nhà nước

Trang 25

Một thí dụ khác: trong cụm từ tỷ lệ bác sĩ/y sĩ và y tá trên 10.000 dân nên thêm cụm từ

“tại các bệnh viện/ trung tâm chăm sóc y tế/phòng khám nhà nước”

Đây chỉ là những giải pháp tạm thời Bộ phận thống kê -tin học, vụ KHTC, Bộ y

tế cần tìm cách thu thập số liệu từ khu vực tư nhân hoặc thậm chí từ những người hành nghề độc lập Bộ Y tế cần có luật yêu cầu khu vực tư nhân hoặc cá nhân hành nghề cung cấp số liệu Bộ phận thống kê -tin học, vụ KHTC cũng đã tiến hành thử nghiệm thu thập số liệu từ các bệnh viện và phòng khám tư nhân ở 2 tỉnh Vì vậy, trong tương lai không xa, ngành y tế cần bảo đảm với người dùng tin rằng các chỉ tiêu thống

kê y tế trong SEDP và NSIS cũng như HTTTTKYT sẽ phản ánh tình hình thực tế của đất nước

Việc các Sở y tế chưa có hoặc gửi số liệu chậm lên Bộ Y tế có thể làm chậm công bố chỉ tiêu cho NSIS Bộ phận thống kê -tin học cần tổ chức các buổi họp giao ban thường kỳ với các Sở Y tế có liên quan để thảo luận cũng như giải quyết các yếu tố gây nên sự chậm trễ trong việc cung cấp chỉ tiêu Chậm trễ trong cung cấp số liệu cũng

có thể xuất phát từ việc Bộ đưa ra các thời gian thực hiện và hoàn thành công việc thiếu thực tế (việc này có thể điều chỉnh được) hoặc do loại trừ các yếu tố khó khăn như thời gian lập bảng biểu/tổng hợp số liệu chưa được tính đến

Trong trường hợp một số cơ quan cùng chịu trách nhiệm công bố một chỉ tiêu, thí dụ như số người tàn tật được nhận trợ cấp hoặc tỷ lệ chất thải độc hại theo tiêu chuẩn, Bộ Y tế nên là cơ quan chịu trách nhiệm thứ hai Trên thực tế 2 chỉ tiêu này không được đưa vào HTTTTKYT của Bộ Y tế

Đối với chỉ tiêu thứ nhất, Bộ LĐTBXH (MOLISA) cần chịu trách nhiệm tính toán

và công bố bởi chỉ tiêu này có liên quan đến trợ cấp, một lĩnh vực thuộc lao động việc làm mặc dù người được hưởng là người tàn tật lại có liên quan đến y tế Bộ LĐTBXH (MOLISA) cần là cơ quan chịu trách nhiệm chính về chỉ tiêu này Bộ Y tế chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho Bộ LĐTBXH (MOLISA) trong đánh giá tính chính xác của chỉ tiêu này

Đối với chỉ tiêu thứ hai trong thí dụ trên, Bộ Công nghiệp hoặc là Bộ Tài nguyên Môi trường sẽ chịu trách nhiệm tính toán và công bố chỉ tiêu này với sự hỗ trợ của Bộ Y

tế để đánh giá chỉ tiêu bởi vì chỉ tiêu này có liên quan đến môi trường hoặc đến công nghiệp nhiều hơn là y tế

Đối với các chỉ tiêu được phân tổ theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, cần xem xét các biểu mẫu khác nhau dùng trong thu thập số liệu ở các tuyến khác nhau nếu những biểu mẫu này bao gồm cả thông tin phân tổ này Nếu biểu mẫu đề cập đến bao gồm cả phân

tổ nêu trên và được áp dụng cho từng cá nhân mắc bệnh hoặc có liên quan đến tình trạng sức khỏe của người này thì phân tổ trong HTTTTKYT nên được sửa đổi đế bao gồm cả phần giới tính, độ tuổi và dân tộc Nếu những số liệu này không thể công bố được ở cấp tỉnh do số người được phỏng vấn quá ít thì số liệu cũng cần được công bố

