1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của NAA, GA3 và KHOÁNG đa VI LƯỢNG lên SỰRỤNG TRÁI và PHẨM CHẤT TRÁI mận AN PHƯỚC (syzygium samarangense)

98 174 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

12 1.6 ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG THỰC VẬT LÊN SỰ RỤNG TRÁI, DUY TRÌ TRÁI TRÊN CÂY VÀ PHẨM CHẤT CỦA TRÁI ..... 49 3.3.2 Ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điề

Trang 1

TRẦN THỊ KHOA

LƯỢNG LÊN SỰ RỤNG TRÁI VÀ PHẨM CHẤT

TRÁI MẬN AN PHƯỚC (Syzygium samarangense)

Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Trồng Trọt Chuyên ngành: Công Nghệ Giống Cây Trồng

Cần Thơ - 2012

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Trồng Trọt Chuyên ngành: Công Nghệ Giống Cây Trồng

Tên đề tài:

LƯỢNG LÊN SỰ RỤNG TRÁI VÀ PHẨM CHẤT

TRÁI MẬN AN PHƯỚC (Syzygium samarangense)

MSSV: 3083411

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư ngành Trồng Trọt, chuyên ngành Công Nghệ Giống Cây Trồng với đề tài:

LƯỢNG LÊN SỰ RỤNG TRÁI VÀ PHẨM CHẤT

TRÁI MẬN AN PHƯỚC (Syzygium samarangense)

Do sinh viên Trần Thị Khoa thực hiện

Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011 Cán bộ hướng dẫn

PGs Ts Nguyễn Minh Chơn

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư ngành Trồng Trọt, chuyên ngành Công Nghệ Giống Cây Trồng với đề tài:

LƯỢNG LÊN SỰ RỤNG TRÁI VÀ PHẨM CHẤT

TRÁI MẬN AN PHƯỚC (Syzygium samarangense)

Do sinh viên Trần Thị Khoa thực hiện và bảo vệ trước hội đồng

Ý kiến của Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp:

Luận văn tốt nghiệp được Hội Đồng đánh giá ở mức: Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011 Hội đồng

DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông Nghiệp

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Trần Thị Khoa

Trang 6

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng

Cha Mẹ suốt đời tận tụy vì tương lai và sự nghiệp của con

Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

Thầy Nguyễn Minh Chơn đã tạo điều kiện và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian làm đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Cố vấn học tập thầy Phạm Văn Phượng cùng quý thầy cô trong Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tâm dạy bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tại trường

Chân thành cảm ơn

Anh Huỳnh Văn Trung đã tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt luận văn này

Anh Nguyễn Hùng Binh cùng các anh, chị trong Bộ môn Sinh Lý-Sinh Hóa

đã giúp đỡ em trong quá trình làm đề tài tốt nghiệp

Thành thật cảm ơn

Các bạn Truyền, Mol, Thanh, Nương, Hân, Khuyến, Nhung và các bạn trong lớp Công Nghệ Giống Cây Trồng K34 đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian thực hiện đề tài Chúc các bạn sức khỏe, thành đạt và hạnh phúc trong tương lai

Trần Thị Khoa

Trang 7

QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC

Họ và tên: Trần Thị Khoa Giới tính: Nữ Năm sinh: 16/04/1990 Dân tộc: Kinh Nơi sinh: Huyện Phụng Hiệp, Tỉnh Hậu Giang

Địa chỉ liên lạc: Ấp Cầu Xáng - Tân Bình - Phụng Hiệp - Hậu Giang Điện thoại: 0933611976

E-mail: ttkhoa11@student.ctu.edu.vn

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

1 Tiểu học

Thời gian đào tạo từ năm: 1996 đến 2001

Trường: Tiểu học Hòa An 4

2 Trung học cơ sở

Thời gian đào tạo từ năm: 2001 đến 2005

Trường: Trung học phổ thông Hòa An

3 Trung học phổ thông

Thời gian đào tạo từ năm: 2005 đến 2008

Trường: Trung học phổ thông Hòa An

Ngày … tháng … năm …… Người khai ký tên

Trần Thị Khoa

Trang 8

TRẦN THỊ KHOA, 2011 “Ảnh hưởng của NAA, GA3 và khoáng đa vi lượng lên sự

rụng trái và phẩm chất trái mận An Phước (Syzygium samarangense)” Luận văn

Tốt nghiệp Đại học, khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGs Ts Nguyễn Minh Chơn

và GA3 ở các nồng độ 10, 15, 20 ppm và đối chứng Kết quả cho thấy NAA và GA3

ở nồng độ 15 ppm cho tỷ lệ đậu trái cao hơn đối chứng lần lượt là 17,40% và 15,96%, làm năng suất tăng lên hơn 2,5 lần so với đối chứng Bên cạnh đó, cả 2 nghiệm thức còn làm tăng độ brix lần lượt là 2,09 và 1,69 so với đối chứng (khác biệt ý nghĩa 1%) và hàm lượng đường tăng lần lượt là 1,61 và 1,45 mg/100g so với đối chứng (khác biệt ý nghĩa 5%) Thí nghiệm 2 được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 8 nghiệm thức và 3 lần lặp lại mỗi lần lặp lại 3 cây với các nghiệm thức: khoáng đa vi lượng (1, 2, 3), khoáng đa vi lượng (1, 2, 3) lần lượt kết hợp với NAA 15 ppm, NAA 15 ppm + GA3 15 ppm và đối chứng Kết quả cho thấy khoáng đa vi lượng 2 + NAA 15 ppm và NAA 15 ppm + GA3 15 ppm đã làm tăng

tỷ lệ đậu trái lần lượt 15,4% và 15,96% và năng suất cùng tăng gấp hơn 2,5 lần so với đối chứng Đồng thời, cả 2 nghiệm thức còn làm tăng độ brix trái (lần lượt là 2,87-2,89), hàm lượng đường tổng số (lần lượt là 2,98-2,93 mg/100g) so với đối chứng (khác biệt ý nghĩa 1%), riêng ở nghiệm thức khoáng đa vi lượng 2 + NAA 15 ppm còn làm tăng hàm lượng protein lên 1,62% (khác biệt ý nghĩa 5%) Vậy có thể

Trang 9

MỤC LỤC

Chương Nội dung Trang

TÓM LƯỢC viii

MỤC LỤC ix

DANH SÁCH BẢNG xv

DANH SÁCH HÌNH xvii

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT xviii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM 2

1.1.1 Nguồn gốc 2

1.1.2 Đặc điểm 2

1.1.2.1 Đặc điểm thực vật 2

1.1.2.2 Đặc điểm giống mận An Phước 3

1.2 GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG 4

1.3 KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC 5

1.3.1 Điều kiện ngoại cảnh 5

1.3.2 Kỹ thuật trồng 5

1.3.2.1 Chuẩn bị đất 5

1.3.2.2 Cách trồng 6

1.3.3 Kỹ thuật chăm sóc 6

1.3.3.1 Tủ gốc và giữ ẩm 6

1.3.3.2 Tưới tiêu 6

Trang 10

1.3.3.3 Bồi đất cho cây 6

1.3.3.4 Tỉa cành và tạo tán 7

1.3.3.5 Bón phân 7

1.4 PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH 7

1.4.1 Dòi đục trái (Bactrocera dorsalic) 7

1.4.1.1 Đặc điểm hình thái 8

1.4.1.2 Mức độ gây hại 8

1.4.1.3 Biện pháp phòng trị 8

1.4.2 Nhóm sâu đục trái 9

1.4.2.1 Đặc điểm hình thái 9

1.4.2.2 Biện pháp phòng trị 9

1.5 ĐẶC TÍNH ĐẬU TRÁI, RỤNG TRÁI VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ RỤNG TRÁI 9

1.5.1 Đặc tính đậu trái và rụng trái 9

1.5.2 Nguyên nhân của sự rụng trái 10

1.5.2.1 Chất điều hòa sinh trưởng 10

1.5.2.2 Yếu tố dinh dưỡng 11

1.5.2.3 Ảnh hưởng của oxygen 12

1.5.2.4 Điều kiện ngoại cảnh 12

1.6 ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG THỰC VẬT LÊN SỰ RỤNG TRÁI, DUY TRÌ TRÁI TRÊN CÂY VÀ PHẨM CHẤT CỦA TRÁI 13

