BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ ------ DƯƠNG LIÊN KIỆT TRẮC NGHIỆM BỆNH CHÁY LÁ, BỆNH THỐI CỔ BÔNG VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH LÊN NĂNG SUẤT CÁC DÒNG LÚA TRIỂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
- -
DƯƠNG LIÊN KIỆT
TRẮC NGHIỆM BỆNH CHÁY LÁ, BỆNH THỐI CỔ BÔNG
VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH LÊN NĂNG SUẤT CÁC DÒNG LÚA TRIỂN VỌNG
TẠI ĐẠI HỌC CẦN THƠ
LUẬN VĂN KỸ SƯ NGÀNH TRỒNG TRỌT CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ GIỐNG CÂY TRỒNG
Cần Thơ - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NN & SHƯD – VIỆN NCPT ĐBSCL
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư ngành Trồng Trọt, chuyên ngành Công Nghệ Giống Cây Trồng với đề tài:
TRẮC NGHIỆM BỆNH CHÁY LÁ, BỆNH THỐI CỔ BÔNG VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH LÊN NĂNG SUẤT CÁC DÒNG LÚA TRIỂN VỌNG TẠI ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Do sinh viên Dương Liên Kiệt thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày … tháng 12 năm 2011 Cán bộ hướng dẫn
Ths Ông Huỳnh Nguyệt Ánh
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NN & SHƯD – VIỆN NCPT ĐBSCL
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư ngành Trồng Trọt, chuyên ngành Công Nghệ Giống Cây Trồng với đề tài:
TRẮC NGHIỆM BỆNH CHÁY LÁ, BỆNH THỐI CỔ BÔNG VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH LÊN NĂNG SUẤT
CÁC DÒNG LÚA TRIỂN VỌNG TẠI ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Do sinh viên Dương Liên Kiệt thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
Ý kiến của Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp được Hội Đồng đánh giá ở mức: Cần Thơ, ngày … tháng 12 năm 2011 Hội đồng
DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông Nghiệp
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản than Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Dương Liên Kiệt
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Kính dâng
Cha, mẹ người cả đời vất vả vì con
Xin chân thành biết ơn đến
Cô Ông Huỳnh Nguyệt Ánh, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn
Qúy thầy cô cà cán bộ thuộc Bô môn Tài Nguyên Cây Trồng, Viện Nghiên cứu và phát triển ĐBSCL-Đại học Cần Thơ đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
Quý thầy cô Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng- Đại học Cần Thơ
đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báo cho em suốt thời gian học tập ở trường
Thầy cố vấn Phạm Văn Phượng, các bạn sinh viên lớp Công nghệ giống cây trồng khóa 34 đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt khóa học
Xin chân thành cảm ơn!
Dương Liên Kiệt
Trang 6
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1 SƠ YẾU LÝ LỊCH
Họ và tên: Dương Liên Kiệt Giới tính: Nam
Ngày/ tháng/ năm sinh: 01 /12 /1990 Dân tộc: Hoa
Nơi sinh: Vị Thanh- Hậu Giang
Địa chỉ liên lạc: 57/4 Trưng Nhị, Phường I, TP.Vị Thanh, Tỉnh Hậu Giang Điện thoại: 0932825524
Email : dlkiet12@student.ctu.edu.vn
2 QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
2.1 Tiểu học:
Thời gian đào tạo từ năm 1997 đến năm 2001
Trường: Tiểu Học Phường I
Địa chỉ: Vị Thanh – Hậu Giang
2.2 Trung Học Cơ Sở
Thời gian đào tạo từ năm 2002 đến năm 2005
Trường: Trung Học Cơ Sở Phường III
Địa chỉ: Vị Thanh – Hậu Giang
2.3 Trung Học Phổ Thông
Thời gian đào tạo từ năm 2006 đến năm 2008
Trường: Trung Học Phổ Thông Vị Thanh
Địa chỉ: Vị Thanh – Hậu Giang
Trang 7Dương Liên Kiệt, 2011 ‘‘Trắc nghiệm bệnh cháy lá, bệnh thối cổ bông và nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh lên năng suất các dòng lúa triển vọng tại Đại học Cần Thơ” Luân văn Tốt nghiệp đại học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng Trường Đại Học Cần Thơ 70 Trang
Người hướng dẫn khoa học: Ths Ông Huỳnh Nguyệt Ánh
TÓM LƯỢC
Trong chiến lược chọn lọc giống lúa chống chịu ổn định với sâu bệnh, đề
tài Trắc nghiệm bệnh cháy lá, bệnh thối cổ bông và nghiên cứu ảnh hưởng của
bệnh lên năng suất các dòng lúa triển vọng tại Đại học Cần Thơ được thực hiện
nhằm đánh giá tính chống chịu bệnh cháy lá và bệnh thối cổ bông của bộ giống lúa thí nghiệm, sự tương quan giữa hai loại bệnh và xác định ảnh hưởng của bệnh thối
cổ bông lên một số chỉ tiêu và năng suất phẩm chất giống lúa
Đề tài thực hiện trong năm 2011 tại Đại học Cần Thơ Các trắc nghiệm cháy lá và thối cổ bông được thực hiện và đánh giá chỉ tiêu theo phương pháp IRRI (1996) Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của bệnh lên năng suất và phẩm chất được
bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại, 2 nghiệm thức (1) có xử lý thuốc Tilt
và (2) không xử lý thuốc với các chỉ tiêu thu thập là số bông bệnh, các thành phần năng suất, năng suất thực tế và độ bạc bụng của giống lúa
Kết quả cho thấy đối với bệnh cháy lá, bộ giống/dòng có 39% dòng kháng tốt, 36% dòng chống chịu bệnh, đối với bệnh thối cổ bông có 22% dòng kháng tốt, 42% dòng chống chịu bệnh Có sự tương quan rất thấp r2=11,7% của tính chống chịu giữa hai bệnh cháy lá và thối cổ bông Nhóm dòng kháng tốt bệnh cháy lá và thối cổ bông là L520-1-11-2-3-1 (số 2), L520-6-20-2-2-1-1 (số 5), L526-2-4-1-2-1 (số 1), L546-2-6-1-1-1 (số 3) Kết quả cũng cho thấy mỗi dòng lúa khác nhau có sự đáp ứng khác nhau đối với thiệt hai của bệnh Bệnh thối cổ bông với cấp đánh giá từ 7-9 làm năng suất thực tế giảm trung bình 33% và tỷ lệ bạc bụng của giống có khả năng cao trung bình hơn gấp 3,7 lần
Cần trắc nghiệm bệnh cháy lá và thối cổ bông ở nhiều vùng sinh thái khác nhau thuộc ĐBSCL để tìm giống chống chịu bệnh ổn định cho sản xuất
Trang 8
MỤC LỤC Chương Nội dung Trang
Tóm lược vii
Danh sách hình x
Danh sách bảng xi
Danh sách từ viết tắt xii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
1.1 NGUỒN GỐC VÀ TÁC NHÂN GÂY BỆNH CHÁY LÁ VÀ THỐI CỔ BÔNG TRÊN CÂY LÚA 3
1.1.1 Nguồn gốc của bệnh cháy lá và bệnh thối cổ bông 3
1.1.2 Tác nhân gây bệnh 3
1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH THÁI CỦA NẤM BỆNH 4
1.2.1 Nòi gây bệnh và biến dị 4
1.2.2 Chu trình bệnh và sự xâm nhiễm 5
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT SINH PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH 7
1.3.1 Ảnh hưởng của thời tiết khí hậu tới bệnh 7
1.3.2 Ảnh hưởng của đất đai, phân bón tới bệnh 8
1.3.3 Ảnh hưởng của giống lúa tới bệnh 9
1.4 TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH CHÁY LÁ VÀ THỐI CỔ BÔNG 10
1.4.1 Bệnh trên lá ở giai mạ 10
1.4.2 Bệnh trên cổ bông, cổ gié 11
1.5 CÁC HÌNH THỨC KHÁNG BỆNH 12
1.5.1 Kháng ngang hay kháng bệnh ngoài đồng 12
1.5.2 Tính kháng hàng dọc phổ biến 12
1.6 SỰ THIỆT HẠI DO BỆNH GÂY RA 13
1.7 MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT LÚA 14
1.7.1 Các chỉ tiêu về năng suất 14