ở cấp quốc gia

Nếu biểu mẫu dùng để thu thập số liệu không bao gồm phần giới tính, độ tuổi và dân tộc thì cần sửa đổi biểu mẫu để đưa các thông tin này vào Nếu không thể đưa

Trang 26

thông tin về giới tính, độ tuổi và dân tộc vào biểu mẫu do thiếu máy tính hoặc kỹ năng

CNTT ở các xã yếu kém thì Bộ phận thống kê -tin học, vụ KHTC cần đưa ra mẫu hoặc

bảng biểu chuẩn nhưng đơn giản để có thể phân tổ số liệu theo giới tính và dân tộc

Sau đó Bộ phận thống kê -tin học, vụ KHTC cần yêu cầu tuyến huyện hỗ trợ các xã tạo

ra thông tin dựa trên các bảng biểu này

Bộ phận thống kê -tin học, vụ KHTC cần có chiến lược cải tiến quá trình thu thập

và tính toán các chỉ tiêu trong HTTTTKYT Trong phần kế hoạch chiến lược cần xác

định rõ mục đích, hoạt động, thời gian và các đơn vị thực hiện Để có thể xây dựng

được kế hoạch chiến lược đại diện của tất cả các tuyến thông tin và các vụ/đơn vị trong

bộ cần tham gia và đóng góp ý kiến

VI Đánh giá về đội ngũ cán bộ thống kê y tế và trình độ của cán bộ trong hoạt

động thống kê y tế

6.1 Thực trạng Cán bộ thống kê ngành y tế

Như đã đề cập ở phần trước, mạng lưới thông tin thống kê y tế bao phủ khắp

toàn quốc và gắn liền với mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế không chỉ về mặt hoạt động

và thống kê mà còn về mặt thực hiện công việc/dịch vụ và thực hiện công tác thống kê

cùng một lúc của các cán bộ Phần này của báo cáo đánh giá về đội ngũ cán bộ thống

kê y tế và trình độ của cán bộ trong hoạt động thống kê y tế

Hiện nay, Bộ phận Thống kê-tin học, cơ quan chịu trách nhiệm cao nhất về công

tác thống kê y tế chỉ có 8 cán bộ, kể cả trưởng phòng Mỗi cán bộ đều có ít nhất là trình

độ đại học Không có cán bộ nào có bằng cấp về thống kê nhưng hầu hết họ đều đã

được đào tạo về thống kê y tế Biểu 1 dưới đây cung cấp thông tin về số lượng cán bộ

phân theo giới tính và trình độ học vấn cao nhất

Biểu 1 – Số lượng cán bộ của Bộ phận Thống kê-tin học chia theo giới tính và trình độ học

Mặc dù các vụ, cục, viện, người thực hiện các chương trình quốc gia ở bộ cũng

như các cơ sở y tế ở tỉnh, huyện, xã đều có bố trí cán bộ thống kê, nhưng trình độ

chuyên môn còn yếu và hơn nữa lực lượng cán bộ thiếu chưa tương xứng với khối

lượng công việc được giao Thường chỉ có một hoặc hai cán bộ được giao làm công

tác thống kê ở các vụ, cục, viện ở trung ương Chỉ có một cán bộ phụ trách việc tổng

hợp số liệu về các hoạt động y tế ở Sở Y tế hoặc ở các bệnh viện lớn (trung ương hoặc

tỉnh) Đồng thời, cán bộ này phải đảm trách các công việc khác như lập kế hoạch, làm

công việc hành chính/quản lý, cung cấp dịch vụ y tế…

Trang 27

Xét về trình độ học vấn: 100% cán bộ làm công tác thống kê tại các vụ, cục, viện

và 80% cán bộ làm công tác thống kê tại sở y tế và các đơn vị y tế ở tỉnh khác đều có trình độ đại học trở lên Hầu hết cán bộ làm công tác thống kê ở bệnh viện và các đơn

vị y tế tuyến tỉnh, huyện có trình độ trung học hoặc cao đẳng Bằng đại học hoặc cao đẳng của các cán bộ này đều thuộc ngành y (bác sĩ/y tá/hộ sinh) hoặc ngành dược (dược sĩ , dược tá …) do tính chất công việc mà họ đảm trách trong ngành y tế Phần lớn số cán bộ này chưa được đào tạo về nghiệp vụ thống kê, kể cả tuyến trung ương