Trang 11

1.7 ẢNH HƯỞNG CỦA KHOÁNG ĐA VI LƯỢNG LÊN NĂNG SUẤT VÀ

PHẨM CHẤT TRÁI 16

1.7.1 Khoáng đa lượng 17

1.7.1.1 Đạm 17

1.7.1.2 Lân 17

1.7.1.3 Kali 18

1.7.1.4 Canxi 19

1.7.1.5 Magiê 20

1.7.1.6 Lưu huỳnh 20

1.7.2 Khoáng vi lượng 21

1.7.2.1 Sắt 21

1.7.2.2 Đồng 21

1.7.2.3 Kẽm 21

1.7.2.4 Bo 22

1.7.2.5 Mangan 22

1.8 ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ KẾT HỢP CÁC CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG THỰC VẬT VÀ DINH DƯỠNG LÊN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT CÂY TRỒNG 23

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 25

2.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THÍ NGHIỆM 25

2.2 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 25

2.2.1 Vật liệu thí nghiệm 25

2.2.2 Hóa chất và vật tư nông nghiệp 25

2.2.3 Dụng cụ thí nghiệm 26

Trang 12

2.3 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 26

2.3.1 Các chỉ tiêu nông học 29

2.3.2 Các chỉ tiêu phân tích 30

2.3.2.1 Hàm lượng nước 30

2.3.2.2 Tổng chất rắn hòa tan 30

2.3.2.3 Hàm lượng đường tổng số 30

2.3.2.4 Hàm lượng vitamin C 32

2.3.2.5 Hàm lượng protein hòa tan 34

2.3.3 Chỉ tiêu đánh giá cảm quan 35

2.3.3.1 Điều kiện tổng quát tiến hành đánh giá cảm quan 35

2.3.3.2 Phương pháp đánh giá cảm quan 36

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 37

3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT THÍ NGHIỆM 37

3.2 THÍ NGHIỆM 1: ẢNH HƯỞNG CỦA NAA VÀ GA3 ĐẾN TỶ LỆ ĐẬU TRÁI MẬN AN PHƯỚC 37

3.2.1 Ảnh hưởng của NAA và GA3 lên tỷ lệ đậu trái mận An Phước 37

3.2.2 Ảnh hưởng của NAA và GA3 đến kích thước trái mận An Phước lúc thu hoạch 39

3.2.3 Ảnh hưởng của NAA và GA3 đến trọng lượng và năng suất trái mận An Phước lúc thu hoạch 40 3.2.4 Ảnh hưởng của NAA và GA3 đến ngày thu hoạch và tỷ lệ dòi đục trái

Trang 13

An Phước 42

3.2.5.1 Ảnh hưởng của NAA và GA3 đến độ brix (tổng chất rắn hòa tan)

và hàm lượng đường trên trái mận an Phước 42 3.2.5.2 Ảnh hưởng của NAA và GA3 đến hàm lượng nước, hàm lượng

vitamin C và hàm lượng protein trên mận An Phước 44

3.3 THÍ NGHIỆM 2: ẢNH HƯỞNG CỦA KHOÁNG ĐA VI LƯỢNG VÀ

CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG LÊN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT MẬN AN PHƯỚC 45 3.3.1 Ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng lên thành phần năng suất và năng suất mận An Phước 45

3.3.1.1 Ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng

lên tỷ lệ đậu trái mận An Phước 45 3.3.1.2 Ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng

lên kích thước và trọng lượng trái mận An Phước lúc thu hoạch 47 3.3.1.3 Ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng

lên ngày thu hoạch trái, tỷ lệ ruồi đục trái và năng suất mận An Phước lúc thu hoạch 49

3.3.2 Ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng đến

các chỉ tiêu phẩm chất trái mận An Phước 50

3.3.2.1 Ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng

đến độ brix (tổng chất rắn hòa tan) và hàm lượng đường của trái mận An Phước 50 3.3.2.2 Ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng

Trang 14

đến hàm lượng nước, hàm lượng vitamin C và hàm lượng protein

trong trái mận An Phước 52

3.3.3 Đánh giá cảm quan ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng lên phẩm chất trái mận An Phước 53

3.3.3.1 Đánh giá cảm quan ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng đến chỉ tiêu chất lượng của trái mận An Phước 54 3.3.3.2 Đánh giá cảm quan ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng đến chỉ tiêu mỹ quan của trái mận An Phước 55

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58

4.1 KẾT LUẬN 58

4.2 ĐỀ NGHỊ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ CHƯƠNG 1 66

PHỤ CHƯƠNG 2 67

Trang 15

DANH SÁCH BẢNG

Bảng Tựa bảng Trang

2.1 Các nghiệm thức và liều lượng phun của thí nghiệm 1 27

2.2 Thành phần và hàm lượng của khoáng đa vi lượng 1 28

2.3 Thành phần và hàm lượng của khoáng đa vi lượng 2 28

2.4 Thành phần và hàm lượng của khoáng đa vi lượng 3 28

2.5 Các nghiệm thức và liều lượng phun của thí nghiệm 2 29

2.6 Xây dựng đường chuẩn theo phương pháp của Dubois (1956) 31

2.7 Bảng xây dựng đường chuẩn protein theo phương pháp Lowry 34

2.8 Nội dung mô tả theo thang điểm ưa thích (Stone H et al., 1993) 36

3.1 Ảnh hưởng của NAA và GA3 lên kích thước trái mận An Phước lúc thu hoạch 40

3.2 Ảnh hưởng của NAA và GA3 đến trọng lượng và năng suất trái mận An Phước lúc thu hoạch 41

3.3 Ảnh hưởng của NAA và GA3 đến ngày thu hoạch và tỷ lệ ruồi đục trái mận An Phước 42

3.4 Ảnh hưởng của NAA và GA3 đến độ brix và hàm lượng đường trên trái mận An Phước 43

3.5 Ảnh hưởng của NAA và GA3 đến hàm lượng nước, hàm lượng vitamin C và hàm lượng protein trong trái mận An Phước 44

3.6 Ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng lên tỷ lệ đậu trái mận An Phước 46 3.7 Ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng lên kích

Trang 16

thước và trọng lượng trái mận An Phước lúc thu hoạch 48 3.8 Ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng lên năng suất, tỷ lệ ruồi đục trái mận An Phước lúc thu hoạch và ngày thu hoạch trái 50 3.9 Ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng đến độ brix và hàm lượng đường của trái mận An Phước 51 3.10 Ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng đến hàm lượng nước, hàm lượng vitamin C, hàm lượng protein trong trái mận

An Phước 52 3.11 Đánh giá cảm quan ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng đến các chỉ tiêu chất lượng của trái mận An Phước 54 3.12 Đánh giá cảm quan ảnh hưởng của khoáng đa vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng đến các chỉ tiêu mỹ quan của trái mận An Phước 56

Trang 17

DANH SÁCH HÌNH

Hình Tựa hình Trang

2.1 Trái mận được 2 tháng tuổi (tính từ khi nhú mầm hoa) 27

2.2 Phản ứng oxy hóa ascobic acid bởi enzyme peroxidase 32

2.3 Mối tương quan giữa độ hấp thu và thời gian 33

3 Ảnh hưởng của NAA và GA3 lên tỷ lệ đậu trái mận An Phước (%) 38

Trang 18

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

Trang 19

MỞ ĐẦU

Mận (Syzygium samarangense [Blume] Merr & L M Perry), là loại cây trồng

nhiệt đới được trồng phổ biến ở các nước Đông Nam Á, Đài Loan, Ấn Độ và cũng phát triển ở các nước Trung và Nam Mỹ Cây mận là một trong những loại cây ăn trái được nhiều người tiêu dùng trong nước cũng như trên thế giới rất ưa chuộng bởi đây là loại cây cho hiệu quả kinh tế cao, chứa nhiều vitamin và dưỡng chất cần thiết cho cơ thể, không những dùng để ăn tươi, chế biến mà còn có giá trị cao trong y học