1.7.2 Một số chỉ tiêu về phẩm chất hạt gạo 17
1.8 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH CHÁY LÁ VÀ THỐI CỔ BÔNG 19
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 21
2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 21
2.2.1 Thời gian và địa điểm 21
2.2.2 Vật liệu thí nghiệm 22
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 23
Trang 92.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.3.1 Phương pháp đánh giá cháy lá trên nương mạ 23
2.3.2 Đánh giá thối cổ bông ngoài đồng 25
2.3.3 Phân tích ảnh hưởng bệnh thối cổ bông lên chỉ tiêu năng suất hạt 26
2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 TÌNH HÌNH TỔNG QUÁT 29
3.2 KẾT QUẢ THỬ CHÁY LÁ TRÊN NƯƠNG MẠ 30
3.2.1 Kết quả tổng quả 31
3.2.2 Phản ứng với bệnh của các dòng lúa trắc nghiệm thuộc tổ hợp lai khác nhau 33
3.3 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ BỆNH THỐI CỔ BÔNG NGOÀI ĐỒNG 39
3.3.1 Kết quả tổng quả 39
3.3.2 Phản ứng đối với bệnh của các dòng lúa trắc nghiệm 40
3.3.3 Tính tương quan giữa bệnh cháy lá và thối cổ bông 43
3.4 ẢNH HƯỞNG BỆNH THỐI CỔ BÔNG LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU NĂNG SUẤT PHẨM CHẤT HẠT 47
3.4.1 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên tỷ lệ bông bệnh 47
3.4.2 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên số bông/m2 48
3.4.3 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên hạt chắc/bông 49
3.4.4 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên tỷ lệ hạt chắc 50
3.4.5 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên trọng lượng 1000 hạt 51
3.4.6 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên năng suất thực tế 53
3.4.7 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên tỷ lệ bạc bụng 54
3.5 NHẬN XÉT CHUNG 55
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
4.1 KẾT LUẬN 57
4.2 ĐỀ NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ CHƯƠNG 65
Trang 10DANH SÁCH HÌNH Hình Tựa Trang
Hình 1.1 Bào tử nấm Pyricularia grisea 4
Hình 1.1 Bệnh cháy lá ở giai đoạn mạ 11
Hình 1.2 Bệnh thối cổ bông trên lúa 12
Hình 2.1 Lô thí nghiệm bệnh cháy lá 23
Hình 2.2 Mô tả vết bệnh thối cổ bông 26
Hình 3.1 Giống chuẩn nhiễm bị cháy rụi 31
Hình 3.2 Nương mạ thí nghiệm thời điểm đánh giá bệnh 31
Hình 3.3 Tỷ lệ các dòng lúa phản ứng khác nhau với bệnh cháy lá 33
Hình 3.4 Tỷ lệ các dòng lúa thuộc L518 phản ứng khác nhau với bệnh cháy lá 34
Hình 3.5 Tỷ lệ các dòng lúa thuộc L520 phản ứng khác nhau với bệnh cháy lá 35
Hình 3.6 Tỷ lệ các dòng lúa thuộc L526 phản ứng khác nhau với bệnh cháy lá 37
Hình 3.7 Tỷ lệ các dòng lúa thuộc L550 phản ứng khác nhau với bệnh cháy lá 39
Hình 3.8 Tỷ lệ các dòng lúa thuộc L518 phản ứng khác nhau với bệnh thối cổ bông 41
Hình 3.9 Tỷ lệ các dòng lúa thuộc L520 phản ứng khác nhau với bệnh thối cổ bông 41
Hình 3.10 Tỷ lệ các dòng lúa thuộc L526 phản ứng khác nhau với bệnh thối cổ bông 42
Hình 3.11 Tỷ lệ các dòng lúa thuộc L550 phản ứng khác nhau với bệnh thối cổ bông 43
Hình 3.12 Tỷ lệ % dòng lúa phản ứng khác nhau với bệnh cháy lá và thối cổ bông 44
Hình 3.13 Mô hình tương quan giữa cấp bệnh cháy lá và cấp bệnh thối cổ bông 46
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
Bảng Tựa Trang
Bảng 2.1 Danh sách các giống/dòng làm thí nghiệm trong nghiên cứu 21
Bảng 2.2 Bộ giống định dòng Nhật Bản và gen tương ứng 22
Bảng 2.3 Phân cấp và mô tả vết bệnh cháy lá của IRRI (1996) 25
Bảng 2.4 Phân cấp và mô tả khả năng phục hồi bệnh cháy lá IRRI (1996) 25
Bảng 2.5 Phân cấp và mô tả vết bệnh thối cổ bông IRRI (1996) 26
Bảng 2.6 Danh sách 10 giống làm thí nghiệm ảnh hưởng bệnh thối cổ bông lên năng suất hạt 27
Bảng 2.7 Đánh giá và phân cấp độ bạc bụng theo FAO (1990) 28
Bảng 3.1 Nhiệt độ, ẩm độ không khí và lượng mưa trong thời gian thí nghiệm 29
Bảng 3.2 Phản ứng đối với bệnh cháy lá của các dòng lúa trắc nghiệm thuộc các tổ hợp lai khác nhau……… 32
Bảng 3.3 Phản ứng đối với bệnh cháy lá của các dòng lúa trắc nghiệm thuộc tổ hợp lai L518……… 34
Bảng 3.4 Phản ứng đối với bệnh cháy lá của các dòng lúa trắc nghiệm thuộc tổ hợp lai L520……… 35
Bảng 3.5 Phản ứng đối với bệnh cháy lá của các dòng lúa trắc nghiệm thuộc tổ hợp lai L526……… 36
Bảng 3.6 Phản ứng đối với bệnh cháy lá của các dòng lúa trắc nghiệm thuộc tổ hợp lai L545 và L546……… 37
Bảng 3.7 Phản ứng đối với bệnh cháy lá của các dòng lúa trắc nghiệm thuộc tổ hợp lai L550……… 38
Bảng 3.8 Phản ứng đối với bệnh thối cổ bông của các dòng lúa trắc nghiệm thuộc các tổ hợp lai khác nhau……… 40
Bảng 3.9 Kết quả bệnh cháy lá và thối cổ bông của giống/dòng thử nghiệm 45
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên tỷ lệ bông bệnh 48
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên số bông/m2 49
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên hạt chắc/bông 50
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên tỷ lệ hạt chắc 51
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên trọng lượng 1000 hạt 52
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên năng suất thực tế 54
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên tỷ lệ bạc bụng 55
Trang 12DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long NT1: Nghiệm thức có xử lý thuốc Tilt NT2: Nghiệm thức không xử lý thuốc STT: Số thứ tự
NC: Nghiên cứu
Trang 13Bệnh cháy lá lúa do nấm Pyricularia grisea gây ra là một trong những bệnh
hại phổ biến và nguy hiểm gây thiệt hại năng suất lúa ở ĐBSCL (Phạm Minh Sang
và ctv, 1996) Theo số liệu của Cục Bảo Vệ Thực Vật phía Nam cho biết vào năm
1990, miền Bắc bị nhiễm cháy lá 632.000 ha, còn ở miền Nam thì hầu như tỉnh nào cũng có bệnh xuất hiện và gây thiệt hại, nặng nhất là tỉnh Long An với 33.000 ha, An giang với 88.981 ha trong đó vụ Đông Xuân 2001 là 76.765 ha (Chi cục Bảo vệ Thực vật An Giang 2001) Bệnh gây hại nặng ở vụ Đông Xuân và nhẹ hơn ở vụ Hè Thu những lúc nào bệnh cũng xuất hiện do vài thập niên gần đây do nông dân sử dụng giống lúa cao sản và thâm canh tăng vụ Cây lúa hiện diện quanh năm tạo điều kiện cho bệnh lưu tồn và phát triển Để phòng trị bệnh này, cho đến nay biện pháp hóa học vẫn là phổ biến Tuy nhiên, biện pháp này vẫn còn nhiều hạn chế, một mặt do đặc điểm phát triển nòi mới của nấm bệnh, mặt khác nông dân chỉ
sử dụng thuốc khi bệnh đã quá nặng và gây ô nhiễm môi trường
Mặt khác, với tình hình biến đổi khí hậu hiện nay thì việc thâm canh tăng vụ
sẽ tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển, rất có khả năng bùng phát thành dịch Do
đó việc sử dụng giống chống chịu được bệnh và hiểu rõ mối quan hệ giữa bệnh với
các giai đoạn cây lúa là yếu tố rất cần thiết trong sản xuất Đề tài Trắc nghiệm
Trang 14bệnh cháy lá, bệnh thối cổ bông và nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh lên năng suất các dòng lúa triển vọng tại Đại học Cần Thơ được thực hiện nhằm chọn ra