Họ làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân hoặc học hỏi những người đi trước Hình thức đào tạo cho các cán bộ ở các lĩnh vực và chương trình thường chủ yếu dưới dạng hướng dẫn ghi chép biểu mẫu sổ sách, báo cáo và tính toán một số chỉ tiêu đơn giản Họ không được đào tạo về kỹ năng phân tích và dự báo số liệu, một phần rất quan trọng trong công tác thống kê

Sở Y tế đang gặp phải khó khăn lớn, đó là những thay đổi nhanh chóng hoặc thuyên chuyển công tác của các cán bộ thống kê do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như phải kiêm nhiệm nhiều công việc cùng một lúc, chính sách đãi ngộ thấp, kiến thức

về số liệu còn hạn chế và áp lực đáp ứng cung cấp số liệu kịp thời cho các cán bộ quản

lý ngành y tế Nhiều người trong số họ đã thôi việc và chuyển sang làm công tác khác

6.1.1 Quan điểm và đề xuất

Về cơ bản, trình độ học vấn là yêu cầu quan trọng đối với bất cứ nghề nghiệp nào Tuy nhiên ở một số nước, để đạt được trình độ học vấn cao sẽ rất tốn kém và khó tìm Trong trường hợp đó các kỹ năng chuyên môn có thể được lĩnh hội thông qua bồi dưỡng và kinh nghiệm Trong một số trường hợp khi trình độ học vấn và kỹ năng không đáp ứng được nhu cầu đặt ra thì thái độ đúng mực, sự quan tâm, tính quyết đoán và cam kết sẽ học hỏi và cống hiến cho công việc cũng sẽ được xét đến Quả thật tất cả những đặc điểm này đều rất cần thiết để trở thành một nhà thống kê giỏi Tuy nhiên không phải người nào cũng đáp ứng được những đặc điểm này

Xét về trình độ học vấn, Bộ phận Thống kê-tin học có 4 cán bộ nam và 4 cán bộ

nữ đều có chất lượng tốt Biểu 1 ở trên cho thấy trong số 8 cán bộ làm việc ở bộ phận này, 4 cán bộ (chiếm 50%) có bằng cử nhân về kinh tế, kế toán kiểm toán và tài chính ngân hàng và một người có bằng bác sĩ Ba người trong số đó có văn bằng 2 là CNTT

3 trong số 8 cán bộ có bằng thạc sĩ về y tế công cộng (2 người) và CNTT (1 người) đồng thời tôt nghiệp Bác sỹn hay kỹ sư CNTT Vụ trưởng vụ KHTC có bằng Tiến sĩ Mặc dù các cán bộ này không có bằng cấp thống kê nhưng trình độ học vấn cao nhất

mà họ đạt được đều có liên quan đến thống kê Các khóa học về CNTT cũng bao gồm nhiều môn học như toán và đo lường Một số trường ĐH còn giảng dạy cả kiến thức cơ bản về thống kê làm tiền đề cho các môn toán cao cấp và CNTT Những bằng cấp khác như kinh tế, kế toán kiểm toán và tài chính ngân hàng và thậm chí y tế cộng đồng đều

có ít nhất 1 đến 2 môn có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến thống kê và toán Các cán bộ của Bộ phận Thống kê-tin học có thể không biết rằng kiến thức toán học của họ

từ các bằng cấp CNTT hoặc thạc sĩ đã giúp họ nhiều để có thể hoàn thành công tác thống kê của Bộ