Do thích nghi với điều kiện nhiệt độ, khí hậu ở nước ta nên cây mận được trồng ở nhiều nơi, cả miền Bắc lẫn miền Nam Riêng ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) mận được trồng chủ yếu ở các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Hậu Giang, Tiền Giang, với các giống mận được trồng phổ biến như: mận Trắng Sữa, mận Xanh Đường, mận An Phước, mận Hồng Đào Đá, Trong đó, mận

An Phước là giống mận có nhiều ưu điểm như: dễ trồng, ít tốn công chăm sóc, nhanh thu hoạch, cho năng suất cao, màu sắc trái đẹp, trái to, ngọt, thịt chắc, giá cả

ổn định và ở mức cao hơn các giống mận khác nên được các nhà vườn quan tâm phát triển và diện tích ngày càng tăng Tuy nhiên, do hiện tượng rụng sinh lý và ảnh hưởng của thời tiết nhất là vào mùa mưa đã làm cho tỷ lệ đậu trái của mận giảm đáng kể Đồng thời, mưa nhiều cũng làm phẩm chất của trái bị giảm Ngoài ra, việc người dân không tỉa bớt trái/chùm vừa làm kích thước trái không to và phát triển không đồng đều vừa làm tăng tỷ lệ rụng trái do dinh dưỡng không đủ để tập trung nuôi trái Vì thế, năng suất và giá thành của trái mận giảm dẫn đến giảm lợi nhuận của người dân Chính vì vậy, đề tài: “Ảnh hưởng của NAA, GA 3 và khoáng đa vi

lượng lên sự rụng trái và phẩm chất trái mận An Phước (Syzygium

samarangense)” được thực hiện nhằm mục đích tìm ra chất thích hợp có thể cải

thiện được năng suất và nâng cao phẩm chất của trái mận An Phước

Trang 20

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM

1.1.1 Nguồn gốc

Mận (Syzygium samarangense [Blume] Merr & L M Perry) thuộc họ sim

(Myrtaceae) gồm 100 chi và 3000 loài phân bố chủ yếu ở các nước nhiệt đới, cận

nhiệt đới trên toàn thế giới và ôn đới ở vùng Australia (Wagner et al., 1999) Syzygium là một chi trong họ sim bao gồm một số loài phổ biến trồng để lấy quả ở

Ấn Độ, Malaysia, Sri Lanka Ở nước ta, họ sim có khoảng 13 chi với gần 100 loài (Hoàng Thị Sản, 2003)

Theo Morton (1987), cây mận được trồng nhiều ở khu vực Đông Nam Á như: Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Lào, Đài Loan Trước 1903, Jamaica và một số đảo Curacao, Aruba cũng bắt đầu trồng Hiện nay, cây mận được đem từ Đông Nam

Á sang những quần đảo Thái Bình Dương (Panggabean, 1992)

1.1.2 Đặc điểm

1.1.2.1 Đặc điểm thực vật

- Rễ: Theo Trần Thế Tục (2000), bộ rễ mận thường ăn cạn ở tầng đất mặt

20-40 cm, rễ có thể lan ra gấp 1-2 lần tán Trên rễ chính và các vùng lân cận có khả năng bật mầm nên có thể lợi dụng tính chất này để nhân giống Rễ mận ăn cạn nên

có thể trồng ở tầng đất có tầng canh tác mỏng Rễ cạn thì chống chịu yếu, cho nên phải làm cỏ sạch và sớm (Vũ Công Hậu, 2000)

- Thân: mận là cây thân gỗ có kích thước trung bình, vỏ thân màu nâu nhạt, nhẵn Cành nhiều và phân bố tự nhiên tương đối dài (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2008) Cây mận là cây nhiệt đới, có chiều cao từ 5-15 m, cao nhất không quá 15 m tùy theo điều kiện môi trường (Morton, 1987) Thân phân cành thấp, nhánh hình trụ khá to và nhánh non có tiết diện vuông dẹp (Võ Văn Chi,

Trang 21

- Lá: Theo Phạm Hoàng Hộ (2003), lá mận có phiến to, hơi thơm, đuôi lá tròn hay hình tim, cuống lá dài 4-8 mm, có hai gân bìa lá Lá mận thuộc loại lá đơn, mọc đối, dạng thuôn bầu dục, đầu lá thuôn hẹp nhọn, gốc lá tròn hoặc hơi hình tim dài 15-20 cm và rộng 6-12 cm (Trần Hợp, 2002) Lá có màu xanh và nhẵn cả hai mặt, đọt non có màu đỏ sẫm, bên trong lá có hạch tinh dầu nên khi vò nát tỏa ra mùi thơm nhẹ dễ chịu (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2008)

- Hoa: Hoa mận thuộc hoa lưỡng tính, bầu noãn ở phía dưới có nhiều nhị và hoa tự thụ phấn là chính (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2008) Hoa mận có màu vàng trắng, mọc thành chùm ở các nách lá, mỗi chùm hoa khoảng 3-30 hoa, có hương thơm (Morton, 1987) Theo Phạm Hoàng Hộ (2003), hoa mận mọc thành chùm ở nách lá trên nhánh non, cao 3-4 mm, hoa có màu trắng, có 4 cánh với nhiều tiểu nhụy màu trắng, vòi nhụy xanh Đường kính hoa khoảng 3-4 cm và lá đài hợp với nhau thành ống cao 1,5 cm (Trần Hợp, 2002) Nụ hoa hình quả lê, dài 15

mm và rộng 10 mm Đài hoa có 4 thùy tròn, gập xuống dài 8 mm và rộng 3,5 mm Cánh hoa tròn mỏng có đường kính từ 10-12 mm Nhị dài 17-20 mm đính trên một vành rộng; bao phấn hình bầu dục thuôn, không có phần phụ (Võ Văn Chi, 2004) Mận ra hoa tự nhiên từ tháng 9-10 dương lịch Từ khi hoa nở đến thu hoạch khoảng 105-120 ngày (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn-Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009)

- Trái: Trái mận nhỏ có hình bầu dục, phần lớn hơi nhỏ lại về phía cuống Vỏ mận rất mỏng, có màu trắng, xanh, hồng, đỏ tía tùy theo giống Vòi nhụy và đài hoa còn dính ở đầu trái đến khi già Phần lớn mận có một hạt, đôi khi có 2-3 hạt, hạt hình bầu dục hơi dẹt, màu nâu Hạt mận đa phôi, có thể cho 2-3 cây con (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2008) Trái mận nặng từ 70-200 g, loại trái được tiêu thụ nhiều và nổi tiếng ở Thái Lan

1.1.2.2 Đặc điểm giống mận An Phước

Giống mận An Phước được công ty VACDONA nhập từ Thái Lan (tên Thái là Thongsamsri) vào năm 1999 và trồng đầu tiên tại xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nên có tên gọi là mận An Phước Ngoài ra còn có tên là mận Dona do

Trang 22

cục Sở hữu công nghiệp cấp chứng nhận thương hiệu vào năm 2003 Hiện nay, giống này được nhân ra trồng rộng rãi tại các tỉnh miền Đông Nam bộ và ĐBSCL

do dễ trồng, không kén đất đai và ít cần chăm sóc so với các chủng loại cây ăn quả khác (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn-Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009)

Giống mận An Phước có đặc điểm cây sinh trưởng mạnh, lá to và có màu xanh sậm, đọt non màu đỏ sẫm Hoa mọc chùm từ nách lá Trái to, trung bình 100-150 g/trái (có thể đến 200 g/trái), trái dạng hình chuông, vỏ màu đỏ sậm đẹp, bề mặt vỏ láng và có gân nổi dọc từ đỉnh trái đến đáy trái Thịt trái màu trắng xanh, rất giòn và ngọt (độ brix 11-14%) và không hạt Cây cho năng suất cao: Năm thứ hai đạt khoảng 20-30 kg/cây, năm thứ ba: 30-40 kg/cây, năm thứ tư: 50-70 kg/cây, các năm sau có thể đạt trên 100 kg/cây (trên 50 tấn/ha) Mùa vụ thu hoạch: vụ thuận từ tháng 2-6 Dương lịch và vụ nghịch (xử lý ra hoa) từ tháng 8-1 Dương lịch Cây chiết hay ghép cho trái đầu tiên từ 12-18 tháng sau khi trồng với tỷ lệ đậu trái tự nhiên cao thường mọc chùm 3-7 trái Giống có ưu điểm là cho trái chủ yếu trong tán cây nên hạn chế sự gây hại của dơi và chim, cây cho năng suất cao với 2-3 vụ trái/năm Trái đẹp và phẩm chất ngon nên được thị trường ưa chuộng nhất hiện nay Giống cũng tiếp hợp tốt khi ghép trên gốc các giống mận địa phương và cả cây trâm (loại cây chịu ngập tốt) Giống này có nhược điểm là trái dễ rụng, dễ bị ruồi đục trái tấn công, sâu đục trái và cả bệnh thán thư (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn-Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009)