những giống lúa chống chịu bệnh tốt ở cả giai đoạn mạ và giai đoạn trổ-chín để bảo toàn năng suất và phẩm chất của giống khi thu hoạch
Trang 15CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 NGUỒN GỐC VÀ TÁC NHÂN GÂY BỆNH CHÁY LÁ VÀ THỐI CỔ BÔNG TRÊN CÂY LÚA
1.1.1 Nguồn gốc của bệnh cháy lá và bệnh thối cổ bông
Bệnh cháy lá lúa là bệnh gây hại quan trọng nhất trên cây lúa, còn được gọi
là bệnh đạo ôn Khi dịch cháy lá xảy ra trên diện rộng thì thiệt hại đến năng suất và sản lượng sẽ thấy rất rõ nét và có ý nghĩa quan trọng đến kinh tế Tác nhân gây bệnh
có thể tấn công mọi giai đoạn của cây lúa; bắt đầu từ giai đoạn mạ hoặc sau khi gieo
sạ cho đến trước trổ thì gọi là bệnh cháy lá Bệnh có thể gây hại trên cổ lá nên gọi là thối cổ lá, hoặc gây hại trên cổ bông nên được gọi là thối cổ bông làm lép hạt
Bệnh được phát hiện rất sớm ở Trung Quốc vào 1673, ở Nhật năm 1704, Ý năm 1828, Mỹ năm 1876 và 1913 ở Ấn Độ địa bàn phân bố bệnh rộng khắp 85 nước trên thế giới, từ Trung Đông đến Tây Bán Cầu Bệnh gây tác hại nghiêm trọng đến năng suất vì bệnh có thể xuất hiện ở giai đoạn mạ cho đến giai đoạn trổ bông và
có thể làm thất thu hoàn toàn Theo Padmanabhan (1965) khi lúa bị đạo ôn 1% thì năng suất có thể giảm từ 0,7-17,4 % tùy thuôc vào các yếu tố liên quan
Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, hàng năm thường có hai cao điểm của bệnh cháy lá vào các tháng 11-12 dương lịch và tháng 5-6 dương lịch Các huyện Châu Thành, Cai Lậy, Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang; huyện Phú Tân, Chợ Mới tỉnh An Giang; huyện Thạnh Trị tỉnh Cần Thơ là những nơi thường có bệnh (Võ Thanh Hoàng, 1993)
1.1.2 Tác nhân gây bệnh
Bệnh do nấm Pyricularia grisea (cooke) Sacc gây ra, nấm thuộc họ
Moniliaceae, bộ Moniliales, lớp Seuteromycetes (lớp nấm bất toàn) (Phạm Văn Kim, 2000)
Trang 16Bào tử nấm gây bệnh rất nhỏ, mắt thường không nhìn thấy được có rất nhiều trong không khí, theo gió bay đi khắp nơi và làm lây lan bệnh (Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen, 1993)
Bào tử và khuẩn ty phát triển tốt ở nhất ở nhiệt độ 280C, ẩm độ không khí 93% (Abe 1991, Konishi 1993) phạm vi nhiệt độ nấm sinh bào tử từ 10-300C Ở 280C cường độ sinh bào tử nhanh và mạnh nhưng sức sinh sản giảm sau 9 ngày, trong khi
đó ở 16-240C sự sinh sản bào tử tăng và kéo dài đến 15 ngày sau đó mới giảm xuống (Henry và Anderson, 1948)
a Đài và đính bào tử b.Bào tử nấm
Hình 1.1 Bào tử nấm Pyricularia grisea
1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH THÁI CỦA NẤM BỆNH
1.2.1 Nòi gây bệnh và biến dị
Sasaki (1922) là người đầu tiên chú ý đến sự tồn tại của các dòng P oryzae
với độc tính gây bệnh khác nhau khi ông thấy có những giống lúa kháng với dòng A lại rất nhiễm với dòng B Tuy nhiên phải cho đến 1950, khi một vài giống lai như Futaba, được biết là giống kháng bệnh hơn 10 năm, lại bắt ngờ nhiễm bệnh một cách nghiêm trọng, do đó các nghiên cứu về nòi gây bệnh bắt đầu được đẩy mạnh ở Nhật Vào khoảng năm 1960, dựa trên phản ứng của 12 giống lúa, gồm 2 giống lúa
có nguồn gốc nhiệt đới, 4 giống ở Trung Quốc và 6 giống có nguồn gốc Nhật Bản; các nhà nghiên cứu đã xác định được 13 nòi gây bệnh
Bào tử
Đĩa áp
Trang 17Nấm gây bệnh cháy lá là nấm rất dễ biến dị, có khả năng tạo ra rất nhiều nòi gây bệnh Giữa các địa phương khác nhau hay giữa các mùa vụ trong cùng 1 địa phương, do đó sự khác nhau về giống canh tác, điều kiện môi trường nòi gây bệnh cũng sẽ khác nhau Hơn nữa, từ một vết bệnh hay thậm chí từ một đính bào tử, khi nuôi cấy, thì ở các thế hệ sau người ta thấy nấm lại là hỗn hợp nhiều nòi bệnh khác nhau Nguyên nhân quan trọng là do sự phát triển các nòi mới của nấm bệnh cháy lá lúa (Ou, 1983) Các dòng nấm Pyriculia oryzae rất dễ bị biến dị và tạo ra nòi nấm mới, sinh ra các độc tính và khả năng xâm nhiễm khác trên cây lúa (Lê Xuân Cuộc, 1994)(trích dẫn từ Hoàng Đình Định, 1998)
Có nhiều nguyên nhân làm nấm thay đổi độc tính gây bệnh Chủ yếu là do các tế bào của bào tử, sợi nấm và đĩa bám có nhân mang những đặc tính di truyền khác nhau Đa nhân cũng là nguyên nhân gây biến dị
1.2.2 Chu trình bệnh và sự xâm nhiễm
a Sinh và phát tán bào tử
Trên vết bệnh, nấm bắt đầu sinh giao tử vào 6 ngày sau khi chủng Tốc độ sinh sản gia tăng khi ẩm độ không khí gia tăng, nếu ẩm độ không khí dưới 93%, nấm sẽ không sinh bào tử được Một vết bệnh điển hình (mắt én) có thể sinh 2000-
6000 bào tử/ngày, trong thời gian 14 ngày, cao điểm ở ngày 3-8 sau khi lộ vết bệnh cháy lá và vào 10-20 ngày sau khi lộ vết bệnh ở gié Bào tử sinh ra từ các lá bên trên có thể lây nhiễm vào các gié ở giai đoạn trổ
Đại bộ phận bào tử sinh sản và giải phóng vào ban đêm, nhất là từ 2-6 giờ sáng (Barksdale và Asai, 1961) Bào tử muốn phóng thích được phải có nước hay
có sương Càng có nhiều giọt nước mưa trên lá bệnh hay khi thời gian sương mù càng kéo dài thì lượng bào tử được phóng thích càng cao (Hozumi, 1969)
Bào tử nấm có thể phát tán và bay cao đến 24 m, thậm chí đến 1000 m để lây lan nhưng khi không có gió, phần lớn bào tử ở gần mặt đất (Ou, 1983; Trần Văn Hai, 2006)
Trang 18Gió mạnh cũng làm phát tán bào tử tuy có thể chỉ trong một phạm vi hẹp Gió càng mạnh, bào tử phát tán càng xa và càng cao Mưa làm giảm khả năng phát tán của bào tử (Ou, 1983)
Trong tự nhiên, phần lớn bào tử phát tán dưới độ cao 1m kể từ mặt đất, do
đó lây lan chủ yếu xảy ra ở quanh nguồn bệnh Trên cây lúa những lá mọc ngang (từ
lá thứ 3 trở xuống) hay những giống lúa có lá mọc ngang dễ bắt bào tử hơn (Suzuki, 1961; Ono, 1965)
Ở vùng nhiệt đới, bào tử có thể tồn tại quanh năm đồng thời nấm cũng chuyển ký chủ từ cây lúa bị bệnh sang các ký chủ phụ sinh trưởng phát triển quanh năm Khi trên đồng ruộng không có lúa thì nấm sẽ sống trên các loại cỏ lồng vực,
cỏ đuôi phụng, cỏ môi, cỏ túc bình (Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen, 1993) Từ kết quả nghiên cứu, Nguyễn Thanh Hoàng (1979), Trần Thị Thu Thủy (1980), Nguyễn
Bá Hoài (1981) cho biết ngoài cây lúa, nấm gây bệnh cháy lá còn có 10 loài ký chủ phụ Các loài ký chủ phụ này giúp cho nấm có khả năng lưu tồn cao
b Nảy mầm và xâm nhiễm
Bào tử nảy mầm tạo đĩa bám và vòi xâm nhiểm, sẽ xâm nhiễm trực tiếp qua cutin và biểu bì, khuẩn ty nấm cũng có thể xâm nhiễm qua khí khổng Vòi xâm nhiễm phát triển từ đĩa bám, sau khi xâm nhập vào tế bào sẽ thành lập một túi và từ
đó phát triển khuẩn ty lan vào tế bào cây (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Theo Hashioka thời gian cần thiết để bào tử xâm nhập vào tế bào ký chủ thay đổi theo nhiệt độ 10 giờ ở 32oC, 8 giờ ở 28oC, 6 giờ ở 24oC Trên cây, nhiễm bệnh nặng nhất khi nhiệt đọ 24-28oC và có 16-24 giờ liên tục (Kahn và Jones, 1965) Barksdale và Jones (1965) phát hiện nước tự do cần cho bào tử nảy mầm và
