1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KẾ HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN Y TẾ

99 439 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá Hệ thống y tế được thực hiện tại 6 tỉnh dự án doUSAID tài trợ -2010 cũng có đưa ra phân tích một số khía cạnh của HTTTYTKết quả đánh giá đã chỉ ra những thành tựu đã đạt được, n

Trang 1

BỘ Y TẾ

KẾ HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN Y TẾ

Giai đoạn 2014-2020 và tầm nhìn 2030

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

MỤC LỤC

1 SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN HTTTYT 4

3.1.2 Kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực cho cán bộ thống kê là một yếu

3.3.5 Tăng cường thông tin về Dược- Trang thiết bị -Công nghệ 36

Trang 3

3.3.6 Tăng cường thông tin trong cung ứng dịch vụ 37

4 KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN HTTTYT ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN

Trang 4

C Á C T Ừ V I Ế T T Ắ T

HTTTQL Hệ thống thông tin quản lý y tế

HTTTYT Hệ thống thông tin y tế

CTMTQG Chương trình mục tiêu quốc gia

Trang 5

1 SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN HTTTYT

Hệ thống thông tin y tế là một bộ phận của hệ thống thông tin Quốc gia và

là một trong 6 trụ cột của ngành y tế với chức năng chính là thu thập, lưu trữ,xử

lý, phân tích, phiên giải, chuyển tải và phổ biến thông tin Hệ thống thông tin Y

tế không chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động của lĩnh vực y tế mà còncung cấp các thông tin liên quan đến sức khỏe của con người Chính vì vậy sảnphẩm của Hệ thống đóng một vai trò quan trọng trong quản lý, điều hành, xâydựng kế hoạch và hoạch định chính sách của ngành

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của ngành, Hệ thống thôngtin y tế đã có nhiều cố gắng và đạt được những thành tích đáng kể Thông tin từ

hệ thống đang phát huy tác dụng và là căn cứ quan trọng trong việc phân tích,đánh giá, xây dựng kế hoạch và hoạch định chính sách chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe nhân dân Nội dung hệ thống chỉ tiêu, phương pháp thu thập và xử lý đangtừng bước tiếp cận với tiêu chuẩn Quốc tế

Tuy nhiên, trước nhu cầu thông tin y tế phục vụ công tác chăm sóc và bảo

vệ sức khỏe trong tình hình mới và hội nhập với các nước trong khu vực và Thếgiới, hệ thống thông tin Y tế còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế và bất cập Quá trìnhđổi mới công tác thông tin y tế còn chậm, chưa tương xứng với đổi mới và pháttriển kinh tế, xã hội của đất nước và cũng như của Ngành Hoạt động của hệthống và các tiểu hệ thống còn mạnh mún, thiếu đồng bộ và thống nhất Việcứng dụng những thành tựu khoa học hiện đại trong các khâu từ thu thập, lưu trữ,

xử lý, tổng hợp, phân tích đến việc phổ biến, lưu trữ thông tin chưa được đẩymạnh Sự phối hợp và chia sẻ thông tin giữa Hệ thống thông tin Y tế tổng hợpvới các tiểu hệ thống và giữa hệ thống thông tin Y tế với hệ thống thông tin củacác Bộ/Ngành chưa thực sự chặt chẽ Mạng lưới Y tế tư nhân đang phát triển khánhanh, song việc thu thập thông tin về hoạt động của cơ sở này vẫn chưa đượcthực hiện nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng số liệu Những hạn chếbất cập trên không thể giải quyết trong thời hạn ngắn mà đòi hỏi phải có lộ trìnhphát triển Hệ thống thông thông tin y tế Chính vì vậy, việc xây dựng Kế hoạchtổng thể phát triển Hệ thống thông tin y tế Việt Nam giai đoạn 2014- 2020 vàtầm nhìn 2030 là hết sức cần thiết nhằm xây dựng hệ thống thống tin y tế ViệtNam đồng bộ, thống nhất theo hướng tin học hóa, đáp ứng được nhu cầu thôngtin của quốc gia và quốc tế Góp phần thực hiện thành công mục tiêu chiến lượcphát triển kinh tế xã hội; Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sứckhỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Trang 6

Cơ sở để xây dựng Kế hoạch tổng thể phát triển Hệ thống thông tin đếnnăm 2020 và tầm nhìn 2030 là dựa trênnhững điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, tháchthức và nhu cầu của ngành về thông tin trong báo cáo kết quả đánh giá thực trạng

Hệ thống thông tin y tế đã được nhóm đánh giá EC thực hiện; Những kiến nghịcủa báo cáo tổng quan ngành y tế năm 2013; Mười điểm trong chiến lược pháttriển hệ thống thông in vùng của Tổ chức y tế Thế giới, Quy hoạch tổng thể pháttriển Hệ thống Y tế giai đoạn 2011- 2020 và tầm nhìn 2030; Đề án đổi mới đồng

bộ hóa hệ thống chỉ tiêu thông kê đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tạiQuyết định số 312/QĐ-TTg ngày 2 tháng 3 năm 2010 vàChiến lược phát triểnThống kê Việt nam giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Bản Kế hoạch tổng thể phát triển Hệ thống thông tin y tế giai đoạn 2014-2020 tầm nhìn 2030 thực chất là bản Kế hoạch tổng thể toàn diện đa ngành, đanguồn và lần đầu tiên đượcxây dựng Trong quá trình xây dựng bản kế hoạchnày đã có sự đóng góp của các Vụ, Cục, Tổng cục trong Bộ Y tế và các bộ ngànhliên quan như: Tổng Cục Thống kê, Bộ Tư pháp, Bảo hiểm xã hội Việt nam vàcác nhóm đối tác dưới sự điều phối của Vụ Kế hoạch-Tài chính, Bộ Y tế Cácmục tiêu trong ngắn hạn, trung hạn cũng như các can thiệp trong bản Kế hoạchbắt nguồn từ việc phân tích đánh giá thực trạng của từng cầu phần trong Hệthống thông tin y tế cũng như các hoạt động ưu tiến để tăng cường sáu trụ cộtcủa ngành y tế

2 TỔNG QUAN HỆ THỐNG THÔNG TIN Y TẾ

Xuất phát từ tầm quan trọng của thông tin trong quản lý, điều hành vàhoạch định chính sách nên ngày từ khi thành lập, Bộ y tế đã quan tâm tới việcxây dựng và củng cố Hệ thống thông tin Thống kê Y tế Mạnh lưới thông tinthống kê đã được bao phủ trong cả nước, gắn liền với mạng lưới cung cấp dịch

vụ y tế Do đặc thù của công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, mạnglưới cung cấp dịch vụ y tế bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như: Lĩnh vực điềutrị, dự phòng, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kinh doanh và sản xuất dược, đào tạo

và phục hồi chức năng v.v Để đẩy mạnh hoạt động cung cấp dịch vụ y tế nhằmthực hiện mục tiêu, chiến lược của ngành y tế và giải quyết những vấn đề ảnhhưởng lớn đến sức khoẻ, Chính phủ Việt nam đã đầu tư triển khai nhiều chươngtrình mục tiêu y tế quốc gia như chương trình phòng chống Lao, chương trìnhsốt rét, chương trình Bướu cổ, chương trình phòng chống phong, chương trìnhtiêm chủng mở rộng, chương trình sức khoẻ sinh sản, chương trình dinh dưỡng,chương trình sức khoẻ tâm thần, chương trình phòng chống sốt xuất huyết,chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm , các chương trình trên đều do các, vụ,viện, bệnh viện chuyên khoa, quản lý và chỉ đạo như chương trình Lao do bệnh

Trang 7

viện Lao và bệnh Phổi; chương trình Sốt Rét do viện Sốt Rét KST& CT; chươngtrình Bướu cổ do bệnh viện Nội Tiết; chương trình phòng chống Phong do viện

Da Liễu; Chương trình tiêm chủng mở rộng và chương trình phòng chống sốtxuất huyết do Viện Vệ Sinh Dịch Tế trung ương; Chương trình sức khỏe sinhsản do vụ SKBMTE; Chương trình phòng chống suy Dinh Dưỡng do viện Dinhdưỡng; Chương trình sức khỏe Tâm thần do Bệnh viện Tâm Thần Trung ương;chương trình an tòan thực phẩm do cục an tòan thực phẩm, chương trình phòngchống HIV/AIDS do cục phòng chống HIV/AIDS Do yêu cầu quản lý, đánh giátiến độ cũng như chỉ đạo chuyên môn của chương trình, lĩnh vực nên mỗi mộtchương trình, lĩnh vực đều có một hệ thống thông tin riêng (hệ thống này đượccoi là tiểu hệ thống) Thông tin phục vụ phân tích, đánh giá về hoạt động cungcấp dịch vụ y tế của toàn ngành cũng như tình trạng sức khỏe của người dân do

Hệ thống thông tin thống kê y tế thực hiện Hệ thống này cònđược gọi là hệ thốngthông tin tổng hợp hay Hệ thống thông tin quản lý y tế (HTTTQL) Hệ thốngthông tin quản lý y tế được coi là xương sống của hệ thống báo cáo dữ liệungành

y tế, do vụ Kế hoạch Tài chính, Bộ Y tế làm đầu mối và chỉ đạo thực hiện

Hệ thống thông tin Y tế bao gồm 6 cấu phần chính, đó là: Nguồn lực; Chỉ số;Nguồn số liệu; Quản lý số liệu; Sản phẩm thông tin; Phổ biến và sử dụng số liệu:

2.1 Cấu phần HTTTYT

2.1.1 Nguồn lực của Hệ thống thông tin

Nguồn lực của Hệ thống thông tin nhằm đảm bảo Hệ thống thông tin vậnhành và phát triển Nguồn lực thông tin bao gồm:

- Các chính sách về Thông tin

Xây dựng và ban hành chính sách về thông tin nói chung và thông tin y tếnói riêng là nguồn lực quan trọng nhằm tạo hành lang pháp lý trong việc thuthập, xử lý, cung cấp thông tin của các cơ sở y tế công lập và ngoài công lậpcũng như các cơ sở ngoài ngành y tế Chính sách thông tin y tế cần phải đượcthể chế hóa, xác định vai trò trách nhiệm cho các đơn vị trong ngành y tế vàgiữa ngành y tế với các bộ ngành liên quan trong việc kết nối, chia sẻ và cungcấp thông tin, đồng thời quy định tính bảo mật, an ninh số liệu và tiếp cận sốliệu Chính sách thông tin y tế còn phải xác định đạo đức trong việc thu thập,phổ biến và sử dụng thông tin đảm bảo số liệu cung cấp được trung thực, kháchquan và minh mạch

- Nguồn lực về tài chính: Hệ thống thông tin Y tế hoạt động và hoạt động

có hiệu quả, có sự đóng góp rất lớn của việc đầu tư tài chính cho thu thập, phântích sử dụng số liệu Đầu tư tài chính cho Hệ thống thông tin Y tế không chỉ là

Trang 8

đầu tư kinh phí mua sắm trang thiết bị, in ấn biểu mẫu và tiền công cho ngườilàm thông tin mà còn phải đầu tư để tiến hành các cuộc điều tra thu thập những

số liệu mà báo cáo định kỳ không thể thực hiện được hoặc phúc tra lại số liệucủa báo cáo định kỳ Như vậy đầu tư tài chính cho lĩnh vực thông tin tùy thuộcmức độ phát triển hệ thống Y tế nói chung và Hệ thống thông tin y tế nói riêngcũng như nhu cầu thông tin của mỗi quốc gia mà đầu tư tài chính cho thích hợp.Trong “Lời Kêu gọi Hành động” của Hội nghị Quốc tế tổ chức ở Băng Cốc(2010) và Diễn đàn Cấp cao tổ chức ở Busan, Hàn Quốc (2011) đã khuyến nghịcần phải huy động các nguồn lực và nguồn đầu tư sao cho ít nhất 5% tổng ngânsách ngành y tế được dành để phát triển HTTTYT của mỗi đất nước, trong số

đó dành ít nhất 2% để xây dựng một hệ thống đăng ký sinh tử Theo báo cáocủa Mạng lưới đó lường y tế HMN năm 2006, chi phí hàng năm của mộtHTTTYT toàn diện ước tính trong khoảng từ US$ 0.53 đến US$ 2,99/đầu dân

- Nguồn nhân lực

HTTTYT không thể cải tiến/tiến bộ nếu không chú ý đến các khâu đàotạo, triển khai, thù lao và phát triển sự nghiệp của nguồn nhân lực ở tất cảcác cấp Ở cấp quốc gia cần có các chuyên gia dịch tễ học, chuyên gia thống

kê, dân số học, quản lý cơ sở dữ liệu, quản lý và phân tích hệ thống Nhữngngười làm trong lĩnh vực thông tin y tế tại các tuyến phải có kinh nghiệmthu thập, xử lý và kiểm tra, giám sát chất lượng số liệu Bên cạnh phát triểnnguồn nhân lực cho hệ thống HTTTYT cần tăng cường đào tạo sử dụng và phântích số liệu nhằm đảm bảo số liệu trở thành bằng chứng Việc đào tạo nàykhông chỉ cho lĩnh vực quản lý, cung cấp dịch vụ y tế mà cho cả lĩnh vực sảnxuất thông tin để kích thích họ quan tâm đến chất lượng số liệu

- Cơ sở hạ tầng

Các đơn vị cung cấp dịch vụ y tế và các đơn vị quản lý ở cấp quốc gia vàđịa phương cần được trang bị cơ sở hạ tầng thông tin như: máy tính, đườngtruyền Internet, hòm thư điện tử v.v Lý tưởng nhất là tất cả các cơ sở phải

có khả năng kết nối với nhau Đối với các cơ quan thống kê y tế cấp quốcgia và khu vực, tỉnh cần được trang bị phương tiện giao thông và truyền

thông (Telecommunication) tạo điều kiện thu thập số liệu và biên soạn

số liệu kịp thời ở tuyến địa phương

-Điều phối và chỉ đạo

Thông tin y tế được thu thập từ các lĩnh vực y tế, các chương trình y tếquốc gia và các Bộ/ngành liên quan vì vậy rất cần có một Ủy ban đại diện Quốcgia để hướng dẫn, chỉ đạo việc phát triển và duy trì HTTTYT nhằm đảm bảothông tin được chia sẻ và sử dụng có hiệu quả, tránh chồng chéo Ủy ban này