1.2 GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG

Theo Trần Thị Mai (2001), trái mận có giá trị dinh dưỡng khá, ăn dễ tiêu, nhuận trường (đặc biệt là mận khô), có thể làm mứt, xiro, rượu Ngoài ra, một số bộ phận của mận như: thân, vỏ, rễ, lá được dùng làm thuốc kháng sinh (Trần Hợp, 2002) Hoa mận có công dụng kháng khuẩn và trị trái rạ (Phạm Hoàng Hộ, 2000) Trái mận chứa khoảng 82% nước, 8-10% đường bột, 1,5% acid, các chất

Trang 23

g protit; 1,3 g acid; 28 mg Ca; 20 mg P; 0,1 mg carotene; 3 mg vitamin C đồng thời còn có các vitamin B1, B2… (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2002)

1.3 KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1.3.1 Điều kiện ngoại cảnh

Nhiệt độ thích hợp cho cây phát triển khoảng 25-350C Nhiệt độ dưới 150C cây

ít ra hoa Cây mận có khả năng chịu mặn và chịu úng tương đối cao Vì vậy mận có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau Đất thích hợp cho trồng mận là đất phù sa hoặc đất thịt nhẹ pha cát Độ pH thích hợp từ 5,5-7,0 (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2008)

Trái mận phát triển bình thường trong nhiệt độ ấm Nhiệt độ thấp cản trở tăng trưởng hoa và quả, trong khi nhiệt độ cao thúc đẩy tăng trưởng hoa quả và ức chế sự phát triển Cây mận cho trái nhiều trong năm nếu cung cấp đầy đủ dinh dưỡng thì cây có thể mang hơn 200 chùm trái/cây Sự phát triển của các trái trong một chùm cũng không giống nhau với nhiều loại trái có kích thước khác nhau trong mỗi chùm khi trưởng thành (Chiu, 2003)

Trang 24

1.3.2.2 Cách trồng

Đào một hốc nhỏ ở giữa hố đã lấp phân rồi đặt cây con Cây con khi trồng cần được bảo vệ rễ và không để vỡ bầu Lắp đất nhỏ quanh gốc cây, dùng chân nén nhẹ Cắm cọc để giữ cây, ủ rơm rạ, cỏ khô quanh gốc để giữ ẩm Trồng xong cần tưới nước ngay (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2008) Về mật độ và khoảng cách trồng, ở nước ta nên trồng mật độ trung bình với khoảng cách 5x5 m hoặc 5x4 m (400-500 cây/ha) (Trần Thế Tục, 2000)

1.3.3 Kỹ thuật chăm sóc

1.3.3.1 Tủ gốc và giữ ẩm

Sau khi trồng nên cắm cọc để giữ cây, tủ rơm rạ, cỏ khô quanh gốc để giữ ẩm Trồng xong cần tưới nước ngay, vườn trồng cây cần thoát nước tốt trong mùa mưa (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2008)

1.3.3.2 Tưới tiêu

Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2008), nên tưới nước thường xuyên cho cây nhất là khi cây còn nhỏ và trong thời gian khô hạn Thời kỳ chuẩn bị ra hoa cần ngưng nước, giữ gốc khô ráo để ức chế sinh trưởng của cây, kích thích tạo mầm hoa Thời kỳ cây mang trái thì tưới nước đầy đủ để cây nuôi trái Cây mận cũng cần được tưới nước đầy đủ để đất trồng đủ ẩm độ Trong mùa nắng hạn thiếu nước cây sẽ héo lá, kém khả năng đậu trái và trái dễ bị rụng nên cần xới xáo quanh tán để kích thích rễ ăn ra xa, tưới đủ nước và giữ ẩm cho cây Trong mùa mưa cần khai nước mương, chống ngập úng

1.3.3.3 Bồi đất cho cây

Hàng năm nên bồi thêm đất cho cây vào đầu mùa khô như bùn mương, đất khô,… dày 2-3 cm, xung quanh tán cây kết hợp với việc bón phân hữu cơ hay phân hóa học

Trang 25

1.3.3.4 Tỉa cành và tạo tán

Cần tỉa cành hằng năm sau khi thu hoạch trái, nhất là sau mùa mưa Cắt bỏ hết các cành mọc ngược, cành vượt, cành già cỗi, sâu bệnh, các chồi dại mọc ra từ gốc ghép và các nhánh thấp gần mặt đất, làm sao cho tất cả cành lá của cây đều nhận được ánh sáng mặt trời, tạo thông thoáng giúp cây quang hợp tốt Cần tạo tán cây mận theo hình chữ Y để cây không quá cao, vừa tầm chăm sóc và thu hoạch Tạo tán cân đối các cành cấp I với thân cây, bấm đọt cành cấp I; năm sau bấm đọt cành cấp II để tạo khung tán cây, khống chế chiều cao cây khoảng 3,5 cm trở lại Sau khi cây đậu trái cần tỉa bớt trái và để khoảng 2-3 trái/chùm để trái có kích thước to và đồng đều

1.3.3.5 Bón phân

Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2008), cần bón phân đầy

đủ để cây cho năng suất cao và phẩm chất trái tốt Năm thứ nhất bón mỗi cây

300-500 g NPK (16-16-8) và chia làm 3-4 lần bón trong năm Năm thứ hai bón gấp hai lần lượng phân bón năm thứ nhất và cũng chia 3-4 lần bón trong năm Năm thứ ba trở đi khi cây cho trái ổn định bón khoảng 2-4 kg NPK (16-16-8) hoặc 0,2-0,5 kg Urê + 0,5-0,7 kg Super lân + 0,2-0,3 kg KCl và chia làm ba lần bón trong năm Vào thời gian sau thu hoạch cần bón bằng 1/2 lượng phân bón cả năm, số còn lại chia bón lúc trước và sau khi ra hoa, đậu trái Ngoài ra, hằng năm có thể bón thêm mỗi cây 5-10 kg phân hữu cơ hoai mục để cây phát triển tốt hơn

1.4 PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH

1.4.1 Dòi đục trái (Bactrocera dorsalic)

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2002), ruồi đục trái (Bactrocera dorsalic) phân bố

nhiều nơi trên thế giới và chủ yếu tại các nước Châu Á như: Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Ở ĐBSCL, đây là đối tượng gây hại quan trọng nhất trên mận, ổi và táo

Trang 26

1.4.1.1 Đặc điểm hình thái

Trứng lúc mới đẻ có màu trắng sữa, khi nở chuyển sang màu vàng nhạt Dòi lúc mới nở dài khoảng 1,5 mm, khi phát triển đầy đủ dài 6-8 mm (tùy thuộc vào điều kiện thức ăn) Miệng dòi có móc, móc miệng có độ hóa cứng trung bình Thành trùng có thể dài 7-9 mm, sải cánh rộng 1,3 mm, đầu có dạng hình bán cầu, mặt trước màu nâu đỏ với 6 chấm nhỏ màu đen Thành trùng đẻ trứng trong trái, khi phát triển đầy đủ dòi búng mình rơi xuống đất để hóa nhộng trong đất, thời gian nhộng khoảng 7-12 ngày hoặc dài hơn nếu gặp lạnh Thành trùng hiện diện suốt năm, thời gian sống khoảng 1-2 tháng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2002)

1.4.1.2 Mức độ gây hại

Trên mận dòi đục trái gây hại từ lúc trái còn rất nhỏ Tuổi càng lớn dòi đục càng sâu vào phía trong làm trái bị hư và thối Ngay sau khi trứng được đẻ trong trái, trái sẽ bị ứ nước nơi vết đẻ trứng Điểm này sau đó sẽ thâm lại, trái bị hại sẽ rụng một thời gian sau đó Trong cùng một trái có thể phát hiện nhiều dòi trong trái cùng một lúc với các tuổi khác nhau Nơi gây hại thường là nơi để cho các tác nhân gây hại khác tấn công như: nấm, mốc, vi sinh vật, Mức độ gây hại của chúng rất cao có thể làm thất thu 100% năng suất trái cây