Trang 28

Tất cả các cán bộ thống kê từ các vụ, cục, viện và chương trình quốc gia khác ở cấp trung ương và phần lớn các cán bộ thống kê ở cấp tỉnh đều có bằng đại học Điều này có nghĩa là họ đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản và tối thiểu để đảm đương công tác thống kê Ngay cả các cán bộ ở huyện và ở xã đều có bằng trung học hoặc cao đẳng Mặc dù các cán bộ có bằng hoặc đã học xong các khóa học về y hoặc dược chẳng hạn như bác sĩ, y tá, hộ sinh, dược sĩ…họ cũng đáp ứng đủ tiêu chuẩn để trở thành cán bộ thống kê Kiến thức thống kê cơ bản hoặc thậm chí các môn học thống kê nâng cao cũng có thể là một phần chương trình học trong lĩnh vực y khoa bởi vì thống

kê rất cần cho việc tính toán một số đo lường hay thí nghiệm của những khóa học này

Do đó, đây là một trong những yếu tố giúp cho các bác sĩ, y tá, hộ sinh hoặc dược sĩ ở trung ương cũng như ở tỉnh/huyện/xã có thể thực hiện được nhiệm vụ thu thập và tổng hợp số liệu của ngành y tế

Biểu 2 – Số cán bộ của Bộ phận Thống kê-tin học chia theo giới tính và các khóa đào tạo

Số lượng Khóa đào tạo Tổng

số Nam Nữ

Đơn vị tổ chức Thống kê tổng hợp

Phương pháp nghiên cứu Kinh tế Y tế

Hệ thống thông tin quản lý y tế

Kinh tế y y tế

Thống kê y tế

Các chỉ tiêu phát triển thiên kỷ

5 1 2

3 3 1

1

1 1 1

4 1 2

2 2

TCTK- tại Việt Nam UNICEF – tại Thái Lan UNFPA-tại Việt Nam; WHO – tại Phi-lip-pin TCTK- tại Việt Nam

SEAMIC – tại Việt Nam; WHO – tại pu-chia

Cam-TCTK – tại Việt Nam

Biểu 2 cho thấy các cán bộ của Bộ phận Thống kê-tin học đã được đào tạo một

số khóa về Thống kê tổng hợp, kinh tế, thống kê y tế và hệ thống thông tin y tế hoặc trong nước hoặc ở nước ngoài Do đó, kiến thức và kỹ năng mà họ thu lượm được từ các khóa đào tạo này cũng như các kinh nghiệm mà đúc kết được trong quá trình xây dựng và cải tiến các hoạt động thống kê khác nhau ở các cấp của Bộ Y tế đủ để giúp

họ nắm được các kỹ năng cơ bản để thực hiện công tác thống kê Phương thức tốt nhất giúp họ sử dụng những kinh nghiệm này là ghi chép lại chúng Đối với từng hoạt động do Bộ tiến hành từ cấp xã cho đến trung ương, họ nên đúc kết rút ra các bài học kinh nghiệm (lỗi gặp phải và nguyên nhân), giải pháp/các bước tiến hiành giải quyết, và

kế hoạch để triển khai hoạt động này tiếp theo Bộ phận Thống kê-tin học cần tổ chức ít nhất họp mỗi tháng một lần để thảo luận bàn bạc về những kinh nghiệm này với các cán bộ trong bộ phận mình Cần có ít nhất một địa điểm trong bộ phận để các cán bộ

có thể đến và chia sẻ kinh nghiệm công tác với nhau Đây sẽ là một công cụ rất tốt để đào tạo các cán bộ giúp họ đánh giá đúng những công việc mà họ đang làm cho Bộ Đồng thời Bộ phận Thống kê-tin học cũng nên gặp gỡ các cán bộ thống kê ở các vụ/cục/viện/chương trình quốc gia khác và các cán bộ tại các tỉnh/huyện/xã ít nhất là 6 tháng 1 lần hoặc 1 năm 1 lần để thảo luận về các kinh nghiệm trong công tác thống kê của họ và biết được ý kiến cũng như đề xuất của họ về việc nâng cao chất lượng thu

Trang 29

thập số liệu và các công tác thống kê khác ở các cấp này Bằng cách này, cán bộ sẽ thấy rằng công việc mà họ đang làm thực sự có tầm quan trọng và được quan tâm

