1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của PHÂN VI SINH và PHƯƠNG PHÁP bón PHÂN đến NĂNG SUẤT của GIỐNG lúa MTL 495 vụ ĐÔNG XUÂN năm 2010 2011 tại THỊ xã NGÃ bảy TỈNH hậu GIANG

55 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 738,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài: “ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN VI SINH VÀ PHƯƠNG PHÁP BÓN PHÂN ĐẾN NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA MTL 495 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2010- 2

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN VI SINH VÀ PHƯƠNG PHÁP BÓN PHÂN ĐẾN NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA MTL 495 VỤ ĐÔNG XUÂN

NĂM 2010- 2011 TẠI THỊ XÃ NGÃ BẢY

Trang 2

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

…….……

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài: “ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN VI SINH VÀ PHƯƠNG PHÁP BÓN PHÂN ĐẾN NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA MTL 495 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2010- 2011 TẠI THỊ XÃ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG” Do sinh viên Văng Trọng Hữu, lớp Công Nghệ Giống Cây Trồng 34 thực hiện Ý kiến đánh giá của cán bộ hướng dẫn: ………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày….tháng….năm…

Cán bộ hướng dẫn

Phạm Văn Phượng

Trang 3

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

…….……

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO LVTN Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp chấp nhận đề tài: “ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN VI SINH VÀ PHƯƠNG PHÁP BÓN PHÂN ĐẾN NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA MTL 495 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2010- 2011 TẠI THỊ XÃ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG” Do sinh viên Văng Trọng Hữu, lớp Công Nghệ Giống Cây Trồng 34 thực hiện Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức: ………

Ý kiến đánh giá của Hội đồng: ………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày….tháng….năm… ….……… ……… ………

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Tác giả luận văn

Văng Trong Hữu

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Lời đầu tiên con xin gởi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Cha, Mẹ đã tận tình nuôi con khôn lớn và lo lắng cho con được trưởng thành cho đến ngày hôm nay Con xin cảm ơn Cha, Mẹ đã không ngại vất vả và khó khăn để lo lắng và tiếp sức cho con được đến trường trong suốt bốn năm đại học

Xin chân thành cám ơn Thầy Phạm Văn Phượng là cố vấn học tập của lớp Công Nghệ Giống Cây Trồng Khóa 34 đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong bốn năm học vừa qua và đã tận tình hướng dẫn, động viên tinh thần và tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp này

Xin gửi lời biết ơn và trân trọng nhất đến quý Thầy, Cô trong Bộ môn Di Truyền

- Giống Nông Nghiệp và quý Thầy, Cô Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại Trường

Tôi thân gửi đến tất cả các bạn lớp Công Nghệ Giống Cây Trồng Khóa 34, những người bạn đã động viên, cổ vũ, chia sẽ và giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian học tập lời cảm ơn chân tình nhất Chúc các bạn được nhiều sức khỏe và thành công trong cuộc sống

Trang 6

Phần I – LÝ LỊCH SƠ LƯỢC

Họ và tên: VĂNG TRỌNG HỮU

Sinh ngày: 25/01/1990

Nguyên quán: Thạnh Quới – Vĩnh Thạnh – TP Cần Thơ

Họ và tên cha: VĂNG MINH

Họ và tên mẹ: DƯƠNG THỊ LANH

Phần II – QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN

Năm 1996-2001: học tại trường Tiểu Học Thạnh Quới

Năm 2001-2005: học tại trường Trung Học Cơ Sở Thạnh Quới

Năm 2005-2008: học tại trường Trung Học Phổ Thông Thạnh An

Năm 2008-2012: học tại trường Đại Học Cần Thơ

Ngành Công Nghệ Giống Cây Trồng – Khóa 34 (2008-2012), Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng và đã tốt nghiệp Kỹ sư ngành Công Nghệ Giống Cây Trồng vào tháng 12/2011

Phần III – ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

Số nhà 81, ấp Qui lân 5, xã Thạnh Quới, huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ

Điện thoại: 07106271762

Di động: 01683354601

Email:

Trang 7

Việt Nam đã và đang đi trên con đường hội nhập toàn cầu Nền nông nghiệp Việt Nam cũng phải hòa mình vào xu thế phát triển chung củ nền nông nghiệp thế giới – nông nghiệp theo hướng vi sinh bền vững Hiện trạng lạm dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong canh tác lúa nói riêng gây ô nhiễm trầm trọng tài nguyên đất, tài nguyên môi trường Tình trạng đất bị suy thoái dinh dưỡng và bị nén dẻ đang diễn ra trên diện rộng đất sản xuất nông nghiệp trong đó có đất trồng lúa Để giải quyết và cải thiện các vấn đề trên giải pháp đặt ra là sử dụng các loại phân vi sinh trong sản xuất nông nghiệp trong đó việc sử sử dụng vi sinh trong sản xuất lúa là một trong các giải pháp đáng quan tâm Với mong muốn xác định tác động của phân vi sinh lên quá trình sinh trưởng, phá triển, tính kháng sâu bệnh và năng suất của cây lúa Đề tài thực hiện với tên “Ảnh hưởng của phân vi sinh và phương pháp bón phân đến năng suất của giống lúa MTL495 vụ Đông Xuân năm 2010 – 2011 tại thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang” Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, ba lần lặp lại, gồm bốn nghiệm thức: nghiệm thức một bón phân vi sinh theo khuyến cáo, nghiệm thức hai bón phân giống như nghiệm thức một nhưng có kết hợp với SML (so màu lá), nghiệm thức ba bón phân NPK nhưng có kết hợp với SML, nghiệm thức bốn bón phân NPK theo phương pháp của nông dân

Kết quả thí nghiệm cho thấy, sử dụng phân vi sinh kết hợp với SML trong sản xuất lúa khác biệt có ý nghĩa và cho năng suất cao hơn so với bón phân NPK theo

phương pháp của nông dân

Trang 8

Chương Nội Dung Trang Danh sách chữ viết tắt iError! Bookmark not defined.