1.4.1.3 Biện pháp phòng trị

- Thu gom những trái đã bị nhiễm ra khỏi vườn, ngâm vào trong nước hoặc chôn sâu vào trong đất để diệt nhộng trong đất Có thể sử dụng biện pháp bao trái (bao giấy dầu, bao giấy keo) để cho hiệu quả cao

- Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc hóa học phối hợp với chất hấp dẫn: phối hợp thuốc trừ sâu (gốc lân hoặc gốc cúc tổng hợp) với bẫy có mồi là protein thủy phân Cả thành trùng đực và cái đều có thể bị dẫn dụ bởi những protein có tiết ra ammonia Phun hỗn hợp này trên một số cây giới hạn và chỉ một số điểm trên cây trong vườn không phun tràn lan cả vườn (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2002)

Trang 27

1.4.2.2 Biện pháp phòng trị

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2002), vào giai đoạn hoa sắp rụng nhụy, nếu mật

số hoa bị nhiễm cao (5% số hoa hiện diện, quan sát ngẫu nhiên 20-40 chùm) có thể

sử dụng các loại thuốc gốc cúc tổng hợp để phòng trị Biện pháp tốt nhất là sử dụng các loại bao giấy dầu, bao giấy keo để bao trái khi vừa tượng, vừa ngừa được sâu đục trái và dòi đục trái, đồng thời không cần sử dụng thuốc trừ sâu giúp giảm chi phí và không gây độc hại cho người và môi trường

1.5 ĐẶC TÍNH ĐẬU TRÁI, RỤNG TRÁI VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ RỤNG TRÁI

1.5.1 Đặc tính đậu trái và rụng trái

Theo Nguyễn Minh Chơn (2010) và Hoàng Đức Phương (2000), sự rụng được định nghĩa là sự tách rời của một phần thực vật như lá, hoa, trái, hột, cành hoặc bộ

Trang 28

phận khác của cây mẹ Sự rụng của lá, cành, hoa, trái và hột trong phần lớn loài cây đến trước bằng sự thành lập vùng hay tầng rời từ những tế bào đặc biệt, muốn hạn chế sự rụng cần phải hạn chế sự thành lập tầng rời

Theo Nunez-Elisea và Daventport (1983), sự rụng trái non xuất hiện trong những tuần đầu tiên sau khi hoàn tất thời kỳ ra hoa Ngoài trừ xu hướng giữ trái trên

vị trí lá đài của phát hoa, sự rụng hoa và những trái non là ngẫu nhiên, nó có thể rụng bất kỳ loại trái non nào bất chấp kích thước hoặc vị trí trên phát hoa

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Huỳnh Giao (2011) cho thấy sự rụng trái có thể xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển của trái mận Rụng trái là một vấn

đề rất phổ biến ở các vườn trồng mận, hiện tượng rụng trái không chỉ xuất hiện tại thời gian trái phát triển mà sự rụng trái non bắt đầu từ khi thụ phấn đến khi đậu trái cũng như trong suốt thời kỳ tăng trưởng của trái Sự đậu trái và rụng trái non được ghi nhận từ khi bắt đầu đậu trái (tính từ lúc hoa rụng hết chỉ nhị) đến thu hoạch kéo dài 44,1 ± 0,4 ngày Mận An Phước có 2 giai đoạn rụng trái non là: giai đoạn rụng hoa ở thời kì đầu và giai đoạn rụng trái non ở 28 ngày sau khi đậu trái, càng về sau

tỷ lệ rụng trái càng giảm Từ khi đậu trái đến thu hoạch tỷ lệ rụng trái trên nhánh chính trung bình là 13,67 ± 5,23%

1.5.2 Nguyên nhân của sự rụng trái

1.5.2.1 Chất điều hòa sinh trưởng

Ở trái sau khi chín hoặc trước khi chín mà rụng là do chất điều hòa sinh trưởng trong hạt giảm hoặc hoàn toàn tiêu mất Ở trái táo khi phát triển nếu hạt cung cấp đầy đủ chất điều hòa sinh trưởng cho trái thì sẽ không rụng Trong điều kiện tự nhiên, do nồng độ chất điều hòa sinh trưởng phân bố không đều hoặc do xử lý không đều ở các vị trí cũng gây rụng, đó là do chất điều hòa sinh trưởng quá liều làm cho vách tế bào hình thành không đầy đủ Xử lý nồng độ chất điều hòa sinh trưởng khác nhau ở vị trí khác nhau có thể xúc tiến hoặc phòng chống rụng (Hoàng Đức Phương, 2000)

Trang 29

1.5.2.2 Yếu tố dinh dưỡng

 Các nguyên tố khoáng

Cân bằng dinh dưỡng là yêu cầu đầu tiên của cây ăn trái để có thể hoàn thiện quá trình trưởng thành Trái phát triển rất nhanh và chúng cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng Chỉ có những trái phát triển khỏe mạnh, được cung đầy đủ dinh dưỡng, thuần thục mới cho năng suất cao

- Đạm

Theo nhận định của Nguyễn Minh Chơn (2010) thì cây được cung cấp đầy đủ đạm cũng duy trì lá lâu hơn và cho nhiều trái hơn cây thiếu đạm Những cây này có hàm lượng amino acid và những hợp chất chứa đạm cao hơn là yếu tố giúp cho sự sinh tổng hợp DNA, RNA, protein và những thành phần khác có khả năng ngăn ngừa rụng Ngoài ra, cây có chứa đạm cao cũng chứa nhiều auxin và cytokinin hơn cây thiếu đạm

Tỷ lệ C/N có liên quan đến sự hình thành mầm hoa và sự rụng trái Đạm quá nhiều xúc tiến sinh trưởng dinh dưỡng tăng lên trái dễ rụng, tuy nhiên thiếu đạm cũng xúc tiến sự rụng Đạm còn là nguyên liệu hợp thành các chất điều hòa sinh trưởng (Hoàng Đức Phương, 2000)

- Canxi và kẽm

Bùi Trang Việt (2000) đã kết luận Ca2+ có tác dụng kiểm soát quá trình tăng trưởng và rụng trái ở nồng độ thấp Theo Nguyễn Minh Chơn (2010), cây thiếu kẽm

và canxi đều làm lá dễ rụng Thiếu canxi làm cho lá cam quýt rụng vì trở ngại cho

sự tổng hợp calcium pectate trong tầng gắn kết với các tế bào

 Chất carbohydrate

Nguyễn Minh Chơn (2010) cho rằng, hàm lượng carbohydrate cao sẽ làm giảm sự rụng và ngược lại Khi cây được trồng dưới điều kiện ánh sáng tối ưu sẽ kích thích quang hợp để sinh tổng hợp nhiều carbohydrate và làm chậm sự rụng

Trang 30

Cây trồng khi thiếu carbohydrate sẽ có hiện tượng rụng lá, hoa, quả Khi tăng hàm lượng carbohydrate làm cho vách tế bào dày lên nên khó rụng Ngoài ra, carbohydrate còn góp phần vào sự hình thành phôi và chất điều hòa sinh trưởng thực vật Việc tăng tích lũy carbohydrate đi đôi với việc ngăn ngừa đạm quá nhiều, cung cấp nước thích đáng, tăng cường ánh sáng có thể phòng chống rụng (Hoàng Đức Phương, 2000)

1.5.2.3 Ảnh hưởng của oxygen

Hàm lượng oxy cao cũng làm gia tăng sự rụng Vấn đề này được giả thiết là

do sự gia tăng oxy sẽ kích hoạt enzyme IAA oxidase dẫn đến sự oxy hóa IAA và làm giảm IAA nội sinh trong mô Giả thiết khác cho rằng oxy kích thích sự chuyển hóa ACC thành ethylene và kích thích sự rụng (Nguyễn Minh Chơn, 2010)