Ngoài ra, Bộ phận Thống kê-tin học cũng nên bắt đầu tổ chức đào tạo cho các cán bộ tại huyện và tỉnh Cần có các khóa đào tạo về thống kê cơ bản (số trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn và phân phối tần suất), rà soát lại phương thức thu thập số liệu

cơ bản và cách ghi chép biểu mẫu, phương thức tổng hợp số liệu và phân tích số liệu, kiểm tra tính thống nhất của số liệu có liên quan và fomat của các báo cáo để giúp người dùng tin có thể đọc được dễ dàng Điều này sễ giúp giải quyết được tính thiếu chính xác và thiếu thống nhất của số liệu và giúp cho các cán bộ tại thôn bản, xã, huyện đánh giá cao công việc mà họ đang làm

Bộ Y tế cũng có nên thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với TCTK để cho phép một

số cán bộ làm công tác thống kê y tế từ tỉnh/huyện tham gia vào các khóa bồi dưỡng theo hình thức vừa làm vừa học từ 1 đến 2 tháng ở một trong những vụ nghiệp vụ của TCTK nhằm giúp họ học hỏi về phương pháp xử lý số liệu, tổng hợp số liệu và viết báo cáo, hoặc phân tích Đối với các khóa đào tạo thuộc dạng này, Bộ Y tế có thể cử 1 hoặc 2 cán bộ đi học cùng một lúc

Những đề xuất và kiến nghị trên đây không tốn kém lắm để thực hiện và có thể đạt được nếu được xem xét, cân nhắc Tuy nhiên, trong tương lai, cũng có những phương pháp khác giúp nâng cao năng lực của các cán bộ từ trung ương đến địa phương Đối với từng dự án trong tương lai có liên quan đến thống kê y tế mà Bộ Y tế

đề xuất với các tổ chức quốc tế, cần có một mục đề cập đến phát triển nguồn nhân lực Trong phần này, Bộ nên khuyến nghị các phương thức nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thống kê thông qua các khóa đào tạo về thống kê và máy tính (trong nước hoặc nước ngoài), đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học (các cơ quan thống kê Châu á khác), đào tạo bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ về thống kê, kinh tế hoặc các ngành khoa học xã hội khác tại Việt Nam hoặc nước ngoài nếu những khóa đào tạo đó không

có ở Việt Nam, hoặc tiếp tục theo học lấy bằng đại học thống kê hoặc lĩnh vực khoa học xã hội đối với những cán bộ mới có bằng trung cấp hoặc cao đẳng

Việc chuyển giao kiến thức và kỹ năng học được từ các khóa đào tạo hoặc các khóa bồi dưỡng thêm cần được xem là một yêu cầu bắt buộc (thông qua một quyết định được Bộ trưởng ký ban hành) Bất cứ cán bộ nào sau khi được cử đi học về thống

kê hay được cử đi bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cần chuyển giao kiến thức đã được học cho các cán bộ khác ở trung ương cũng như ở địa phương

Nếu các dự án do quốc tế tài trợ không đủ kinh phí để cử tất cả các cán bộ tham

dự các khóa đào tạo ở nước ngoài thì Bộ Y tế nên thiết lập mối quan hệ mật thiết với các trường đại học công tại Việt Nam để xây dựng một chương trình học về thống kê sinh học hoặc kinh tế y tế hoặc nhân khẩu học hoặc xã hội học hoặc các khóa học về khoa học xã hội cấp bằng cử nhân hoặc thạc sĩ Bộ Y tế cần khuyến khích cán bộ theo học lấy bằng cao hơn bằng cách cấp học bổng cho các cán bộ có năng lực hoặc ít nhất

là cũng trợ cấp một phần tiền học phí hoặc cho phép các cán bộ có thể tự đài thọ kinh phí đi học được miễn làm công việc ở cơ quan nhưng vẫn được hưởng lương để đi học

Trang 30

Để duy trì và nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu của Bộ Y tế, Bộ cần cử một hoặc hai cán bộ tham gia vào các khóa đào tạo về chỉnh sửa, lưu trữ phục hồi số liệu ở trong nước hoặc ở các nước Châu á láng giềng Cán bộ về CNTT cũng có thể tham dự một

số khóa đào tạo về xây dựng hoặc hoàn thiện trang web của Bộ Mặt khác, để cải tiến công tác viết báo cáo, phân tích và kỹ năng thiết kế điều tra cho các cán bộ thống kê, cũng xin đề xuất một số khóa đào tạo sau:

