1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG kỹ THUẬT CANH tác SEN lấy củ tại TỈNH sóc TRĂNG

83 391 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 735,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNGHội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư Khoa Học Cây Trồng, chuyên ngành Công Nghệ Giống Cây

Trang 1

LƯU MINH TRUYỀN

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT CANH TÁC SEN LẤY CỦ TẠI TỈNH SÓC TRĂNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ KHOA HỌC CÂY TRỒNG CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ GIỐNG CÂY TRỒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ KHOA HỌC CÂY TRỒNG CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ GIỐNG CÂY TRỒNG

Tên đề tài:

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT CANH TÁC SEN LẤY CỦ TẠI TỈNH SÓC TRĂNG

MSSV: 3083376

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư Khoa Học Cây Trồng, chuyên ngành Công Nghệ Giống Cây Trồng với đề tài:

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT CANH TÁC SEN LẤY CỦ TẠI TỈNH SÓC TRĂNG

Do sinh viên Lưu Minh Truyền thực hiện

Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012 Cán bộ hướng dẫn

PGs Ts Nguyễn Minh Chơn

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư Khoa Học Cây Trồng, chuyên ngành Công Nghệ Giống Cây Trồng với đề tài:

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT CANH TÁC SEN LẤY CỦ TẠI TỈNH SÓC TRĂNG

Do sinh viên Lưu Minh Truyền thực hiện và bảo vệ trước hội đồng

Ý kiến của Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp:

Luận văn tốt nghiệp được Hội Đồng đánh giá ở mức: Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012 Hội đồng

DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông Nghiệp

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của nhóm nghiên cứu, Thầy hướng dẫn và bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Lưu Minh Truyền

Trang 6

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng

Cha Mẹ suốt đời tận tụy vì tương lai và sự nghiệp của các con

Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

Thầy Nguyễn Minh Chơn đã tạo điều kiện và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian làm đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Cố vấn học tập thầy Phạm Văn Phượng cùng quý thầy cô trong Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tâm dạy bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tại trường

Chân thành cảm ơn

Anh Huỳnh Văn Trung đã tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt luận văn này

Anh Nguyễn Hùng Binh cùng các anh, chị trong Bộ môn Sinh Lý-Sinh Hóa

đã giúp đỡ em trong quá trình làm đề tài tốt nghiệp

Thành thật cảm ơn

Các bạn Khoa, Mol, Thanh, Nương, Hân, Khuyến, các bạn nhóm 2 và các bạn trong lớp Công Nghệ Giống Cây Trồng K34 đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian thực hiện đề tài Chúc các bạn sức khỏe, thành đạt và hạnh phúc

Lưu Minh Truyền

Trang 7

QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC

Họ và tên: Lưu Minh Truyền Giới tính: Nam Năm sinh: 05/03/1990 Dân tộc: Kinh Nơi sinh: Thành phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang

Địa chỉ liên lạc: 84/5, đường Trần Hưng Đạo, khóm Đông Thịnh II, phường

Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Điện thoại: 0973393824

E-mail: lmtruyen76@student.ctu.edu.vn

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

1 Tiểu học

Thời gian đào tạo từ năm: 1996 đến 2001

Trường: Tiểu học Châu Văn Liêm

2 Trung học cơ sở

Thời gian đào tạo từ năm: 2001 đến 2005

Trường: Trung học cơ sở Nguyễn Trãi

3 Trung học phổ thông

Thời gian đào tạo từ năm: 2005 đến 2008

Trường: Trung học phổ thông Long Xuyên

Ngày … tháng … năm …… Người khai ký tên

Trang 8

LƯU MINH TRUYỀN, 2012 “Điều tra đánh giá hiện trạng kỹ thuật canh tác sen lấy củ tại tỉnh Sóc Trăng” Luận văn Tốt nghiệp Đại học, khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGs Ts Nguyễn Minh Chơn

TÓM LƯỢC

Sen lấy củ đã được trồng và sử dụng từ rất lâu ở tỉnh Sóc Trăng nhưng hiện

nay chưa có nhiều tài liệu cũng như những nghiên cứu về nó Vì vậy đề tài: “Điều

tra đánh giá hiện trạng kỹ thuật canh tác sen lấy củ tại tỉnh Sóc Trăng” đã

được thực hiện nhằm: Đánh giá và phân tích hiện trạng kỹ thuật canh tác cũng như đánh giá hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất sen lấy củ Tìm hiểu

nhu cầu của người sản xuất để hỗ trợ phát triển sản xuất sen lấy củ, làm tiền đề cho các nghiên cứu sau này Đề tài được thực hiện từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012 trên cơ sở phỏng vấn trực tiếp 100 hộ nông dân có sản xuất sen lấy củ tại các xã thuộc huyện Mỹ Tú và huyện Châu Thành tỉnh Sóc Trăng Kết quả điều tra cho thấy diện tích trồng sen trong vùng còn nhỏ lẻ, không tập trung, chưa có nhiều vùng chuyên canh lớn Công tác khuyến nông trong vùng chưa được chú trọng, việc trao đổi thông tin sản xuất trong vùng còn yếu Phần lớn nông dân canh tác sen chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm bản thân và trao đổi kinh nghiệm qua lại lẫn nhau Nông dân bón phân cho cây sen chủ yếu là phân vô cơ, phân hữu cơ không được sử dụng Lượng phân bón sử dụng còn thấp, chỉ chú trọng bón đạm và lân, không chú trọng bón phân kali Mô hình canh tác “một lúa hai sen” được nông dân áp dụng phổ biến tuy nhiên hình thức kết hợp trồng sen với nuôi cá chưa được chú trọng phát triển Sâu bệnh gây hại chủ yếu là sâu ăn lá và bọ trĩ Năng suất sen thu được còn khá thấp, giá thu mua củ sen luôn biến động, không ổn định trong năm Để việc trồng sen trở nên có hiệu quả thì diện tích trồng sen cần tập trung thành vùng, khu vực chuyên canh để dễ bảo vệ chăm sóc Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh công tác khuyến nông, hỗ trợ tập huấn về kỹ thuật canh tác cũng như biện pháp phòng trừ sâu bệnh cho người nông dân cũng rất cần thiết