Trang 9

phải có các đại diện cấp cao thuộc các vụ, cục, viện và chương trình của BYT,Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt nam (BHXH)

2.1.2 Chỉ số

Mục đích hoạt động của Hệ thống thông tin Y tế không chỉ phục vụ choviệc quản lý, điều hành các hoạt động cung cấp dịch vụ y tế mà còn phục vụphân tích, đánh giá và hoạch định chính sách Chính vì vậy thông tin Y tế khôngchỉ bó hẹp trong ngành Y tế mà nó còn bao gồm nhiều thông tin liên quan từ cácbộ/ngành khác Nhìn chung, thông tin để tính toán các chỉ số được chia làm 3nhóm chính, cụ thể:

- Thông tin liên quan đến sức khỏe, bao gồm: Thông tin về Dân số, thôngtin về kinh tế- xã hội, môi trường, hành vi và di truyền hay các yếu tố nguy cơ.Các thông tin về môi trường trong hoạt động của hệ thống Y tế

- Thông tin về hoạt động của hệ thống Y tế, bao gồm:

* Thông tin về đầu vào và qúa trình liên quan như chính sách, tổ chức,nguồn lực và tài chính, cơ sở hạ tầng y tế, trang thiết bị và các phương tiện chohoạt động cung cấp dịch vụ y tế

* Thông tin đầu ra phản ánh sự sẵn có và chất lượng dịch vụ y tế, kết quảhoạt động của hệ thống Y tế, kể cả độ bao phủ các dịch vụ y tế cơ bản

- Thông tin về tình hình sức khỏe như tỷ suất mắc bệnh, tỷ suất tử vong,

tỷ lệ tàn tật, tỷ lệ suy dinh dưỡng, tỷ lệ khỏe mạnh

Tiêu chuẩn để chọn chỉ số là những chỉ số liên quan đến sức khỏe được xác định

ở tuyến quốc gia và thường xuyên được sử dụng cho lập kế hoạch, theo dõi vàđánh giá tình hình thực hiện mục tiêu của toàn ngành và của các chương trình y

tế quốc gia Chỉ số ở tuyến dưới như quận/huyện và xã là những chỉ số phục vụquản lý và điều hành các hoạt động cung cấp dịch vụ y tế Chỉ số phải đượcchuẩn hóa về định nghĩa, phương pháp thu thập theo tiêu chuẩn kỹ thuật Quốc

tế Khi chọn chỉ số không nên chọn quá nhiều mà nên tập trung vào những chỉ

số cơ bản, thật cần thiết Bộ chỉ số phải được phân cấp phù hợp với mỗi tuyến.Các chỉ số được chọn phải có giá trị đáng tin cậy, cụ thể: Phải có độ nhạy, có khảnăng lượng giá/đo lường và những chỉ số đó phải hợp lý, có ích cho việc đưa raquyết định ở các tuyến thu thập số liệu hoặc ở tuyến cao hơn

2.1.3 Nguồn số liệu

Để có thể đáp ứng nhiều nhu cầu thông tin khác nhau, không thể cóphương pháp thu thập hoặc nguồn số liêu duy nhất Nguồn số liệu phù hợp, tùy

Trang 10

thuộc vào nhu cầu thông tin, nguồn kinh phí, sự phối hợp và khả năng thu thập,quản lý và phổ biến số liệu Nguồn số liệu cơ bản của Hệ thống thông tin Y tếbao gồm: hai nguồn chính (1) Xuất phát từ các ước tính dựa trên dân số (Tổngđiều tra dân số và các cuộc điều tra, giám sát hộ gia đình) và (2) Dựa vào hệthống ghi chép báo cáo định kỳ của các cơ sở y tế và các cuộc điều tra khảo sát

cơ sở y tế Các loại thông tin liên quan đến sức khỏe và hoạt động y tế, bao gồm:

- Thông tin về Dân số, Kinh tế-xã hội và Môi trường được thu thập từcác cuộc tổng điều tra dân số, đăng ký hộ khẩu và các cuộc điều tra hộ gia đình

và giám sát dựa trên dân số Thông tin về Dân số, Kinh tế, Xã hội và Môi trườnghiện nay do hệ thống Thống kê Nhà nước ( TCTK) thực hiện

- Thông tin về hoạt động cung cấp dịch vụ y tế thông thường được thuthập bằng báo cáo định kỳ từ các sổ sách, biểu mẫu báo cáo của các cơ sở y tếtại các tuyến và các cuộc điều tra chuyên sâu và điều tra y tế để thu thậpnhững thông tin mà báo cáo định kỳ không thu thập được hoặc phúc tra lại

số liệu báo cáo định kỳ Thông tin về tình hình mắc chết các bệnh gây dịchđược thu thập thông qua hệ thống giám sát dịch

2.1.4 Quản lý số liệu

Quản lý số liệu gồm một loạt các quy trình phục vụ việc thu thập, chuyểntải thông tin (luồng thông tin), lưu trữ, phân tích và phân phối số liệu Số liệuchính xác và đầy đủ là điều kiện quan trọng nhất của quản lý số liệu Số liệu đãđược thu thập thì điều cơ bản là phải có một phương pháp tiếp cận hợp lý trongquản lý Trước hết, cần có một cuốn từ điển siêu số liệu Tiếp theo, các quytrình lưu trữ số liệu Quy trình lưu trữ số liệu phù hợp đòi hỏi phải có một cơcấu lô-gic được thiết kế chặt chẽ cho phép khai thác và sử dụng số liệu được dễràng và thuận tiện Đồng thời phải đảm tính bảo mật, an ninh số liệu Số liệu cầnđược phân tích và trình bày hợp lý, bao gồm tính toán các chỉ số và chuẩn bị cácbảng, biểu và sơ đồ Cuối cùng, số liệu phải có sẵn cho tất cả những ai sử dụngchúng

2.1.5 Các sản phẩm thông tin

Kết quả của sản xuất thông tin là sản phẩm thông tin Sản phẩm thông tincủa hệ thống thông tin y tế hiện nay mới đề cập đến số liệu Số liệu mới chỉ làsản phẩm thô Bản thân số liệu có rất ít giá trị và chỉ khi chúng được làm sạch,được kiểm soát và phân tích thì mới có giá trị cao Ở giai đoạn này số liệu mớitrở thành thông tin Một số thông tin cũng bị hạn chế, nếu như thông tin đó chưađược lồng với các thông tin khác để đánh giá dưới dạng các vấn đề mà hệ thống

y tế đang phải đối mặt Ở giai đoạn này thông tin trở thành bằng chứng và được

Trang 11

sử dụng cho việc đưa ra các quyết định Việc tổng hợp bằng chứng vẫn chưa đủ

mà cần được đóng gói, tuyên truyền và phổ biến cho những người chịu tráchnhiệm ra quyết định

2.1.6 Phổ biến và sử dụng

Một chức năng quan trọng của HTTTYT là kết nối việc sản xuất số liệuvới sử dụng số liệu Các đối tượng sử dụng bao gồm những đối tượng cung cấpdịch vụ và những người chịu trách nhiệm về việc quản lý, lập kế hoạch, hoạchđịnh chính, những nhà đầu tư và cả cộng đồng Chính vì vậy phổ biến thông tinhết sức quan trọng nhằm đảm bảo các nhóm đối tượng tiếp cận thông tin mộtcách dễ ràng và thuận tiện Để làm tốt nhiệm vụ này thì việc phổ biến cần đượclên kế hoạch một cách khá chi tiết như: theo các đặc điểm của từng loại thôngtin và phương pháp đóng gói, các kênh giao tiếp/tuyên truyền hiệu quả nhất đểchuyển tải thông tin Thời điểm phổ biến thông tin cần lựa chọn cho phù hợpvới các chu kỳ và nhu cầu lập kế hoạch của các đối tượng sử dụng

Mối quan hệ của các cấu phần HTTTYT

Trang 12

Các đánh giá chung về tổng thể hệ thống y tế như Tổng quan ngành y tếhàng năm (JAHR) Đánh giá Hệ thống y tế được thực hiện tại 6 tỉnh (dự án doUSAID tài trợ -2010) cũng có đưa ra phân tích một số khía cạnh của HTTTYT

Kết quả đánh giá đã chỉ ra những thành tựu đã đạt được, những khó khăn tồn tại cần giải quyết theo 6 cầu phần của Hệ thống thông tin y tế sau:

2.1.7 Những thành tựu đã đạt được

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của hệ thống Y tế, hệ thốngthông tin Y tế đã có những bước phát triển đáng kể, cụ thể:

2.2.1.1 Nguồn lực:

- Chính sách liên quan đến công tác thống tin thống kê

Xuất phát từ tầm quan trọng của thông tin trong quản lý, điều hành vàhoạch định chính sách, Chính phủ Việt nam và Bộ Y tế rất quan tâm đến côngtác xây dựng và tăng cường hệ thống thông tin nói chung và hệ thống thông tin

Y tế nói riêng Một loạt chính sách liên quan đến công tác thông tin thống kê đãđược ban hành:

* Luật thống kê: Luật thống kê số 04/2003/QH11của Quốc hội nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt nam khoá XI Luật thống kê ra đời nhằm nâng caohiệu quả công tác thống kê, đảm bảo thông tin thống kê trung thực, khách quan,chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá,

dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch pháttriển kinh tế- xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cánhân, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về công tác thống kê Luật thống kê

ra đời còn là cơ sở cho việc xây dựng và ban hành một loạt các chính sách liênquan đến thông tin thống kê

* Quyết định của Bộ trưởng về việc ban hành quy chế thống kê y tế số379/2002/QĐ-BYT ngày 08 tháng 02 ăm 2002 Quy chế thống kê Y tế là cơ sở

Trang 13

pháp lý cho việc thu thập và xử lý thông tin thống kê y tế đồng thời quy địnhchức năng nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ sở y tế trong cả nước trong việcthực hiện chế độ ghi chép và báo cáo; Tăng cường trách nhiệm của cán bộ quản

lý và cán bộ tham gia hệ thống thông tin Y tế

* Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ về việc tăng cường và hiện đại hoá côngtác Thống kê số 28/1998/CT-TTG Chỉ thị này đã yêu cầu Tổng cục Thống kê vàcác bộ, ngành cần phải củng cố nâng cấp hệ thống thống kê do mình phụ trách vàđẩy mạnh ứng dựng công nghệ tin học trong xử lý, lưu trữ và chuyển tải thông tin

* Nghị định số 14/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 2 năm 2005 của Chínhphủ.về xử phát hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê nhằm tăngcường trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đơn vị và người làm công tácthông tin thống kê trong việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin

* Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêuquốc gia Trong đó yêu cầu các bộ/ ngành căn cứ chỉ tiêu đã phân công và nhucầu thông tin của của từng bộ/ngành, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phục vụ quản lý

và điều hành của mỗi bộ, ngành và đảm bảo cung cấp thông tin tính toán chỉtiêu thống kê Quốc gia

* Quyết định của Bộ trưởng về việc ban hành hệ thống biểu mẫu sổ sách

đã được xây dựng từ những năm trước đây và được điều chỉnh nhằm đáp ứngnhu cầu thông tin và bộ chỉ số quốc gia và quốc tế Hệ thống sổ sách, biểu mẫuđược xây dựng và ban hành đã giúp cho việc thu thập và báo cáo thống kê định

kỳ đang dần đi vào nề nếp

Thực hiện Quyết định số 43/2010/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ

Y tế đã xây dựng và ban hành Danh mục chỉ số thống kê cơ bản ngành y tế y tế

số 06/2006/TT-BYT ngày 14 tháng 2 năm 2014 Bộ chỉ số này cũng đã đượcchuẩn hóa về khái niệm, phương pháp thu thập, phân tổ, tính toán nhằm nângcao chất lượng của số liệu và tăng cường sử dụng số liệu trong phân tích đánhgiá và hoạch định chính sách

* Thông tư số 17/2012/TT-BYT ngày 24/10/2012 của Bộ Y tế về quyđịnh cấp và sử dụng giấy chứng sinh nhằm nâng cao chất lượng thông tin vềsinh đẻ; Chỉ thị số 07/CT-BYT ngày 21 tháng 6 năm 2013 về tăng cường côngtác thông tin thống kê y tế để khắc phục những thiếu sót và hạn chế trong côngtác thống kê và tăng cường công tác thông tin thống kê đáp ứng yêu cầu quản lýtrong tình hình mới Chỉ thị chấn chỉnh việc ban hành biểu mẫu, báo cáo chưatuân theo Luật thống kê, giao Vụ Kế hoạch Tài chính là cơ quan đầu mối, cótrách nhiệm quản lý thống nhất các chỉ số thống kê y tế và hệ thống sổ sách,biểu mẫu báo cáo thống kê trong toàn ngành y tế

Trang 14

- Những chính sách đẩy mạnh phát triển Công nghệ Thông tin (CNTT)trong quản lý, xử lý số liệu và điều hành các hoạt động kinh tế xã hội như: Chỉthị 58/CT-TW năm 2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triểnCNTT; Luật Công Nghệ thông tin; Luật giao dịch điện tử; Nghị định 64 năm