• Viết báo cáo kỹ thuật/phân tích hoặc phân tích chuyên sâu hoặc phân tích nhân khẩu học

• Thiết kế điều tra và phương pháp chọn mẫu

• Các phương pháp thống kê nâng cao như phân tích đa biến, phân tích theo chuỗi thời gian, v…v

• Sử dụng số liệu thống kê y tế trong việc lập chính sách và ra quyết định

• Đào tạo về sử dụng bảng phân ngành quốc tế về các loại bệnh (ICD10)

• Sử dụng các phần mềm phân tích như SPSS và STATA

Bộ có thể cử nhiều nhất là hai cán bộ thống kê đi đào tạo trong nước hoặc nếu

có ngân sách thì đi đào tạo ở bất kỳ một nước châu á nào có tổ chức các khóa đào tạo nói trên Nếu ngân sách quá eo hẹp thì bộ có thể thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với TCTK hoặc bất kỳ trường đại học trong nước nào có khả năng cung cấp các khóa đào tạo thuộc loại này

Cũng có những phần mềm có thể tải từ internet hoặc có thể mua Những phần mềm này có thể dùng để xác định xu thế hoặc tính chất theo mùa của các số liệu chuỗi thời gian Xin xem phần phụ lục C để biết các thông tin về các phần mềm này

Sử dụng chương trình phần mềm SPSS (từ trang web của SPSS), ta có thể:

ƒ Truy cập và tổng hợp số liệu từ các nguồn khác nhau

ƒ Thu thập một cách hiệu quả số liệu mới

ƒ Khám phá ra các mô hình ngay cả với một lượng số liệu rất lớn

ƒ Trình bày thông tin dưới dạng đồ họa nhằm giúp hiểu số liệu được dễ dàng hơn

ƒ Chia sẻ thông tin một cách an toàn với các vụ/cơ quan khác

ƒ Quản lý các mô hình dự báo như tài sản thông tin

Ngoài ra STATA là một phần mềm thống kê hoàn thiện có thể cung cấp mọi điều mà bộ cần về phân tích số liệu, quản lý số liệu và đồ họa

Cả hai phần mềm này đều có công cụ để phân tích theo chuỗi thời gian Cũng có những phần mềm khác có thể sử dụng cho các cuộc điều tra/phân tích số liệu thu thập được

6.2 Những vần đề có liên quan khác

Trang 31

Ngân sách dành cho HTTTTKYT và các tiểu hệ thống rất thấp và không thường xuyên Không có ngân sách cho hoạt động thống kê y tế ngay cả ở tuyến trung ương

Do đó việc mua sắm trang thiết bị và in ấn biểu mẫu gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là ở các tỉnh nghèo và đặc biệt khó khăn

Hầu hết các trạm y tế xã và trên 50% phòng y tế huyện đều xử lý số liệu bằng tay Các đơn vị thống kê y tế ở trung ương và ở tỉnh xử lý số liệu bằng chương trình Excel Hiện nay Vụ KHTC Bộ Y tế đã xây dựng và sử dụng một số phần mềm như phần mềm tổng hợp báo cáo cho các trung tâm y tế huyện và sở y tế; phần mềm quản lý cho các bệnh viện; phần mềm quản lý một số bệnh xã hội như lao, phong, HIV, sốt rét, tai nạn và thương tật… Tuy nhiên do thiếu kinh phí nên việc nâng cấp, cải tiến và triển khai các phần mềm này chưa được hoàn tất Ngoài ra do kỹ năng của các cán bộ thống

kê còn yếu nên việc sử dụng máy tính và các phần mềm còn hạn chế

6.2.1 Đề xuất bổ sung

Do ngân sách cho hoạt động thống kê thấp nên cần lồng ghép ngân sách cho hoạt động thống kê vào một trong những mục chi tiêu của Vụ KHTC Một cách nữa là thay đổi cách dùng từ ngữ cho dòng ngân sách dành cho hoạt động thống kê để thuyết phục được Bộ TC cấp ngân sách cho hoạt động này Một nguồn ngân sách khác có thể huy động là Bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ phận Thống kê-tin học cần thảo luận vấn đề này với Bộ trưởng Bộ TC và thuyết phục Bộ trưởng Bộ TC giúp Bộ có được nguuồn ngân sách cần có