Trang 9

MỤC LỤC

Mục Nội dung Trang

TÓM LƯỢC

MỤC LỤC

DANH SÁCH BẢNG

DANH SÁCH HÌNH

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÂY SEN

1.1.1 Nguồn gốc

1.1.2 Phân loại giống sen

1.2 GIÁ TRỊ CỦA CÂY SEN

1.2.1 Hoa sen trong kiến trúc xây dựng, điêu khắc

1.2.2 Giá trị kinh tế

1.2.3 Giá trị dinh dưỡng và dược liệu

1.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SEN TRÊN THẾ GIỚI

1.3.1 Trung Quốc

1.3.2 Nhật Bản

1.3.3 Đài Loan

1.3.4 Hàn Quốc

viii

ix xiii

xv xvi

1

2

2

2

3

4

4

4

4

6

6

7

8

8

Trang 10

1.4 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT SEN Ở NƯỚC TA

1.5 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH THÁI CỦA CÂY SEN

1.5.1 Đặc điểm hình thái

1.5.2 Đặc điểm sinh thái

1.6 CÁC PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG SEN

1.6.1 Nhân giống bằng hạt

1.6.2 Nhân giống bằng củ

1.6.3 Nhân giống bằng ngó

1.6.4 Cấy mô

1.7 KỸ THUẬT CANH TÁC SEN

1.7.1 Kỹ thuật trồng

1.7.2 Vai trò của các yếu tố đa vi lượng đối với cây trồng

1.7.3Một số sâu bệnh hại chính trên cây sen và biện pháp phòng trị

1.7.4 Thu hoạch

1.7.5 Bảo quản và tồn trữ

1.7.6 Điều kiện tồn trữ

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Địa bàn điều tra

2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên tỉnh Sóc Trăng

2.1.2 Phương tiện điều tra

2.2 Phương pháp điều tra và thu thập số liệu

2.2.1 Thu thập số liệu

2.2.2 Phương pháp điều tra

8

9

9

10

11

11

12

12

12

13

13

15

18

19

20

20

21

21

21

24

24

24

24

Trang 11

2.2.3 Phương pháp xử lý kết quả

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT SEN LẤY CỦ

3.1.1 Kinh nghiệm trồng sen

3.1.2 Diện tích trồng sen

3.1.3 Đất trồng sen

3.2 KỸ THUẬT CANH TÁC

3.2.1 Thời gian trung bình cho một vụ sen

3.2.2 Số vụ sen tái sinh sau khi trồng

3.2.3 Mô hình canh tác

3.2.4 Hệ thống bờ bao

3.2.5 Chuẩn bị ao trồng

3.2.6 Giống

3.2.6.1 Lượng giống

3.2.6.2 Xử lý giống

3.2.6.3 Khoảng cách trồng sen

3.2.7 Chăm sóc

3.2.7.1 Cung cấp nước

3.2.7.2 Làm cỏ

3.2.7.3 Bón phân

3.2.7.4 Phòng trừ sâu bệnh

3.2.8 Thu hoạch

3.2.8.1 Năng suất

25

27

27

27

28

29

30

31

31

32

33

34

35

35

36

37

37

37

38

39

42

43

43

Trang 12

3.2.8.3 Giá bán

3.3 HIỆU QUẢ KINH TẾ KHI THU HOẠCH

3.4 Ý KIẾN CỦA HỘ TRỒNG SEN

3.4.1 Tình hình tiếp nhận thông tin kỹ thuật trồng sen

3.4.2 Thuận lợi

3.4.3 Khó khăn

3.4.4 Ý kiến đề xuất của hộ trồng sen

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1 KẾT LUẬN

4.2 ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ CHƯƠNG 1

PHỤ CHƯƠNG 2

PHỤ CHƯƠNG 3

46

46

47

47

48

49

50

51

51

51

52

55

58

61

Trang 13

DANH SÁCH BẢNG

Bảng Tựa bảng Trang

1.1 Giá trị dinh dưỡng của 100 g củ sen và hạt sen (Nguyễn Quốc Vọng,

2001)

1.2 Nhu cầu dinh dưỡng trên một ha trong khoảng biến động các dưỡng chất trong đất, trong lá non và cuống lá (Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

2 Khí hậu thủy văn tại tỉnh Sóc Trăng năm 2006

3.1 Số hộ và phần trăm số hộ có kinh nghiệm trồng sen khác nhau trong vùng

điều tra

3.2 Số hộ và phần trăm số hộ có diện tích trồng sen khác nhau trong vùng

điều tra

3.3 Số hộ và phần trăm số hộ với loại đất trồng sen khác nhau trong vùng

điều tra

3.4 Số hộ và phần trăm số hộ có số vụ trục lại sau khi trồng khác nhau trong vùng điều tra

3.5 Số hộ và phần trăm số hộ chọn mô hình canh tác khác nhau trong vùng

điều tra

3.6 Số hộ và phần trăm số hộ với lượng giống (kg/1000 m2) khác nhau trong vùng điều tra

3.7 Số hộ và phần trăm số hộ có khoảng cách trồng khác nhau trong vùng

điều tra

3.8 Số hộ và phần trăm số hộ có mức độ sử dụng phân đạm khác nhau trong vùng điều tra

3.9 Số hộ và phần trăm số hộ có mức độ sử dụng phân lân (P2O5) khác nhau trong vùng điều tra

6

14

23

27

28

29

31

32

35

37

39

40

Trang 14

3.10 Số hộ và phần trăm số hộ có mức độ sử dụng phân kali (K2O) khác nhau

trong vùng điều tra

3.11 Tỷ lệ sâu bệnh hại thường gặp trong vùng điều tra

3.12 Phần trăm các loại thuốc hóa học được sử dụng trong vùng điều tra

3.13 Số hộ và phần trăm số hộ có mức năng suất khác nhau trong vùng điều tra

3.14 Chi phí đầu tư cho trồng sen theo thời giá năm 2011-2012

3.15 Tổng thu nhập do trồng sen theo thời giá năm 2011-2012

3.16 Tình hình tiếp nhận thông tin kỹ thuật trồng sen

3.17 Những thuận lợi trong canh tác sen

3.18 Những khó khăn trong canh tác sen

3.18 Những ý kiến đề xuất của các hộ trồng sen

41

42

43

44

46

47

47

48

49

50

Trang 15

DANH SÁCH HÌNH

Hình Tựa hình Trang

2 Bảng đồ hành chánh tỉnh Sóc Trăng 22

3.1 Sơ đồ kỹ thuật canh tác sen 30

3.2 Phần trăm số hộ có và không có bờ bao trong vùng điều tra 33

3.3 Phần trăm số hộ có và không chuẩn bị ao trong vùng điều tra 34

3.4 Phần trăm số hộ có và không xử lý giống trong vùng điều tra 36

3.5 Phần trăm số hộ có và không làm cỏ trong vùng điều tra 38

3.6 Phần trăm số hộ chọn hình thức bán khác nhau trong vùng điều tra 45

Trang 16

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

Trang 17

MỞ ĐẦU

Cây sen (Nelumbo nucifera Gaertn.) là loại thực vật thủy sinh đa niên được

trồng nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, các nước Đông Nam Á, Nga và một số nước châu Phi (Nguyễn Quốc Vọng, 2001) Ở nước ta, cây sen được trồng rải rác ở các tỉnh từ Bắc chí Nam, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Trong đó sen lấy hột được trồng nhiều ở Đồng Tháp với diện tích khoảng 1.020 ha vào năm 2005 (Nguyễn Phước Tuyên, 2008), sen lấy ngó được trồng nhiều ở Long An, còn sen lấy củ được trồng nhiều ở Sóc Trăng

Hiện nay, nhất là khu vực ĐBSCL, cây sen rất được chú trọng phát triển bởi ngoài những giá trị về mặt kinh tế, cảnh quan, dinh dưỡng cây sen còn có giá trị cao trong y học Hơn nữa, sen còn là loại cây dễ trồng, ít tốn công chăm sóc và ít tốn chi phí Nó có thể phát triển trên các vùng đất trũng phèn hay vùng ngập lũ mà không cạnh tranh với diện tích lúa Đặc biệt theo Nguyễn Quốc Vọng (2001), cây sen có thể chịu được nồng độ muối nhất định Điều này mở ra một triển vọng mới trong việc trồng sen ở những nơi bị nhiễm mặn

Trong những năm gần đây, cây sen tỏ ra có giá trị kinh tế và được quan tâm nghiên cứu rất nhiều Các tài liệu xuất bản trên thế giới về sen tăng lên liên tục từ năm 1981 đến năm 2007 (Tian, 2008) Tuy nhiên, các tài liệu cũng như những nghiên cứu trong nước về cây sen chưa có nhiều Thực tế cho thấy nông dân canh tác sen chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm bản thân và trao đổi kinh nghiệm qua lại lẫn nhau cho nên các biện pháp canh tác của người dân cũng còn nhiều giới hạn nhất

định Chính vì vậy đề tài: “ Điều tra đánh giá hiện trạng kỹ thuật canh tác sen

lấy củ tại tỉnh Sóc Trăng” được thực hiện nhằm:

- Phân tích đánh giá hiện trạng kỹ thuật canh tác, hiệu quả kinh tế và các yếu

tố ảnh hưởng đến sản xuất sen lấy củ

- Tìm hiểu nhu cầu cần hỗ trợ để phát triển sản xuất sen lấy củ của các nông

hộ, làm tiền đề cho các nghiên cứu sau này

Trang 18

CHƯƠNG 1

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÂY SEN

là lotus và sacred lotus, N nucifera còn được gọi với nhiều tên khác nhau như East

India lotus, Egyptian lotus, Indian lotus, Chinese lotus, Oriental lotus, sacred water

lily (Porcher et al., 1995-2020 trích dẫn bởi Tian, 2008) Ở Trung quốc có khoảng

60 tên gọi riêng dành cho N nucifera (Qi, 2006) Cây sen là loại cây được trồng và

tiêu thụ khắp châu Á Lá, hoa, hạt và củ của cây sen tất cả đều có thể ăn được riêng hoa sen cũng được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo

Cây sen là biểu tượng mạnh mẽ của sự sống, sự thiêng liêng và bất tử của nhiều nền văn hóa khác nhau qua nhiều thế kỷ Cũng như hoa súng Ai Cập, hoa sen

là biểu tượng sâu đậm của văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và các

nước châu Á khác (Nguyễn Quốc Vọng, 2001) Hằng ngàn năm trước, hoa sen đã là

biểu tượng chính của nhiều tôn giáo ở châu Á, đặc biệt đạo Phật và đạo Hindu Đạo Phật xem hoa sen là biểu tượng cao nhất của sự tinh khiết, hòa bình, từ bi và vĩnh hằng (William, 1998 trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