1.5.2.4 Điều kiện ngoại cảnh

Môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến các biến đổi sinh lý, sinh hóa bên trong thực vật, do đó có tác động rất lớn đến sự rụng trái Yếu tố môi trường cảm ứng sự lão suy như khô hạn, cạnh tranh dinh dưỡng, mất cân bằng dinh dưỡng, nấm bệnh hay côn trùng tấn công đều kích thích sự rụng trái (Bùi Trang Việt, 1989; Vũ Văn

Vụ, 1998)

 Nhiệt độ

Theo Vũ Công Hậu (2000), mận ưa khí hậu lục địa mùa nóng và lạnh khác hẳn nhau, độ ẩm không khí cao, do đó những vùng xa biển là thích hợp nhất Mận yêu cầu nhiệt độ bình quân từ 180C, nhiệt độ trung bình mùa hè 22-240C, nhiệt độ tuyệt đối không quá 350C (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)

 Ẩm độ

Khi nhiệt độ cao làm thay đổi độ ẩm không khí nên hoạt động hô hấp của cây tăng, làm cho những trái non mới được hình thành bị khô héo dẫn đến hiện tượng rụng Cung cấp nước cho cây trong giai đoạn đậu trái sẽ làm gia tăng năng suất trái

Trang 31

 Gió

Hoạt động của gió cũng ảnh hưởng đến sự rụng trái Khi gió lớn trái bị dao động nhiều nên dẫn đến trái rụng Tuy nhiên, kết quả đo tốc độ của gió hàng ngày cho thấy không có mối tương quan giữa tốc độ gió trung bình đến sự rụng trái (Singh, 1954) Điều này cho thấy tốc độ gió trung bình hằng ngày không ảnh hưởng tới sự rụng trái nhưng tốc độ gió cực đại là nguyên nhân gây ra sự rụng trái

1.6 ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG THỰC VẬT LÊN SỰ RỤNG TRÁI VÀ PHẨM CHẤT CỦA TRÁI

Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng thực vật để điều khiển khả năng đậu trái, kích cỡ và hình dạng của trái đã trở thành quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay Vì việc sử dụng các chất này có ảnh hưởng đến kích thước trái, màu sắc

và hình dạng trái, làm gia tăng năng suất và phẩm chất trái Do đó, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn

1.6.1 Auxin

Auxin được tổng hợp từ tryptophan, tập trung chủ yếu ở ngọn thân, lá non và hạt đang phát triển và được vận chuyển đến các bộ phận khác để kích thích sự tăng

trưởng tế bào (Bandurski et al., 1995, được trích bởi Trần Văn Hâu, 2008) Auxin

liên quan đến sự tăng trưởng trái, sử dụng auxin ngoại sinh ở các giai đoạn phát triển của hạt làm cho trái tăng trưởng tốt (Morgan, 1997) Sự hiện diện của auxin có thể là chất ngăn cản sự rụng trái Vì vậy, khi lượng auxin trong trái bắt đầu thấp đi thì hiện tượng rụng trái non sẽ xảy ra tiếp theo sau đó

Theo Nguyễn Minh Chơn (2010), auxin có liên quan đến nhiều quá trình sinh

lý trong cây, có liên quan đến sự nở rộng của tế bào làm tăng kích thước trái Cũng theo Nguyễn Minh Chơn (2010), xử lý auxin xa tầng rụng (về phía lá của tầng rụng) làm giảm sự lão hóa và hạn chế sự rụng Xử lý auxin ngoại sinh gần tầng rụng đặc biệt về phía thân của tầng rụng sẽ kích thích sự lão hóa và gia tăng sự rụng

Napthalene acetic acid (NAA) là dạng auxin tổng hợp, khi xử lý vào giai đoạn trước khi trổ hoa hoặc sau khi đậu trái sẽ có tác dụng gia tăng kích thước trái, cải

Trang 32

thiện sự đậu trái và duy trì trái trên cây (Prakash và Ram, 1986) Theo Lê Văn Hòa

và Nguyễn Bảo Toàn (2004), NAA được hình thành ở đỉnh sinh trưởng của các mô đang sinh trưởng mạnh như: lá, hoa, trái, đỉnh phôi đang nảy mầm,… Từ đỉnh sinh trưởng NAA được vận chuyển xuống các bộ phận bên dưới theo hướng của trọng lực, càng xa đỉnh sinh trưởng thì hàm lượng càng giảm

Theo Trần Văn Hâu (2005) để tăng khả năng đậu trái trên xoài có thể phun các sản phẩm chứa Bo trước khi hoa nở hay NAA giai đoạn 3-4 ngày sau khi trổ hoa Tuy nhiên nếu phun NAA với nồng độ cao có thể gây rụng trái non do NAA kích thích sự hình thành ethylene làm rụng trái

Theo kết quả nghiên cứu của Rawash et al (1983) về ảnh hưởng của một số

chất điều hòa sinh trưởng trên giống xoài Taimour vào giai đoạn sau khi trổ hoa trong hai năm 1993 và 1994 được xử lý với NAA nồng độ 40 ppm đã có tác dụng gia tăng số lượng trái trưởng thành trên phát hoa, số trái trưởng thành trên cây, năng suất cũng như phần trăm chất rắn hòa tan (TSS) trong nước trái

Bùi Phương Mai (2003) đã sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng thực vật NAA (40 ppm), GA3 (30 ppm) và hợp chất Đại Học Cần Thơ (ĐHCT) (10 ppm) ở dạng riêng lẽ hay kết hợp, xử lý hai lần (1 và 4 tuần sau khi đậu trái) trên xoài cát Hòa Lộc cho thấy: các chất điều hòa sinh trưởng thực vật đều có hiệu quả làm giảm rụng trái non, tăng khả năng đậu trái và làm tăng năng suất Cũng theo tác giả thì việc phun các chất điều hòa sinh trưởng thực vật không làm thay đổi một số đặc tính trái lúc thu hoạch như: TSS, pH, độ cứng trái, nhưng làm tăng hàm lượng đường tổng số, hàm lượng tinh bột và chất khô ổn định

1.6.2 Gibberellin

Nhóm gibberellin (GA) có khoảng 140 chất khác nhau, nhưng thông dụng nhất là từ GA1 đến GA5, trong đó GA3 (Gibberellic Acid) có tác dụng mạnh nhất (Nguyễn Minh Chơn, 2010) Gibberellin được tổng hợp ở lá non, phôi đang phát triển, chóp rễ và giảm dần khi các bộ phận non trưởng thành (Trần Văn Hâu, 2008)

Trang 33

Nhiều nghiên cứu cho thấy gibberellin có thể kích thích sự tăng trưởng của trái Khi đo hàm lượng gibberellin nội sinh trong giai đoạn tăng trưởng của trái non

và trái trưởng thành tìm thấy đỉnh của gibberellin trong trái tương quan với tốc độ

tăng trưởng của trái (Raju và Das, 1968) Theo kết quả nghiên cứu của Hayashi et

al (1968) đã cho thấy rằng hạt là nguồn chứa gibberellin, sự phát triển của hạt

thường cung cấp gibberellin Tuy nhiên, ở trái không hạt gibberellin sẽ được hình thành từ quá trình phát triển của trái và nồng độ gibberellin trong trái có tương quan với tốc độ tăng trưởng của trái

GA3 có liên quan đến nhiều quá trình sinh lý trong cây nhất là khả năng kích thích sự vươn dài và sự phân chia tế bào (Nguyễn Minh Chơn, 2010) Theo Nguyễn Trịnh Nhất Hằng và Nguyễn Minh Châu (2001); Nguyễn Đăng Nghĩa (2006) đã sử dụng các hợp chất chứa GA3 phun qua lá cây thanh long kết quả đã làm tăng chiều dài của trái

Theo Bains et al (1997), hiện tượng rụng trái non có liên quan với nồng độ

các chất Indole acetic acid (IAA), GA3 và Abscisic acid (ABA) nội sinh Khi nghiên cứu trên giống xoài Dashehari của Ấn Độ, ông đã cho thấy rằng những trái có cuống sắp rụng chứa nồng độ IAA và GA3 thấp hơn ở những trái có cuống còn nguyên và ngược lại những trái có cuống sắp rụng sẽ có nồng độ ABA cao hơn những trái có cuống còn nguyên Xử lý GA3 ở nồng độ 20-500 ppm làm gia tăng sự đậu trái và duy trì trái trên cây (Mendoza, 1981) Ngược lại, một số kết quả nghiên cứu khác cho thấy việc xử lý GA3 không có hiệu quả trong việc duy trì trái trên cây (Chen, 1981)