Trong những năm tới khi nguồn ngân sách đầy đủ hơn và cho phép tuyển thêm cán bộ cho công tác thống kê, Bộ phận Thống kê-tin học Vụ KHTC và các đơn vị thống

kê khác ở tỉnh/huyện/xã cần thuê thêm người ưu tiên những người có trình độ học vấn tốt (có thể biết thông qua bảng điểm) về thống kê hoặc toán, hoặc nhân khẩu học hoặc kinh tế hay bất cứ lĩnh vực nào có liên quan đến thống kê

Do các xã không có nguồn để mua thêm máy tính, Bộ phận Thống kê-tin học cần đưa ra các bảng biểu chuẩn và đơn giản để giúp cho các cán bộ thống kê ở tuyến này

có thể xử lý/ lập bảng số liệu bằng tay được dễ dàng Ở tuyến huyện, cần triển khai sử dụng các phần mềm mà bộ xây dựng để tổng hợp số liệu và báo cáo, ngay cả khi những phần mềm này cần được cải tiến thêm Cần đào tạo cán bộ cách sử dụng các phần mềm này và giám sát họ thường xuyên đến khi họ có thể quen với việc sử dụng Một cách khác nữa là nên thiết kế bảng tính chuẩn dùng chương trình Excel để tổng hợp số liệu ở tuyến tỉnh tương tự như bảng tính dùng ở tỉnh và trung ương

Bộ Y tế cần đầu tư và trang thiết bị, đặc biệt là máy tính nhằm giúp cho việc mã hóa, tổng hợp, biên tập lưu trữ, tra cứu thông tin y tế được dễ dàng Bộ phận thống kê-tin học cần có một máy chủ có thể tích hợp được các số liệu của quá khứ, hiện tại cũng như tương lai và có thể kết nối được với tất cả các cơ sở dữ liệu của tất cả các vụ/đơn

vị của Bộ Do đó, những vụ/đơn vị này cần được trang bị máy tính có chất lượng tốt cũng như phần mềm có bản quyền và chương trình chống vi-rút

Trang 32

Trong tương lại nếu Bộ y tế muốn xin kinh phí từ các tổ chức quốc tế để thực hiện các dự án về thống kê y tế thì nên có một phần đề xuất cải tiến xử lý và phân tích

số liệu chẳng hạn như mua máy tính, phần mềm thống kê và phần mềm phân tích (SPSS/STATA), máy in…

VII Tóm tắt nhận định, kết luận và kiến nghị

Do đặc thù công tác thống kê của ngành y tế có quá nhiều hoạt động và phải sản xuất ra nhiều chỉ tiêu nên ngành y tế gặp phải nhiều vấn đề nhất là về tính chính xác của số liệu/chỉ tiêu, các áp lực, thiếu cán bộ có kiến thức về công cụ thống kê, thiếu phương tiện công nghệ… Nhưng một điều đáng trân trọng của ngành y tế là các cán bộ tiếp tục làm công việc được giao và đưa ra những thông tin mà Bộ Y tế và đất nước cần cho dù gặp nhiều khó khăn và ngân sách dành cho công tác thống kê eo hẹp

Bức tranh tổng thể của đề xuất tăng cường năng lực thống kê của Bộ Y tế bao gồm:

Bộ Y tế cần củng cố lại Bộ phận Thống kê-tin học và nếu có thể thì nên nâng cấp

bộ phận này lên tầm vụ/cục để có thể thực hiện công tác quản lý công tác thống kê của

bộ và giúp cho bộ phận này ngang tầm với đối tác tại TCTK Bộ phận này cũng nên có một trung tâm CNTT cũng như một số đơn vị khác hỗ trợ cho hoạt động của mình Nếu điều này không thể thực hiện được thì cần củng cố Bộ phận Thống kê-tin học về mặt nhân sự để bộ phận này có thể tham dự và hỗ trợ công tác thống kê của các đơn vị khác trong bộ