Cây sen là một trong những cây xuất hiện sớm nhất Năm 1972, các nhà khảo cổ của Trung Quốc đã tìm thấy hóa thạch của hạt sen 5.000 tuổi ở tỉnh Vân Nam Năm 1973, hạt sen 7.000 tuổi khác được tìm thấy ở tỉnh Chekiang (Wu-Han,

1987 trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Vọng, 2001) Một lượng lớn hạt sen được khám phá ở tỉnh Shan-tung, Liaoning và ngoại thành phía tây của Bắc Kinh có niên đại trên 1.000 năm trong thời kỳ từ 1923-1951 Shen Miller (1995) phát hiện hạt sen

Trang 19

1228±271 tuổi trong những hồ cổ của tỉnh Pulatien, Liaoning vẫn còn khả năng nảy mầm

Các nhà khảo cổ Nhật Bản cũng tìm thấy các hạt sen bị thiêu đốt ở trong hồ

cổ sâu 6 m ở tại Chiba, ở niên đại 1.200 năm (Iwao, 1986) Họ tin rằng có một số giống sen xuất phát từ Nhật Bản, nhưng sen lấy củ thì từ Trung Quốc (Takahashi, 1994) Một số giống sen Trung Quốc khi du nhập sang Nhật Bản một thời gian mang tên Nhật như Taihakubasu, Benitenjo, Kunshikobasu, Sakurabasu và Tenjikubasu (Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

1.1.2 Phân loại giống sen

Nelumbo nucifera Gaertn., là loài sen được trồng phổ biến ở nước ta Đã có

một số tác giả xem xét sự khác nhau giữa các nhóm sen trong loài này, tuy nhiên cũng chỉ ở mức độ gọi tên dựa vào đặc điểm hoa, mục đích sử dụng hay địa danh Viện nghiên cứu thực vật Wuhan ở Trung Quốc đã sưu tập được 125 giống sen và phân những giống sen này thành các nhóm theo mục đích sử dụng Theo Nguyễn Quốc Vọng (2001), dựa vào phương pháp phân loại này thì sen được phân thành các nhóm sau:

- Nhóm sen cho củ: cho năng suất củ rất cao, chất lượng tốt nhưng không có hoặc có hoa rất ít

- Nhóm sen cho hoa: cho hoa to, nhiều, màu sắc đẹp nhưng không có củ Cánh hoa nhiều, còn được gọi là hoa nghìn cánh Màu sắc của hoa thay đổi từ màu trắng, vàng, tím, đỏ, hoặc có 2 màu trên cùng một cánh hoa, thường màu trắng ở phần dưới và tím hoặc hồng ở trên Nhóm sen cho hoa cũng có gương nhưng hột nhỏ, năng suất kém

- Nhóm sen cho hột: cho nhiều hột với tỷ lệ hột chắc cao Hột lớn, có hương

vị thơm ngon Cánh hoa ít, màu đỏ, rễ thường mãnh và không có củ

Ở nước ta chưa có nhiều tài liệu về các giống sen, thường thì phân biệt các giống theo màu hoa Theo Nguyễn Khắc Mỹ (2001) thì có 3 loại sen:

Trang 20

- Sen cho củ: thường cho hoa màu trắng (chỉ một số ít có hoa đỏ), nhóm này cho ít hoa và gương, được trồng phổ biến tại Vĩnh Long, Cần Thơ

- Sen cho gương: nhóm sen ta (gương lõm), sen Đài Loan (gương to và phù lên), được trồng phổ biến ở huyện Tháp Mười, Cao Lãnh (Đồng Tháp)

- Sen cho hoa để trang trí: hoa nhiều màu, ít trồng ở Việt Nam

1.2 GIÁ TRỊ CỦA CÂY SEN

1.2.1 Hoa sen trong kiến trúc xây dựng, điêu khắc

Theo Thích Hạnh Tuệ (2008), thì ở New Delhi-Ấn Độ, có hẳn một ngôi đền lộng lẫy được thiết kế theo hình một hoa sen Và ở đây, hoa sen còn được thể hiện rất đa dạng, có khi cánh sen được cách điệu làm mái vòm hành lang, có khi là hoa văn trên cửa… Ở Macau, Trung Quốc cho đến đài tưởng niệm, hay bia mộ ở Việt Nam, những họa tiết trang trí cho đến những điêu khắc trên đá, trên gỗ, người ta đều bắt gặp hình ảnh của hoa sen

Ở Việt Nam, những công trình kiến trúc tiêu biểu với hình tượng hoa sen

thường xuất hiện trong những giai đoạn hưng thịnh của Phật giáo Đó là thời Lý thế

kỷ XI với chùa Một Cột-Hà Nội; thế kỷ XVII với tháp Cửu phẩm liên hoa, chùa Bút Tháp-Bắc Ninh; thế kỷ XVIII với chùa Tây Phương-Hà Tây, chùa Kim Liên-Hà Nội (Thích Hạnh Tuệ, 2008)

1.2.2 Giá trị kinh tế

So sánh hiệu quả kinh tế giữa cây sen với cây trồng khác như lúa, bắp, đậu nành… Nguyễn Khắc Mỹ (2001), cho biết trồng 1 ha sen lãi 5.959.000 đồng/ha, tăng 2,13 lần so với 1 ha lúa; 1,20 lần so với 1 ha bắp; 1,51 lần so với 1 ha đậu nành

1.2.3 Giá trị dinh dưỡng và dược liệu

Tất cả các bộ phận của cây sen đều được sử dụng làm thuốc, thuộc nhóm an thần theo danh mục vị thuốc y học cổ truyền ban hành kèm theo Quyết định số 05/2008/QĐ-BYT ngày 01 tháng 02 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế

Trang 21

Củ sen: làm thuốc bổ, nấu ăn trị bệnh tiêu chảy, kiết lị (Pulok et al., 1995),

bột củ đắp lên da trị bệnh dời ăn và các bệnh về da khác Nó còn dùng cầm máu,

điều kinh, chữa các chứng chảy máu cam, tiểu ra máu

Lá sen: có tính hàn, lợi tiểu và cầm máu Lá được sử dụng để điều trị các

bệnh như tiêu chảy, say nắng (nấu chung với cam thảo), sốt cao, trỉ, tiểu gắt và bệnh phong Lá sen sử dụng phổ biến ở Nhật Bản và Trung Quốc để thanh nhiệt trong mùa nắng và chống béo phì Trong giảm cân, qua thí nghiệm trên chuột cho thấy nước trích lá sen hạn chế hấp thu chất dinh dưỡng, nhất là chất béo và carbohydrate,

kích thích biến dưỡng chất béo, tăng cường tiêu thụ năng lượng (Ono et al., 2006)

Hoa sen: đuợc nấu uống trị bệnh tim, trỉ, co thắt vùng bụng, cầm máu

Cuống hoa đuợc dùng trong cầm máu viêm loét dạ dày, rối loạn kinh nguyệt Nhụy sen có tác dụng bổ thận, rất hữu ích trong điều trị rối loạn tuyến nội tiết sinh dục, trị bệnh tiểu sót, xuất tinh sớm, thông huyết, chảy máu dạ con

Hạt sen: chín có tính bổ tì được sử dụng trong điều trị tiêu chảy mãn tính,

tăng tiết dịch và khí hư cũng như có tác dụng an thần, rất hiệu quả trong điều trị bệnh mất ngủ và tim đập nhanh

Tâm sen: (liên tâm) có tác dụng làm an thần, trị mất ngủ, sốt cao với thần

kinh căng thẳng, cao huyết áp Gương sen chứa protein, carbohydrate và mang lượng nhỏ alkaloid nelumbine, sử dụng để cầm máu, trị lo âu, sốt rét (Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

Về giá trị dinh dưỡng, hạt sen có hàm lượng bột đường và protein khá cao, ít chất béo Hàm lượng calcium cao, cần thiết cho phát triển xương, máu và chất dịch trong cơ thể Magnesium có hàm lượng trung bình, đây là chất cần thiết trong tế bào chất và liên bào để duy trì thẩm thấu, là thành phần cấu tạo của các enzyme trong phản ứng tổng hợp, đặc biệt là muối MgATP2 rất cần thiết trong tổng hợp nucleotide Đồng và kẽm hàm lượng trung bình, cần thiết trong hình thành hồng huyết cầu Hàm lượng Chromium trong hạt khá cao, đây là vi chất tham gia vào quá trình biến dưỡng chất bột đường, nếu thiếu gây bệnh tiểu đường, đục thủy tinh thể,