ẩm độ không khí gần bảo hòa cần cho sự xâm nhiễm Thời gian lá bị ướt ảnh hưởng rất rõ rệt đến sự xâm nhiễm bệnh, lá bị ướt lâu, nhiễm bệnh càng nhiều
Thời gian ủ bệnh thay đổi theo nhiệt độ tối ưu cho việc ủ bệnh xảy ra nhanh 4-5 ngày là vào khoảng 26-28oC Mặc dù nấm xâm nhiễm chủ yếu về đêm, nhưng việc xen kẻ sáng tối (ngày đêm) làm cho bệnh thêm nghiêm trọng (Hemmi và CTV, 1936)
Trang 19c Khả năng lưu tồn của nấm bệnh
Nấm gây bệnh lưu tồn chủ yếu trong rơm lúa và hạt nhiễm bệnh, nấm có khả năng lưu tồn rất cao (Kuribayashi, 1923) Ở các vùng ôn đới, ở nhiệt độ phòng
và không khí khô, khuẩn ty có thể sống được 3 năm, bào tử sống được 1 năm, nhưng trong điều kiện ẩm ướt, chúng không sống được vụ sau (Ou, 1983; Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Và theo trích dẫn từ Dương Chí Linh (2001) thì Sundararam và Thomas cho rằng đính bào tử có thể sống từ vụ này sang vụ khác trong điều kiện môi trường khô
Ở hạt, nấm lưu tồn trong phôi, phôi nhủ, vỏ hạt và có khi ở lớp giữa vỏ và hạt Nấm cũng lưu tồn trên nhiều loại cây trồng và cỏ dại khác Có đến 38 loại cỏ dại thuộc 23 giống nhiễm với nấm này (Iwata và Yamanuki, 1956)
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT SINH PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH
Sự phát sinh và phát tán của bệnh phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố ngoại cảnh
và mức độ nhiễm bệnh của các giống
1.3.1 Ảnh hưởng của thời tiết khí hậu tới bệnh
Nấm đạo ôn ưa nhiệt độ tương đối thấp, điều kiện nhiệt độ 20-280C, ẩm độ không khí bão hòa và thời tiết âm u trong vụ Đông Xuân là rất thích hợp cho bệnh phát sinh gây hại nặng nhất Tuy vậy tương tác của nhiệt độ trước khi nhiễm bệnh
và ký chủ, cũng thay đổi theo mức nhiệt độ, theo sự phối hợp giữa nhiệt độ của không khí của đất hay của nước ruộng Nói chung nhiệt độ thấp ở giai đoạn trước khi nhiễm bệnh ảnh hưởng nhiều trên những giống lúa ôn đới hơn là trên các giống nhiệt đới
Nhiệt độ ảnh hưởng đến kích thước vết bệnh và khả năng sinh bào tử Vết bệnh có kích thước to nhất ở 250C (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Độ ẩm không khí và ẩm độ đất có tác dụng lớn tới tính mẫn cảm của cây đối với sự lây lan và phát triển của nấm bệnh Trong điều kiện khô hạn, ẩm độ đất thấp hoặc ở điều kiện úng ngập kéo dài cây lúa dễ bị nhiễm bệnh, ẩm độ không khí cao thuận lợi cho vết bệnh phát triển Ở các vùng nhiệt đới có mưa thường xuyên
Trang 20kéo dài tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh gây hại nghiêm trọng (Ou, 1983; Võ Thanh Hoàng, 1993; Vũ Triều Mân và Lê Lương Tề, 1998)
Trời mát thích hợp cho sự phát triển vết bệnh ở giai đoạn đầu, nhưng giai đoạn sau thì sự phát triển của vết bệnh sẽ được kích thích nếu có một ít nắng Khi không có đủ ánh sáng do mây mù, lá lúa sẽ tập trung nhiều asparagine, glutamine và nhiều amino acid khác nên sẽ tăng tính nhiễm của cây Ngoài ra gió cũng góp phần làm tăng tính nhiễm của cây
Ở vùng ôn đới, mưa thường làm giảm nhiệt độ còn khoảng 26–280C Theo Đường Hồng Dật (1963) mưa nhiều thiếu ánh sáng môi trường tạo ẩm độ cao làm cho bệnh lây lan mạnh Cùng với ý kiến trên theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) mưa thường xuyên kéo dài tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh gây hại nghiệm trọng Ou (1983) và Võ Thanh Hoàng (1998) cho rằng điều kiện 24-280C thì từ 16-
24 giờ ướt liên tục lúa sẽ bệnh rất nặng
Mật độ gieo sạ cũng có liên quan đến khả năng phát triển của bệnh Gieo sạ càng dầy, tán lá lúa càng nhiều, khả năng che khuất càng lớn, ẩm độ dưới tán lá càng cao, điều kiện vi khí hậu càng thuận lợi cho nấm cháy lá phát triển (Trần Văn Hai, 2006)
1.3.2 Ảnh hưởng của đất đai, phân bón đến bệnh
Những chân ruộng nhiều mùn, trũng ẩm, khó thoát nước, những vùng đất mới vỡ hoang, đất nhẹ, giữ nước kém, khô hạn và những chân ruộng có lớp sét nông rất phù hợp cho nấm bệnh phát triển và gây hại
Phân bón giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát sinh phát triển bệnh cháy lá ngay cả ở những năm tuy thời tiết không thuận lợi cho nấm phát triển nhưng
do bón phân không hợp lý tạo điều kiện thúc đẩy bệnh phát sinh và gây hại mạnh Theo Lương Minh Châu và ctv (2003), thì hàm lượng đạm và lân trong lá lúa có tương quan thuận với bón phân đạm trong đất, và không có tương quan với kali trong lá lúa Một kết quả nghiên cứu tương tự của Lương Minh Châu và ctv, (2003)
đã chứng minh rằng trong ruộng lúa bón càng nhiều phân đạm thì mức độ thiệt hại
do sâu, bệnh gây ra càng nặng, cụ thể là rầy nâu, sâu đục thân, sâu cuốn lá, bệnh
Trang 21đạo ôn và bệnh vàng lá Ruộng lúa bón đạm cao (200 kg N/ha) bị rầy nâu gây hại ở mật số cao, tỷ lệ thiệt hại do sâu cuốn lá, sâu đục thân và bệnh đạo ôn gia tăng
Theo Castilla (2001) ruộng lúa bón thừa đạm sẽ làm giảm độ dai cơ học của
mô cây lúa, làm giảm lượng cellulose cấu tạo các lớp tế bào của mô cây và làm tăng tính nhiễm bệnh của cây lúa bởi vì vi sinh vật gây bệnh thường tấn công vào các tế bào mô cây xốp, mọng nước Và tác giả cũng có đánh giá về ảnh hưởng tương tác giữa phân N, P, K với mức độ nhiễm một số loại bệnh phổ biến cho cây lúa như phân đạm có tác động tích cực đến mức độ nhiễm bệnh lúa von, đốm nâu, đốm vằn, cháy lá vi khuẩn, than, đạo ôn lá, thối bẹ, thối thân và vàng lụi (Tungro), trong khi
đó phân kali và phân lân có tác động ngược lại
1.3.3 Ảnh hưởng của giống lúa đến bệnh
Ngoài các yếu tố khí hậu thời tiết, đất đai và phân bón thì đặc tính giống có ảnh hưởng rất lớn tới mức độ phát triển của bệnh trên đồng ruộng Những giống nhiễm bệnh nặng (giống mẫn cảm) không những là điểm bệnh phát sinh ban đầu cho bệnh dễ dàng lây lan hàng loạt hình thành nên dịch bệnh trên đồng ruộng
Cơ chế kháng bệnh này do nhiều cơ chế khác nhau, trong đó có thể do cây tiết ra các chất chống lại sự xâm nhiễm của mầm bệnh hoặc do phản ứng tự chết của mô cây, do đó cây không bị mầm bệnh gây hại (Phạm Văn Kim, 2000)
Thông thường các giống lúa cao sản ngắn ngày khi được phóng thích đưa vào sản xuất đại trà thì đã được các nhà khoa học lai tạo, tuyển chọn để cây lúa có khả năng ít nhiều mang gen có thể kháng hay chống chịu lại bệnh cháy lá Trồng các giống lúa nhiễm bệnh, khi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi cho mầm bệnh, áp lực nguồn bệnh trong khu vực cao thì cây lúa dễ bị cháy rụi nhanh rồi chết Ngược lại, nếu trồng giống lúa kháng bệnh kết hợp với việc áp dụng IPM thì cây lúa sẽ đứng vững và tiếp tục cho năng suất Khả năng kháng lại bệnh của giống lúa chỉ có thể tồn tại trong một thời gian nhất định do nấm gây bệnh cháy lá thường xuyên thay đổi tính chất gây bệnh để phù hợp với sự tấn công vào giống lúa Ngoài ra, tính chất gây bệnh của các nòi nấm cũng thay đổi theo khu vực, thường được các nhà khoa học gọi là "nòi hay dòng nấm địa phương" Tại Sóc Trăng có 4 nòi, Tiền