2007 của Chính phủ về việc ứng dụng trong cơ quan nhà nước; Quyết định số

246 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triểnCNTT đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Thực hiện chính sách vềđẩy mạnh ứng dụng CNTT/TT của Đảng và Nhà nước, Bộ y tế đã xây dựng mộtloạt chính sách liên quan đến CNTT/TT như Chỉ thị số 02/CT-BYT (ngày 25tháng 2 năm 2009) về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong ngành y tế; Quyếtđịnh ban hành phần mềm quản lý y tế cơ sở số 1833/2002/QĐ-BYT ngày 17tháng 5 năm 2002; Quyết định ban hành phần mềm thống kê bệnh viện(Medisoft 2003) Quyết định số: 5573 /QĐ-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2006 của

Bộ trưởng Bộ Y tế về tiêu chí phần mềm quản lý bệnh viện Những chính sách

về CNTT đã có tác dụng tăng cường năng lực trong thu thập, xử lý, quản lý, phổbiến và chuyển tải thông tin nói chung, trong đó có thông tin thống kê Y tế

Hệ thống văn bản qui phạm được ban hành kể trên đã là cơ sở pháp lý cho

Hệ thống thông tin y tế hoạt động Tuy nhiên những chính sách này vẫn chưađồng bộ, còn thiếu một số chính sách quan trọng Chính sách liên quan đến côngtác thông tin thống kê chưa được tuyên truyền rộng rãi

- Tổ chức và nhân lực của hệ thốngthông tin y tế

Trong mấy năm gần đây tổ chức và nhân lực của Hệ thống thông tin y tế

đã được củng cố và tăng cường.Tại Bộ Y tế, trước đây là tổ thông tin thống kê,năm 2008 đã chuyển thành Phòng Thông tin thống kê y tế thuộc Vụ Kế hoạch-Tài chính Các vụ, cục, viện các chương trình y tế quốc gia và các Sở Y tế, các

cơ sở y tế cũng đã bố trí cán bộ làm công tác thông tin thống kê Hầu hết cán bộlàm công tác thông tin thống kê của các đơn vị y tế được biên chế trong phòng

Kế hoạch tổng hợp của đơn vị

Đội ngũ cán bộ quản lý và làm việc trong lĩnh vực thông tin, thống kế y tế

ở tuyến trung ương và tuyến tỉnh đã được tham dự các lớp đào tạo và đào tạo lại,

có điều kiện làm việc tốt hơn như được trang bị máy tính, điện thoại, internet đểtrao đổi và truy cập thông tin

- Tài chính

Bên cạnh, sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước cho hệ thống thông tin y tế,một số chương trình, Dự án còn được hỗ trợ từ các nguồn viện trợ nước ngoàicho hệ thống và các tiểu hệ thống thông qua việc mua sắm thiết bị tính toán, tập

Trang 15

huấn, hội thảo…tuy nhiên khoản viện trợ này vẫn còn rất thấp so với nhu cầuphát triển của hệ thống và các tiểu hệ thống.

- Cơ sở hạ tầng

Những phương tiện chuyển tải thông tin và thiết bị tính toán đã được nhànước đặc biệt quan tâm Cơ sở hạ tầng về CNTT đã được bao phủ trong cả nước.Hiện nay 100% trạm y tế xã thuộc các tỉnh đồng bằng, trung du và trên 90 %trạm y tế xã thuộc các tỉnh miền núi đã có điện thọai Đây là điều kiện thuận tiệncho việc thông báo tình hình dịch bệnh và những vấn đề đang ảnh hưởng đếnsức khỏe của cộng đồng được nhanh hơn Các đơn vị y tế tuyền huyện trở lênđều được trang vị máy tính, internet Cục Công nghệ thông tin mới thành lập đãkhá nhạy bén và chủ động trong các lĩnh vực về chuẩn hóa cho ngành Y tế.Trong năm 2012, Cục đã xuất bản một tập sách hướng dẫn quan trọng, trong đó

mô tả và định hướng việc sử dụng các chuẩn về thuật ngữ y tế (ICD-10,SNOMED), trao đổi thông tin và các bệnh án (HL7) cũng như mã hóa đặc biệtnhư LOINC cho phòng thí nghiệm

Một số phần mềm quản lý và xử lý số liệu đã được xây dựng và đang đượcnâng cấp, hoàn thiện để triển khai rộng rãi như: phần mềm xử lý báo cáo số liệuthống kê y tế cho các tuyến, phần mềm thống kê bệnh viện (Medisoft), phầnmềm quản lý bệnh viện, phần mềm BHYT, phần mềm kế toán tài chính(MISA), phần mềm quản lý hoạt động trạm y tế xã v.v…Một số lĩnh vực,chường trình mục tiêu Y tế quốc gia cũng đã đẩy mạnh ứng dụng CNTT trongcập nhật, xử lý và chuyển tải thông tin như:

- Chương trình Lao, phòng chống HIV/AIDS và phòng chống sốt rét,sử

dụng ứng dụng phần mềm trực tuyến và độc lập, cho phép cập nhật tên bệnhnhân, các thông tin liên quan và các dữ liệu phục vụ quản lý

-Tổng cục DSKHHGĐ sử dụng cơ sở dữ liệu trực tuyến (vi tính hóa tại 3

cấp: trung ương, tỉnh, huyện) để ghi nhận và tổng hợp thông tin cơ bản về mỗi

cá nhân trong hộ gia đình (tên, tuổi, dân tộc, địa chỉ, vv ) và dữ liệu vềKHHGĐ để phục vụ công tác quản lý ở tất cả các cấp

- Cục QLKCB sử dụng cơ sở dữ liệu trực tuyến ghi nhận tên, đặc điểm và

các yếu tố dữ liệu để phục vụ công tác quản lý theo nhóm nhân lực y tế với mụctiêu hoàn thiện việc kiểm kê cán bộ y tế được cấp chứng chỉ hành nghề

- Cục YTDP sử dụng cơ sở dữ liệu và thử nghiệm ứng dụng phần mềm thứ

hai trong ghi nhận các ca bệnh, tử vong và dịch bệnh bùng phát

- Chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR)sử dụng cơ sở dữ liệu dự kiến

sẽ thực hiện trực tuyến vào giữa năm 2014, với mục tiêu phân phối, tăng diệnbao phủ của TCMR và kiếm soát các trường mắc bệnh có vắc xin phòng ngừa

Trang 16

- Phòng thông tin thống lê, Vụ kế hoạch- tài chính đã xây dựng vả đang sử

dụng phần mềm sử lý báo cáo cho tuyến tỉnh và huyện

- Điều phối và chỉ đạo

Bộ y tế đã thành lập Ban chỉ đạo tăng cường Hệ thống thông tin y tế do Bộtrưởng làm trưởng Ban, lãnh đạo các vụ, cục, viện của Bộ Y tế và Tổng cụcThống kê là thành viên Bộ cũng đã xây dựng được nhóm làm việc với sự thamgia của các chuyên viên làm công tác thông tin thống kê, tin học vủa các vụ, cục,viện trong ngành Y tế và Tổng cục Thống kê là thành viên, vụ Trưởng vụKHTC, Bộ Y tế là trưởng nhóm Quy chế và nội dụng làm việc của Ban chỉ đạo

và nhóm làm việc đã được xây dựng và ban hành Việc thành lập Ban chỉ đạo vànhóm làm việc là điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng và phát triển hệ thống,đặc biệt là sự hợp tác và chia sẻ thông tin

2.2.1.2 Chỉ số

Năm 2006, được sự hỗ trợ của UNDP và TCTK, Bộ y tế phối hợp với các

vụ, cục, viện, các chương trình y tế quốc gia xây dựng Danh mục chỉ số thống

kê y tế Bản danh mục này đã được chuẩn hóa về khái niệm, định nghĩa, phươngpháp thu thập, công thức tính toán, nguồn số liệu Sau một thời gian triển khai,

Bộ Chỉ số Y tế cơ bản đã phát huy tác dụng trong việc phân tích, đánh giá, xâydựng kế hoạch và hoạch định chính sách Do có sự thống nhất về khái niệm,phương pháp thu thập, tính toán nên chất lượng số liệu đã có những cải thiệnđáng kể Tuy nhiên trước nhu cầu thông tin ngày càng cao của quốc gia và quốc

tế, một số chỉ số đã không cần thiết, trong khi đó lại thiếu một số chỉ số quantrọng, chính vì vậy năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số43/2010/QĐ-TTg về việc:”Ban hành Hệ thống chỉ tiêu Thống kê Quốc gia”.Thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế đã xây dựng và hoànthiện Bộ chỉ số Y tế cơ ngành y tế và đã được ban hành tại Thông tư số 06 ngày

14 tháng 2 năm 2014 Trong đó có sự phân công trách nhiệm giữa Hệ thốngthông tin Quản lý Y tế và các tiểu hệ thống nhằm hạn chế sự chồng chéo trongthu thập và xử lý số liệu Trong 5 năm trở lại đây, một số các Vụ Cục đã tiếnhành rà soát các chỉ số riêng, trong đó,Cục QLKCB,chương trìnhphòng chốngHIV/AIDS(thuộc Cục Phòng chống HIV/AIDS), chương trình lao, dinh dưỡng,tiêm chủng mở rộng, và Cục YTDP

Căn cứ Hệ thống chỉ sổ đã ban hành, hàng năm Hệ thống thông tin y tế đã

cố gắng thu thập, tính toán và công bố hàng loạt các chỉ sốphục vụ phân tích,đánh giá và hoạch định chính sách như: Các chỉ số đánh giá thực hiện mục tiêuchiến lược của ngành, các chỉ tiêu thống kê Quốc gia phân cho ngành y tế, cácchỉ số hoạt động của các lĩnh vực, các chương trình y tế quốc gia và một số chỉ

Trang 17

số đánh giá thực trạng sức khỏe của người dân Việt Nam Tuy nhiên một số chỉ

số quan trọng chưa được cung cấp thường xuyên và chưa được phân tổ theo yêucầu của các nhà quản lý, như: Bệnh tật, tử vong phân theo giới, tuổi, nguyênnhân hay các chỉ số đánh giá sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe, như đốitượng sử dụng dịch vụ y tế phân theo dân tộc, vùng hay nhóm thu nhập v.v…

2.2.1.3 Nguồn thông tin

Như trên đã trình bày, thông tin y tế không chỉ thu thập bằng một phươngpháp và từ một nguồn duy nhất, mà phải thu thập từ nhiều nguồn và bằng nhiềuphương pháp khác nhau, cụ thể:

- Điều tra dựa vào cộng đồng

* Tổng điều tra Dân số, thực hiện 10 năm 1 lần; Điều tra dân số giữa kỳ5năm/lần Biến động dân cư và kế hoạch hóa gia đình hàng năm; Điều tra MICSthực hiện 5 năm 1 lần; Điều tra nhân khẩu và sức khỏe 5 năm/ lần; Điều tra mứcsống dân cư hai năm /1 lần

* Điều tra y tế quốc gia y tế quốc gia, theo dự kiến sẽ tiến hành 10năm/lần Cuộc điều tra đầu tiên được tiến hành từ năm 2001 tuy nhiên đến nay

đã hơn 10 năm vẫn chưa thực hiện được điều tra lần 2 do thiếu kính phí; Tổngđiều tra dinh dưỡng 10 năm/lần; Điều tra về tỷ lệ nhiễm HIV và hành vi, kiếnthức về HIV 2 năm/lần v.v

- Điều tra tại cơ sở y tế:

Điều tra bệnh viện, thực chất là kiểm tra bệnh viện, được tiến hành năm

để thu thập thông tin về hoạt động của bệnh viện và kiểm tra chất lượng cung cấp dịch vụ y tế của từng bệnh viện

Các điều tra kể trên đã cung cấp nhiều thông tin quý báu phục vụ phântích về kết quả hoạt động của ngành y tế và thực trạng sức khỏe nói của ngườidân chung, đặc biệt là sức khỏe phụ nữ và trẻ em

- Hệ thống báo cáo định kỳ

* Hệ thống báo cáo định kỳ của ngành y tế: Hệ thống sổ sách, biểu mẫucủa Hệ thống thông tin thống kê Y tế quản lý (HMIS) và các tiểu hệ thống đãđược xây dựng và ban hành đã giúp cho việc cập nhật, thu thập và báo cáo thống

kê định kỳ đang dần đi vào nề nếp Những quy định hiện hành về công tác thôngtin thống kê y tế đã có tác dụng làm cho hệ thống hoạt động đồng bộ hơn và đápứng tốt hơn nhu cầu thông tin cho công tác quản lý y tế, điều hành hoạt động ởtất cả cơ sở y tế công tại các tuyến, các lĩnh vực và chương trình y tế quốc gia

* Hệ thống báo cáo định kỳ của các Bộ ngành khác: Hệ thống thông tincủa BHXH để cập nhật về tình hình tham gia BHYT, tình hình thu BHYT và chi

Trang 18

trả cho công tác khám chữa bệnh cho những bệnh nhân có BHYT; hệ thống báocáo định kỳ của Bộ Tài chính về Ngân sách chi cho ngành y tế; Tổng cục Thống

kê về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người, tổng chi ngân sáchnhà nước v.v

- Hệ thống giám sát các bệnh truyền nhiễm gây dịch:

Hệ thống này hoạt động khá tốt, thông tin về mắc, tử vong các bệnh

truyền nhiễm gây dịch hoặc các bệnh dịch bùng phát đều được cập nhật và báo cáo kịp thời

Ngoài ra thông tin y tế còn phải thu thập từ công cộng thông qua mạnglưới công tác viên dân số và y tế thôn bản, bao gồm thông tin về sinh tử, bệnhtruyền nhiễm, dịch bùng phát, tai nạn thương tích, vệ sinh môi trường v.v…

2.2.1.4 Quản lý dữ liệu

Quản lý dữ liệu được chia thành năm bước: i) thu thập và lưu trữ, ii) biênsoạn và tổng hợp, iii) kiểm soát chất lượng, iv) phân tích và trình bày, và v) báocáo và phản hổi