Trang 22

căng thẳng thần kinh, xơ cứng động mạch (Omata et al., 1992) Giá trị dinh dưỡng

của củ sen và hạt sen được trình bày ở Bảng 1.1

Bảng 1.1 Giá trị dinh dưỡng của 100 g củ sen và hạt sen (Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

1.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SEN TRÊN THẾ GIỚI

Sen được trồng nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước Đông Nam Á, Nga và một số nước châu Phi Sen cũng

được trồng ở châu Âu và châu Mỹ nhưng với mục đích trang trí hơn là thực phẩm

(Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

1.3.1 Trung Quốc

Sen được gọi là Lian, Lin, Ou, Her hoặc Shuai Furong (Liu, 1994), được trồng ở Trung Quốc ít nhất từ thế kỷ XII trước công nguyên (Herklot, 1972 trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Vọng, 2001) Củ sen (Lianngau, Ou) và hạt sen (Lian-zi, Lian-mi) được sử dụng làm thực phẩm hơn 3.000 năm (Liu, 1994; Herklot, 1972 trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Vọng, 2001) Sen được trồng khắp Trung Quốc, đặc biệt

Trang 23

ở các tỉnh có nhiều ao hồ kênh rạch và ở các con sông như: Zhejiang, Jiangsu,

Jiangxi, Hunan, Hubei, Anhui, Guangdong, và Fujian

Diện tích trồng sen của Trung Quốc được ước tính là trên 133.400 ha (Liu, 1994) Nếu sản lượng trung bình của sen là 22,5 tấn/ha, Trung Quốc có khả năng sản xuất trên 3 triệu tấn củ sen mỗi năm Thời vụ thu hoạch củ sen của Trung Quốc kéo dài từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau

Theo Nguyễn Quốc Vọng (2001), có 3 loại sen được trồng ở Trung Quốc tùy vào mục đích sử dụng Có những giống chuyên cho gương hay hạt sen (Lian-zi, Lian-mi), có những giống cho hoa (Lian-hua, Her-ha) và có những giống cho củ sen (Lian-ngau, Ou-han) Ở Trung Quốc có nhiều loại sen, đặc biệt là các loại sen cho

củ có giá trị, chúng khác nhau về màu sắc hoa, thành phần tinh bột và mực nước trồng Ở Viện Nghiên cứu thực vật Wuhan, Trung Quốc có 125 giống sen được trồng để nghiên cứu

1.3.2 Nhật Bản

Sen (Hasu), được du nhập từ Trung Quốc vào 500 năm sau công nguyên (Takahashi, 1994) và được trồng rộng rãi ở Nhật Bản từ đảo Hokkaido đến đảo Kyushu Giống sen nguyên thủy có nguồn gốc Nhật Bản chuyên cho hoa để trang trí (Hanabasu) Tuy nhiên đa số những giống sen cho củ (renkon) hiện nay được du nhập từ Trung Quốc trong thời kỳ Minh Trị Thiên hoàng (1911-1937) Do đó, các giống sen trồng ở Nhật được phân thành nhóm có nguồn gốc từ Nhật và từ Trung

Quốc Hầu hết giống sen trồng ở địa phương như “Tenno”, là giống cho hoa đỏ và

“Aichi” là giống cho hoa trắng có củ thon dài, thuộc nhóm ngắn ngày và trung mùa Giống sen Trung Quốc như “Shina Shirobana”, “Bitchu” và “Kishima”,có thời gian sinh trưởng dài hơn nhưng cho năng suất cao và kháng bệnh tốt hơn, củ có lóng dài

và vỏ dày

Ở Nhật, sen được trồng trong các công viên quốc gia, chùa chiền, lăng tẩm

với mục đích trang trí Giống sen lấy củ được trồng ở một số ít tỉnh ở miền Trung

và miền Nam nước Nhật Diện tích sen canh tác năm 1998 là 4.900 ha, tập trung ở

Trang 24

tỉnh Ibaragi (1.650 ha), Tokuhima (711 ha), Aichi (474 ha), Saga (311 ha), Yamaguchi (309 ha), Niigata (278 ha) và Okayama (164 ha) (Anonymous, 2000)

Sản lượng củ sen Nhật Bản đạt 82.200 tấn năm 1982 trên diện tích 6.350 ha,

đến năm 1998, sản lượng giảm còn 71.900 tấn trên diện tích 4.900 ha, đến năm

2002, chỉ còn 56.900 tấn trên diện tích 4.490 ha Từ năm 1995, Nhật Bản phải nhập

củ sen tươi và chế biến, chủ yếu từ Trung Quốc Thời vụ thu hoạch sen tại Nhật kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 Tuy nhiên giống ngắn ngày thu hoạch sớm hơn, thường chúng được trồng trong nhà kính

1.3.3 Đài Loan

Sản lượng củ sen của Đài Loan năm 1983 đạt 550 tấn, giảm liên tục trong 7 năm qua do sự cạnh tranh gay gắt với thị trường Trung Quốc và Nhật Bản (Vinning, 1995) Thị trường bán lẻ hạt sen của Đài Loan rất mạnh, giá hạt sen cao gấp đôi so với giá củ sen, trong khi sản lượng hạt của Đài Loan chỉ bằng 5% sản lượng củ sen Thời vụ thu hoạch củ sen của Đài Loan kéo dài từ tháng 6 đến tháng 11, tập trung vào tháng 8

1.3.4 Hàn Quốc

Năm 1995, diện tích canh tác sen của Hàn Quốc là 291 ha, đạt sản lượng 9.261 tấn củ (Anonymous, 1997) Năng suất củ sen trung bình của Hàn Quốc là 31,83 tấn/ha Củ sen đạt sản lượng thứ tư sau củ cải (1.435.296 tấn trên 35.518 ha, carrot (160.759 tấn trên 5.994 ha), burdock (6.530 tấn trên 336 ha) Thời vụ thu hoạch củ sen từ tháng 8 đến tháng 12 (Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

1.4 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT SEN Ở NƯỚC TA

Ở nước ta chưa có số liệu thống kê chính xác về diện tích trồng sen Ước tính

chỉ trên dưới 3.000 ha Theo Nguyễn Phước Tuyên (2008), năm 1990-1996, các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng có trồng sen lấy củ bán cho công ty Meko xuất qua Nhật Bản Năm 1996 xuất qua Nhật được 3 tấn củ sen muối với giá CIF 343 Yen/kg, năm

1997 xuất đuợc 50 tấn với giá CIF 93 Yen/kg Nhưng do phần lớn diện tích sen lúc

Trang 25

đó được trồng trên đất sét nặng, củ chậm phát triển đến 6 tháng mới thu hoạch, hình

dạng củ không đẹp nên nhiều lô hàng bị trả về

Hiện nay, ở ĐBSCL bên cạnh những giống sen hoang dại còn có sự phát triển của các giống sen Đài Loan lấy ngó và lấy hột Đồng Tháp là tỉnh có diện tích trồng sen lấy hột lớn nhất cả nước với diện tích khoảng 1.020 ha vào năm 2005 (Nguyễn Phước Tuyên, 2008) Bên cạnh đó, ở các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ, Hậu Giang, Bến Tre… cũng đã có một diện tích trồng sen khá lớn với ba nhóm sen chính là sen lấy hột, lấy củ và lấy ngó

1.5 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH THÁI CỦA CÂY SEN

1.5.1 Đặc điểm hình thái

Sen là loại nê thực vật hai lá mầm (Hoàng Thị Sản, 2003; Phạm Hoàng Hộ, 1999; Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1978), bộ nhiễm sắc thể 2n = 16 (Nguyễn Quốc Vọng, 2001; Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1978) Cây sen có đầy đủ các

bộ phận rễ, củ (căn hành), lá, hoa và quả

Rễ: sen có rễ chùm, có khoảng 20-50 rễ trên một đốt củ Rễ thường có màu

trắng kem khi còn non và chuyển sang màu nâu khi già (Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

Củ: củ sen thường có màu trắng kem đôi khi xen lẫn màu nâu Củ sen

thường có từ 3-4 lóng được hình thành từ một đoạn rễ, kích thước của lóng tùy thuộc vào giống sen Cấu tạo của củ xốp nên không khí có thể thông suốt chiều dài của củ (Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

Lá: lá sen có hình khiên, kích thước lớn, đường kính khoảng 20-100 cm

Màu sắc lá không hoàn toàn giống nhau giữa các giống, lá có màu xanh, xanh xám, xanh đỏ với một lớp sáp dày trên bề mặt Tuy nhiên, mặt dưới có màu xanh sáng không có sáp và có mép láng Gân lá xuất phát từ tâm nơi đính vào cuống và toả