Danh sách các hình ix

Danh sách các bản xi

Mở đầu………1

1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

1.1 THỜI KỲ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA 3

1.1.1 Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng 3

1.1.2 Giai đoạn sinh trưởng thực 3

1.1.3 Giai đoạn chín 4

1.2 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 5

1.2.1 Số bông trên mét vuông 5

1.2.2 Tỷ lệ hạt chắc 5

1.2.3 Số hạt trên bông 6

1.2.4 Trọng lượng 1000 hạt 6

1.3 PHƯƠNG PHÁP BÓN PHÂN 6

1.3.1 Phân vi sinh và phương pháp bón 6

1.3.2 Phân urea, Phân Lân, Phân kali và phương pháp bón 13

1.3.3 Các loại phân bón khác 18

1.3.4 Bón phân theo phương pháp so màu lá 19

1.3 5 Bón phân theo phương pháp của nông dân 20

2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 21

2.1 PHƯƠNG TIỆN 21

2.1.1 Thời gian 21

2.1.2 Địa điểm 21

2.1.3 Vật liệu thí nghiệm 21

2.2 PHƯƠNG PHÁP 21

2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21

2.2.2 Phương pháp canh tác 22

2.2.3 Phương pháp đánh giá chỉ tiêu nông học 23

Trang 9

2.2.6 Phương pháp phân tích số liệu 27

3 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 28

3.1 NHỮNG GHI NHẬN TỔNG QUÁT 28

3.1.1 Tình hình sinh trưởng 28

3.1.2 Tình hình sâu bệnh 28

3.2 CÁC CHỈ TIÊU NÔNG HỌC 29

3.2.1 Thời gian sinh trưởng 29

3.2.2 Chiều cao cây 29

3.2.3 Số chồi tối đa trên mét vuông và tỉ lệ chồi hữu hiệu 30

3.2.4 Chiều dài bông 31

3.3 Thành phần năng suất và năng suất 32

3.3.1 Số bông trên mét vuông 32

3.3.2 Hạt chắc trên bông 33

3.3.3 Phần trăm hạt chắc 33

3.3.4 Trọng lượng 1000 hạt (g) 34

3.3.5 Năng suất lý thuyết 35

3.3.6 Năng suất thực tế 36

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

PHỤ CHƯƠNG 41

Trang 10

SML: So màu lá

PSM: Phosphate solubilizing microorganisms NSKS: Ngày sau khi sạ

Trang 11

Danh sách các hình

2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 22 3.1 Năng suất lý thuyết (tấn/ha) của các nghiệm thức thí nghiệm

tại xã Hiệp lợi, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang vụ ĐX 2010-2011……… 36

3.1 Năng suất lý thuyết (tấn/ha) của các nghiệm thức thí nghiệm

tại xã Hiệp lợi, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang vụ ĐX 2010-2011……… 37

Trang 12

Bảng Tựa bảng Trang 1.1 Sự khác nhau giữa phân vi sinh và phân hóa học 11 2.1 Phương pháp bón phân Vi sinh + Ure+ DAP +KCl +NPK 20-20-15……… 23

2.2 Thang điểm của IRRI (1998) để đánh giá bệnh đạo ôn cổ bông 26 2.3 Thang điểm của IRRI (1998) để đánh giá rầy nâu 26 2.4 Thang điểm của IRRI(1988) để đánh giá khả năng phản ứng

với sâu cuốn lá……… 27

3.1 Chiều cao cây lúa (cm) ở giai đoạn khi thu hoạch của các nghiệm thức thí

nghiệm tại xã Hiệp lợi, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang vụ ĐX 2010-2011… 29

3.2 Chồi tối đa trên mét vuông và tỉ lệ chồi hữu hiệu (%) của các nghiệm thức

thí nghiệm tại xã Hiệp lợi, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang vụ ĐX

2010-2011……… 30 3.3 Chiều dài bông lúa (cm) của các nghiệm thức thí nghiệm tại xã Hiệp lợi,

thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang vụ ĐX 2010-2011 31

3.4 Số bông trên mét vuông của các nghiệm thức thí nghiệm tại xã Hiệp lợi,

thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang vụ ĐX 2010-2011 32

3.5 Số hạt chắc trên bông của các nghiệm thức thí nghiệm tại xã Hiệp lợi,

thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang vụ ĐX 2010-2011 33

3.6 Phần trăm hạt chắc trên bông (%) của các nghiệm thức thí nghiệm tại xã

Hiệp lợi, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang vụ ĐX 2010-2011 34