Trang 22Giang 3 nòi, Vĩnh Long có 2 nòi (Teraoka và Phạm Văn Kim, 2002) Thành phần các nòi nấm này ở từng địa phương cũng thay đổi theo từng mùa vụ khác nhau
Theo Hoàng Đình Định (1998) giống NN3A, NN7A, MTL32, MTL36 bị bệnh cháy lá gây thiệt hại nặng về năng suất Vũ Triều Mân và Lê Lương Tề (1998) cho biết nhiều giống lúa đã khảo nghiệm và đánh giá là những giống có năng suất cao và chống chiu bệnh cháy lá như IR1820, IR17494, C70, C71, X20, X21, V14, V15 Một số giống lúa nếp hoặc NN8, CR203 là giống mẫn cảm bệnh cháy lá
Kết quả nghiên cứu của Ông Huỳnh Nguyệt Ánh (2004) đã chọn được một
số giống lúa triển vọng chống chịu bệnh cháy lá như MTL384, MTL366, MTL367, MTL368, MTL371, MTL352, MTL409, MTL216, MTL83, MTL378 Và một số giống mẫn cảm với bệnh như Jasmine85, MTL250, IR64, MTL119, MTL567
1.4 TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH CHÁY LÁ VÀ THỐI CỔ BÔNG
Bệnh cháy lá có thể phát sinh từ thời kỳ mạ đến lúa chín và có thể gây hại ở
bẹ lá, lá, lóng thân, cổ bông, gié và hạt Nhìn chung đặc điểm của vết bệnh có thể thay đổi theo tuổi cây, điều kiện thời tiết và tính nhiễm của giống
1.4.1 Bệnh cháy lá ở giai đoạn mạ
Vết bệnh trên mạ lúc đầu hình bầu dục sau tạo thành hình thoi nhỏ hoặc dạng tương tự hình thoi, màu nâu hồng hoặc nâu vàng Khi bệnh nặng thành từng đám vết bệnh kế tiếp nhau làm cho cây mạ có thể héo khô hoặc chết (Mai Quốc Việt, 1984; Đinh Thái Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh, 1986; Vũ Triều Mân và Lê Lương Tề, 1998)
Nấm tấn công ở mọi bộ phận của lúa nhưng nhiều nhất là ở phiến lá (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Bệnh xâm nhập khi lá lúa vừa xòe Trên lá, đặc điểm của vết bệnh có thể thay đổi theo tuổi, điều kiện thời tiết và mức độ mẫn cảm của giống lúa Thông thường vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ màu xanh da trời hoặc xám nhạt, sao đó phát triển nhanh thành vết bệnh điển hình, hai đầu nhọn ít hoặc nhiều
và giữa phình ra Trung tâm vết bệnh thường màu xám hay trắng nhạt và mép viền thường nâu hoặc nâu đỏ nhạt
Trang 23Trên các giống nhiễm, vết bệnh ban đầu chỉ là đốm úng nước nhỏ, màu xám xanh Vết bệnh sau đó lan ra, tạo vết hình mắt én, hai đầu hơi nhọn, tâm xám trắng, viền nâu hay đỏ, dài 1-1,5 cm và rộng 0,3-0,5 cm Nếu trời ẩm và giống có tính kháng nhiễm cao, vết bệnh sẽ có màu xám xanh do đài và bào tử nấm phát triển trên
đó, viền nâu hẹp hay mờ có quầng màu vàng quanh vết bệnh (Ou, 1983)
Trên các giống kháng mạnh, đốm bệnh là những đốm nâu nhỏ từ bằng đầu kim đến 1-2 mm hình dạng không đặc trưng (Ou, 1983; Vũ Triệu Mân và Lê Lương
Tề, 1998) Ở các giống kháng vừa, vết bệnh có hình tròn hay hình trứng, tâm sáng trắng, viền nâu, 2-3 mm (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
Nhìn chung, vết bệnh trên lá non và giống nhiễm bệnh thường to, vết bệnh trên lá già và giống chống chịu bệnh thường nhỏ Trường hợp bệnh nặng các vết bệnh thường nối liền nhau tạo thành các vết bệnh lớn làm cả lá bị cháy khô (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Ou (1983) cho rằng ở vùng ôn đới thường có thời kỳ dài mưa phùn hoặc mưa nhẹ, bệnh đạo ôn trên lá vào lúc đẻ nhánh thường nghiêm trọng và có thể làm chết cây hoàn toàn
Hình 1.2 Bệnh cháy lá ở giai đoạn mạ
1.4.2 Bệnh thối cổ bông, cổ gié
Các vị trí khác nhau trên bông lúa đều có thể bị bệnh với triệu chứng các vết màu nâu xám hơi teo thắt lại Trời ẩm, vết bệnh ướt và có mốc xám xanh Trời khô, vết bệnh bị nhăn lại Vết bệnh trên cổ bông xuất hiện sớm thì bông lúa bị lép, bạc bụng, nếu bệnh xuất hiện muộn khi hạt đã chắc thì gây hiện tượng gẫy cổ bông Khi cổ bông lúa bị bệnh, nấm tấn công và chặn ngang cổ bông làm tắt nghẽn mạch dẫn nhựa nên chất dinh dưỡng từ thân lá không đến được hạt lúa
Trang 24Hình 1.3 Bệnh thối cổ bông trên lúa
Vết bệnh ở hạt không định hình thường đốm tròn có màu nâu xám hoặc nâu đen, đường kính 1-2mm Nấm ký sinh ở vỏ trấu và có thể ở bên trong hạt Hạt giống
bị bệnh là nguồn truyền bệnh từ vụ này qua vụ khác (Võ Thanh Hoàng,1993)
1.5 CÁC HÌNH THỨC KHÁNG BỆNH
Tính kháng bệnh của các giống lúa đối với bệnh cháy lá thường không bền,
do bị bẻ gãy bởi các dòng gây bệnh mới của nấm bệnh Vì vậy, người ta cố gắng tìm các kiểu kháng mới bền vững hơn
1.5.1 Kháng ngang hay kháng bệnh ngoại đồng
Van De Plank (1975) cho việc xác định tính kháng hàng ngang giống như việc xác định tính kháng ngoài đồng Do đó, phương pháp là đưa các dòng lúa để thử nghiệm, nếu giống nào tồn tại là giống kháng hàng ngang Tuy nhiên nhiều giống, dòng lúa được cho là có tính kháng bệnh ngoài đồng cao, lại rất nhiễm bệnh khi được trắc nghiệm lại
Thật ra ý tưởng về kháng bệnh ngoài đồng này cũng giống như ý tưởng kháng bệnh hàng ngang của Van De Plank và khi các giống có gen kháng bệnh hàng dọc, gặp các dòng gây bệnh mới ngoài đồng, nếu tồn tại được, chính là các giống kháng hàng ngang
1.5.2 Tính kháng hàng dọc phổ rộng
Người ta thấy những giống có tính phổ kháng rộng, kháng được nhiều dòng gây bệnh của nấm trên thế giới, thì kháng bệnh bền Thoạt nhìn thì tưởng như kháng
Trang 25hàng ngang, nhưng phản ứng cơ bản là kháng dọc Giống có phổ kháng càng rộng thì càng ít bị thiệt hại
Người ta thấy là số vết bệnh trên lá của các giống kháng phổ rộng này có tương quan nghịch chặt (r = -0,92) với tỷ lệ (%) số dòng gây bệnh của nấm mà các giống đó kháng được hay nói khác hơn là tình kháng của một giống tỷ lệ thuận với
tỷ lệ số dòng gây bệnh mà giống đó kháng dọc được Giống càng kháng dọc được với nhiều dòng gây bệnh của nấm, thì càng ít bệnh
1.6 SỰ THIỆT HẠI DO BỆNH GÂY RA
Bệnh có thể làm cho lúa bị cháy rụi hoàn toàn nếu bị nhiễm bệnh sớm ở giai đoạn mạ hay giai đoạn nhảy chồi, nhất là khi có điều kiện thời tiết thuận lợi Nếu nhiễm trễ ở giai đoạn trổ, bệnh làm thối đốt thân, thối cổ gié nên làm đổ gãy, làm hạt lép hay làm giảm trọng lượng hạt
Đối với bệnh thối cổ gié, người ta ước tính cứ 10% gié bị nhiễm bệnh thì năng suất thất thu 6% và tỷ lệ hạt kém phẩm chất tăng 5% Khi dịch cháy lá xảy ra trên diện rộng thì sự thiệt hại đến năng suất và sản lượng sẽ thấy rất rõ nét và có ý nghĩa quan trọng đến kinh tế Tác nhân gây bệnh có thể tấn công mọi giai đoạn của cây lúa Bệnh nặng sẽ làm mất trắng năng suất nếu không phát hiện sớm và phòng trị kịp thời (Trần Văn Hai, 2006)
Tại ĐBSCL, dịch cháy lá lúa đã gây hại nặng ở huyện Thạnh Trị (Sóc Trăng) vào năm 1978 Trong những năm 1980-1982, dịch cháy lá xuất hiện ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang thiệt hại về năng suất ước tính khoảng 40% Năm 1992, khoảng 10 ngàn hecta lúa ở các tỉnh Long An, Tiền Giang, Hậu Giang bị thiệt hại Năm 1994, dịch bộc phát trên diện rộng với hơn 77 ngàn hecta lúa đã bị nhiễm cháy lá Năm 1995, hơn 200 ngàn hecta lúa ở các tỉnh ĐBSCL