đều ra mép lá Cuống lá hay còn gọi là cọng sen thường xốp, đường kính và chiều

cao thay đổi theo tuổi cây và điều kiện môi trường Cuống lá nhỏ, mềm và xốp khi còn non và cứng khi già; có nhiều gai nhỏ Lá sen chứa nhiều chất tạo mùi thơm,

Trang 26

Hoa: hoa lưỡng tính, mọc đơn độc khá lớn, nằm trên một cuống dài Hoa có

4-6 cánh đài màu xanh hoặc màu đỏ tía (Nguyễn Quốc Vọng, 2001), đài dạng cánh nên một số tác giả không phân biệt rõ đài và tràng (Hoàng Thị Sản, 1999; Nguyễn

Bá, 2006) Đài hoa và tràng xếp hình xoắn ốc Tràng hoa thường 12-20 cánh hay nhiều hơn tùy vào giống sen Cánh hoa hình elip, có một màu như trắng, hồng, đỏ, tía hoặc có 2 màu trên một cánh hoa như trắng với chóp hồng hoặc hồng chóp tía (Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

Hạt (trái): hạt sen đính vào phần cuối của cuống hoa, nằm phía trong gương

sen Lúc đầu hạt có màu xanh, sau chuyển sang màu nâu tím trước khi phía trong

phôi nhũ trở nên khô cứng (Shen-Miller et al., 1995) Tâm sen chứa 2 mầm chồi

màu xanh do có chứa chlorophyl, giúp cây có thể quang hợp ngay khi vừa mới nảy mầm (Esau, 1965)

1.5.2 Đặc điểm sinh thái

Sen được tìm thấy ở các ao, đầm, ruộng nước ngọt hoặc nước lợ Theo Nguyễn Quốc Vọng (2001), cây sen cũng có một số nhu cầu về môi trường sống như sau:

Đấ t: đất có tác dụng giúp rễ cây bám vào và phát triển, cung cấp chất dinh

dưỡng cho cây, ổn định pH Đất không thích hợp cho sen bao gồm đất sét nặng rất khó cho rễ phát triển và thu hoạch củ Tương tự đất cát cũng làm thu hoạch khó khăn do bản chất di động và trọng lượng cao của cát, nó không mang nhiều chất dinh dưỡng và ảnh hưởng đến chất lượng củ (Liu, 1994)

Thời tiết: nhiệt độ bình quân để sen phát triển tốt là 250C Sen không tăng trưởng ở vùng bị sương giá do nó rất nhạy cảm với nhiệt độ lạnh Tuy nhiên củ sen

có đặc tính miên trạng qua đông nhằm giúp sen tồn tại Do đó thời vụ trồng sen cần

bố trí trong mùa nắng, lúc ngày dài Việc phân hóa củ bị kích thích khi cường độ chiếu sáng giảm và nhiệt độ thấp

Trang 27

Chất lượng nước: chất lượng nước rất quan trọng để sen tăng trưởng tốt

Sen có thể thích nghi tốt với biến động của pH tuy nhiên pH thích hợp nhất là khoảng từ 6-6,5 Độ sâu của mực nước thích hợp nhất là 20 cm, khi mới trồng chỉ cần 5 cm Thay đổi độ sâu sẽ ảnh hưởng đến nhiệt độ nước Độ sâu càng tăng, tính giữ nhiệt càng kéo dài Việc tăng độ sâu của nước có thể được sử dụng để khống

chế bệnh thối củ do nấm Fusarium oxysporum pv nelumbicola bởi vì khi tăng độ

sâu lượng ôxy hòa tan trong nước giảm cung cấp một môi trường yếm khí làm cho các tác nhân gây bệnh không thể tồn tại Tuy nhiên, nếu mực nước quá sâu sẽ ảnh hưởng đến phát triển bộ rễ vì việc vận chuyển không khí từ lá qua hệ thống vận

chuyển khí gặp trở ngại (Honda, 1987 trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

Cây sen có thể chịu được nồng độ muối nhất định Điều này mở ra một triển vọng mới trong việc trồng sen ở những nơi bị nhiễm mặn Nồng độ muối được thể hiện qua độ dẫn điện EC, cây sen chịu được EC 2,8-3,1 mS cm-1 Lá non bắt đầu bị vàng khi EC 3,2-3,5 mS cm-1, lúc này cây ngừng tăng trưởng

1.6 CÁC PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG SEN

1.6.1 Nhân giống bằng hạt

Hạt sen được ghi nhận giữ kỷ lục về sức sống, hạt có thể tồn trữ được đến

1.500 năm Nguyên nhân do hạt khô cứng, vỏ hạt không thấm nước Nhân giống bằng hạt được tiến hành bằng cách loại bỏ vỏ, đem hạt ủ ở nhiệt độ 25-300C trong môi trường cát bảo hòa nước đã khử trùng nhằm tránh bị nhiễm nấm bệnh (Nguyễn Quốc Vọng, 2001) Tuy nhiên, nhân giống bằng hạt sẽ không giữ được đặc tính mong muốn ban đầu của giống sen do tỷ lệ thụ phấn chéo cao Do đó biện pháp này chủ yếu được sử dụng trong các chương trình nghiên cứu lai tạo giống mới

Theo Lê Diễm Kiều (2008), hạt chỉ trồng được khi gương khô (tách ra khỏi gương) và hạt có màu đen vỏ hạt cứng Trước khi trồng hạt phải được bóc vỏ và ngâm trong nước đến khi hạt nảy mầm Chú ý theo dõi và thay nước thường xuyên

để tránh bị thối hạt

Trang 28

1.6.2 Nhân giống bằng củ

Đây là phương pháp thuận tiện, nhanh chóng và dễ dàng nhất nhằm giữ được

các đặc tính của cây giống ban đầu Tuy nhiên, hình thức này chỉ áp dụng đối với nhóm sen lấy củ Nguồn củ giống được lấy từ vụ trước hoặc những hồ sen chuyên sản xuất giống Củ giống dùng để trồng là loại củ có mang ngó, có ít nhất 2 lóng, cắt ngang đoạn cuối vùi vào đất ẩm sâu 5 cm tạo góc nghiêng 150 (Lê Diễm Kiều, 2008) Củ sen càng lớn càng cho cây mạnh Theo Nguyễn Quốc Vọng (2001), củ sen có tính miên trạng nên không thể trồng ngay sau vừa thu hoạch Phải mất ít nhất

3 tháng củ mới có thể nảy mầm, nếu trồng ngay phải xử lý bằng nước nóng

1.6.3 Nhân giống bằng ngó

Đây là hình thức trồng phổ biến vì cách thu ngó đơn giản, sen phát triển

nhanh và giữ nguyên các đặc tính của giống Theo Lê Diễm Kiều (2008), nên chọn những ngó vừa có lá trải đầu tiên và lá trải còn non (lá non có màu xanh đọt chuối) nằm trên mặt nước để trồng

Tại Đồng Tháp, phần lớn sen trồng bằng cách tách ngó từ bụi sen đem cấy với mật độ hàng cách hàng 2,5-3 m, cây cách cây 2-2,5 m, kỹ thuật này cho phép bắt đầu thu hoạch gương sau 4 tháng (Nguyễn Phước Tuyên, 2008)

1.6.4 Cấy mô

Đây là biện pháp nhân giống có triển vọng trong tương lai theo hướng khai

thác công nghiệp, khai thác những giống sen tốt chuyên cho hạt hoặc cho củ Biện pháp cấy mô sẽ cho ra một lượng lớn cây con đồng cỡ, giống hệt nhau, sạch bệnh, giúp cho nhà nông khai thác tối đa diện tích đất canh tác Bằng biện pháp cấy mô việc cung cấp hạt giống sẽ có thể rẻ hơn và tiêu chuẩn chất lượng cao hơn so với người trồng tự sản xuất

Theo Nguyễn Quốc Vọng (2001), bất lợi của biện pháp cấy mô là kỹ thuật sản xuất giống sạch bệnh trong cấy mô rất khó Mô sen chiếm thể tích rất lớn do xốp nên khó thanh trùng Bản chất của môi trường cấy, cũng như nguồn carbon cần thiết để quang hợp trong ống nghiệm khác với điều kiện tự nhiên, không tương quan