3.7 Trọng lượng 1000 hạt (g) của các nghiệm thức thí nghiệm tại xã Hiệp lợi,

thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang vụ ĐX 2010-2011 35

Trang 13

MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, ngành nông nghiệp cũng đã

có những thay đổi rất đáng kể Nhiều máy móc tiên tiến, công nghệ trồng trọt, giống mới… ra đời, đã đáp ứng kịp với những nhu cầu ngày càng cao Việt Nam là nước nông nghiệp, nền phân bón và giống có thể xem là 2 yếu tố có tính quyết định đến năng suất và chất lượng Nhiều nơi do sử dụng quá mức cần thiết các loại phân bón

và thuốc trừ sâu hoá học làm cho đất canh tác bị bạc màu đi rất nhanh chóng

Ngoài ra, những ảnh hưởng của phát triển Nông Nghiệp theo hướng Công Nghiệp Hóa - Hiện Đại Hóa cũng góp phần làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày một giảm đi, trong khi đó dân số tiếp tục tăng lên, nhu cầu về nhà ở ngày càng nhiều, nếu chúng ta không có quy hoạch và quản lý tốt thì diện tích đất màu mỡ sẽ mất đi nhanh chóng

Mặt khác, mưa nhiều và tập trung làm cho đất trở nên xói mòn, rửa trôi khá nhanh, đất dễ bị suy thoái, cạn kiệt dinh dưỡng Bên cạnh đó, việc khai thác và sử dụng quá mức cũng như chế độ cach tác không hợp lý cũng dẫn đến tình trạng thoái hóa đất làm giảm năng suất trong sản xuất lúa ở nước ta

Do nhu cầu xã hội ngày càng phát triển cao đòi hỏi con người sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để tăng năng suất sản lượng sản phẩm Những hoạt động nhằm mục đích kinh tế này cũng là nguyên nhân cơ bản làm ô nhiễm môi trường

Ngành nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay chủ yếu sử dụng phân bón hóa học

Vì thế dư lượng các chất hóa học trong các loại phân này gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước và ảnh hưởng nhiều đến sinh vật và đặc biệt là sâu hại tấn công nhiều làm giảm năng suất đáng kể

Sử dụng sản phẩm phân vi sinh vật đa chủng chế biến từ các nguồn khác nhau, đây chính là giải pháp hay nhất hiện nay có thể giải quyết được các vấn đề trên Phân bón vi sinh dựa vào các chủng vi sinh vật sẽ phân giải các chất hữu cơ trong bùn, phế thải, rác thải, phế phẩm công nông nghiệp,… tạo ra sinh khối, sinh khối này rất tốt cho cây cũng như cho đất, giúp cải tạo làm đất tơi xốp Bên cạnh đó với mức sống trung bình của một người nông dân hiện nay không thể dùng các loại

Trang 14

phân bón cho cây trồng với giá cả cao như vậy, sự ra đời của phân vi sinh đã đáp ứng được mong muốn của người nông dân, vừa tăng năng suất lại hợp túi tiền Dùng phân vi sinh có thể thay thế được từ 50 - 100% lượng phân đạm hóa học (tùy từng loại cây trồng bón phân vi sinh có thể tiết kiệm được nhiều chi phí do giá phân

hạ, giảm lượng phân bón, giảm số lần phun và lượng thuốc BVTV)… Do bón phân

vi sinh nên sản phẩm rất an toàn, lượng nitrat giảm đáng kể, đất không bị ô nhiễm, khả năng giữ ẩm tốt hơn, tăng cường khả năng cải tạo đất do các hệ sinh vật có ích hoạt động mạnh làm cho đất tơi xốp hơn, cây dễ hút thu dinh dưỡng hơn và quan trọng góp phần làm tăng năng suất cho cây trồng đáng kể

Đó chính là lý do để thực hiện đề tài “ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN VI SINH

VÀ PHƯƠNG PHÁP BÓN PHÂN ĐẾN NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA MTL

495 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2010- 2011 TẠI THỊ XÃ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG”

Trang 15

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 THỜI KỲ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA

1.1.1 Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng

Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi nảy mầm đến khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng Giai đoạn này cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi cây lúa

có thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5 – 6 (Võ Tòng Xuân, 1984) Trong điều kiện quần thể ruộng lúa cấy với mực độ cao, dinh dưỡng hạn chế các nhánh được sinh ra

ở mắt thứ tư và sau cấy 20 – 25 ngày đã là nhánh vô hiệu (Vũ Văn Hiển và Nguyễn

Văn Hoan, 1999) Thời điểm có chồi tối đa có thể đạt được cùng lúc hoặc trước hay

sau thời kì bắt đầu phân hóa đòng tùy theo giống lúa (Võ Tòng Xuân, 1984)

Theo Võ Tòng Xuân (1984), thời gian sinh trưởng của giống lúa dài hay ngắn khác nhau chủ yếu là do giai đoạn tăng trưởng dài hay ngắn Thường các giống lúa ngắn ngày có giai đoạn tăng trưởng ngắn và thời kì có chồi tối đa xảy ra gần thời kì phân hóa đòng hoặc sau đó một thời gian hoặc ngược lại các giống lúa dài ngày (trên 4 tháng) thường đạt số chồi tối đa trước thời kì phân hóa đòng

1.1.2 Giai đoạn sinh trưởng thực

Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông Giai đoạn này kéo dài khoảng 27 – 35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài ngày hay ngắn ngày thường không khác nhau nhiều Lúc này, số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng Đòng lúa hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát khỏi bẹ của lá cờ, nếu đầy

đủ dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ được kích thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng trọng lượng sau này (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Trang 16