Bộ phận Thống kê-tin học nên đóng vai trò dẫn đầu trong chức năng phối hợp nhằm thu hút được toàn bộ sự hợp tác của các vụ/đơn vị khác trong bộ; đi đầu trong việc lưu trữ, phục hồi số liệu để đẩy mạnh việc sử dụng và kết nối các cơ sở dữ liệu nằm ở các đơn vị trong bộ; chuẩn bị và triển khai các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của các cán bộ thống kê

Nếu thực hiện được điều này thì bộ phận Thống kê-tin học có thể thành lập Ủy ban kỹ thuật về số liệu thống kê y tế và nhóm công tác kỹ thuật để phục vụ như một địa điểm dành cho việc thảo luận các vấn đề có liên quan đến sản xuất số liệu thống kê y tế

và chuẩn bị hướng dẫn, qui trình, đánh giá chất lượng số liệu và phân tích… Để hỗ trợ cho các kết quả đầu ra và các quyết định của Ủy ban này, Bộ cần hỗ trợ các vụ/cục và các đơn vị khác trang thiết bị, tài liệu cũng như hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực

Các khuyến nghị cho những vấn đề được trình bày ở phần này được tóm tắt ở Biểu 3 dưới đây

Trang 33

Biểu 3 – Đề xuất tăng cường năng lực thống kê cho ngành y tế

Đề xuất các hoạt động Vấn đề Các vụ có liên quan Mục tiêu

1 Chia sẻ thông giữa các vụ/đơn vị

trong Bộ còn hạn chế Bộ phận TK-TH và các vụ/đơn vị khác 1 Để có thể tăng cường sự phối hợp giữa các đơn vị

2 Bộ phận TK-TH cần đóng vai trò đi đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ lưu trữ và tìm kiếm tra cứu thông tin y tế (quá khứ, hiện tại và tương lai) cũng như lưu trữ số liệu này vào 1 cơ sở

dữ liệu Do đó, bộ phận này cần có một “máy tính chủ” có thể tích hợp được tất cả các thông tin y tế của bộ cũng như

từ các bộ ngành khác Máy chủ này cần liên kết được với tất cả các cơ sở dữ liệu ở các đơn vị thống kê khác trong bộ

3 Một nhiệm vụ khác cần đưa vào trong chức năng của Bộ phận TH-TK là lập kế hoạch và thực hiện chương trình đào tạo thống kê hàng năm

1 Bộ phận TH-TK cần được nâng cấp thành vụ/cục để ngang tầm với đối tác của bộ phận này tại TCTK Nếu điều này không thể thực hiện được thì cần củng cổ

bộ phận TK-TH về số lượng cán

bộ để bộ phận này có thể tham gia và hỗ trợ các đơn vị khác trong bộ về công tác thống kê

2 Các cán bộ thống kê phải làm

kiêm nhiệm ở tỉnh/huyện/xã cũng

như phải tham gia vào chương

trình phòng chống quốc gia đã

gây cho họ nhiều áp lực, dẫn đến

việc các cán bộ xin chuyển công

tác, số liệu thống kê không được

thu thập và xử lý

Bộ phận TK-TH, Bộ Y

tế, trưởng Phòng KHTK của sở y tế, trưởng phòng y tế quận huyện, cán bộ thống kê xã

1 Giảm thiểu tối đa áp lực cho các tuyến thông tin khác nhau;

2 Giúp hiểu sâu hơn các vấn

đề mà cán bộ gặp phải khi phải hoàn thành công tác thống kê

1 Cần tổ chức họp giao ban hàng quý cho từng kênh thông tin

Nghĩa là Bộ phận TK-TH cần họp giao ban với tất cả các trưởng phòng KHTK của sở y tế, trưởng phòng KHTK của Sở y tế họp giao ban với tất cả các trưởng phòng y tế quận huyện Các phòng y tế quận huyện họp giao

Ngày đăng: 12/04/2018, 00:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w