Trang 29

tuyến tính với mô cấy Môi trường cấy có triển vọng hiện nay là sử dụng tỷ lệ hợp

lý BA và NAA liên kết với thiadiazuron (TDZ) Tuy nhiên môi trường này cần

được khảo sát kỹ hơn Hơn nữa, qui trình chăm sóc cây khi chuyển ra khỏi ống

nghiệm chưa có, nhằm giúp cây thích nghi với điều kiện tự nhiên bên ngoài

1.7 KỸ THUẬT CANH TÁC SEN

1.7.1 Kỹ thuật trồng

Chuẩn bị đất: thiết kế ao trồng là vấn đề rất quan trọng trong quá trình canh

tác cây sen vì khi đã thiết kế thì rất khó thay đổi Vì vậy cần quan tâm đến thiết kế

để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, thuận lợi cho việc bơm và giữ nước Đáy ao

trồng cần bằng phẳng, có lớp sét để giữ nước Tuy nhiên, nếu sét quá nặng sẽ khó thu hoạch củ sen sau này Lớp đất mặt cần tơi xốp, độ dày tùy thuộc vào từng loại

giống và mục đích trồng Có thể tiến hành bón lót với vôi nếu đất bị phèn

Đặ t hom: đặt hom củ khi nhiệt độ nóng ấm, hom được đặt theo hàng, hàng

cách hàng 2-3 m, cây cách cây 1,2-3 m, khoảng cách này thay đổi theo giống và

điều kiện canh tác Cây cách bờ ao 1-2 m (Nguyễn Quốc Vọng, 2001) Lượng hom

giống cần thiết phụ thuộc vào mật độ trồng Với mật độ trồng 1,2 x 2 m ước lượng

cần 4.000 hom/ha (Honda, 1987 trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

Bón phân: bón phân phải dựa trên phân tích đất, phân tích lá ở các giai đoạn

tăng trưởng khác nhau Lượng dinh dưỡng bị ảnh hưởng bởi loại đất và các biện pháp canh tác trước đó Phân tích đất sẽ phát hiện các dưỡng chất bị thiếu, dư thừa,

xác định độ pH từ đó đưa ra mức dinh dưỡng cần thiết cho cây

Theo Nguyễn Như Hà et al (2006), việc bón phân cân đối và hợp lý không

chỉ làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng mà còn làm tăng chất lượng sản phẩm, cụ thể làm tăng hàm lượng chất khoáng, protein, đường, vitamin cho sản phẩm Tuy nhiên việc cung cấp thiếu chất dinh dưỡng cho cây, bón phân không cân

đối hoặc bón quá nhu cầu của cây đều làm giảm chất lượng nông sản

Ngoài ra, bón phân đúng liều lượng và đúng thời gian là việc rất quan trọng

Trang 30

giảm Do đó, để tiết kiệm chi phí sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, cần chú

ý bón cân đối phân lân với phân đạm và kali, bón đúng thời điểm và sử dụng dạng phân đơn như super lân hoặc lân nung chảy bón lót toàn bộ Lượng phân bón cần thiết được thể hiện ở Bảng 1.2

Bảng 1.2 Nhu cầu dinh dưỡng trên một ha trong khoảng biến động các dưỡng chất trong đất, trong lá non và cuống lá (Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

N (%) 200-400 0,75-1,0 mg/kg 2,2-3,4 0,8-2 Phosphorous(%) 40-200 20-25 mg/kg 0,203-0,403 0,08-0,396 Kali(%) 250-500 0,15-0,24 meq/100 g 1,163-3,069 1,894-3,419 Calcium(%) 100-150 2,5-3,5 meq/100 g 0,227-1,239 0,275-0,826 Magnesium(%) 60-100 1,90-2,54 meq/100 g 0,306-0,901 0,227-0,826 Sulphur(%) 30-50 mg/kg 0,221-0,329 0,126-0,372 Clor (%) 20-70 mg/kg 0,911-1,633 1,088-2,863 Sắt (ppm) 400-450 mg/kg 35,3-110,1 22,4-75,6 Manganese(ppm) 80-260 mg/kg 1,364-8,380 602-2511 Natri (%) 0,46 meq/100g 0,035-0,142 0,174-0,815 Nhôm (ppm) 0,28 meq/100g 10-92 19-204

kg phân humic cho 1 ha theo cách bón: bón lót: 500 kg vôi, 1/4N-1/2P2O5-1/4K2O

và 100% phân humic; Bón thúc lần 1 (30 NSKT) với tỉ lệ 1/4N-0P O -1/4K O; Bón

Trang 31

thúc lần 2 (60 NSKT) với tỉ lệ 1/4N-1/2P2O5-1/4 K2O; Bón thúc lần 3 (90 NSKT) với tỉ lệ 1/4N-0P2O5-1/4K2O, cho hiệu quả cao về năng suất gương thu được

1.7.2 Vai trò của các yếu tố đa vi lượng đối với cây trồng

Chất đạm (N): đạm là một trong những chất có vai trò quan trọng nhất trong

đời sống thực vật vì đạm là thành phần cơ bản của protein, nó chiếm khoảng

40-50% chất khô của nguyên sinh chất (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004); đạm

là thành phần của chất diệp lục, một trong trong những yếu tố quyết định quang hợp (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Ngoài ra đạm còn là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hóa carbon do đạm có tác dụng kích thích sự phát triển của bộ rễ và

việc hút các yếu tố dinh dưỡng khác của cây (Nguyễn Như Hà et al., 2006) Theo

Nguyễn Quốc Vọng (2001), sen có nhu cầu đạm rất lớn vào giai đoạn tăng trưởng dinh dưỡng Triệu chứng thiếu đạm xuất hiện trên lá già, phiến lá chuyển sang màu vàng do đạm từ lá già chuyển sang nuôi đỉnh sinh trưởng Sau đó lá khô nhanh chóng Thiếu đạm trầm trọng sẽ làm cây lùn lại Tuy nhiên bón nhiều phân đạm, đặc biệt lúc hình thành củ sẽ kích thích phát triển thân ngầm hơn là củ Ngộ độc phân

đạm phiến lá bị cháy tạo vết hình tròn ở giữa 2 gân lá, nơi trao đổi khí xảy ra

Chất lân (P): Lân có chức năng dự trữ năng lượng và vận chuyển vật chất

qua màng tế bào Giữ vai trò quan trọng trong thời kì giai đoạn sinh trưởng Trong cây lân xuất hiện nhiều nhất trong vùng phân sinh có nhiệm vụ kích thích sự tổng hợp acid nhân, ATP, NAD(P)H rất cần thiết cho các hoạt động biến dưỡng và hô hấp trong cây Lân chứa nhiều trong phần cuống lá, sau khi trổ bông thì chuyển sang bông và hạt (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Theo Nguyễn Quốc Vọng (2001), cây sen rất nhạy cảm với phân lân Thiếu lân lá có biểu hiện màu xanh đậm có những vệt tím (anthocyanosis) trên lá non Khi thiếu trầm trọng lá sẽ chuyển sang màu tím hòan toàn, gân lá chuyển sang màu xám đen và khô, cây tăng trưởng rất chậm Thừa lân lá non bị biến dạng, không bung ra được

Chất kali (K): Kali có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự sinh trưởng và phát

triển của cây trồng Nó có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng trong

Trang 32

của cây đối với điều kiện bất lợi, giúp cây cứng cáp ít đổ ngã, tăng khả năng chịu rét, chịu hạn và ngập úng (Đường Hồng Dật, 2002) Kali cần thiết cho sự tổng hợp protein, thiếu kali sự tổng hợp protein trong cây giảm Ngoài ra, kali còn giữ vai trò quan trọng trong sự quang hợp, giúp cho sự di chuyển các chất do quang hợp, điều khiển sự đóng mở các khí khổng, hoạt hóa các enzyme và nhiều tiến trình khác của cây (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Theo Nguyễn Quốc Vọng (2001), sen có nhu cầu kali rất lớn vào giai đoạn trổ hoa và hình thành củ Biểu hiện đầu tiên khi thiếu kali là những vệt vàng chạy dọc theo gân lá già Vệt vàng ngày càng lan rộng sau đó chuyển sang màu nâu

Chất magiê (Mg): Magiê là thành phần cấu tạo của diệp lục tố (Võ Thị

Gương et al., 2004; Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Magiê ảnh hưởng

đến sự chuyển hóa CO2 và liên quan đến sự tạo đường và tinh bột Ngoài ra, magiê còn là thành phần của nhiều enzyme và cũng cần thiết cho quá trình biến dưỡng năng lượng trong sự tổng hợp ATP (Nguyễn Bảo Toàn, 2010)