Theo Võ Tòng Xuân (1984), muốn bông lúa hình thành nhiều hoa, vỏ trấu đạt được kích thước lớn nhất thì phải tạo điều kiện sao cho cây lúa có đầy đủ dinh dưỡng, mực nước trong ruộng thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh tấn công

và thời tiết thuận lợi

1.1.3 Giai đoạn chín

Giai đoạn chín bắt đầu từ lúc trổ bông đến lúc thu hoạch Giai đoạn này trung bình khoàng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Giai đoạn chín được đặc trưng bởi sự sinh trưởng của hạt: sự tăng kích thước

và trọng lượng, sự thay đổi màu hạt và sự hóa già của lá (Shouichi Yoshida, 1981)

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), trong giai đoạn chín của cây lúa chia ra làm các thời kì:

- Thời kì chín sữa (ngậm sữa): các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm quang hợp được chuyển vào trong hạt Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt do quang hợp ở giai đoạn sau khi trổ Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh trưởng, phát triển của cây lúa và thời tiết từ giai đoạn lúa trổ trở đi hết sức quan trọng đối với quá trình hình thành năng suất lúa Kích thước và trong lượng hạt gạo tăng dần làm đầy vỏ trấu Bông lúa nặng cong xuống nên gọi là lúa “cong trái me” Hạt gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa, nên gọi là thời kì ngậm sữa

- Thời kì chín sáp: hạt mất nước, từ từ cô đặc lại, lúc bấy giờ vỏ trấu vẫn còn xanh

- Thời kì chín vàng: hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển sang màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót bông lan dần xuống các hạt ở phần cổ bông nên gọi là “lúa đuôi đỏ”, lá già rụi dần

- Thời kì chín hoàn toàn: hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ hạt khoảng 20% hoặc thấp hơn, tùy ẩm độ môi trường, lá xanh chuyển vàng và rụi dần Thời điểm thu hoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngả sang màu trấu đặc trưng của giống

Trang 17

1.2 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT

1.2.1 Số bông trên mét vuông

Số bông trên đơn vị diện tích được quyết định vào giai đoạn sinh trưởng ban đầu của cây lúa (giai đoạn tăng trưởng), nhưng chủ yếu là giai đoạn từ khi cấy đến khoảng 10 ngày trước khi có chồi tối đa Số bông trên đơn vị diện tích tùy thuộc vào mật độ sạ cấy và khả năng nở bụi của lúa thay đổi tùy theo giống lúa, điều kiện đất đai, thời tiết, lượng phân bón, nhất là phân đạm và chế độ nước Số bông trên đơn vị diện tích có ảnh hưởng thuận với năng suất (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Nói chung đối với giống lúa ngắn ngày, thấp cây, nở bụi ít, đất xấu, nhiều nắng nên cấy dày để tăng số bông trên đơn vị diện tích Ngược lại, trên đất giàu hữu

cơ, thời tiết tốt, lượng phân bón nhiều (nhất là đạm) và giữ nước thích hợp thì lúa

nở bụi khỏe có thể sạ cấy thưa hơn Các giống lúa cải thiện thấp cây có số bông trên mét vuông trung bình phải đạt 500 – 600 bông/m2

đối với lúa sạ hoặc 350 – 450 bông/m2

đối với lúa cấy mới có thể có năng suất cao (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Theo Nguyễn Đình Giao và ctv (1997), ngoài mật độ sạ cấy, khả năng nở bụi

ra số bông trên đơn vị diện tích còn phụ thuộc vào kỹ thuật canh tác và các điều kiện ngoại cảnh như: lượng đạm bón, nhiệt độ, ánh sáng,

Đối với lúa sạ thẳng, số bông trên mét vuông tùy thuộc vào lượng giống để

sạ và phần trăm hột nảy mầm (Shouichi Yoshida, 1981)

1.2.2 Tỷ lệ hạt chắc

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (1998), tỷ lệ hạt chắc được quyết định từ đầu thời kỳ phân hóa đòng đến khi lúa vào chắc và đặc biệt quan trọng nhất là thời kỳ phân bào giảm nhiễm, trổ bông, phơi màu Tỉ lệ hạt chắc tùy thuộc vào số hoa trên bông, đặc tính sinh lý cũa cây lúa và ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh

Những điều kiện thời tiết không thuận lợi trong giai đoạn phân bào giảm nhiễm và trổ gié hoa có thể gây ra bất thụ Trong giai đoạn chín gặp điều kiện bất lợi có thể ức chế sự sinh trưởng của vài gié hoa dẫn đến cho ra những hoa lép (Shouichi Yoshida, 1981)

Trang 18

1.2.3 Số hạt trên bông

Số hạt trên bông được quyết định từ lúc tượng cổ bông đến 5 ngày trước khi trổ, quan trọng nhất là giai đoạn phân hóa hoa và giảm nhiễm tích cực (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)

Khởi đầu sự sinh trưởng sinh dục, số gié hoa tối đa được xác định bởi sự phân hóa của các nhánh và những gié hoa Sau sự phân hóa gié hoa vài gié hoa có thể bị thoái hóa Số gié hoa quan sát được lúc trổ gié hoặc khi trưởng thành là sự sai biệt giữa khối sơ khởi phân hóa và thoái hóa (Shouichi Yoshida, 1981)

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (1998), số hạt trên bông tùy thuộc vào số hoa được phân hóa và số hoa bị thoái hóa Hai yếu tố này bị ảnh hưởng bởi giống lúa, kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết

1.2.4 Trọng lượng 1000 hạt

Trọng lượng hạt được quyết định ngay từ thời kỳ phân hóa hoa đến khi lúa chín nhưng quan trọng nhất là thời kỳ giảm nhiễm tích cực và vào chắc rộ Trọng lượng hạt phụ thuộc vào cở hạt, và độ mẩy no của hạt lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)

Tuy nhiên trọng lượng hạt là đặc tính ổn định của giống vì kích thức hạt bị kiểm soát chặt chẽ bởi kích thước của vỏ trấu Hạt lúa không thể phát triển lớn hơn kích thước của vỏ trấu dù trong bất kì điều kiện ngoại cảnh thuận lợi nào và đầy đủ dinh dưỡng nào (Shouichi Yoshida, 1981)

1.3 PHƯƠNG PHÁP BÓN PHÂN

1.3.1 Phân vi sinh và phương pháp bón

*Định nghĩa phân vi sinh

Phân bón vi sinh vật là các sản phẩm mang vi sinh vật, khi sử dụng các vi sinh vật này nhiễm vào đất và cây trồng Theo tiêu chuẩn Việt Nam 1996 về phân hữu cơ vi sinh vật, phân vi sinh vật được định nghĩa: “ Phân vi sinh vật (phân vi sinh) là sản phẩm chứa các vi sinh vật sống, đã được tuyển chọn có mức độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống của chúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng được (N, P, K, S, Fe…) hay các hoạt chất

Trang 19

sinh học, góp phần nâng cao năng suất và (hoặc) chất lượng nông sản Phân vi sinh phải bảo đảm không gây ảnh hưởng xấu đến nguời, động, thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản” (Nguyễn Minh Hưng và ctv, 2007)

*Phân loại phân vi sinh theo tính năng tác dụng của các nhóm vi sinh vật chứa trong phân bón

Trên cơ sở tính năng tác dụng của các vi sinh vật chứa trong phân bón, phân

vi sinh vật còn được phân loại sau:

- Phân vi sinh vật cố định nitơ (phân đạm vi sinh)

+ Phân đạm vi sinh là sản phẩm chứa các vi sinh vật sống cộng sinh với cây

họ đậu (đậu tương, lạc, đậu xanh, đậu đen, v.v…), hội sinh trong vùng rễ cây trồng cạn hay tự do trong đất, nước có khả năng sử dụng N2 từ không khí tổng hợp thành đạm cung cấp cho đất và cây trồng Các vi sinh vật này bao gồm tảo lam, vi khuẩn

Azotobacter, Bradyrhizobium, Rhizobium, Actinomycetes, Klebsiella (Ngô Ngọc

Hưng và ctv, 2004)

+ Các vi sinh vật này hấp thụ N2 trong không khí chuyển N2 thành NH3 để nuôi chính bản thân mình, NH3 dư thừa sẽ tiết ra ngoài hoặc khi vi sinh vật chết để lại phần xác giàu đạm và chất dinh dưỡng Đây là nguồn phân bón tốt cho cây trồng (Nguyễn Thanh Hiền, 2003)

- Phân vi sinh phân giải hợp chất photpho khó tan (phân lân vi sinh) + Phân lân vi sinh sản xuất từ các vi sinh vật có khả năng chuyển hóa các

hợp chất photpho khó tan thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng bằng cách tiết ra các acid hữu cơ

+ Trong đất có một nhóm sinh vật có khả năng hòa tan lân có tên là PSM

(Phosphate solubilizing microorganisms) Nhóm vi sinh vật PSM có khả năng hòa tan phosphate sắt, apatite, chuyển lân không tan thành dễ tan Nhóm này có Asp.niger, Pseudomonas, Bacilus, Micrococcus,… Dễ dàng nuôi cấy, tạo sinh khối hay trộn bào tử vào đá phosphorit apatit cho cây, sử dụng chế phẩm PSM mang lai hiệu quả cao cho vùng thiếu lân trầm trọng (Nguyễn Thị Quí Mùi, 1999 Trích dẫn

bởi Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004)

Trang 20

- Phân vi sinh vật kích thích, điều hòa sinh trưởng thực vật

+ Chứa các vi sinh vật có khả năng sinh tổng hợp các hoạt chất sinh học có

tác dụng điều hòa hoặc kích thích quá trình trao đổi chất của cây

+ Phân vi sinh vật chức năng là một dạng phân bón vi sinh vật ngoài khả năng tạo nên các chất dinh dưỡng cho đất, cây trồng, còn có thể ức chế, kìm hãm sự phát sinh, phát triển của một số bệnh vùng rễ cây trồng do vi khuẩn và nấm gây nên

*Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của phân vi sinh

Theo Nguyễn Minh Hưng và ctv (2007), hiệu lực của phân vi sinh vật phụ thuộc rất lớn vào hoạt tính sinh học của vi sinh vật tuyển chọn và khả năng thích ứng của chúng với điều kiện môi trường sử dụng phân vi sinh vật Các tác nhân chính gây ảnh hưởng đến hiệu lực của phân vi sinh được xác định như sau:

- Thuốc diệt nấm, thuốc trừ sâu

Các loại hóa chất xử lý hạt giống chứa các kim loại nặng như thủy ngân, kẽm, đồng hay chì đều độc với vi sinh vật

Các hóa chất diệt nấm hữu cơ tuy ít độc hơn song cũng không tốt cho vi khuẩn Các chất này có thể không tiêu diệt vi sinh vật nhưng sẽ làm yếu hoặc làm mất hoạt tính sinh học của chúng