bị nhiễm cháy lá, mức độ thiệt hại 10-15% (kết quả nghiên cứu khoa học
1977-1997, trích dẫn từ Dương Chí Linh, 2001) Riêng bệnh thối cổ bông giảm 40% năng suất (Phạm Văn Dư và ctv, 2002)
Theo thống kê của Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Nam, diện tích lúa Đông Xuân ĐBSCL có 29.215 ha bị nhiễm bệnh cháy lá, tập trung tại các địa phương như
Trang 26Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Cần Thơ, Bạc Liêu Ở ĐBSCL hầu như tỉnh nào cũng có xuất hiện bệnh, nặng nhất là Long An có 33.000
ha, An Giang có 88.890 ha (Nguyễn Bé Sáu, 2006)
Theo Cục Bảo vệ thực vật (2006) tổng diện tích bị nhiễm bệnh đạo ôn lá là 38.346 ha, tỷ lệ nhiễm bệnh trung bình từ 10-15% và khoảng 1.753 ha có tỷ lệ nhiễm bệnh từ 25-40% tại ĐBSCL
Theo Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen (1993) cho rằng bệnh cháy lá lúa gây hại ít nghiêm trọng hơn bệnh thối cổ bông vì lúa cháy lá có thể phun thuốc kịp thời
và lúa có khả năng phục hồi, còn bệnh thối cổ bông thì khi phun thuốc cũng không còn hiệu quả Do đó, bệnh thối cổ bông gây tổn thất nặng nề về năng suất và phẩm chất Phạm Văn Dư (2002) cho rằng bệnh thối cổ bông nặng có thể làm giảm 40% năng suất
Theo số liệu báo cáo của trung tâm bảo vệ thực vật phía nam trong 3 năm
2002, 2003 và 2004, diện tích gieo trồng lúa của các tỉnh phía Nam lần lượt là 3,84 triệu hecta, 3,67 triệu hecta và 4,08 triệu hecta; diện tích lúa bị bệnh cháy lá gây hại trong ba năm này chiếm 5,19%, 7,36% và 5,76% diện tích gieo trồng Tuy nhiên, diện tích bị thiệt hại nặng do bệnh cháy lá chỉ ở mức thấp: 1.11 ha, 1.084 ha và 2.858 ha
1.7.1 Các chỉ tiêu về năng suất
Năng suất lúa được hình thành và chịu ảnh hưởng trực tiếp của bốn yếu tố, gọi là thành phần năng suất lúa Đó là số bông/đơn vị diện tích, số hạt chắc/bông, tỷ
lệ hạt chắc và trọng lượng 1000 hạt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Các thành phần năng suất có liên quan chặt chẽ với nhau Trong phạm vi giới hạn, bốn thành phần này càng gia tăng thì năng suất lúa càng cao, cho đến lúc bốn thành phần năng suất này đạt được cân bằng tối hảo thì năng suất lúa sẽ tối đa Vượt trên mức cân bằng này, nếu một trong bốn thành phần năng suất tăng lên nữa
sẽ ảnh hưởng xấu đến các thành phần còn lại, làm giảm năng suất (Nguyễn Ngọc
Đệ, 2008) Các điều kiện thời tiết, canh tác và nguồn cung cấp dinh dưỡng ảnh
Trang 27hưởng nhiều đến mỗi thành phần năng suất Việc hiểu rõ sự liên hệ giữa chúng là
chìa khóa cho sự cải tiến năng suất (Shouichi Yoshida, 1981)
a Số bông trên m 2
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), số bông/m2 được quyết định vào giai đoạn sinh trưởng ban đầu của cây lúa từ gieo cấy đến 10 ngày trước khi có chồi tối đa Yếu tố này tùy thuộc vào mật độ sạ cấy và khả năng nở bụi của lúa thay đổi tùy thuộc theo giống lúa, điều kiện đất đai, thời tiết, lượng phân bón, nhất là phân đạm
và chế độ nước Đối với lúa sạ phải đạt 500-600 bông/m2, lúa cấy phải đạt 350-450
số bông/m2 Cây lúa chỉ cần có số bông vừa phải, gia tăng số hạt chắc trên bông thì tốt hơn là gia tăng số bông/m2 (Lê Xuân Thái, 2003)
Ở canh tác lúa cấy, số bông/m2 tùy thuộc vào sự đâm chồi Tuy nhiên, ở hệ thống sạ thẳng số bông/m2 tùy thuộc nhiều vào lượng giống để sạ và phần trăm nảy mầm (Shouichi Yoshida, 1981) Theo Bùi Chí Bửu và ctv (1998), những giống lúa
có sức chứa lớn thì thường kéo theo đặc tính đẻ nhánh yếu Các giống lúa cải tiến hiện nay có thể đẻ nhánh tới 20-25 nhánh trong điều kiện dinh dưỡng đầy đủ nhưng chỉ khoảng 14-15 nhánh cho bông hữu hiệu, còn lại là nhánh vô hiệu hoặc bông rất
nhỏ
b Số hạt chắc trên bông
Đặc tính số hạt trên bông chịu tác động rất lớn của điều kiện môi trường, số hạt trên bông nhiều hay ít tùy thuộc vào gié hoa phân hóa và số gié hoa không phân
hóa (Shouichi Yosshida, 1981)
Nguyễn Ngọc Đệ (2008) cho rằng lúa sạ có trung bình từ 80-100 hạt trên bông và 100-120 hạt trên bông đối với lúa cấy là tốt trong điều kiện ở ĐBSCL Trên cùng một cây lúa những bông chính thường có nhiều hạt, những bông phụ phát triển
sau nên ít hạt hơn
Theo Nguyễn Thạch Cân (1997) và Lê Thị Dự (2000), tùy thuộc vào số hoa trên bông, đặc tính sinh lý của cây lúa và ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh mà tỷ
lệ hạt chắc cao hay thấp Số hoa trên bông quá nhiều dẫn đến tỷ lệ hạt chắc thấp
Trang 28c Tỷ lệ hạt chắc
Tỷ lệ hạt chắc được quyết định từ đầu thời kỳ phân hoá đòng đến khi lúa vào chắc nhưng quan trọng nhất là các thời kỳ phân bào giảm nhiễm, trổ bông, phơi
màu, thụ phấn, thụ tinh và vào chắc (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Những yếu tố như thời tiết, sự bón đạm, sâu bệnh ảnh hưởng đến tỷ lệ hạt chắc hoặc hạt lép lửng Ngoài ra, trên lúa còn có những hạt bất thụ do yếu tố sinh lý của cây hoặc do điều kiện thời tiết quá bất lợi (Yoshida, 1981) Các giống lúa có khả năng quang hợp, tích lũy và chuyển vị các chất mạnh, cộng với cấu tạo mô cơ giới vững chắc không đổ ngã sớm, lại trổ và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt, dinh dưỡng đầy đủ thì tỉ lệ hạt chắc sẽ cao và ngược lại Muốn có năng suất cao, tỷ
lệ hạt chắc phải đạt trên 80 % (Nguyễn Ngọc Đệ 2008)
Để tăng tỷ lệ hạt chắc, Đinh Văn Lữ (1978) cho rằng phải cấy đúng thời vụ, đúng tuổi mạ bảo đảm điều kiện ngoại cảnh thuận lợi để cây sinh trưởng tốt từ khi bắt đầu phân hóa đòng đến khi trổ đều không nên tăng số hạt trên cây quá nhiều, giữ cho cây khỏe, thời kỳ trổ bông bón đạm sau khi lúa trổ đều, phòng trừ sâu bệnh sau
khi trổ, phòng đổ ngã, chọn những giống có tỷ lệ hạt chắc cao
d Trọng lượng 1000 hạt
Shouichi Yoshida (1981) cho rằng trọng lượng 1000 hạt là đặc tính ổn định của giống vì kích thước hạt bị kiểm tra chặt chẽ bởi vỏ trấu Do đó, hạt không thể sinh trưởng lớn hơn khả năng của vỏ trấu dù các điều kiện thời tiết thuận lợi và
nguồn cung cấp chất dinh dưỡng thế nào
Trọng lượng 1000 hạt được quyết định ngay từ thời kỳ phân hóa mầm hoa đến khi lúa chín, nhưng quan trọng nhất là các thời kỳ giảm nhiễm tích cực và vào chắc rộ Yếu tố này còn phụ thuộc vào cỡ hạt và độ no đầy của hạt, trọng lượng
1000 hạt thường biến thiên tập trung trong khoảng 20-30 gam (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Tính trạng trọng lượng 1000 hạt có hệ số di truyền cao và ít chịu ảnh hưởng của môi trường nên việc chọn giống có trọng lượng 1000 hạt cao là rất cần thiết (Lê Xuân Thái, 2003) Trọng lượng hạt do hai yếu tố cấu thành, khối lượng vỏ trấu