Chất canxi (Ca): Canxi rất cần thiết cho sự tăng trưởng của cây trồng Nó

ảnh hưởng đến sự hình thành màng tế bào (Võ Thị Gương et al., 2004) Bên cạnh

đó, canxi kết hợp với pectin tạo thành calcium pectate trong lớp chung (middle

lamella) cần thiết cho sự vững chắc của vách tế bào và mô thực vật Canxi còn có vai trò trong quá trình biến dưỡng đạm của thực vật (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Chất lưu huỳnh (S): Lưu huỳnh là thành phần của một số amino acid như

cystein, methionin Những hợp chất cần thiết khác chứa lưu huỳnh là các vitamin thiamine, biotin và coenzyme A là một hợp chất thiết yếu cho hô hấp (Lê Văn Hòa

và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Chất sắt (Fe): Sắt là nguyên tố cần thiết bởi vì nó đóng vai trò then chốt của

các hệ thống enzyme bao gồm: catalase, peroxidase và một số cytochrome Một số các enzyme kiểm soát phản ứng oxy hóa - khử trong quang hợp Sắt không phải là thành phần của diệp lục tố nhưng rất cần cho sự sinh tổng hợp của diệp lục tố (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Trang 33

Chất kẽm (Zn): Kẽm có chức năng chủ yếu như là thành phần kim loại của

một loạt enzyme Kẽm tham gia vào quá trình thành lập diệp lục tố hay ngăn cản sự phá hủy diệp lục tố (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Kẽm thúc đẩy quá trình hình thành các hoocmon trong cây Làm tăng tính chịu nóng, chịu hạn và tính chống chịu bệnh của cây Ngoài ra, kẽm còn làm tăng khả năng tổng hợp các acid nucleic và thúc đẩy việc sử dụng và chuyển hóa đạm trong cây (Đường Hồng Dật,

2002) Theo Vũ Văn Vụ et al (2005) cho rằng kẽm có vai trò trong quá trình sinh

tổng hợp các hợp chất dạng auxin, thúc đẩy sự vận chuyển các sản phẩm quang hợp

từ lá xuống các cơ quan dự trữ

Chất mangan (Mn): Theo Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài (2004)

mangan có chức năng tạo ra oxy trong quang hợp, nếu thiếu mangan quang hợp không chỉ giảm mà hệ thống lục lạp cũng bị tổn hại, làm ảnh hưởng nghiêm trọng

đến mức độ carbohydrate hòa tan đặc biệt xảy ra ở rễ Mangan giữ vai trò cấu trúc

trong hệ thống màng lạp thể và một trong những vai trò quan trọng nhất đó là sự phân tách nước trong quá trình quang hợp Mangan cũng có vai trò quan trọng trong

sự đồng hóa CO2 và cố định nitrogen (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Chất Bo (B): Bo có vai trò rất lớn trong các quá trình trao đổi glucid, trong

sự tổng hợp acid nucleic và trao đổi năng lượng Bo có tác dụng đảm bảo đầy đủ lượng ôxy cho rễ, làm tăng sự hút cation trong quá trình dinh dưỡng thúc đẩy sự vận chuyển lân trong cây (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Bo cũng cần thiết cho sự phát triển và chuyên hóa mô Bo gia tăng sự ổn định của tế bào và sự sinh sản của cây (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Chất đồng (Cu): Đồng hiện diện trong nhiều enzyme hoặc protein liên quan

đến sự oxy hóa và sự khử Khoảng 70% đồng trong cây được tập trung trong diệp

lục tố và chức năng quan trọng của nó được thấy trong sự đồng hóa (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Đồng tham gia vào thành phần cấu tạo enzyme thúc đẩy chức năng hô hấp, chuyển hóa của cây, thúc đẩy quá trình hình thành vitamin A trong cây Làm tăng hiệu lực của các nguyên tố kẽm, mangan, Bo (Đường Hồng Dật, 2002)

Trang 34

1.7.3 Một số sâu bệnh hại chính trên cây sen và biện pháp phòng trị

 Côn trùng gây hại cây sen

Sâu ăn tạp: có tên khoa học là Spodoptera litura Fabricius, thuộc họ Ngài

tối (Noctuidae) của bộ Cánh vảy (Lepidoptera) Sâu phân bố rất rộng ở các nước trên thế giới vì chịu được nhiều điều kiện khí hậu khác nhau và thích nghi với nhiều loại cây ký chủ Sâu có thể gây hại trên 200 loại cây, nhiều trên rau, cải, bắp, đậu, khoai (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)

Về biện pháp phòng trị, Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004) cho rằng,

vì loài sâu này kháng thuốc rất mạnh nên áp dụng các biện pháp ngăn ngừa sâu trước khi sâu phát sinh thành dịch như sau:

- Trồng vụ sau nên cuốc xới đất hoặc trộn đất với các loại thuốc trừ sâu hay cho ruộng ngập nước 2-3 ngày để diệt nhộng

- Thường xuyên thăm ruộng để ngắt bỏ ổ trứng hoặc diệt sâu khi mới nở, chưa phân tán đi xa Nếu sâu đã phát sinh nhiều thì ban đêm có thể soi đèn để bắt

Bù lạch (bọ trĩ): thuộc bộ Thysanoptera Riêng họ Thripidae có trên 100

giống với hàng trăm loài được báo cáo trên thế giới Tại Việt Nam, bù lạch được ghi nhận tấn công lúa, thuốc lá, cam quýt, xoài, bầu, bí, đậu phộng… với nhiều loài có khả năng truyền bệnh siêu vi khuẩn (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)

Về biện pháp phòng trị các loại bù lạch, do chưa có loài thiên địch nào thật

sự hữu hiệu để áp dụng vào biện pháp sinh học nên quản lý tổng hợp IPM là cần thiết nhất, từ khâu kỹ thuật canh tác phù hợp để tạo cân bằng sinh thái giữa chúng với các loài thiên địch, cho đến việc dùng thuốc hóa học theo “bốn đúng” khi thật cần thiết (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004) Việc sử dụng Regent, Actara ở

nồng độ khuyến cáo đều có hiệu lực tốt đối với bù lạch S dorsalis

Trang 35

 Bệnh hại cây sen

Theo Nguyễn Quốc Vọng (2001) có các bệnh phổ biến trên lá, thân và củ Phổ biến là các bệnh sau:

Bệnh đốm phấn: do Erysiphe polygoni, Cercospora sp., Ovularia sp và

Cylindrocladium hawkesworthii Chúng tạo những vết bệnh màu vàng, lồi lên trên

phiến lá, sau đó chuyển sang màu đen Bệnh làm giảm quang hợp, ảnh hưởng đến

năng suất Trị bằng các loại thuốc trừ nấm gốc đồng Bệnh sọc virus do rhabdovirus

tạo những sọc vàng trên thân và củ, trên lá có những đốm vàng

Bệnh thối thân: do nấm Phythophthora rất phổ biến Bệnh làm đỉnh sinh

trưởng và thân bị thối đen, lây lan rất nhanh trong hồ, triệu chứng ban đầu là lá bị vàng úa cả lá, sau đó khô đi rất nhanh Mô bị thối đen, bầy nhầy có mùi thối ngay cả

rễ vẫn phát triển tốt (CABI, 2000; Waterhouse, 1968 trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

Bệnh thối củ: do nấm Fusarium oxysporum sp nelumbicola và Pythium

elongatum Cả 2 loại nấm này đều tồn tại rất lâu trong đất Bệnh thường bộc phát

khi nhiệt độ cao, ít mưa Để xác định đúng nguyên nhân gây bệnh là một yêu cầu rất cần thiết trong công tác phòng trừ bệnh, vì có xác định đúng bệnh thì mới có thể tìm

ra phương pháp phòng trừ đúng, thích hợp

1.7.4 Thu hoạch

Theo Nguyễn Phước Tuyên (2008), đối với giống sen thu hoạch gương, nông dân Đồng Tháp thường thu hoạch vào 25-27 ngày sau khi ra hoa Thời gian thu hoạch kéo dài 40-50 ngày, sau đó sen tàn dần Sau khi thu, gương đuợc phân loại theo tiêu chuẩn sau:

- Loại 1: Gương màu xanh tươi, có chứa trên 12 hạt chắc, hạt sen nằm trong gương hơi lỏng, đầu núm màu đen, vỏ màu vàng nhạt Hạt cứng, đúng độ già, có tinh bột