- Các dinh dưỡng khoáng

+ Đạm:

Đạm khoáng trong đất ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình cố định nitơ và hình thành nốt sần của cây bộ đậu nói chung Khi trong đất có đạm, cây trồng sử dụng trực tiếp nguồn đạm này ngay cả khi có nhiều nốt sần hữu hiệu Các nốt sần này có kích thước nhỏ và không hoạt động trong suốt thời kì sinh trưởng, phát triển của cây nếu có lượng đạm lớn tồn tại trong đất

Nếu đất thiếu đạm ngay giai đoạn đầu, cây trồng sẽ kém phát triển, ảnh hưởng gián tiếp đến quá trình hình thành nốt sần và hiệu quả cố định nitơ cộng sinh Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, khi cây bộ đậu được bón mồi một lượng đạm tương đương với 20 – 30 N/ha sẽ phát triển tốt hơn và cho năng suất cao nhất Nếu sử dụng lượng đạm khoáng cao hơn, hiệu quả cố định nitơ sẽ bị giảm

Trang 21

+ Phân lân:

Photpho là thành phần của enzyme nitrogenaza – men cố định nitơ Thiếu lân trong giai đoạn dài sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của vi khuẩn cũng như nốt sần và quá trình cố định nitơ

Vi sinh vật phân giải lân có khả năng khoáng hóa lân hữu cơ hoặc chuyển hóa lân vô cơ khó tan thành lân dễ tiêu cung cấp cho đất và cây trồng, nghĩa là chỉ

có tác dụng khi có sẵn nguồn lân vô cơ hoặc hữu cơ trong đất Sử dụng phối hợp vi sinh vật cố định nitơ, vi sinh vật chuyển hóa lân trên cơ sở có sẵn nguồn lân trong đất sẽ nâng cao hiệu lực của cả hai loại phân bón vi sinh vật này

+ Phân kali:

Một số loài vi khuẩn có nhu cầu về kali Vai trò chính của kali là tạo áp suất thẩm thấu trong quá trình trao đổi chất của vi khuẩn cũng như trong dung dịch huyết tương của cây trồng

Ngoài các yếu tố dinh dưỡng đa lượng chính nêu trên, các nguyên tố trung lượng như Ca, Mg, S và vi lượng như Fe, Mo, Co, Ni, cũng có nhiều ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của các vi sinh vật, trong đó đặc biệt các nguyên tố như S,

Mo, Fe là thành phần của enzym cố định nitơ – nitrogenaza Thiếu các yếu tố dinh dưỡng này, quá trình cố định nitơ cộng sinh không hoạt động Vì vậy để đảm bảo hiệu quả cố định nitơ và năng suất cây trồng cần thiết phải cung cấp đầy đủ các dưỡng chất cần thiết nêu trên

- Độ chua của đất (pH đất)

Vi sinh vật đất nói chung và vi sinh vật sử dụng làm phân bón vi sinh nói riêng đều bị ảnh hưởng bởi độ pH đất, hoạt tính sinh học của chúng sẽ bị giảm trong điều kiện pH đất thấp vì tác động trựa tiếp của pH thấp đến sự sinh trưởng của vi khuẩn hoặc gián tiếp thông qua việc hạn chế trao đổi chất dinh dưỡng

Tuy nhiên vẫn có nhiều chủng vi sinh vật có độ mẫn cảm cao với pH thấp và

ở điều kiện này, chúng vẫn có khả năng sinh tổng hợp các chất có hoạt tính sinh học Đặc biệt người ta đã nghiên cứu, tuyển chọn và tạo ra được các vi sinh vật có khả năng thích ứng trong dãy pH rộng và do vậy nhiều sản phẩm phân vi sinh vật có khả năng sử dụng cho mọi loại đất trồng với các độ pH khác nhau

Trang 22

Theo Thái Công Tụng (1969), pH thích hợp cho hoạt động vi sinh vật đất khoảng 6,5 – 7,5 Ở khoảng pH này tốc độ khoáng hóa chất hữu cơ xảy ra mạnh

- Nhiệt độ

Hoạt động của vi sinh vật chỉ đạt được mức độ cực đại trong khoảng nhiệt dộ nhất định và bị ảnh hưởng rất lớn bởi độ ẩm đất Dãy nhiệt độ tốt nhất đối với các vi sinh vật làm phân bón vi sinh vật khoảng 250C đến 350

C

- Độ ẩm đất

Độ ẩm đất có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển và sinh tổng hợp hoạt chất sinh học của vi sinh vật tồn tạo trong đất Thiếu nước vi khuẩn không di chuyển được, đồng thời cũng không sinh sản được và qua đó ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp hoạt chất sinh học Thiếu nước đồng thời cũng ngăn cản sự phát triển của cây trồng qua đó ảnh hưởng gián tiếp trở lại hoạt động của vi sinh vật và vai trò của chúng Tuy nhiên, nhiều vi sinh vật sống cộng sinh hoặc nội sinh trong cây vẫn có khả năng hấp thụ nước thông qua hệ thống rễ cây và như vậy có thể sống và sing tổng hợp hoạt chất sinh học trong điều kiện đất khô hạn nhưng cây trồng vẫn còn sống

Nếu ẩm độ cao quá gây ra yếm khí, vi sinh vật khó hoạt động Kết quả cho thấy ở điều kiện ẩm độ 70% là thích hợp cho sự hoạt động của vi sinh vật, do đó sự khoáng hóa xảy ra mạnh mẽ (Thái Công Tụng, 1969)