Nghiên cứu về ảnh hưởng của NAA và GA3 đến sự rụng trái trên giống nhãn

Xuồng Cơm Vàng, Bùi Thị Mỹ Hồng et al., (2001) kết luận rằng phun NAA riêng

lẻ ở nồng độ 20, 40 ppm hay phun kết hợp NAA 20 ppm với GA3 20 ppm đã cho thấy tác dụng làm hạn chế phần lớn sự rụng trái trên nhãn Xuồng Cơm Vàng dẫn đến duy trì số trái/chùm cao khi thu hoạch Mặt khác, phun GA3 ở nồng độ 5 ppm làm gia tăng trọng lượng trái và tỉ lệ cơm/trái Xử lý các chất điều hòa sinh trưởng

Trang 34

trên đều không làm thay đổi hàm lượng các chất hòa tan trong cơm trái nhãn Xuồng

Cơm Vàng (Bùi Thị Mỹ Hồng et al., 2006)

Ben-Ismail et al (1995) được trích bởi Phạm Văn Sanh (2008) cho rằng GA3

được dùng ở mức độ 5 hoặc 10 ppm phun lên lá trước khi màu sắc trái thay đổi Xử

lý GA3 làm trì hoãn sự mất màu xanh và làm giảm nhẹ tỉ lệ TSS/acid khi thu hoạch, cải thiện hàm lượng nước và độ cứng trái Sức đề kháng của vỏ trái gia tăng khoảng 42% khi xử lý GA3 (dưới dạng dung dịch bazơ) ở nồng độ 5 ppm và 46% ở nồng độ

10 ppm so với đối chứng

Stover và Fred Davies et al (2001, được trích bởi Lê Thị Cẩm Thi, 2009) cho

thấy việc phun GA3 vào mùa thu làm tăng hàm lượng nước trái và trọng lượng cam trong suốt thời gian thí nghiệm, từ đó làm gia tăng giá trị thương phẩm của trái Ngoài ra kết quả cũng cho thấy rằng việc xử lý GA3 cũng làm nâng cao chất lượng thương phẩm và trái cây thu hoạch được trễ hơn Cũng theo kết quả này việc phun

GA3 làm trì hoãn sự thay đổi màu sắc, sự mất màu của trái quýt và gia tăng vẻ đẹp

mỹ quan Dhillon et al (1973) cho thấy khi phun GA3 ở giai đoạn đậu trái làm tích

lũy nhiều đường trên trái nho Chutichudet et al (2006) đã cho thấy việc phun GA3

(2, 4, 6, 8 ppm) qua lá của giống xoài Kaew ở thời điểm trái đậu bằng trứng cá làm tăng hàm lượng đường tổng số

1.7 ẢNH HƯỞNG CỦA KHOÁNG ĐA VI LƯỢNG LÊN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT TRÁI

Các nguyên tố khoáng đa vi lượng có thể ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng của cây trồng, tham gia trực tiếp vào quá trình biến dưỡng và không thể thay thế được bằng một nguyên tố khoáng nào khác nguyên tố khoáng đó Các khoáng

đa, vi lượng còn đóng góp một số vai trò khác trong việc xử lý ra hoa của cây trồng (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Trong đó, sự ảnh hưởng của các nguyên tố khoáng đa lượng là quan trọng nhất

Trang 35

1.7.1 Khoáng đa lượng

1.7.1.1 Đạm

Đạm là một trong những chất có vai trò quan trọng nhất trong đời sống thực vật vì đạm là thành phần cơ bản của protein, chiếm khoảng 40-50% chất khô của nguyên sinh chất Đạm còn là thành phần của diệp lục, một trong những yếu tố quyết định đến sự quang hợp Ngoài ra, đạm còn tham gia cấu tạo nên các hợp chất hữu cơ quan trọng khác như các amino acid, các loại vitamin B1, B2, B6, Nucleic acid, thành phần của nhân tế bào thực vật,… (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004; Mai Thu Hương, 2004)

Đạm thúc đẩy quá trình tăng trưởng, làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành,

ra nhiều lá, hoa đồng thời cũng làm tăng kích thước trái Lá cây có kích thước lớn

và có màu xanh (Đường Hồng Dật, 2002) Theo Buban et al (1978) cho biết đạm

dạng ammonium giúp cho sự vận chuyển của Cytokinin từ rễ lên thân tốt hơn đạm dạng nitrate Đạm dạng ammonium làm gia tăng số mầm hoa trong khi đó đạm nitrate thúc đẩy kéo dài hoa

Triệu chứng thiếu đạm xuất hiện trên lá già, phiến lá chuyển sang màu vàng

do đạm trong lá già chuyển sang nuôi đỉnh sinh trưởng Thiếu đạm trầm trọng sẽ làm cho cây lùn lại Ngộ độc phân đạm phiến lá cháy tạo vết hình tròn ở giữa hai

gân lá nơi trao đổi khí xảy ra (Võ Thị Gương et al., 2004) Thiếu đạm trong thời kì

trổ hoa làm hoa rụng và giảm năng suất hạt (Streeter, 1978) Khi cung cấp đủ phân đạm cho cây trong giai đoạn ra hoa làm giảm rụng hoa, rụng trái, làm cho năng suất

hạt gia tăng (Brevedan et al., 1977; 1978)

1.7.1.2 Lân

Lân có chức năng dự trữ năng lượng và vận chuyển vật chất qua màng tế bào Giữ vai trò quan trọng trong thời kì giai đoạn sinh trưởng Trong cây lân xuất hiện nhiều nhất trong vùng phân sinh có nhiệm vụ kích thích sự tổng hợp acid nhân, ATP, NAD(P)H rất cần thiết cho các hoạt động biến dưỡng và hô hấp trong cây

Trang 36

Lân chứa nhiều trong phần cuống lá, sau khi trổ bông thì chuyển sang bông và hạt (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Lân là yếu tố quan trọng đứng thứ hai sau đạm và dùng để kết hợp với đạm để tạo ra protein cho cây giúp ra hoa nhanh và nẩy mầm mạnh Ngoài ra, lân còn giúp cho quá trình thụ phấn dễ dàng hơn, đậu quả nhiều, hạt khỏe, tỷ lệ nảy mầm cao (Nguyễn Xuân Linh, 1998) Lân rất cần thiết cho quá trình hình thành các bộ phận mới của cây, tham gia vào thành phần các enzyme, protein, tổng hợp các acid amin Lân kích thích sự phát triển của rễ, làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan rộng ra xung quanh, tạo điều kiện cho cây chống hạn và chống đổ ngã Lân kích thích quá trình

đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa kết quả sớm và nhiều (Đường Hồng Dật, 2002)

Nếu thiếu lân, cây không lớn, cằn cỗi, không ra hoa được, lá xanh đậm hoặc tím, không có chồi non và dễ bị bệnh Nếu dư lân, cây già sớm và ra hoa sớm, lá ngắn, dày, cứng, cây có thể lùn và mập Theo Phạm Văn Côn (2003), lân rất cần thiết cho cây trong quá trình phân hóa mầm hoa Lân thường dùng để kích thích ra hoa sớm (Huỳnh Văn Thới, 2002)

1.7.1.3 Kali

Kali có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Nó có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng trong quá trình đồng hóa các chất dinh dưỡng của cây Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với điều kiện bất lợi, giúp cây cứng cáp ít đổ ngã, tăng khả năng chịu rét, chịu hạn

và ngập úng (Đường Hồng Dật, 2002)