Hiện nay việc quản lý và lưu trữ thông tin của Hệ thống thông tin y tế đãđược thực hiện từ xã, huyện tỉnh và trung ương Tại xã /phường ( trạm Y tế) lưutrữ số liệu chủ yếu bằng sổ sách ghi chép ban đầu và biểu mẫu báo cáo Các cơ

sở y tế từ tuyến huyện trở lên lưu trữ thông tin bằng hai hình thức là lưu trữ trênmáy tính cá nhân và bằng sổ sách, biểu mẫu báo cáo Một số đơn vị y tế đang sửdụng phần mềm thì còn lưu trữ trên server Tuy nhiên việc kiểm tra, giám sát vàquản lý thông tin từ thu thập, xử lý, lưu trữ và công bố số liệu chưa thực sự tốtcần phải tăng cường Hệ thống thông tin phản hồi về chất lượng số liệu chưađược thực hiện đồng bộ và thường xuyên

2.2.1.5 Các sản phẩm thông tin

Hệ thống thông tin thống kê tổng hợp đã có nhiều sản phẩm thông tin, đặcbiệt là Niên giám thống kê Y tế hàng năm và các ấn phẩm thống kê đã đượcxuất bản đều đặn, với việc sử dụng thông tin từ báo cáo thống kê của 63 Sở Y tếtỉnh, thành phố, số liệu của các Vụ, Viện, Chương trình Y tế Quốc gia và số liệucủa các cuộc điều tra do Tổng cục thống kê thực hiện Thông tin trong các ấnphẩm này đã phục vụ đông đảo người sử dụng trong nước cũng như Quốc tế

Một số tỉnh đã xây dựng Niên giám thống kê Y tế phản ánh hoạt động y tếtrong tỉnh Các tiểu hệ thống thông tin của các lĩnh vực, các chương trình y tếquốc gia cũng có sản phẩm thông tin là những báo cáo hàng năm Hệ thống giámsát các bệnh dịch lây cũng có Niên giám về mắc chết các bệnh truyền nhiễm gâykdịch theo tỉnh và theo thời gian

Trang 19

Ngoài ra còn có những báo cáo về kết quả điều tra do Ngành Y tế thựchiện như: Điều tra Dinh dưỡng 10 năm 1 lần; điều tra Y tế Quốc gia; điều tragiám sát về HIV/AIDS, tử vong mẹ; điều tra bướu cổ Các báo cáo nghiên cứucủa các viện, các trường đại học, các báo cáo đề tài nghiên cứu cấp nhà nước,cấp bộ mà sản phẩm là những công trình nghiên cứu khoa học, luận án có nhiềugiá trị thông tin Báo cáo hàng tuần về các ca mắc bệnh truyền nhiễm có độ nguyhiểm cao và/hoặc về sự bùng phát của các bệnh truyền nhiễm được Cục YTDPthực hiện Trong suốt thời gian bùng phát bệnh, số ca mắc và tử vong được báocáo hàng ngày Báo cáo JAHR cũng được coi là ấn phẩn quan trọng trong hệthống thông tin y tế, có thể phục vụ nhiều mục đích, do tổng hợp thông tin từnhiều nguồn với sự tham gia của nhiều bên và được rà soát cẩn thận

2.2.1.6 Phổ biến và sử dụng thông tin

Việc phổ biến thông tin hiện nay của Hệ thống thông tin y tế chủ yếu làxuất bản các ấn phẩm như sách, báo cáo một số thông tin quan trọng và các vấn

đề đang ảnh hưởng lớn đến sức khỏe như: các bệnh dịch lây, bệnh mới lạ, ngộđộc thực phẩm, hóa chất, tai nạn thương tích đã được đưa lên các thông tin đạichúng như: Truyền hình, đài, báo, website Đối với một số cuộc điều tra, ngoàibáo cáo kết quả điều tra còn phổ biến tại các cuộc họp công bố (hội thảo, hộinghị) Mạng lưới phổ biến thông tin đã được củng cố và tăng cường Thư viện Yhọc đã cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau thông qua hệ thống củamình Mạng lưới truyền thông – Giáo dục sức khỏe đã bao phủ trên cả nước vớinhiệm vụ cung cấp thông tin để tăng cường sự hiểu biết của người dân về chămsóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe

Tại Hà Nội, các buổi tọa đàm trực tuyến về tình hình bệnh truyền nhiễmgây dịch giữa sáu vùng địa lý sinh thái đã được thực hiện hàng tuần tại vănphòng theo dõi và đánh giá trung ương Các buổi tọa đàm này còn được thựchiện thường xuyên hơn khi có bệnh dịch bùng phát hoặc khi có trường hợp khẩncấp khác

Thông tin y tế đã được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau: (1) Thôngtin được các cơ quan hoạch định chính sách và quản lý vĩ mô sử dụng làm bằngchứng để xây dựng chính sách, chiến lược và kế hoạch, y tế đồng thời để theodõi, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện (2) Thông tin được sử dụng theodõi, giám sát nâng cao chất lượng, hiệu quả các chương trình mục tiêu và kếtquả hoạt động của mạng lưới phòng bệnh, chữa bệnh, chăm sóc SKSS thông quacập nhật, hướng dẫn điều trị, danh mục thuốc chủ yếu, quy trình kỹ thuật (3)Thông tin được sử dụng để giám sát, đánh giá tác động, hiệu quả, mức độ baophủ của các can thiệp chính sách, can thiệp y tế (4) Thông tin được chia sẻ đểtạo ra sự hiểu biết chung về tình hình giữa các ban ngành liên quan để hợp tác

Trang 20

giải quyết những vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe (5) Thông tin được sử dụng đểnghiên cứu khoa học và đào tạo (6) Thông tin được sử dụng để tuyên truyền chocộng đồng về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe

Bên cạnh những thành tích đã đạt được, Hệ thống thông tin vẫn còn những khó khăn và bất cập cần giải quyết.

2.1.8 Những khó khăn tồn tại

Hệ thống thông tin y tế và các tiểu hệ thống phát triển manh mún, thiếuđồng bộ Thêm vào đó là áp lực nhiều từ phía các nhà quản lý, kế hoạch, hoạchđịnh chính sách của các cơ quan nhà nước hay những nhà đầu tư Thông tin yêucầu từ các chương trình, dự án thường quá nhiều, qúa chi tiết đã gây quá tải chocác cơ sở y tế Thông tin y tế hiện nay được thu thập chủ yếu là từ các cơ sở y tếcông Một số thông tin quan trọng chưa được thu thập thường xuyên và chưađảm bảo độ tin cậy cần thiết Việc sử dụng, phân tích số liệu và dự báo cònnhiều hạn chế ở tất cả các tuyến Nguyên nhân của những tồn tại là do: Thiếu sựphối kết hợp giữa các hệ thống thông tin y tế và giữa hệ thống thông tin y tế vớicác hệ thống thông tin của các bộ/ngành liên quan Nguồn lực đầu tư chưa tươngxứng với yêu cầu hoạt động của Hệ thống, cụ thể: Những chính sách đã banhành liên quan đến hệ thống thông tin y tế vẫn còn thiếu đồng bộ; Nhân lực củalàm công tác thông tin thống kê y tế không ổn định, yếu về chuyên môn, thiếu

về số lượng; Việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong xử lý, lưu trữ và chuyển tảithông còn chậm đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng số liệu, tính kịp thời vàyêu cầu của người sử dụng …Dưới đây là một số vấn đề đang nổi cộm của hệthống thông tin y tế

2.2.1.7 Nguồn lực

- Những chính sách đã ban hành

Mặc dù đã có nhiều chính sách được ban hành liên quan đến Hệ thốngthông tin thống kê nói chung và Hệ thống thông tin y tế nói riêng, song vẫnchưa bao chùm toàn bộ các khía cạnh và các thành phần của hệ thống thông tinthống kê y tế, cụ thể: Một số chính sách tuy được ban hành, nhưng chưa đượcthực hiện, phần vì những chính sách đưa ra lại thiếu các giải pháp và những điềukiện triển khai, thiếu quy định về nhân lực và kinh phí thực hiện các chính sách

đó Việc tuyên truyền vận động thực hiện các chính sách chưa được thườngxuyên và rộng khắp Các chính sách liên quan đến hệ thống thông tin y tế trêntuy đã có sự phân công, song chưa quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ thuthập, xử lý, cung cấp và chia sẻ thông tin giữa các tiểu hệ thống thông tin trongngành y tế, đã gây lên sự chồng chéo; Cơ quan thống kê Quốc gia, Bộ Tài chính,

Trang 21

BHXH và Bộ Y tế chưa thiết lập cơ chế điều phối và hợp tác trong quá trình thuthập và chia sẻ thông tin

- Tổ chức và nhân lực của Hệ thống thống kê y tế

Như trên đã trình bày, Hệ thống thông tin y tế gắn liền với mạng lưới cungcấp dịch vụ y tế Song do tổ chức y tế tuyến quận huyện chưa thống nhất, đã gâynhững khó khăn trong việc thu thập và cung cấp thông tin Về nhân lực của hệthống thông tin y tế, theo đánh giá năm 2012: “Nhân lực làm công tác thông tin y

tế thiếu về mặt số lượng, yếu về chuyên môn và không ổn định”.Tại Bộ Y tế,trước đây là tổ thông tin thống kê và mới được chuyển thành Phòng thống kê Y tếthuộc Vụ Kế hoạch-Tài chính Phòng Thống kê Y tế là cơ quan chịu trách nhiệmcao nhất về công tác thống kê Y tế với chức năng: Quản lý Nhà nước về công tácthống kê Y tế, xây dựng các chính sách liên quan đến công tác thông tin thống kê

y tế; Xây dựng và quản lý thống nhất các chỉ tiêu thống kê y tế, phương pháp thuthập, ghi chép, quy trình thực hiện, quy chế cung cấp và sử dụng số liệu, hệ thốngbiểu mẫu thống kê thống nhất trong toàn Ngành; Hướng dẫn nghiệp vụ thống kêcho các đơn vị các tuyến; Tổ chức và quản lý các điều tra, đánh giá về các hoạtđộng của ngành Y tế cũng như các yếu tố liên quan đến tình trạng sức khoẻ conngười Tổng hợp và phân tích số liệu thống kê định kỳ: hàng năm, 5 năm, 10 năm.Biên soạn, xuất bản Niên giám thống kê Y tế và các ấn phẩm thống kê khác; Làđơn vị duy nhất cung cấp số liệu thống kê Y tế để công bố ở trong và ngoài nước;Xây dựng và ứng dụng các thành tựu công nghệ tin học trong xử lý, lưu trữ vàtruyền tin; Thực hiện chế độ báo cáo thống kê cho các cơ quan thống kê nhànước, các cơ quan tổng hợp của Chính phủ và các tổ chức quốc tế Kiểm tra giámsát việc thực hiện công tác thống kê của các cơ sở y tế trong toàn quốc v.v Vớikhối lượng công việc được giao lớn như vậy, song chỉ có 5 cán bộ trong biên chếnhà nước và 1 cán bộ hợp đồng

Sở Y tế vừa phải tổng hợp số liệu về hoạt động y tế và thực trạng sức khỏecủa nhân dân trong tỉnh, vừa phải chịu trách nhiệm xây dựng mạng lưới thống

kê trong tỉnh cũng chỉ có 1 cán bộ làm công tác thống kê Các bệnh viện lớn từ

500 giường bệnh trở lên mới có 1 cán bộ thống kê chuyên trách Còn các vụ,cục, viên các chương trình y tế quốc gia tại tuyến trung ương, tỉnh, huyện tuy có

bố trí cán bộ làm công tác thống kê nhưng hầu hết họ phải kiêm nhiệm thêm một

số công việc khác như xây dựng kề hoạch, quản lý hành chính, kế toán hoặccung cấp dịch vụ y tế v.v

Do đặc thù của công tác thống kê Y tế, đặc biệt là thống kê bệnh tật, tửvong trong bệnh viện, thống kê của hệ thống giám sát, thống kê phòng chốngcác bệnh xã hội như Lao, phong, Da liễu, tâm thần, sốt rét, HIV vì phải kiêmnhiệm một số công việc liên quan đến cung cấp dịch vụ y tế nên nhiều cán bộ

Trang 22

làm công tác thông tin thống kê tuy có trình độ chuyên môn về y, dược, songphần lớn số cán bộ này chưa được tập huấn về nghiệp vụ thu thập, xử lý, phântích và sử dụng số liệu kể cả tuyến trung ương Họ làm việc chủ yếu dựa vàokinh nghiệm bản thân hoặc học hỏi những người đã làm việc trong lĩnh vựcthống kê y tế Trong mấy năm gần đây, Bộ y tế và các lĩnh vực, các chương trìnhcũng đã cố gắng tổ chức các lớp tập huấn, nhưng do kinh phí có hạn nên các lớptập huấn chủ yếu là hướng dẫn ghi chép biểu mẫu sổ sách, báo cáo và tính toánmột số chỉ tiêu đơn giản Đây là nguyên nhân chất lượng số liệu, kiến thức phântích, đánh giá và dự báo dựa vào số liêu thống kê còn hạn chế

Cán bộ làm công tác thống kê tin học của các cơ sở y tế không ổn định,phần do chính sách đãi ngộ cho những cán bộ này thường thấp hơn so với cán

bộ cùng trình độ nhưng làm ở lĩnh vực khác, phần do phải kiêm nhiệm nhiềuviệc khác trong khi đó sự quan tâm của các cấp, các ngành đến công tác thôngtin thống kê của các Bộ ngành còn hạn chế Năm 2009, Thủ tướng Chính phủ

đã ký Quyết định số 45/2009/QĐ-TTg về việc ban hành chế độ phụ cấp ưu đãitheo nghề đối với cán bộ, công chức làm công tác thống kê, song Quyết định nàymới được thực hiện ở hệ thống Thống kê Nhà nước Thêm vào đó kiến thức sửdụng số liệu của cán bộ quản lý, thống kê các cấp còn yếu Quan niệm làmthống kê là để báo cáo cấp trên là phổ biến nên đã không khuyến khích ngườilàm công tác thông tin thống kê y tế cũng như đầu tư cho lĩnh vực này