- Phèn, mặn

Trên vùng đất khô, phèn mặn ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sống của vi sinh vật Nồng độ muối cao ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc màng tế bào của vi sinh vật và đồng thời tác động bất lợi đến quá trình trao đổi chất của vi sinh vật Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, hiệu lực cố định nitơ của vi khuẩn của nốt sần ở nồng độ muối ăn 0,4% chỉ bằng 25% so với hiệu lực cố định nitơ của nốt sần trong điều kiện bình thường Gần đây, người ta quan tâm đến nhiều việc chọn các vi sinh vật chịu được nồng độ muối cao và kết quả tạo được một số loại phân bón vi sinh vật có khả năng thích ứng với độ phèn mặn cao

- Vi khuẩn cạnh tranh

Trang 23

Trong đất, nhất là ở các vùng chuyên canh (độc canh) tồn tại rất nhiều các vi sinh vật tự nhiên Các vi khuẩn này sẽ cạnh tranh với vi sinh vật hữu hiệu và làm giảm hiệu quả hoạt động của chúng

Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa phân vi sinh và phân hóa học

(Nguyễn Thanh Hiền, 2003)

* Phân bón vi sinh Hương Quê

Là một sản phẩm hoàn toàn mới, sau nhiều năm nghiên cứu và áp dụng thành tựu khoa học, phân bón vi sinh học vi sinh Hương Quê ra đời với mục đích là phát triển và sản xuất Nông Nghiệp với hệ sinh thái bền vững nhằm góp phần giải quyết việc lạm dụng sử dụng phân bón thuốc trừ sâu dạng hóa học làm đất đai bị chai

- Phân vi sinh là các vi sinh vật sống - Phân hóa học là các chất hóa học

- Cung cấp dinh dưỡng hữu cơ từ từ và

kéo dài

- Cung cấp chất dinh dưỡng hóa học với khối lượng lớn một lúc (mỗi lần bón)

- Không gây ô nhiễm môi trường nước - Gây ô nhiễm môi trường nước do lượng

- Đây là các vi sinh vật sống nên thời

gian bảo quản không quá 3 tháng, cất

trữ để không khí có thể lọt vào được,

không được đóng gói kín

- Bảo quản được lâu, đóng gói kín

- Bón phân vi sinh không sợ cây bị lốp

và đất sẽ được cải tạo tốt hơn

- Bón quá phân hóa học cây sẽ bị lốp và

sẽ bị chết

Trang 24

cứng và suy kiệt, các vi sinh vật không phát triển và hoạt động được, làm nông sản thoái hóa, ảnh hưởng lớn đến việc tiêu thụ và ô nhiễm môi trường

Phân bón sinh học vi sinh Hương Quê ra đời góp phần tái tạo hệ sinh thái, trả lại độ phì nhiêu cho đất Cung cấp đầy đủ và kịp thời các dưỡng chất cần thiết cho cây trồng, đảm bảo an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng nông sản, ổn định môi trường

* Tác dụng phân vi sinh học vi sinh Hương Quê:

- Giảm được 60 – 70% lượng phân bón vô cơ (N, P, K)

- Lúa cứng cây không bị đỗ ngã

- Hạn chế tối đa việc ô nhiễm môi trường

- Nâng cao chất lượng gạo

- Khi phối hợp với thuốc trừ sâu sinh học có thể hạn chế được các loại thuốc hóa học để phòng trừ sâu bệnh

- Sử dụng đúng qui trình sẽ tránh được ngộ độc phèn và ngộ độc hữu cơ

- Hạt lúa sáng, chắc hạt, lúc trổ đều (giảm tối đa lượng hạt lép khi trổ)

- Ngâm ủ lúa giống cho nảy mầm cao và đều

- Giảm 60 – 70% lượng hạt rơi rụng khi thu hoạch

* Cách sử dụng:

Diện tích 1000m2

mỗi lần phun 500ml tức 250ml pha bình 16 lít (1000m2 hai bình 16 lít)

- Dùng phân vi sinh 500ml trộn với lân để bón lót

- Cây lúa đến 12 ngày thì bón phân

- Khi cây lúa từ 20 – 25 ngày cấy dậm xong thì bón phân

- Cây lúa từ 30 – 35 dùng phân vi sinh 250ml pha 200g đạm + 20cc thuốc trị bệnh sinh học EXIN 4.5HP (để trị đạo ôn và cháy bìa lá) cho bình 16 lít để phun

- Để lúa trổ đều khi cây lúa 50 – 55 ngày phun phân vi sinh 250ml pha 200g đạm + 20cc EXIN 4.5HP cho bình 16 lít

- Lúa cong trái me thì dùng 250ml phân vi sinh pha bình 16 lít phun rước hạt chờ chín thu hoạch (không trộn lẫn thêm bất cứ loại nào)

Trang 25

- Phun vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát

- Bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng

* Thành phần gồm các tập đoàn vi sinh vật sau:

Trang 26

Amôn được tạo thành gặp môi trường kiềm cũng để đạm bay đi dưới dạng NH3 Để tránh quá trình amôn hóa trên mặt đất dễ mất đạm nên bón phân urea sâu, tạo điều kiện tưới nước sau khi bón phân nhất là khi bón urea cho cây trồng cạn Bón phân urea dạng viên dễ mất nhiều đạm hơn là bón dạng lỏng