Trang 29chiếm 20%, khối lượng hạt gạo chiếm 80% (Nguyễn Đình Giao và ctv, 1997) Vì vậy cần chọn ra những giống có trọng lượng hạt cao để gia tăng năng suất Tuy nhiên, không chọn hạt quá to vì hạt to thường kéo theo bạc bụng, giá trị xuất khẩu
sẽ giảm Bệnh thối cổ bông làm giảm tỷ trọng hạt, tăng hạt bạc bụng, hạt gãy và đã làm giảm đến 12% gạo nguyên (Candole và ctv, 1999) (trích dẫn Lê Hữu Hải, 2008)
1.7.2 Một số chỉ tiêu về phẩm chất hạt gạo
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) phẩm chất hạt tùy thuộc vào người tiêu dùng
và tùy vào mục đích sử dụng Theo truyền thống, các nhà chọn tạo giống tập trung vào việc lai tạo theo hướng năng suất cao và kháng sâu bệnh và gần đây, xu hướng chọn tạo giống đã thay đổi để kết hợp với các đặc tính phẩm chất hạt ưa thích bởi người tiêu dùng để gia tăng tổng giá trị kinh tế của lúa gạo Phẩm chất hạt không chỉ phụ thuộc vào giống lúa, mà còn tùy thuộc vào môi trường sản xuất, hệ thống thu hoạch, sau thu hoạch và chế biến Ngô Văn Phiếu (1988) cũng đã cho rằng phẩm chất hạt gạo do nhiều yếu tố quyết định như: giống, môi trường sản xuất, kỹ thuật canh tác, công nghệ chế biến,…nhưng giống là yếu tố cơ bản và quyết định
kỳ hạt chín, kéo dài đến sau thu hoạch (Khush et al, 1979)
Những nghiên cứu của Bùi Chí Bửu và ctv (1996 và 1999) cho thấy tỷ lệ gạo nguyên cao nhất khi thu hoạch vào lúc lúa chín 28-30 ngày sau trổ Ngược lại, thu sớm sau khi lúa trổ 20 ngày, thu muộn sau khi lúa chín 35 ngày thì tỷ lệ gạo
nguyên thấp
Trang 30Nghiên cứu của Yadav (1989) cho thấy trong các chỉ tiêu về chất lượng xay xát thì tỷ lệ gạo nguyên tăng so với tỷ lệ giảm dài/rộng của hạt, nghĩa là hạt càng dài thì tỷ lệ gạo nguyên càng thấp (trích dẫn bởi Nguyễn Thành Phước, 2003) Những hạt đã khô nếu đột ngột bị ẩm cũng có thể tạo ra các vết rạn trong hạt và gây ra những mảnh nhỏ khi xay xát, hạt càng khô khi ẩm trở lại càng vỡ nhiều (Bhattacharya, 1980; Kunzer, 1985; Srinivas, 1985) (trích dẫn bởi Nguyễn Thành
Phước, 2003)
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lang và ctv (2002) phẩm chất xay chà trên vụ Đông Xuân có tỷ lệ gạo nguyên cao gấp đôi tỷ lệ gạo nguyên vụ Hè Thu Điều này chú ý đến lượng mưa kéo dài trong vụ Hè Thu dẫn đến chất lượng kém
b Kích thước hạt gạo
Dạng hạt gạo và kích thước hạt gạo là do yếu tố di truyền của giống lúa
quyết định (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2000)
Jennings và ctv (1979) cho rằng kích thước hạt và hình dáng hạt có liên quan chặt chẽ đến năng suất gạo nguyên Kích thước và dạng hạt (tỷ lệ dài/ngang) khác nhau tùy thuộc vào đặc tính giống Hạt thon dài thường dễ nứt gãy hơn hạt tròn và do đó, tỷ lệ xay xát thấp hơn Kích thước và dạng hạt cũng ảnh hưởng đến
kiểu thiết bị xay xát (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Chiều dài hạt gạo là tính trạng ổn định nhất, nó ít bị ảnh hưởng của điều kiện môi trường và được điều khiển bởi đơn gen hay hai gen (Bollich và ctv., 1992) Tuy nhiên, theo Sormith (1979) chiều dài hạt gạo do đa gen điều khiển Thứ tự tính
trội được ghi nhận như sau: hạt dài > hạt trung bình > hạt ngắn > hạt rất ngắn
d Độ bạc bụng
Người tiêu dùng thích loại gạo có độ bạc bụng thấp và trắng trong, do đó đây cũng là một trong các mục tiêu quan trọng để chọn giống (Nguyễn Song Hà, 2009) Độ bạc bụng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng xuất khẩu và nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng đồng thời nó còn ảnh hưởng đến tỷ lệ xay chà, do đó vấn đề này đòi hỏi các nhà chọn giống phải đặc biệt chú ý
Trang 31Theo Trần Thị Đông (1989), điều kiện môi trường ảnh hưởng đến độ đục, đặc biệt là nhiệt độ sau khi trổ, nhiệt độ cao làm gia tăng độ đục và ngược lại Ngoài
ra độ bạc bụng còn bị ảnh hưởng bởi độ phì của đất và điều khiển mực nước (trích Nguyễn Đình Huy, 2008)
Sự xuất hiện và mức độ bạc bụng là do di truyền Mặc dù một số yếu tố môi trường có ảnh hưởng tới mức độ bạc bụng, những hạt riêng lẽ trên cùng một bông lúa cúng khác nhau về độ bạc bụng (Jennings và ctv.,1979)
Del Rosario et al (1968) (được trích dẫn bởi Nguyễn Nhật Nam, 2010) cho rằng, độ bạc bụng xảy ra trong suốt quá trình thủy phân và tốc độ chín của hạt, thiếu nước ở giai đoạn làm đòng đến lúc trổ, bệnh đạo ôn cổ bông, bọ xít hôi giai đoạn lúa ngậm sữa đều làm tăng tỷ lệ bạc bụng (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2000)
1.8 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH CHÁY LÁ VÀ THỐI CỔ BÔNG
Theo PGS.Ts Phạm Văn Kim, 2010 nấm bệnh cháy lá đã thích hợp với điều kiện thời tiết hiện nay và điều kiện canh tác cũng đã góp phần làm cho bệnh phát triển liên tục Không giống như những năm trước, bệnh cháy lá chỉ gây hại nặng trong vụ Đông Xuân mà trong vòng 2-3 năm trở lại đây, bệnh xuất hiện rất nặng ngay cả trong vụ Hè Thu và Thu Đông Có nơi cháy lá xuất hiện rất sớm khi lúa vừa mới hai tuần tuổi đã thấy có dấu chấm kim
Để giải quyết bệnh cháy lá, PGS.TS Phạm Văn Kim nhấn mạnh nên chọn giống ít nhiễm đến kháng bệnh, bón phân đạm vừa đủ theo nhu cầu cây lúa không quá 90 N/ha Đồng thời nên dùng biện pháp kích kháng tức là dùng thuốc để kích thích tính kháng bệnh cho cây lúa, hay nói khác hơn là chủng ngừa bệnh cho cây lúa
để giúp cho cây lúa chống chịu với bệnh cháy lá
Việc sử dụng chất kích kháng lưu dẫn giúp cây có phản ứng tự bảo vệ khi được chủng trước vi sinh vật và sau đó lây nhiễm với cùng hoặc khác chủng vi sinh vật gây bệnh đã được nghiên cứu nhiều và cho kết quả khả quan (Sticher et al, 1997) Theo các nghiên cứu trong nhà lưới tại trường Đại học Cần Thơ của Lê Thanh Phong, Trịnh Ngọc Thuý, Diệp Đông Tùng và Phạm Văn Kim (1999) cũng
Trang 32cho thấy các hoá chất K2HP04, Na2Si03, Acid Benzoid, CuCl2. có hiệu quả kích kháng bệnh cháy lá lúa Vì vậy việc tìm ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng trừ bệnh cũng như bảo vệ môi trường là điều cần thiết, trong đó kích kháng
có thể được xem như là biện pháp có triển vọng
Nghiên cứu chất kích kháng và khả năng ứng dụng trong quản lý tổng hợp bệnh cháy lá lúa của Viện Nghiên cứu Lúa ĐBSCL đã nghiên cứu sử dụng chất kích thích tính kháng đối với bệnh cháy lá lúa như dipotassium hydrogen phosphat (K2HPO4), oxalic acid (C2H2O4), natritetraborac (Na2B4O7) dùng xử lý hạt giống trước khi sạ hàng giúp giảm bệnh cháy lá, tăng cường lực mạ, tăng số hạt chắc và năng suất
Quản lý tính kháng cháy lá của Viện Nghiên Cứu Lúa ĐBSCL đã cho thấy bao gồm việc đa dạng hoá nguồn gen trong sản xuất, lai tạo gen kháng cháy lá từ lúa hoang, chọn tạo giống lúa kháng ngang và ứng dụng quy trình thâm canh tổng hợp
Trang 33CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM
2.1.1 Vật liệu thí nghiệm
a Giống lúa thử nghiệm