- Ngân sách đầu tư cho hệ thống thông tin y tế

Một số tiểu hệ thống thông tin y tế có Dự án trong nước hoặc Quốc tế,tuy có sự hỗ trợ về kỹ thuật và trang thiết bị để thu thập và xử lý thông tin, song

sự hỗ trợ này chỉ tập trung ở một số vùng /tỉnh của Dự án và thời gian mà dự áncòn hoạt động nên không bao phủ được toàn bộ hệ thống cùng như tình bềnvững sau khi kết thúc dự án

Nhìn chung ngân sách đầu tư cho hệ thống và tiểu hệ thống thông tinthống kê y tế rất thấp và không thường xuyên Trong kế hoạch phân bổ ngânsách hàng năm của các tuyến kể cả tuyến trung ương không có dòng ngân sáchdành riêng cho công tác thông tin thống kê y tế Đây là vấn đề khó khăn mà Hệthống không thể tiến hành các cuộc điều tra định kỳ cũng như tổ chức các khóađào tạo, mua sắm thiết bị, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật trongcông tác thông tin thống kê y tế, thậm chí cả in ấn biểu mẫu, đặc biệt là tỉnhnghèo và vùng khó khăn

- Cơ sở hạ tầng

Việc trang bị thiết bị tính toán cho các cơ sở y tế nói chung và cho côngtác thông tin thống kê nói riêng tuy đã có sự cải thiện song vẫn còn nhiều bấtcập Hiện tại, hầu hết các trạm y tế chưa được trang bị máy vi tính Một số

Trang 23

Trung tâm y tế quận huyện, phòng khám bệnh, cán bộ làm công tác thông tinthống kê chưa được trang bị máy vi tính riêng mà phải sử dụng chung với các bộphận khác như kế họach, kế toán, quản lý hành chính v.v Nhiều bệnh tuyếntỉnh kể cả tuyến trung ương, tuy được trang bị máy tính song cấu hình rất thấp,

hệ thống mạng quá cũ không đáp ứng yêu cầu của các phần mềm quản lý, xử lý

và chuyển tải thông tin Phương tiện thông tin liên lạc (Telecommunication) cònhạn chế.Một số phần mền tuy đã được xây dựng và đưa vào hoạt động nhưngvẫn còn trục trặc, các phân hệ của phần mềm chưa kết nôi được với nhau

2.2.1.8 Hệ thống chỉ tiêu thống kê y tế

Mặc dù Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và chỉ tiêu Ngành y tế đã

được chỉnh sửa nhằm đáp ứng nhu cầu của người dung tin, song việc thu thập số

liệu để tính toán các chỉ tiêu vẫn còn gặp nhiều khó khăn, do một số nguyênnhân: (1) Hệ thống biểu mẫu sổ sách, báo cáo của một số lĩnh vực và chươngtrình ban hành đã khá lâu và không thống nhất, đặc biệtbiểu mẫu ghi chép banđầu và báo cáo của bệnh viện (hồ sơ bệnh án và sổ sánh ghi chép ban đầu banhành từ năm 2001; biểu mẫu báo cáo ban hành từ năm 1997) Chính vì vậy một

số chỉ tiêu thu thập không còn giá trị, trong khi lại thiếu những chỉ tiêu quantrọng (2) Việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực y tế còn quá chậm nênkhông thể cung cấp những thông chi tiết phục vụ phân tổ chỉ tiêu theo đặc điểmdân số như: (tuổi/giới); theo kinh tế /xã hội (nhóm thu nhập, trình độ văn hóa);Theo đơn vị hành chính (tỉnh, huyện, xã, nông thôn/ thành thị), cụ thể như bệnhtật theo tuổi/ giới, nhân lực phân theo tuổi/giới/ dân tộc (3) Một số chỉ tiêu phảithu thập bằng phương pháp điều tra nhưng do không có kinh phí để thực hiệnnên không thể thu thập được; (4) Kinh phí đầu tư cho công tác thống thông tinquá thấp đã có những khó khăn trong việc sửa đổi, triển khai hệ thống biểu mẫumới và đầu tư ứng dụng công nghệ tin học cho hệ thống và tiểu hệ thống thôngtin y tế

2.2.1.9 Nguồn số liệu

Thông tin y tế được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, cụ thể: Từ cáctiểu hệ thông của các lĩnh vực, các chương trình mục tiêu y tế quốc gia trongngành y tế, hệ thống thông tin của các Bộ/Ngành liên quan với các phương phápkhác nhau như: Điều tra dựa trên dân số, giám sát các bệnh dịch lây, các bệnhkhông lây, hệ thống báo cáo định kỳ và khảo sát hồ sơ quản lý của các cơ sở y

tế Trong những năm qua, Hệ thống thống kê Nhà nước (TCTK) đã tiến hànhnhiều cuộc điểu tra để thu thập những thông tin, trong đó có nhiều thông tin liênquan đến y tế như: Tổng điều tra Dân số; Điều tra Biến động Dân cư vàKHHGĐ; Khảo sát Mức sống dân cư; Điều tra Nhân khẩu và Sức khỏe ; Điều

Trang 24

tra đánh giá mục tiêu về trẻ em và phụ nữ Việt nam (MICS) …Nhìn chung sốliệu của hệ thống thông kê nhà nước đã hỗ trợ cho ngành y tế trong việc phântích, đánh giá và hoạch định chính sách phát triển của Ngành Tuy nhiên, hầu hếtcác số liệu thu thập từ các cuộc điều tra trên mới cung cấp ở mức độ Quốc gianên đã khó khăn cho các cơ sở y tế tuyến dưới trong việc phân tích đánh giá,cung cấp dịch vụ y tế và xây dựng kế hoạch, đặc biệt tuyến huyện và xã Một sốthông tin quan trọng chưa được cung cấp thường xuyên, chưa kịp thời và khôngđảm bảo độ tin cậy cần thiết như chết mẹ, chết trẻ em <1 tuổi, <5 tuổi và nguyênnhân tử vong

Hệ thống hộ tịch là nguồn thông tin chính về sinh, tử Số liệu về sinh, tửcủa Bộ Tư pháp thu thập dựa vào những người dân chủ động đến khai sinh vàkhai tử nên thường chậm và không đầy đủ, do việc thực hiện Luật khai báo sinh,

tử chưa được nghiêm Theo quyết định ban hành hệ thống biểu mẫu báo cáo của

Bộ tư pháp năm 2006, trong đó có quy định báo cáo về 4 nhóm nguyên nhânchính, như: chết do bệnh tật, già yếu; chết do tai nạn, chết do tự tử và các trườnghợp khác Song rất nhiều trường hợp tử vong không khai báo được nguyên nhânhoặc khai báo không chính xác Chính vì vậy, năm 2011, Bộ Tư Pháp có banhành Thông tư số 08/2011/TT-BTP ngày 5 tháng 4 năm 2011 về việc hướng dẫnmột số nội dung công tác thống kê của ngành Tư pháp, trong thông tư này khôngquy định báo cáo nguyên nhân tử vong

Hệ thống thông tin y tế, hàng năm tuy có thu thập và công bố nguyênnhân tử nhưng chỉ là nguyên nhân tử vong trong bệnh viện Số liệu này rất thấp

so với thực tế vì nhiều trường hợp già yếu chết tại nhà hoặc có những trườnghợp nằm bệnh viện đến khi gần tử vong lại xin về nhà chết thì không được thuthập Nguyên nhân tử vong là thông tin cực kỳ quan trọng đối với ngành y tế Sốliệu về nguyên nhân tử vong không chỉ phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch,hoạch định chính sách mà còn phục vụ nghiên cứu khoa học để có các giải phápkịp thời làm giảm những căn bệnh có nguy cơ tử vong cao

Khắc phục tình trạng thiếu sót trên, Bộ Y tế đã ban hành công cụ thu thậpthông tin tử vong tại cộng đồng (Sổ A6 /YTCS) Theo báo cáo điều tra khảo sátthực địa của trường ĐHYK Hà nội, trường ĐHYTCC và chương trình PCTNTT,chương trình PC Bệnh ung thư thì bộ công cụ thu thập thông tin về tử vong tạicộng đồng do Bộ Y tế xây dựng là khá tốt Bộ công cụ này có khả năng cung cấpđược thông tin về nguyên nhân tử vong phân theo bệnh tật, đặc điểm dân số(tuổi/giới), nghề nghiệp, dân tộc, khu vực hành chính (thành thị/nông thôn, vùngsinh thai và tỉnh, huyện) Song trong biểu mẫu báo cáo của các tuyến không quyđịnh báo cáo nguyên nhân tử vong từ cộng đồng (Sổ A6/YTCS) Nếu như hệ

Trang 25

thống này được củng cố và tăng cường đào tạo đội ngũ nhân viên y tế xã vàthôn bản về cập nhật thông tin thì sẽ cung cấp được số liệu có giá trị.

Bộ Y tế đã tổ chức các cuộc điều tra y tế Quốc gia lần 1 năm 2001 -2002,dưới sự tài trợ của SIDA- Thụy Điền Đây là cuộc điều tra đầu tiên của ngành y

tế Cuộc điều tra đã đánh giá khá toàn diện về hoạt động cung cấp dịch vụ y tế,thực trạng sức khỏe và các yếu tố nguy cơ hàng đầu đến sức khỏe của người dânViệt nam Song trên 10 năm qua, ngành y tế vẫn chưa thể triển khai cuộc điều tralần 2 do thiếu kinh phí Vì vậy đã khó khăn cho việc phân tích và so sánh về sựtiến bộ trong công tác chăm sóc sức khỏe Bên cạnh điều tra y tế quốc gia, mộtloạt cuộc điều tra chuyên môn được thực hiện như: Điều tra Dinh dưỡng, Điều trabướu cổ, điều tra về TNTT, HIV v.v… Các cuộc điều tra trên chủ yếu dựa vànguồn kinh phí được cấp để tính tóan cơ mẫu điều tra và nội dung điều tra nên kếtquả còn hạn chế Số liệu điều tra thường cung cấp rất chậm và cũng chỉ ở tuyếnQuốc gia và vùng nên chưa đáp ứng nhu càu thông tin tuyến tỉnh và huyện

Nguồn số liệu từ hệ thống báo cáo định kỳ, hiện tại mới thu thập được từcác cơ sở y tế công lập, thiếu số liệu của các cơ y tế ngoài công lập nên số liệuchưa phản ánh chính xác thực trạng sức khỏe cũng như hoạt động cung cấp dịch

vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của toàn lĩnh vực y tế Bộ Y tế đã xây dựngđược bộ công cụ thu thập số liệu của các cơ sở y tế tư nhân, hy vọng trong cácnăm tới chất lượng số liệu sẽ được cải thiện

Hệ thống giám sát các bệnh truyền nhiễm gây dịch, tiểu hệ thống thôngtin của các lĩnh vực như SKSS; sốt rét; TCMR …tuy đã được xây dựng và hoạtđộng từ rất nhiều năm nay, nhưng việc phối hợp và chia sẻ thông tin gữa khoalây, khoa sản của các bệnh viện với Hệ thống Giám sát và các tiểu hệ thống tạicác tuyến còn hạn chế Do việc kết nối, chia sẻ thông tin giữa các hệ thống vớibệnh viện chưa tốt Một số tỉnh đã yêu cầu trạm y tế xã/phường ngoài việc thuthập tổng hợp thông tin về hoạt động cung cấp dịch vụ y tế tại trạm y tế còn phảithu thập thông tin từ bệnh viện nên đã gây sự quá tải cho cán bộ trạm y tế vàchất lượng thông tin chưa thực sự đảm bảo độ tin cậy

Mô hình bệnh tật của Việt Nam trong những năm gần đây đã có sự thayđổi đáng kể, các bệnh truyền nhiễm gây dịch đang có chiều hướng giảm dầntrong khi đó các bệnh không lây như ung thư, tim mạch, đái tháo đường, tai nạnthương tích, ngộ độc gia tăng Chính phủ Việt nam đã ban hành nhiều chính sáchnhằm hạn chế mắc và chết của các bệnh trên, song số liệu hiện nay của ngành y

tế chỉ thu thập được các trường hợp mắc/ chết các bệnh trên tại cơ sở khám chữabệnh, thiếu thông tin cụ thể về số người mắc, chết Nguyên nhân của vấn đề này

là do hệ thống ghi nhận một số bệnh không lây chưa được củng cố và tăngcường Việc thiếu thông tin hoặc thông tin không đầy đủ về các bệnh không lây

Trang 26

đã khó khăn cho phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các chính sách cũng nhưtìm ra những biện pháp phòng ngừa và điều trị thích hợp

Số liệu tài chính thường rất chậm, không đầy đủ và chưa đảm bảo chínhxác Nguyên nhân của vấn đề này là do quản lý tài chính chưa được tập trung theongành Bộ Y tế chịu trách nhiệm phân bổ và quản lý tài chính của cơ quan bộ vàcác đơn vị y tế Trung ương Tại địa phương, Sở Tài chính phân bổ kinh phí hoạtđộng của các đơn vị y tế tuyến tỉnh và bệnh viện quận, huyện, Trung tâm Y tế( bao gồm trạm Y tế xã/phường) thông qua Sở Y tế Kinh phí hoạt động của cácđơn vị y tế thuộc các ngành khác là do các bộ ngành chủ quản quản lý Đối vớicác dự án viện trợ hoặc vay vốn nước ngoài cũng đã chuyển trực tiếp tới các tỉnhquản lý Do nhiều đầu mối quản lý, song chưa xây dựng được CSDL về tài chínhthông qua việc kết nối các nguồn thu/chi và chưa có quy chế phối kết hợp và chia

sẻ thông tin về tài chính giữa các cơ quan và các tuyến cũng như các nhà tài trợ

Số liệu về tài chính y tế, hiện nay chỉ thu thập được chủ yếu từ ngân sách nhànước cấp nhưng rất chậm và không đầy đủ Theo kết quả của lập TKYT quốc gianăm 2010 thì số liệu về chi do NSNN cấp chỉ chiếm khoảng 35% trong khi đó chingoài ngân sách cao hơn gần 3 lần (65.%) Khắc phục tình trạng trên, trong mấynăm gần đây được sự tài trợ của WHO, Bộ y tế đã triển khai lập tài khoản, songmới thực hiện được ở cấp quốc gia và chưa triển khai rộng rãi, đã khó khăn choviệc phân tích đánh giá hiệu quả cung cấp dịch vụ y tế của các tỉnh và lĩnh vực,các chương trình y tế quốc gia như Lao, phong, sốt rét, tâm thần v.v