Phân urea xem là loại phân amôn hiệu quả chậm, việc mất NH3 thường xảy

ra trong giai đoạn 6 – 7 ngày đầu sau khi bón Phân urea hòa tan nhanh và rất linh động nên dễ bón đều hơn phân sulfat đạm và phân clorua đạm

Phân urea không gây chua mạnh như như phân sulfat đạm và phân clorua đạm nên không để xảy ra quá trình làm mất canxi và magiê Nhiều trường hợp bón urea làm cây đồng hóa canxi và magiê tốt hơn

Do vậy urea là loại phân bón thích hợp ở chân đất chua, bạc màu, rửa trôi mạnh canxi và magiê

Khi sử dụng phân urea cần chú ý đến hàm lượng biurea vì biurea độc, ức chế

hô hấp, quang hợp của cây, hạn chế tỷ lệ nảy mầm Hàm lượng biurea cho phép đối với cây trồng cạn là 1,5 – 2% so với urea bón (Vũ Hữu Yêm, 1995)

- Phương pháp bón: có thể dử dụng tốt cho nhiều loại cây trồng khác nhau, trên các loại đất khác nhau, nhưng đặc biệt thích hợp trên đất chua, đất bạc màu, đất rửa trôi mạnh Phân có thể sử dụng dưới nhiều hình thức: bón lót hay bón thúc, bón vào đất hay phun trên lá Trong số các phân đạm, urea thích hợp nhất cho việc bón trên lá Để tránh quá trình amôn hóa phân urea trên đất có thể dẫn đến mất đạm, cần bón phân sâu vào đất Do hàm lượng dinh dưỡng có trong phân cao, nên trộn phân thêm với đất bột, phân chuồng mục để tăng khối lượng cho dễ bón đều

* Phân lân:

Lân là thành phần chính của tế bào, cần thiết để tạo tế bào mới Thời kỳ nào phát triển mạnh lúa cần nhiều lân Tham gia cấu trúc AND, ARN cần thiết cho sự phân chia tế bào để cây lớn lên, đặc biệt là kích thích bộ rễ phát triển và tăng khả năng đẻ nhánh, kể cả trong điều kiện bất lợi (Đinh Thế Lộc, 2006)

Nguồn lân tự nhiên:

- Lân tự nhiên trong ruộng lúa nước phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết khí hậu, thành phần khoáng và chất hữu cơ trong đất Lân được giải phóng từ các

Trang 27

hợp chất khoáng chứa lân và các hợp chất hữu cơ trong đất Trong hầu hết các loại đất, hàm lượng lân dễ tiêu trong đất tăng lên theo thời gian ngập nước

- Ở đất quá chua và đất phèn, Al và Fe di động tăng nhẹ sau đó giảm đi theo thời gian ngập nước, điều này dẫn tới lượng lân hữu hiệu trong đất giảm đi do quá trình kết tủa muối lân-sắt và lân-nhôm

Phân lân rất quan trọng trong thời gian sinh trưởng ban đầu của cây lúa do lân tự nhiên trong đất thường không đáp ứng đầy đủ nhu cầu của cây lúa Tình trạng thiếu lân thường xảy ra phổ biến ở các vùng đất phèn, đất chua Thiếu hụt lân ở ruộng lúa nước có thể nhận biết được bằng các hiện tượng sau (Nguyễn Xuân Trường – Lê Văn Nghĩa – Lê Quốc Phong – Nguyễn Đăng Nghĩa, 2000):

- Không có tảo xuất hiện ở mép nước của ruộng

- Cây còi cọc, màu xanh tối, đôi khi có vết xanh tối

- Lúa đẻ nhánh kém, trỗ không tập trung

- Khả năng chịu hạn của cây lúa kém

- Quá trình chín chậm lại và chín không tập trung

- Số hạt trên bông giảm, tỷ lệ lép cao, năng suất thấp

Dư thừa lân biểu hiện trên cây lúa không rõ ràng tuy nhiên quá thừa lân thường dẫn tới lúa thiếu sắt, mangan, đôi khi cả kẽm

Phitin là dạng lân dự trữ trong hạt giống Phitin tăng theo mức độ lân bón trong đất Trong sự nảy mầm, phitin bị tác động bởi nhóm men hydrolaza thủy phân thành rượu inositol và orthophotphat Orthophotphat là dạng lân khoáng được cây

mạ sử dụng dần đến khi bắt đầu dinh dưỡng ngoài đất Trong thời kỳ sau đó, cây mạ

và lúa hút lân dưới dạng muối khoáng của axit orthophotphat (H3PO4) Đến khi trổ bông, lân khoáng trong thân lá di chuyển đến bông hình thành phitin trong hạt Khí hậu lạnh, lân có tác dụng ổn định năng suất lúa Lân có ý nghĩa then chốt trong quá trình sinh tổng hợp protein Bởi vậy lúa thiếu lân, NH3 tăng lên trong cây, tốc độ trổ bông và chín chậm lại Sức chống bệnh, sự hô hấp, quang hợp ở ruộng lúa thiếu lân đều giảm (Giáo trình Trồng Trọt, 1974)

Hiệu suất phân lân vào thời kỳ đẻ nhánh là cao nhất so với các thời kỳ khác,

vì sức thu hút lân cũng mạnh nhất (Giáo trình trồng trọt, 1974 Trích dẫn bởi Đào

Ngày đăng: 12/04/2018, 00:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w