Nguồn vật liệu thí nghiệm là 36 giống/dòng lúa triển vọng có đặc điểm hình thái tốt, năng suất cao và phẩm chất tốt, có thời gian sinh trưởng tương đương OMCS2000, thuộc các tổ hợp lai L518 (MTL250/MTL463), L520 (MTL145/MTL250), L526 (IR50404/MTL372), L545 (AS996/IR42), L546 (MTL145/IR42), L550 (MTL250/JASMINE) (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Danh sách các giống/dòng làm thí nghiệm trong nghiên cứu
Trang 34b Giống lúa đối chứng và định dòng
Sử dụng bộ giống chuẩn nòi của Nhật gồm 12 giống với gen kháng và mã
số gen được trình bày như Bảng 2.2
Bảng 2.2 Bộ giống định dòng Nhật Bản và gen tương ứng
STT Tên giống Gen kháng Mã số gen
6 Ishikari Shiroke Pi-i 4
Nguồn: Phạm Văn Dư, 2002
Cách tính mã nòi: Mỗi giống trong bộ định dòng có cấp nhiễm 5 -9 sẽ được
đánh giá bằng mã số gen Tổng tất cả các mã số gen trong thời vụ đánh giá được xem là mã số nòi của thời vụ đó Mã số gen càng cao thành phần nòi nấm càng có tính độc cao
c Mầm bệnh
Sử dụng mầm bệnh cháy lá ngoài đồng ruộng tự nhiên tại địa phương
2.1.2 Thời gian và địa điểm thực hiện
Đề tài được thực hiện tại Nông trại Khu II-Đại học Cần Thơ qua hai mùa vụ Đông Xuân và Hè Thu 2011
Trang 352.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện với các nội dung như sau:
- Trắc nghiệm bệnh cháy lá trên nương mạ 36 giống/dòng lúa triển vọng
- Đánh giá bệnh thối cổ bông ngoài đồng 36 giống/dòng lúa triển vọng
- Phân tích sự tương quan giữa bệnh cháy lá và bệnh thối cổ bông
- Xác định ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên năng suất và phẩm chất của 10 giống/dòng lúa triển vọng
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp trắc nghiệm cháy lá trên nương mạ
a Thiết kế thí nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên theo bộ giống, 2 lần lặp lại theo phương pháp nương mạ khô IRRI Sử dụng giống Tẻ Tép làm chuẩn kháng, giống OM1490 làm chuẩn nhiễm
- Giống chuẩn kháng và chuẩn nhiễm được gieo xen vào bộ giống thử nghiệm Xung quanh mỗi liếp được bao bọc bởi hai hàng giống chuẩn nhiễm OM1490, quanh thí nghiệm được bao nilon tránh chuột, khi gieo xong đậy lưới trên hàng tránh chim
- Các thí nghiệm được bố trí vuông góc với hướng gió để đảm bảo sự phát tán của bào tử được tối ưu (Hình 2.1)
Hình 2.1 Lô thí nghiệm bệnh cháy lá
Trang 36b Chăm sóc quản lý thí nghiệm cháy lá trên nương mạ
Quản lý nước Nước được tưới mỗi ngày đẫm nương mạ sao cho đảm bảo
đủ ẩm độ khu vực thí nghiệm để tạo điều kiện cho sự sản sinh và lây lan của bào tử nấm bệnh
Phân bón Sử dụng phân ure với công thức phân 300-0-0 Phân bón được
chia làm ba đợt tưới là 9, 15, 20 ngày sau khi gieo
Làm cỏ và chăm sóc Các liếp mạ trước khi đánh giá cấp bệnh không làm
cỏ nhằm mục đích giữ ẩm độ tốt cho lúa đồng thời cỏ cũng là nơi cư trú phát triển
và lây lan của mầm bệnh khi điều kiện thích hợp Không sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh trên nương mạ
c Phương pháp chủng bệnh
Bệnh được chủng vào các liếp mạ lúc được 15 ngày sau khi gieo Lá lúa bị bệnh cháy lá (mầm bệnh) được cắt thành các đoạn ngắn 4-5 cm, rải đều trên các hàng giống chuẩn nhiễm của lô thí nghiệm nhằm cung cấp mầm bệnh để chúng tự phát triển và sau đó tấn công giống thử nghiệm và gây bệnh
d Phương pháp lấy chỉ tiêu bệnh cháy lá
- Định dòng dựa theo phương pháp chuẩn nòi của Nhật
- Chỉ tiêu bệnh trên giống thí nghiệm được ghi nhận 2 lần Lần thứ nhất: 25 ngày sau khi gieo, tương đương lúc giống chuẩn nhiễm cháy lá cấp 9 Lần thứ hai:
30 ngày sau khi gieo, đánh giá khả năng phục hồi của giống
- Lấy cấp bệnh cao nhất của những lần lặp lại và của hai lần đánh giá Đánh giá phản ứng của giống lúa được căn cứ vào Bảng 2.3 phân cấp của IRRI (1996)
- Tính phục hồi của giống được đánh giá theo Bảng 2.4 của IRRI (1996)
Trang 37Bảng 2.3 Phân cấp và mô tả vết bệnh cháy lá của IRRI (1996)
1 Các vết bệnh màu nâu hình kim châm ở giữa, chưa
xuất hiện vùng sản sinh bào tử Kháng
Hơi kháng
5 Vết bệnh điển hình chiếm 4 – 10% diện tích trên lá Hơi nhiễm
6 Vết bệnh điển hình chiếm 11 – 25 diện tích trên lá Nhiễm
7 Vết bệnh điển hình chiếm 26 – 50% diện tích trên lá Nhiễm
8 Vết bệnh điển hình chiếm 51 – 75% diện tích trên lá Rất nhiễm
9 Hơn 75% diện tích lá bị bệnh, giống cháy rụi Rất nhiễm
Bảng 2.4 Phân cấp và mô tả khả năng phục hồi bệnh cháy lá của IRRI (1996)
++++ Sinh trưởng giống không bị ảnh hưởng Rất tốt
+++ Giống sinh trưởng gần như bình thường Tốt
++ Giống sinh trưởng bình thường sau 4 ngày Khá
+ Giống sinh trưởng bình thường sau 8 ngày Trung bình
- Giống sinh trưởng bình thường sau 12 ngày Kém
Giống chết khô hoặc sinh trưởng 1-2 chồi Không phục hồi
2.3.2 Đánh giá thối cổ bông ngoài đồng
Đánh giá thối cổ bông được thực hiện trên 36 giống/dòng như trên Ruộng thí nghiệm được cấy một tép khoảng cách 15 20 cm, công thức phân bón 80-60-
60, canh tác theo IRRI (1996)
Chỉ tiêu bệnh thối cổ bông được ghi nhận trước khi lúa thu hoạch 7 ngày Tính số bông mang vết bệnh bao hoàn toàn lóng, cổ, hoặc phần dưới của trục bông
Tỷ lệ chồi bệnh được tính như sau:
Trang 38Tổng chồi bệnh
Tỷ lệ chồi bệnh = x 100
Hình 2.2 Mô tả vết bệnh thối cổ bông
Tỷ lệ bông bệnh và phân cấp thối cổ bông được đánh giá ngoài đồng theo Bảng phân cấp bệnh của IRRI (1996)
Bảng 2.5 Phân cấp bệnh thối cổ bông theo IRRI (1996)
Tổng chồi quan sát
Trang 39Bảng 2.6 Danh sách 10 giống làm thí nghiệm ảnh hưởng bệnh thối cổ bông lên năng suất hạt
Gặt 5m2 giữa lô, ra hạt phơi khô giê sạch cân trọng lượng và đo ẩm độ ngay
khi cân rồi quy về trọng lượng và ẩm độ chuẩn theo công thức (1)
Năng suất thực tế được tính như sau:
NSTT (tấn/ha) = W14%(kg) 2
* Các thành phần năng suất
Gặt 12 bụi lúa lấy chỉ tiêu, chọn ngẫu nhiên 10 bông để đo chiều dài bông Đếm tổng số bông của 12 bụi (P)
Tuốt tất cả các hạt chắc và lép của 12 bụi
Cân trọng lượng hạt chắc (W), đơn vị là gam
Đếm tổng số hạt lép của 12 bụi (U)
Đếm ngẫu nhiên 1000 hạt trong số hạt chắc, cân (w), đơn vị gam
Tất cả trọng lượng đều quy về ẩm độ 14% theo công thức như sau:
W14%
86
)100
Trang 40W 0 : Trọng lượng mẫu lúc cân
H 0 : Ẩm độ lúc cân
Số bông/m2
) 2 0 15 0 (
P (2)
Hạt chắc/ bông
P w
% 14
1000
(3)
1000 1000
% 14
% 14
% 14
% 14
W
w W
(4)
Trọng lượng 1000 hạt = w14%
* Độ bạc bụng
Lấy ngẫu nhiên 300 hạt gạo (3 lần lặp lại/mẫu) Tính phần trăm bạc bụng
dựa vào phần trăm diện tích bị bạc bụng của gạo trắng
Bảng 2.7 Đánh giá phân cấp độ bạc bụng (FAO, 1990)
2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu
- Sử dụng công cụ là phần mềm Exel để xử lý số liệu thô và phần mềm SPSS để phân tích thống kê số liệu thí nghiệm
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và tính chỉ số tương quan r2 đối với việc đo lường bệnh cháy lá và bệnh thối cổ bông
- Sử dụng phương pháp so sánh trung bình hai tổng thể, độ chênh lệch và tỷ
lệ % để xác định sự khác biệt và mức độ ảnh hưởng của bệnh thối cổ bông lên năng suất lúa