Còn nhiều thông tin cần thiết phục vụ phân tích, đánh giá và hoạch định chính sách đang thiếu nguồn thu thập như: các yếu tố nguy cơ đến sức khỏe (nước sạch, vệ sinh môi trường); sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe; chi phí cung ứng các loại dịch vụ y tế …

Nhiều nguồn thông tin chưa bền vững Hiện nay ngành y tế dựa khá nhiềuvào các cuộc điều tra như MICS, SAVY, DHS, ĐTYTQG do nước ngoài tài trợ, chưa đưa vào điều tra y tế quốc gia

2.2.1.10 Quản lý số liệu

Quản lý thông tin bao gồm quản lý một loạt các quy trình từ khi cập nhật,thu thập, xử lý, lập báo cáo, chuyển tải, phổ biến và lưu trữ số liệu Hiện nayviệc quản lý số liệu của Hệ thống thông tin y tế và tiểu hệ thông chưa thực sựtốt do: Chưa có cơ chế giám sát và quy định tiêu chuẩn chất lượng số liệu Cácđợt kiểm tra, giám sát chất lượng số liệu của các tuyến trên với tuyến dưới chưađược tiến hành định kỳ Thông tin phản hồi chất lượng số liệu không đảm bảo

độ tin cậy chưa được thực hiện thường xuyên

Trang 27

Việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong xử lý, lưu trữ và chuyển tải thôngtin tuy đã có cải thiện, song vẫn còn chậm đã ảnh hưởng không nhỏ đến chấtlượng thông tin, tính kịp thời và yêu cầu của người dùng tin.

Cơ sở Dữ liệu của toàn ngành cũng như từng lĩnh vực, từng tuyến cònnghèo nàn, chưa bao gồm số liệu liên quan của các nguồn khác nhau Số liệuchưa được quản lý một cách khoa học và chưa được cập nhật, lưu trữ, chuyển tảibằng những phương tiện hiện đại đã khó khăn cho việc khai thác, sử dụng vàphân tích số liệu

2.2.1.11 Sản phẩm thông tin

Hệ thống thông tin y tế và các tiểu hệ thống đã có nhiều sản phẩm thôngtin phục vụ quản lý, giám sát và điều hành các họat động của ngành cũng nhưcác lĩnh vực, các chương trình y tế quốc gia Tuy nhiên sản phẩm thông tin cònđơn giản, chủ yếu là các bảng biểu, đồ thị, biểu đồ dưới dang ấn phẩm truyềnthống như sách, tờ rơi, báo cáo Chưa có sản phẩm về phân tích và dự báonguyên nhân tác động đến họat động y tế cũng như thực trạng sức khỏe củangười dân Hầu hết các chỉ tiêu thống kê y tế chưa được phân tổ một cách khoahọc đáp ứng đươc nhu cầu của người sử dụng thông tin Một số thông tin quantrọng chưa được cung cấp thường xuyên và chưa đảm bảo độ tin cậy cần thiếtnhư: tử vong mẹ, em, ngân sách y tế bình quân đầu người v.v Thiếu thông tin

về họat động của các cơ sở y tế ngoài công lập nên một số chỉ tiêu chưa phảnánh chính xác các họat động y tế cũng như thực trạng sức khỏe của người dân.Thiếu thông tin về nguyên nhân tử vong và bệnh tật theo tuổi/ giới Đây lànhững thông tin hết sức quan trong cho ngành y tế trong việc nghiên cứu, đánhgiá và dự phòng

Các sản phẩm thông tin điện tử chưa được phát triển nhiều, đã gây khókhăn cho việc tiếp cận thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin, đặc biệt lànhững người cần phân tích sâu dựa trên cơ sở dữ liệu không phải là ấn phẩm.Việc này đã ảnh hưởng đến công bố sản phẩm thông tin y tế sâu rộng

2.2.1.12 Phổ biến và sử dụng thông tin

Trong mấy năm gần đây, một số điều tra lớn đã có lịch rõ ràng về việc phổbiến số liệu Các kết quả điều tra khi hoàn thành đã tổ chức họp báo, phát ấnphẩm và đưa tài liệu lên mạng, song những thông tin trên chỉ là những thông tintổng hợp chính của cả quốc gia hoặc vùng, thiếu những thông tin phục vụ chocác chuyên ngành khác nhau, cũng như thông tin phục vụ cho các tuyến dưới.Nhiều cuộc điều tra liên quan đến các hoạt động y tế chưa được công bố rộngrãi Hoạt động phổ biến thông tin nhìn chung vẫn hoạt động đơn lẻ của các hệthống do chưa hình thành sự kết nối, chia sẻ thông tin và phân công, phân nhiệm

Trang 28

rõ ràng giữa Hệ thống thông tin y tế với các Bộ ngành liên quan và giữa các tiểu

hệ thông trong lĩnh vực y tế Chất lượng thông tin cũng rất hạn chế, thể hiện rõnhất ở tình trạng số liệu của nhiều chỉ tiêu quan trọng của các Bộ, Ngành công

bố không thống nhất Tình trạng này đã làm cho người sử dụng thông tin lúngtúng, làm nảy sinh sự hoài nghi độ tin cậy của các số liệu Hầu hết các nguồnthông tin trong nội bộ ngành y tế do thiếu nhân lực, nguồn lực để tổng hợpnhanh, thiếu chế tài để yêu cầu các đơn vị chấp hành lịch báo cáo, thiếu cơ chếgiám sát chất lượng và chưa có quy chế phổ biến số liệu nên những người cầnthông tin khó tiếp cận

Hình thức phổ biến thông tin qua các sản phẩm điện tử còn hạn chế Sảnphẩm thông tin y tế được đưa lên mạng internet, trang web của Hệ thống thôngtin và các tiểu hệ thống nghèo nàn, không được thường xuyên

Về năng lực phân tích và sử dụng số liệu trong hệ thống y tế còn yếu,thậm chí cả tuyến trung ương Số liệu tại các tuyến tỉnh và tuyến trung ươngmới được phân tích sơ bộ thông qua tính toán các chỉ tiêu và trình bày theo cácbảng biểu, đồ thị Việc phân tích sâu để đánh giá xu hướng phục vụ dự báo haynhững vấn đề, những yếu tố nguy cơ mà hệ thống y tế đang phải đối mặt chưađược thực hiện thường xuyên Nguyên nhân của vấn đề này là do:

* Kiến thức về sử dụng số liệu trong phân tích, đánh giá, dự báo của cácnhà quản lý, kế hoạch và thống kê ở các tuyến còn hạn chế do phần đông trong

số họ chưa được tập huấn kỹ năng phân tích, đánh giá số liệu cũng như sử dụngcác phần mềm phân tích như: STATA, SPSS, GIS

* Số liệu của hệ thống thông tin thống kê y tế được sử dụng chủ yếu đểđánh giá về thực trạng và báo cáo tuyến trên, chưa được sử dụng nhiều trongviệc tính toán các chỉ tiêu kế hoạch cũng như phân bổ nguồn lực tại tuyến tỉnh

và các tuyến dưới nên đã không thấy hết được tầm quan trọng của số liệu

* Chất lượng thông tin y tế hiện nay còn có những hạn chế nhất định nênảnh hưởng không nhỏ đến việc sử dụng số liệu trong phân tích, đánh giá vàhoạch định chính sách

2.2.1.13 Ứng dụng CNTT và truyền thống trong HTTTYT

Trong những năm qua, việc triển khai ứng dụng và phát triển CNTT vàtruyền thông đã được ngành Y tế đặc biệt quan tâm, nhiều cơ sở y tế đã đầu tưmua sắm trang thiết bị và xây dựng phần mềm quản lý và xử lý số liệu song vẫnchưa đáp ứng được nhu cầu hiện nay Theo báo cáo đánh giá thực trạng ứngdụng CNTT/TT của Hệ thống y tế, năm 2010 vẫn còn nhiều tồn tại và bất cập:

Trang 29

việc thu thập, xử lý, lưu trữ chuyển tải thông tin và công bố số liệu còn mangnặng tính thủ công Một số phần mềm quản lý, báo cáo tuy đã được xây dựng,nhưng vẫn còn nhiều lỗi, các phân hệ phần mềm không thể kết nối được vớinhau và chưa kết xuất được báo cáo theo yêu cầu của Bộ Y tế và các ban ngànhđịa phương Ứng dụng điện tử trong xây dựng bệnh án, cung cấp dịch vụ tư vấn,khám chữa bệnh từ xa, chuyển tải hình ảnh phục vụ chẩn đoán và điều trị còn rấtkhiêm tốn Theobáo cáo củaCục QLKCBnăm 2012 và 2013, cho thấykhông cógói ứng dụng nào hiện nayđược sử dụngtrong nướccó thể đáp ứngtất cả cácchứcnăng của bệnh án điện tử theo tiêu chuẩn của WHO.

- Tài liệu hướng dẫn, trong đó mô tả và định hướng việc sử dụng cácchuẩn về thuật ngữ y tế (ICD-10, SNOMED), trao đổi thông tin và các bệnh án(HL7) cũng như mã hóa đặc biệt của Cục CNTT thực sự vẫn chưa hữu dụng tạicác cơ sở

- Bệnh án điện tử ra đời đã phải đối mặt với một trở ngại lớn do nhữnghạn chế trong quá trình phổ biến và việc áp dụng các chuẩn then chốt và cơ bảncho bệnh nhân; ICD-10 phục vụ phân loại chẩn đoán bệnh mới áp dụng tại 300bệnh viện và ICD-9-CM Volume 3 về mã hóa phẫu thuật thủ thuật vẫn chưađược phổ biến

-Việc có máy vi tính tại các cơ sở y tế không nói lên việc xử lý, lưu trữ vàtrao đổi thông tin có hiệu quả Trong một số trường hợp, máy tính có sẵn nhưngcác dữ liệu thông tin lại không được chia sẻ giữa các nhà quản lý, các cán bộchương trình hay cán bộ thống kê Máy vi tính và các trang thiết bị khác sẽkhông thể được sử dụng hiệu quả khi chưa có các phần mềm thích hợp Hầu hếtcác phần mềm sử dụng tại các bệnh viện hiện nay vẫn được thiết kế theo hìnhthức là các cơ sở dữ liệu ngoại tuyếnvà chưa thể sử dụng trực tuyến

- Chưa có sự giám sát sự đồng bộ về tính năng và kiểu mẫu của máy vitính, cũng như tính tương thích của phần mềm ứng dụng của máy vi tính

- Những điều trên cho thấy máy vi tính, phần mềm ứng dụng chưa đủ đápứng cho việc quản lý hệ thống bệnh án điện tử cũng như đáp ứng các yêu cầucủa HTTTYT và theo dõi đánh giá

Nguyên nhân của sự hạn chế trên là do việc đầu tư ứng dụng CNTT vàtruyền thông còn thấp và không thường xuyên, thêm vào đó là trình độ về CNTTcủa nhân lực y tế còn hạn chế, đặc biệt là tuyến y tế cơ sở, cơ sở hạ tầng nhưmáy móc thiết bị cũ, lạc hậu

3 CÁC VẤN ĐỀ ƯU TIÊN

Trang 30

Như trên đã trình bày, hệ thống thông tin thống kê còn nhiều vấn đề tồn tại cần giải quyết, song do khả năng về nguồn nhân lực cũng như bối cảnh hiện nay vì vậy trong những năm tới cần tập trung vào những vấn đề ưu tiên như sau:

- Đầu tư cho HTTTYT

Việc đầu tư cho HTTTYT cần chú trọng hỗ trợ thay đổi phương pháp tiếpcận, cụ thể tăng cường và cải thiện HTTTYT cần tập trung vào bốn nhóm hưởnglợi sau đây:

* Các nhà hoạch định chính sách y tế và các lãnh đạo BYT sẽ tiếp cận cácthông tin và bằng chứng có hệ thống, đầy đủ và thích hợp về các vấn đề y tếtổng thể như: Hoạt động và theo dõi đánh giá hệ thống y tế, các phương án đểhướng tới mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân, các can thiệp để kiểm soát các bệnhkhông lây nhiễm và các hoạt động nhằm giải quyết vấn đề bất công bằng trongtiếp cận và chất lượng dịch vụ

*Cán bộ quản lý y tế các cấp sẽ tiếp cận các dữ liệu có chất lượng để phântích kết quả hoạt động của ngành y tế và phục vụ cho quá trình ra quyết địnhcũng như theo dõi đánh giá các kết quả được tốt hơn

*Cán bộ chương trình y tế và các nhà cung cấp dịch vụ dự phòng, khámchữa bệnh,sẽ tiếp cận thông tin nhanh, chính xác để đối phó/kiểm soát bệnh dịch

và cải thiện chất lượng dịch vụ thông qua việc chia sẻ (điện tử) dữ liệu giám sátcủa các CTMTQG

*Bệnh nhân và khách hàng, những người sẽ được hưởng quyền tiếp cậncác thông tin sức khỏe của cộng đồng nói chung và sức khỏe của chính họ.Trong tương lai, cùng với sự phát triển của y tế điện tử, kể cả các bệnh nhân ởvùng sâu, vùng xa cũng sẽ được tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng Bêncạnh đó, các bệnh án sẽ hoàn toàn được kiểm soát với tính an ninh và bảo mậttuyệt đối

Sau đây là các phương án ưu tiên của chính sách mới nhằm xây dựngHTTTYT tiên tiến:

3.1 Trong ngắn hạn:

3.1.1 Chuyển dịch đầu tư

Cần chuyển dịch đầu tư (nguồn vốn, nhân lực y tế, và trang thiết bị) theophương pháp tiếp cận “theo chiều ngang” thay vì “theo chiều dọc” trướcđâynhằm nâng cao khả năng lập kế hoạch và theo dõi đánh giá tại các tuyến.Chính vì vậy đầu tư vào HTTTYT cần hướng vào cơ cấu y tế tại tuyếntỉnh/thành phố, huyện và xã

Trang 31

Trong 5 năm tới đây, HTTTQLYT cần được nâng cấp và hỗ trợ mạnh mẽ

về mặt nhân lực và phương tiện Đồng thời, các cán bộ và phòng ban củaHTTTQLYT phải trở thành đầu mối của mọi luồng dữ liệu Tại mọi cấp quản lý(trung ương, tỉnh/thành phố và huyện)cần có sự phối hợp tốt hơn giữa nhữngtiểu HTTTYT với cơ sở dữ liệu của HTTTQLYT nhằm 2 mục đích chiến lược:tích hợp dữ liệu và cải thiện chất lượng dữ liệu:

-Tích hợp: lựa chọn và tích hợp dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, đặcbiệt là các dữ liệu liên quan đến cán bộ, chi tiêu và đầu ra vì đây là các dữ liệuphải gửi đến các nhà lãnh đạo, nhà quản lý và lập kế hoạch Việc phân tích các

dữ liệu này cần phải phục vụ mục tiêu đầu ra là các báo cáo, bảng biểu, biểu đồ

và bản đồ giúp công tác theo dõi đánh giá và quản lý dịch vụ

-Chất lượng: Thẩm định dữ liệu, kiểm tra định kỳ tính liên kết và nhấtquán của dữ liệu Tổ chức đánh giá (thông qua điều tra) chất lượng dữ liệu vànguồn dữ liệu trên toàn quốc ít nhất 3 năm một lần Định kỳ hàng năm, kiểm trachéo dữ liệu, so sánh các con số và giá trị được cung cấp bởi nhiều nguồn khácnhau

Vụ KHTC/Phòng thống kê (và các vụ, cục, tổng cục khác trong Bộ Y tế) cầnđược tăng cường về chức năng liên quan đến HTTTQLYT, trong đó tập trungnâng cao năng lực về:

* Phân tích dữ liệu

*Trách nhiệm theo dõi đánh giá

* Khả năng CNTTTT nhằm quản lý kho dữ liệu tổng hợp quốc gia

Cụ thể, Vụ KHTC/Phòng thống kê phải có khả năng cải tiến và cập nhật cáccông cụ định kỳ (chỉ số, biểu mẫu, quy trình quản lý dữ liệu) Việc giảm sốlượng các chỉ số báo cáo định kỳ và các công cụ biểu mẫu cần phải duy trì tại tất

Trang 32

3.1.3 Phương tiện

Về phương tiện, một trong những biện pháp quan trọng nhất là đồng bộhóa các công cụ biểu mẫu giấy tờ khi Danh mục Chỉ số y tế Cơ bản Quốc gia đãđược thông qua và giảm thiểu số lượng sổ sách và biểu mẫu báo cáo Một hoạtđộng khác cũng cần làm ngay đó là hợp lý hóa các hồ sơ bệnh án, sổ ghi chép vàbiểu mẫu báo cáo hiện nay tại các bệnh viện Trong một hay 3 năm tới, các công

cụ giấy tờ tại bệnh viện cần được chuẩn hóa và trở thành một phần của bộ dữliệu và công cụ HTTTQLYT quốc gia Việc rà soát định kỳ các chỉ số và công cụbiểu mẫu nên trở thành một quy định trong chính sách về HTTTYT quốc gia

3.1.4 CNTTvà truyền thông

Đối với CNTT và truyền thông, việc xây dựng kiến trúc tổng thể hiện naycần được hoàn tất nhằm đưa ra cách tiếp cận hợp lý hơn đối với sự phát triểnkhông có hệ thống của các ứng dụng phần mềm hiện đang được sử dụng trongcác bệnh viện và các cơ quan quản lý y tế Xây dựng được kiến trúc tổng thể sẽ

hỗ trợ BYT trong việc hoạch định chính sách và các quy định phát triển CNTT

và truyền thôngvà y tế điện tử, cụ thể trong các lĩnh vực:

- Mã định danh trong y tế

- Tính riêng tư, bảo mật, lưu trữ và duy trì thông tin sức khỏe cá nhân

- Bảo vệ người tiêu dùng bao gồm các vấn đề trên môi trường trực tuyến,quyền tiếp cận và sử dụng/tiết lộ thông tin sức khỏe cá nhân, và việc sửdụng thông tin thứ cấp

- Thủ tục kiểm tra và khiếu nại (ví dụ các trường hợp nghi ngờ tiết lộ cácthông tin cá nhân)

- Quy chế cấp phép cũng là một vấn đề quan trọng để đảm bảo các đơn vị

tư nhân chịu trách nhiệm về các cấu phần của môi trường y tế điện tửquốc gia đáp ứng các tiêu chuẩn về tính bảo mật, nguyên vẹn và an ninhcủa dữ liệu

3.1.5 Xây dựng một kho dữ liệu tích hợp

Việc xây dựng một kho dữ liệu tích hợp cũng là một hoạt động cần đặt ưutiên cao, trước hết là tại tuyến trung ương, sau đó là các tuyến thấp hơn và đếntuyến xã Việc tích hợp các dữ liệu về nhân lực y tế, ngân sách/chi tiêu và số dịch

vụ đã cung ứng là một quá trình khổ cực nếu thực hiện thủ công thông qua cácbiểu mẫu giấy tờ Vi tính hóa và tính tương tác giữa các cơ sở dữ liệu sẽ khôngthể thực hiện được nếu không có một nỗ lực lớn trong việc chuẩn hóa Tất cả các

Trang 33

Vụ/Cục, phòng ban và các chương trình cần dành đủ nhân lực, thời gian vàphương tiện phù hợp vào việc sắp xếp và hợp lý hóa các chỉ số và công cụ.

3.1.6 Chuẩn hóa chỉ số

Việc chuẩn hóa cần được bắt đầu từ việc phân loại các chỉ số và việc mãhóa các cơ sở y tế, nhân lực, thuốc, quy trình và thủ thuật lâm sàng Bước tiếptheo là việc mã hóa các dịch vụ kỹ thuật và thuật ngữ y tế đang được sử dụng tạicác bệnh viện Đây sẽ là điều kiện tiên quyết cho việc vi tính hóa tất cả các khoa

và các dịch vụ

3.1.7 Thiết lập một cơ sở dữ liệu trực tuyến

Việc cấp thiết tiếp theo là bắt đầu thiết lập một cơ sở dữ liệu trực tuyếnvới các đặc điểm của một kho dữ liệu tại tất cả các TYT xã trong toàn quốc Đốivới mạng lưới chăm sóc sức khỏe (xem Hình 2: Mạng lưới cung ứng dịch vụ ytế), đã đến thời điểm phải chú tâm vào phần đáy của hình tháp và đảm bảo giảmthiểu khối lượng công việc của cán bộ, số hóa các dữ liệu ban đầu và hợp lý hóacác luồng dữ liệu

3.2 Trong trung hạn

Khi việc vi tính hóa toàn bộ các TYT xã hoàn thành hoặc đã bao phủkhoảng 50% toàn quốc, khi quá trình mã hóa và chuẩn hóa các thuật ngữ y tếcũng như phân loại các quy trình đã mở rộng tới toàn bộ hoặc hầu hết các bệnhviện trong toàn quốc, việc tiếp theo cần làm là rà soát hệ thống chỉ số, các yếu tố

dữ liệu và hệ thống sổ sách ghi chép, các công thức và biểu mẫu báo cáo

có đủ số bác sỹ gia đình, sự cải thiện các dịch vụ lưu động/ngoại trạm TYT xã),

hồ sơ sức khỏe điện tử xem định nghĩa “Hồ sơ sức khỏe điện tử” trong phầnGiải thích Thuật ngữ) sẽ là bước tiếp theo của bệnh án điện tử như đã diễn ra ởhầu hết các nước Châu Âu

Trang 34

3.1.9 Tăng cường chất lượng thông tin phục vụ lãnh đạo và quản trị

Trong các trụ cột của Hệ thống Y tế thì trụ cột lãnh đạo và quản trị quantrọng Các nhà hoạch định chính sách, các lãnh đạo và các nhà quản trị tại tất cảcác tuyến rất cần thông tin để đưa ra các quyết định trong điều hành hệ thốngchăm sóc và bảo vệ sức khỏe

Cũng giống như HTTTYT, trụ cột này có vai trò xuyên suốt các trụ cộtkhác Hình 7 được trích từ ấn phẩm của WHO có tựa đề “Công việc của Mọingười (Everybody’s Business)” Lãnh đạo và quản trị nằm ở trung tâm, thể hiệnchức năng tạo sự trao đổi và hỗ trợ qua lại giữa các trụ cột khác

Hình 7: Lãnh đạo- Quản trị có vai trò xuyên suốt trong các chức năng của hệthống y tế

Lãnh đạo Y tế có trách nhiệm giải trình về hoạt động , tài chính và kỹthuật với cơ quan chính phủ, UNND tỉnh và các cơ quan có thẩm quyền liênquan Việc thực hiện trách nhiệm giải trình cũng cần phải được cân nhắc khi tiếnhành cải cách HTTTYT trong tương lai vì đây có thể là động lực thúc đẩy sựphát triển của hệ thống Y tế Chính vì vậy, yêu cầu có nguồn thông tin đáng tincậy cũng như các phân tích tốt

Trong đỉnh tháp của ngành y tế về quản trị, các quyết định dưới hình thứccác văn bản pháp luật (như luật, nghị định, quyết định) và các phương án chiếnlược phải được dựa trên số liệu thực tế và các bằng chứng nên cần xây dựngmột “Bộ phận chuyên môn, đạt trong phòng thống kê, vụ KHTC” với sự thamgia của những người có chuyên môn cao cung cấp như các nhà nghiên cứu, các

CUNG ỨNG DỊCH VỤ

NHÂN LỰC Y TẾ

DƯỢC – TTB – CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH

THÔNG TIN

LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN TRỊ

Trang 35

nhà dịch tễ học và kinh tế học Bộ phận này sẽ đưa ra được các tài liệu về dịch tễhọc và phân tích các vấn đề chủ chốt theo phương pháp toàn diện và hữu dụng.

Lập kế hoạch trong dài hạn và trung hạn thuộc trách nhiệm của các lãnhđạo cấp cao trong khi việc lập kế hoạch hoạt động hàng năm lại thuộc về tráchnhiệm của các lãnh đạo y tế cơ sở với các mức độ trách nhiệm và thẩm quyềnkhác nhau Họ phải đảm nhận việc lựa chọn các ưu tiên, theo dõi các kết quả vàphân tích thực trạng y tế Do quá trình phân cấp hiện nay đòi hỏi số lượng thôngtin nhiều hơn, việc cải thiện chất lượng dữ liệu và cơ chế theo dõi đánh giá trởthành các hoạt động cấp thiết

Trong bối cảnh hiện nay, điều quan trọng là các chức năng được giaochoHTTTQLYT cần phải được chuẩn hóa - với vai trò là xương sống của các tiểuHTTTYT Hệ thống này cần nhận được sự đầu tư hơn để cải thiện các sản phẩmthông tin và quy trình vận hành của mình

Đối với Bộ Y tế cần thống nhất mô hình tổ chức của các quận/huyện Tốtnhất là Trung tâm y tế quận/huyện nên kết hợp khám chữa bệnh với các dịch vụ

y tế dự phòng và các chương trình Trong TTYT có một đơn vị quản lý hànhchính chịu trách nhiệm thu thập tổng hợp được đầy đủ thông tin phản ảnh toàncảnh về hoạt động y tế và sức khỏe của người dân trong quận/huyện

3.1.10 Tăng cường chất lượng thông tin về nhân lực y tế

Các chức năng chính của trụ cột nhân lực do Vụ Tổ chức Cán bộ (TCCB)

và Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo (KHCNĐT) thực hiện Theo lãnh đạocác Vụ Cục này cho biết, vấn đề chính mà họ đang gặp phải là thiếu thông tincần thiết để nâng cao năng lực cho một khối lớn nhân lực đang công tác tại các

cơ sở y tế, các tuyến Để giải quyết được thách thức này, cần phải cập nhật toàn

bộ nhân lực đang công tác trong ngành.Khả năng của Vụ TCCB trong việc phânloại cán bộ, chia theo ngạch bậc, cập nhật thâm niên, triển vọng nghề nghiệp vàtrình độ học vấn/đào tạo còn hạn chế do phụ thuộc vào việc xử lý số liệu thủcông và ứng dụng vi tính còn đơn giản, chỉ là các bảng Excel

Các dữ liệu thống kê về việc phân bổ và luân chuyển cán bộ có thể thuthập từ bộ phận hành chính của các cơ sở y tế, tuy nhiên các dữ liệu này khôngđược chia sẻ hay trao đổi giữa các đơn vị

Nhu cầu tập huấn và đào tạo liên tục cũng là các mảng mà thông tin hiệnđang phân tán giữa các Vụ Cục khác nhau: Cục KHCNĐT, Vụ TTCB và SYT.Chưa có bản kế hoạch nào về triển vọng nghề nghiệp hay nâng cao năng lực chocán bộ

Trang 36

Phát triển tiểu hệ thống thông tin nhân lực y tế cần dựa trên các sáng kiếnhiện có Vụ TCCB có thể phối hợp với Cục CNTT phát triển ý tưởng của CụcQLKCB nhằm phát triển một cơ sở dữ liệu về nhân lực y tế tiến tiến (cấu trúc“

ba tầng“ trực tuyến) để nhập thông tin nhân lực y tế và để lãnh đạo y tế của cáctuyến trung ương, tỉnh và huyện có thể tiếp cận các thông tin này Để thực hiệnđược sáng kiến trên cần có đầu tư lớn về mặt thời gian, con người và kinh phí.Chi phí rõ ràng sẽ cao hơn nếu BYT quyết định sử dụngcác ứng dụng phần mềm

tư nhân trên thị trường thay vì các ứng dụng phần mềm mã nguồn mở nhưiHRIS (http://www.ihris.org/) theo khuyến nghị của WHO

3.1.11 Tăng cường chất lượng thông tin tài chính

Trụ cột Tài chính, bao gồm các chức năng của Vụ KHTC và Vụ BHYT.Nguồn vốn của Chính phủ và các nguồn vốn bên ngoài đang được quản lý thôngqua các quy trình khác nhau và chưa được mã hóa BYT đang hướng tới việcnâng caotrách nhiệm giải trình tài chính tại tuyến trung ương, tuyến tỉnh/thànhphố và quận/huyện, đặc biệt là vấn đề chi phí các hoạt động của bệnh viện

Dữ liệu tài chính vẫn bị phân tán trong một số các ứng dụng phần mềm vàkhông có bộ dữ liệu nào được lựa chọn và tích hợp vào một hệ thống cơ sở dữliệu Chưa có mô tả chung nào về các nguồn tài chính Năm 2005 WHO đã hỗtrợ một hoạt động về Tài khoản Y tế Quốc gia, nhưng dữ liệu về ngân sách thuđược từ phí bệnh viện và các dịch vụ kỹ thuật không được lưu trữ thống nhất, vàcách phân loại tại mỗi tỉnh/thành phố và huyện cũng khác nhau Như phân tích ởtrên, tại nhiều bệnh viện, các dữ liệu về sử dụng dịch vụ và các đầu ra dịch vụđược nhập vào phần mềm MediSoft trong khi các dữ liệu về doanh thu và chiphí được nhập vào phần mềm khác (ví dụ MISA) Việc cân đối chi phí theo từngkhoa/dịch vụ, theo số ngày nội trú của bệnh nhân hay theo loại bệnh và điều trị

là cực kỳ khó nếu không muốn nói là không thể thực hiện Thực tế, việc đánhgiá hoạt động của bệnh viện không tính đến chi phí các dịch vụ, do đó việc thẩmđịnh tính hiệu quả của tổ chức là không khả thi

Hầu hết mọi người đều nhất trí rằng một trong các hoạt động ưu tiên làđiều chỉnh các khoản thanh toán BHYT dựa vào thực tế số lần KCB, dịch vụ vàquy trình kỹ thuật mà các TYT xã và bệnh viện cung cấp cho các bệnh nhân có

Trang 37

đã đánh dấu bước tiến trong việc đồng bộ, thông qua và thực hiện chuẩn

ICD.9-CM tại các bệnh viện trong toàn quốc theo thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế.Điều này cho phép các mã sử dụng tại Việt Nam có thể tương thích trong việctrao đổi các dữ liệu trong khu vực và toàn cầu Như vậy BYT và BHXHVN cần

đi đến thống nhất do các cơ quan này hiện đang sử dụng danh mục mã khácnhau Phần lớn các nước trên Thế giới sử dụng ICD.9- CM Ủy ban của WHO

và các tổ chức hợp tác xây dựng phiên bản ICD-10 cũng đã xây dựng bản cậpnhật của ICD.9- CM có tên ICD.10- PCS Tuy nhiên, hướng dẫn này chỉ sử dụngtại Úc và Canada với một số thay đổi và điều chỉnh; Hợp chủng quốc Hoa Kỳ sẽ

áp dụng phiên bản này vào tháng 10 năm 2014

Các vấn đề khác hiện đang tồn tại là việc thiếu mã thống nhất cho cácbệnh viện và các cơ sở y tế cũng như mã thống nhất cho các cán bộ và bệnhnhân Ví dụ BHXHVN không có các dữ liệu thống kê liên tục cho các bệnh nhân

có thẻ BHYT do mỗi năm lại có một thẻ BHYT mới được phát hành Điều nàykhiến ta liên tưởng đến trường hợp một cá nhân không có một số chứng minhnhân dân trong suốt cuộc đời họ Tuy nhiên Chính phủ đã giao nhiệm vụ về mãđịnh danh cho Bộ Công An nên vấn đề này có thể được giải quyết trong thờigian sắp tới

3.1.12 Tăng cường thông tin về Dược- Trang thiết bị -Công nghệ

Trụ cột Dược- Tang thiết bị- Công nghệ liên quan đến chức năng nhiệm

vụ của nhiều đơn vị như Cục Quản lý Dược, chương trình TCMR, chương trìnhvắc xin, Vụ Trang thiết bị và Công trình Y tế, các khoa Xét nghiệm và Chẩnđoán hình ảnh trong bệnh viện, Cục KHCNĐT và Cục CNTT

Hoạt động ưu tiên của trụ cột này là kêu gọi sự tham gia của tất cả cácđơn vị trong quá trình mã hóa và chuẩn hóa các hoạt động của họ Việc mã hóacác sản phẩm thuốc men là rất cần thiết cho việc sử dụng của khu vực y tế công

và tư nhân

Việc mở rộng vi tính hóa hiện có cũng rất cần thiết Chương trình TCMRhiện nay đã có hệ thống cơ sở dữ liệu khá rộng Bước tiếp theo là thúc đẩy côngtác nhập các dữ liệu trên giấy tờ vào các phần mềm vi tính tại tuyến quận/huyện

Đối với thông tin về thuốc trong các cơ sở điều trị phải nỗ lực hơn nữatrong việc tích hợp vào phần mềm trong quản lý của hệ thống cơ sở dữ liệu

3.1.13 Tăng cường thông tin trong cung ứng dịch vụ

- Các dịch vụ tại cộng đồng

Trang 38

Sự thiếu nhất quán giữa các dữ liệu dân số và các ước tính gây ra trở ngạilớn đối với các cán bộ y tế trong việc đánh giá độ bao phủ của vắc-xin và một sốchỉ tiêu y tế khác tại các tuyến cơ sở Thông thường, TYT xã và trung tâm y tếquận/huyện không thể dựa vào các dữ liệu dân số ước tính từ các cuộc điều trachọn mẫu do TCTK cung cấp mà sử dụng số liệu được cung cấp từ hệ thống DS-KHHGĐ do các dữ liệu được cập nhật thường xuyên hơn Tuy nhiên, đây khôngphải là các dữ liệu chính thức và không được đưa vào các quy định hay quy trình

cụ thể

Sự thiếu nhất quán cũng xảy ra đối với dữ liệu số sinh Số sinh có thể bịtính hai lần do ca sinh có thể thực hiện tại TYT xã, phòng khám đa khoa hay tạibệnh viện tuyến huyện và tỉnh Đối chiếu dữ liệu giữa các cộng đồng, hộ khẩu

và các ghi chép của các cơ sở y tế phải trở thành quy trình định kỳ, thườngxuyên

Vấn đề tương tự cũng xảy ra với số tử trong cộng đồng và trong các cơ sở

y tế Cụ thể, việc ghi chép các nguyên nhân tử vong rất ít được thực hiện vàthường không chính xác như đã nêu trong phần Phân tích thực trạng

Dữ liệu nhân khẩu học do TCTK cung cấp 10 năm một lần thông qua các cuộctổng điều tra dân số quốc gia, hay thông qua khảo sát liên điều tra dân số thựchiện 5 năm một lần, điều tra dân số hàng năm dựa vào lấy mẫu, cho phép đưa racác ước tính Hoạt động không thể thay thế trong thời gian trung hạn được đềcập trong bản kế hoạch tổng thể này là thực hiện điều tra đặc biệt về tình hìnhgiảm sát tỷ lệ tử vong như điều tra đã thực hiện năm 2009 do nhiều cơ quan y tếcấp quốc gia hỗ trợ

-Tăng cường chất lượng thông tin giám sát và kiểm soát bệnh

Trong công tác giám sát các bệnh lây nhiễm, có sự tham gia của một sốVụ/Cục như Cục YTDP, Cục Vệ sinh An toàn Thực phẩm và Cục Quản lý Môitrường Y tế Việc khai báo các bệnh lây nhiễm cũng được thực hiện tương đối đivào nề nếp Tuy nhiên, vẫn có nguy cơ khai báo thiếu hoặc trùng lặp cùng một

ca mắc bệnh Nguyên nhân của vấn đề này là do thiếu sự phối kết hợp và chia sẻthông tin giữa các cơ sở điều trị và dự phòng Đặc biệt là các bệnh viện trungương, bệnh viện ngành Hệ thống thông tin phản hồi từ tuyến trến xuống chưađược tốt

Hầu hết các huyện đều không có bộ phận quản lý y tế công cộng thốngnhất Điều này đôi khi gây ra sự chậm trễ trong công tác ứng phó kịp thời và đầy

đủ đối với các dịch bệnh bùng phát

Nhiều yếu tố có thể cùng ảnh hưởng đến các hoạt động, cụ thể là tại cáchuyện nơi trung tâm y tế dự phòng tách riêng bệnh viện và việc quản lý các

Trang 39

nguồn lực vẫn chưa được rõ ràng giữa giám đốc bệnh viện, giám đốc TTYThuyện và trưởng phòng y tế huyện.

Các luồng dữ liệu “theo chiều dọc”, cụ thể là các biểu mẫu báo cáo đượcgửi từ tuyến xã lên đến tuyến trung ương theo các nhánh báo cáo riêng và làmtăng nguy cơ khai báo trùng lặp và chẩn đoán nhiều lần cho cùng một ca bệnh.Việc thiếu sự điều phối và tích hợp của dữ liệu đã tạo ra vòng tròn luẩn quẩn, sựtồn tại nhiều tiểu hệ thống thống tin của các chương trình giống nhau càng làmcho luồng dữ liệu bị phân mảnh

Thường không có bản đồ rủi ro sức khỏe tại tuyến xã và tuyến huyện hoặcnếu có, thì lại được xây dựng và định dạng khác nhau theo cách tính toán và phân tích của từng đơn vị, chương trình

Để khác phục tình trạng tồn tại trên, trong những năm tới cần thống nhất

mô hình tổ chức của huyện Trung tâm y tế huyện phải có một bộ phận để thu thập số liệu phản ảnh hoạt động y tế và tình trạng sức khỏe của toàn huyện

-Bệnh viện, các cơ sở y tế và dịch vụ khám chữa bệnh

Đẩy mạnh hệ thống thông tin bệnh viện và các cơ sở cung cấp dịch vụkhám chữa bệnh Trước hết là chuẩn hóa các quy trình hoạt động và thông tin,xây dựng mã cho mỗi cơ sở y tế trong khu vực y tế công và tư nhằm đảm bảo

sự nhất quán giữa các dữ liệu được tính toán từ nhiều nguồn khác nhau Tiếptheo đó là triển khai mở rộng mã cán bộ và mã bệnh nhất trên toàn quốc Thêmvào đó, cần tiếp tục chuẩn hóa các thuật ngữ y tế tại bệnh viện (ICD.10 có 4 kýtự) và các quy trình kỹ thuật (ICD.9-CM) là các điều kiện tiên quyết nhằm thỏamãn tính tương tác và vấn đề vi tính hóa

Một số hoạt động can thiệp ưu tiên trong lĩnh vực này được mô tả trongphần các mục tiêu của trụ cột Quản trị, Nhân lực Y tế hay Dược-TTB-Côngnghệ do chúng cùng có chung mục tiêu phát triển

4 KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN HTTTYT ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN

2030

4.1 Tầm nhìn đến năm 2030

Hệ thống thông tin thống kê y tếphát triển đồng bộ, thống nhất theohướng hiện đại, đạt các tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng nhu cầu thông tin của Chínhphủ, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

Trang 40

4.2 Sứ mệnh

-HTTTYT với vai trò là một trong sáu trụ cột sẽ tuân thủ chiến lược tổngthể của ngành y tế và sẽ xây dựng một hệ thống toàn diện, tích hợp trên nền tảngcác lĩnh vực liên quan đến y tế

-HTTTYT sẽ trở thành một hệ thống được điều phối tốt và sẽ cung cấpcác dữ liệu thống kê y tế thích hợp, đầy đủ, chính xác và kịp thời

-HTTTYT sẽ phát triển dựa trên tính chuyên nghiệp, minh bạch, nhấtquán và đúng tiêu chuẩn đạo đức, đảm bảo tính an toàn, bảo mật của hồ sơ dữliệu cá nhân

-HTTTYT sẽ góp phần tăng cường chăm sóc sức khỏe nhân dân và sự cảithiện dịch vụ y tế theo hướng nâng cao chất lượng, phân phối nguồn lực côngbằng và hiệu quả

-HTTTYT sẽ hỗ trợ các nhà cung cấp dịch vụ y tế và nhân lực y tế thôngqua việc chia sẻ thông tin tốt hơn, quản lý và theo dõi giám sát hệ thống y tếhiệu quả hơn; đồng thời hỗ trợ các nhà quản lý, chức trách và hoạch định chínhsách có cơ sở để dự báo, xây dựng chính sách dựa vào bằng chứng nhằm đápứng các yêu cầu của Chính phủ, các tổ chức và người dân

4.1.2 Mục tiêu cụ thể

Thông tin lãnh đạo, quản trị

1 Tăng cường năng lực quản trị của ngành y tế thông qua thông tin tích hợpvàHTTTQLYT được cải thiện

2 Tăng cường năng lực quản trị của ngành y tế thông qua thông tin chuẩn;thống nhất các chỉ số, đánh giá chất lượng các cơ sở y tế công lập và tư nhân

Ngày đăng: 12/04/2018, 00:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w