- Loại 2: Như loại 1 nhưng số hạt chắc 5-11 hạt/gương

Trang 36

- Loại 3: Số hạt chắc nhỏ hơn 5 hạt/gương

Đối với giống thu hoạch củ, nhổ sen để lấy củ đòi hỏi tốn nhiều công lao động, trong quá trình nhổ, khó tránh làm củ không bị tổn thương Trở ngại lớn hiện

nay của các nước trồng sen lấy củ trên thế giới là không có máy thu hoạch củ sen Thông thường, thu hoạch củ sen khi nhiệt độ thấp, ngày ngắn, thân sen khô, củ sen bắt đầu miên trạng Để thu hoạch củ sen, trước tiên cần tháo cạn nước ra, sau đó nhổ bằng tay hoặc dùng đinh ba nạy gốc (Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

1.7.5 Bảo quản và tồn trữ

Hiện nay chưa có khuyến cáo khi rửa nên áp dụng thuốc tẩy hay thuốc trừ nấm, mà để củ sen dưới vòi nước phun thật mạnh để loại đất cát và các mầm bệnh Thường sau khi thu hoạch, củ sen được cho vào cần xé, chở đến nhà máy sơ chế, đổ vào thùng lớn chứa nước pha bột giặt, sau đó qua vòi nước phun với áp suất lớn để rửa sạch bùn đất, sau đó làm khô bằng hơi gió Củ sen ướt không được đóng gói, dễ phát sinh bệnh Củ sen khi đóng gói cần cẩn thận vì nó dễ bị tổn thương, tạo các vết thâm màu tím Thùng kín bằng nhựa xốp có bơm khí là giải pháp tốt nhất để giữ củ sen không bị tổn thương và mất nước (Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

1.7.6 Điều kiện tồn trữ

Củ sen được tồn trữ ở nhiệt độ 3-70C có thể giữ được 5-6 tuần Dưới 30C có biểu hiện triệu chứng tổn thương bề mặt do lạnh Trên 70C kích thích mầm bệnh phát triển và có hiện tượng củ sen giảm trọng lượng do mất nước cho đến khi nhiệt

độ trên 120C Trên 150C phá vỡ miên trạng và mầm sen phát triển sử dụng carbohydrate tích trữ trong củ Tương tự như khi củ sen để lâu trong tối cũng kích thích nảy mầm

Nếu để trong phòng lạnh, củ sen có hiện tượng mất nước do diện tích trao

đổi bề mặt của củ sen rất lớn (các khoảng trống bên trong củ) Do đó, cần xử lý lạnh

trong nước trước khi chuyển qua phòng lạnh Điều kiện không khí trong khi tồn trữ chưa được nghiên cứu kỹ, hạn chế khí ethylene đến mức thấp nhất và tăng khí CO2nhằm giảm hô hấp (Nguyễn Quốc Vọng, 2001)

Trang 37

Chương 2

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 ĐỊA BÀN ĐIỀU TRA

2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên tỉnh Sóc Trăng

 Vị trí địa lý

Ở nước ta Sóc Trăng là tỉnh có diện tích trồng sen lấy củ và sen lấy ngó khá

lớn, trong đó sen lấy ngó được trồng chủ yếu ở huyện Mỹ Xuyên còn sen lấy củ

được trồng ở huyện Châu Thành và huyện Mỹ Tú Về vị trí địa lý Sóc Trăng nằm

trong vùng vĩ độ từ 9014’ đến 9056’ vĩ độ Bắc và 105034’ đến 106018’ kinh độ

Đông, phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh

Bạc Liêu, phía Đông Bắc giáp Trà Vinh, phía Đông và Đông Nam giáp 72 km bờ biển Diện tích đất tự nhiên của Sóc Trăng là 331.200 km, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 216.800 ha (Niên giám thống kê, 2006)

Huyện Châu Thành: là huyện mới thành lập trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính từ huyện Mỹ Tú theo Nghị định 02/NĐ-CP, ngày 24/9/2008 của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 06/01/2009 Huyện có diện tích tự nhiên là 23.632,43 ha, trong đó đất nông nghiệp 21.240,97 ha, chiếm 89,88% diện tích đất tự nhiên Đông giáp thành phố Sóc Trăng và các huyện Long Phú, Kế Sách; Tây giáp huyện Phụng Hiệp, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang; Nam giáp huyện Mỹ Tú; Bắc giáp huyện Kế Sách và thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang (Cổng thông tin

Trang 38

Hình 2: Bản đồ hành chánh tỉnh Sóc Trăng

 Đặ c điểm địa hình

Sóc Trăng có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng Nhìn chung địa hình tỉnh Sóc Trăng có dạng lòng chảo, cao ở phía sông Hậu và biển Đông thấp dần vào trong, vùng thấp nhất là phía Tây và Tây Bắc Tiểu địa hình có dạng gợn sóng không đều, xen kẽ là những giồng cát địa hình tương đối cao và những vùng thấp trũng nhiễm mặn, phèn Đó là những dấu vết trầm tích của thời kỳ vận động biển tiến và lùi tạo nên các giồng cát và các bưng trũng ở các huyện Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu và thành phố Sóc Trăng Vùng đất phèn có địa hình lòng chảo ở phía Tây và ven kênh Cái Côn có cao trình rất thấp, từ 0-0,5 m, mùa mưa thường bị ngập úng làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng Vùng cù lao trên sông Hậu cũng có cao trình thấp, thường bị ngập khi triều cường, vì vậy để đảm bảo sản xuất phải có hệ thống đê bao chống lũ (Cổng thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng, 2012)

Vùng điều tra

Trang 39

 Sông ngòi

Sóc Trăng có hệ thống kênh rạch chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4 m đến 1 m Thủy triều vùng biển không những gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của cư dân địa phương, mà còn mang lại nhiều điều kỳ thú cho du khách khi đến tham quan, du lịch và tìm hiểu hệ sinh thái rừng tự nhiên (Cổng thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng, 2012)

 Khí hậu thủy văn

Sóc Trăng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa, hàng năm có mùa khô và mùa mưa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,80C, ít khi bị bão

lũ Lượng mưa trung bình trong năm là 1.880,8 mm, độ ẩm trung bình là 85% Nhìn chung khí hậu ở Sóc Trăng tương đối thuận lợi cho sự phát triển của cây sen (Bảng 1.3)

Bảng 2 Khí hậu thủy văn tại tỉnh Sóc Trăng năm 2006

Ghi chú: mực nước đo tại Trạm Đại Ngãi- Sông Hậu

Số liệu khí tượng thủy văn trung bình từ năm 2000 đến 2006 (Niên giám thống kê, 2006)

Tháng

Nhiệt độ trung bình

( 0 C)

Độ ẩm trung bình (%)

Số giờ nắng (giờ)

Lượng mưa (mm)

Mực nước trung bình (cm)

Trang 40

2.1.2 Phương tiện điều tra

 Thời gian thực hiện

Từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012

 Đị a bàn điều tra

Điều tra được thực hiện tại các xã: xã Hồ Đắc Kiện, xã Phú Tâm, thị trấn

Châu Thành thuộc huyện Châu Thành và xã Mỹ Tú thuộc huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng

 Vật liệu điều tra

Bản đồ hành chính huyện Châu Thành, huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng, phiếu

điều tra (phụ chương), máy ảnh

2.2 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA VÀ THU THẬP SỐ LIỆU

2.2.1 Thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan liên quan trong tỉnh về đặc

điểm tự nhiên, diện tích đất đai, tình hình kinh tế xã hội, bản đồ hành chánh huyện

Châu Thành, huyện Mỹ Tú

2.2.2 Phương pháp điều tra

Đ iều tra thử: được thực hiện nhằm kiểm tra tính đầy đủ, rõ ràng nội dung

điều tra Việc tổ chức điều tra thử còn nhằm ước lượng chi phí và thời gian cho

cuộc điều tra chính thức

Đ iều tra: được tiến hành theo hình thức phỏng vấn trực tiếp từng hộ nông

dân có trồng sen lấy củ ở các xã thuộc 2 huyện theo phiếu điều tra soạn sẵn bao gồm các thông tin chính như sau:

Thông tin sơ lược về người được phỏng vấn: tên, tuổi, địa chỉ, giới tính, kinh nghiệm trồng sen, diện tích canh tác sen, số nhân khẩu, lao động chính, lao động phụ Thông tin về đất trồng sen: loại đất, thời gian ngập nước, thiếu nước, hình thức luân canh, xen canh Thông tin về tình hình canh tác

Ngày đăng: 12/04/2018, 00:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w