Kali cần thiết cho sự tổng hợp protein, thiếu kali sự tổng hợp protein trong cây giảm Ngoài ra, kali còn điều hòa áp suất thẩm thấu và sự giãn nở tế bào, sự thúc đẩy vươn dài (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Kali còn giữ vai trò quan trọng trong sự quang hợp, giúp cho sự di chuyển các chất do quang hợp, điều khiển

sự đóng mở các khí khổng, hoạt hóa các enzyme và nhiều tiến trình khác của cây

Trang 37

Kali xúc tiến quá trình ra hoa sớm, tăng khả năng ra hoa, tăng năng suất và phẩm chất trái (Phạm Văn Côn, 2003) Theo Nguyễn Công Nghiệp (2001), kali giúp cây cứng cáp, thúc đẩy sự ra hoa, tăng khả năng đậu hoa, màu sắc hoa tươi tắn hơn

và giúp cây cứng cáp kháng được sâu bệnh Kali làm tăng hàm lượng đường trong trái, làm cho màu sắc trái đẹp hơn, hương vị thơm và tăng khả năng bảo quản của trái (Đường Hồng Dật, 2002) Theo Daryl và Brown (1993); Mai Thu Hương (2004), kali là thành phần liên kết độ cứng chắc của cây, kích hoạt hơn 60 enzyme ảnh hưởng đến sự trao đổi chất, có ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, giúp vận chuyển các chất dinh dưỡng trong cây và làm tăng hàm lượng đường trong nông sản

Cây thiếu kali thường có những triệu chứng như: trên lá già có màu vàng, ở những vết nhũng thì sẫm màu, phần bìa lá chuyển từ vàng sang nâu và lan dần vào bên trong lá nhất là trong giai đoạn cây chuyển từ sinh trưởng dinh dưỡng sang giai đoạn sinh sản (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Nếu thừa kali cành lá sinh trưởng kém, cây không lớn được và thừa kali sẽ gây nên hiện tượng hấp thu canxi

và magie kém, trái tuy to nhưng mẫu mã xấu, phẩm chất không tốt (Phạm Văn Côn, 2003)

1.7.1.4 Canxi

Canxi rất cần thiết cho sự tăng trưởng của cây trồng Hàm lượng canxi của cây thay đổi trong khoảng 0,1 và lớn hơn 5% trọng lượng khô tùy thuộc vào điều kiện sinh trưởng, loại cây trồng và cơ quan của cây Trong tế bào, canxi phân bố nhiều ở vùng lớp chung (middle lamella) và vùng ở bề mặt ngoài của màng nguyên sinh

chất, có ảnh hưởng đến sự hình thành của màng tế bào (Võ Thị Gương et al., 2004;

Nguyễn Bảo Toàn và Nguyễn Huy Tài, 2004) Canxi liên kết với pectin tạo thành calcium pectate trong lớp chung (middle lamella) cần thiết cho sự vững chắc của vách tế bào và mô thực vật Canxi còn có vai trò trong quá trình biến dưỡng đạm của thực vật, tham gia trong một số enzyme như amylase, protease, hay kích thích

sự hoạt động của enzyme khác (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Trang 38

Canxi có khả năng trung hòa các acid hữu cơ do quá trình trao đổi chất sinh ra giúp cho cây không bị ngộ độc (Phạm Văn Côn, 2003) Canxi được xem là nguyên

tố có tác động giải độc cho cây, ngăn chặn việc hút thừa các ion độc đối với cây trồng Trong lục lạp và ty thể thường xuyên chứa một lượng canxi có tác dụng trung hòa các acid hữu cơ trong cây, làm giảm ảnh hưởng độc của ion H+ ở trong đất nên ảnh hưởng tốt đến hoạt động của vi sinh vật Nitrate hóa và cố định đạm (Vũ Hữu Yêm, 2001)

1.7.1.5 Magiê

Magiê là thành phần của diệp lục tố nên cần thiết cho sự quang hợp của cây

trồng (Võ Thị Gương et al., 2004; Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Nhu

cầu magiê cần thiết cho sự sinh trưởng của cây tối hảo trong khoảng 0,5% trọng lượng chất khô của các bộ phận sinh dưỡng (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Magiê có chức năng hoạt hóa nhiều enzyme cần thiết trong quang tổng hợp, gắn kết các khâu trong quá trình chuyển hóa carbohydrate, tổng hợp các acid nucleic, hô hấp và sự thành lập của DNA và RNA

Thiếu magiê lá sẽ vàng úa, quang hợp kém (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004; Đường Hồng Dật, 2002) Magiê ảnh hưởng đến sự chuyển hóa CO2 và liên quan tới sự tạo đường, tinh bột, nhiều enzyme xúc tác các phản ứng tổng hợp

protein và biến dưỡng năng lượng (Võ Thị Gương et al., 2004)

Trang 39

1.7.2 Khoáng vi lượng

1.7.2.1 Sắt

Sắt có vai trò quan trọng trong sự tổng hợp protein và phát triển lục lạp Sắt là nguyên tố cần thiết đóng vai trò then chốt của các hệ thống enzyme giúp kiểm soát quá trình hô hấp của tế bào sống, phản ứng oxy hóa-khử trong quang hợp và đóng vai trò như một chất mang điện tử trong các protein (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Khi thiếu sắt, sự hình thành diệp lục tố bị ức chế là do sự tổng hợp protein bị giảm vì số lượng ribosome giảm nghiêm trọng và có sự gia tăng hàm lượng amino acid ở lá bị vàng (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)

1.7.2.2 Đồng

Đồng hiện diện trong nhiều enzyme hoặc protein liên quan đến sự oxy hóa và

sự khử Khoảng 70% đồng trong cây được tập trung trong diệp lục tố và chức năng quan trọng của nó được thấy trong sự đồng hóa (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Đồng tham gia vào thành phần cấu tạo enzyme thúc đẩy chức năng hô hấp, chuyển hóa của cây, thúc đẩy quá trình hình thành vitamin A trong cây Làm tăng hiệu lực của các nguyên tố kẽm, mangan, Bo (Đường Hồng Dật, 2002)

Văn Vụ et al (2005) cho rằng kẽm có vai trò trong quá trình sinh tổng hợp các hợp

chất dạng auxin, thúc đẩy sự vận chuyển các sản phẩm quang hợp từ lá xuống các

cơ quan dự trữ

Trang 40

1.7.2.4 Bo

Bo cần thiết cho sự phát triển và chuyên hóa mô Bo gia tăng sự ổn định của tế bào và sự sinh sản của cây, có vai trò trong sự giãn dài của ống phấn, làm cho carbohydrate vận chuyển dễ dàng qua màng tế bào Thiếu Bo làm chóp rễ không giãn dài bình thường, kèm theo sự tổng hợp ức chế của DNA và RNA và thiếu Bo

sẽ làm ảnh hưởng xấu đến cơ quan sinh sản (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Theo Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài (2004), Bo có vai trò trong sự kéo dài tế bào, phân chia tế bào và sự biến dưỡng acid nhân Ngoài ra, Bo còn có vai trò trong sự biến dưỡng carbohydrate và biến dưỡng protein, Bo ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự thụ phấn, giữ vai trò cần thiết cho sự tạo hạt và hột Bo có vai trò quan trọng trong các quá trình trao đổi glucid, tổng hợp acid nucleic và trao đổi năng lượng, đảm bảo cho hoạt động bình thường của mô phân sinh ngọn Bo có tác dụng đảm bảo đầy đủ oxy cho rễ, làm tăng sự hút cation trong quá trình dinh dưỡng, thúc đẩy sự vận chuyển lân trong cây Tăng cường hút canxi cho cây và đảm bảo cân đối tỷ lệ kali : canxi trong cây Bón Bo vào thời kỳ cây sắp ra hoa làm tăng tỷ lệ

ra hoa kết trái và làm tăng năng suất của cây trồng (Đường Hồng Dật, 2002)

1.7.2.5 Mangan

Theo Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài (2004) mangan có chức năng tạo ra oxy trong quang hợp, nếu thiếu mangan quang hợp không chỉ giảm mà hệ thống lục lạp cũng bị tổn hại, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến mức độ carbohydrate hòa tan đặc biệt xảy ra ở rễ Ngoài ra, hàm lượng lipid và thành phần hột cũng bị thay đổi khi cây thiếu mangan Mangan giữ vai trò cấu trúc trong hệ thống màng lạp thể và một trong những vai trò quan trọng nhất đó là sự phân tách nước trong quá trình quang hợp Mangan cũng có vai trò quan trọng trong sự đồng hóa CO2 và cố định nitrogen (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Theo Đường Hồng Dật (2002) mangan thúc đẩy cây nảy mầm sớm, làm cho rễ

Ngày đăng: 12/04/2018, 00:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm