Hồ Hữu Tường soạn철철 철 철 철철Phân nửa người Việt Nam, từ Thanh Hóa trở ra, về phương diện hỏi, ngã, nói và viết rất đúng, còn một phân nửa, từ Nghệ, Tịnh trở vào, nói không phân biệt hai th
Trang 1Tìm Hiểu Tiếng Việt(베베베베 베베)
Chính Tả(철철철, 철철철철)
Phép nói và viết hỏi ngã(철철 철철철 철철 철철 철철철 철)
Tính cách âm học của hai thanh hỏi ngã(베 베베 베베베 베베베 베베베 베베)
Muốn nói được hỏi ngã(베베베 베베베 베베베 베베베.)
Làm sao biết được tiếng nào hỏi, tiếng nào ngã(베베 베베 베베베 베베 베베베 베베베 베 베 베베베
Trang 2Hồ Hữu Tường soạn(철철 철 철 철철)
Phân nửa người Việt Nam, từ Thanh Hóa trở ra, về phương diện hỏi, ngã, nói và viết rất đúng, còn một phân nửa, từ Nghệ, Tịnh trở vào, nói không phân biệt hai thanh này và viết rất lầm.(베베베베 베베베베 베베베베베 베베베베베 베베베 베베 베 베베베 베베 베베베베베 베베베 베베 베베베베베 베베베 베 베 베베베 베 베베베 베베베 베베베 베베베베 베베베 베베베 베베베베
Sự trộn lộn hai thanh này thành một sẽ là một việc làm cho tiếng Việt nghèo nàn thêm, và làm cho lắm câu thành tối nghĩạ Người có ý thức không ai dám chủ trương một việc nông nổi như vậỵ(베 베 베베베 베베베 베베 베베베 베베베베베 베베 베베베베 베베베 베베베, 베베베 베베 베베베 베베베 베베 베베베 베베베 베베 베베베베 베베 베베 베베베 베베베 베베베베 베베베 Mà phân biệt hai thanh, khi nói và viết, đối với người đàng trong, là một một vấn đề to: vấn đề hỏi ngã(베 베베베 베베베 베베베 베 베, 베 베베 베베베베 베
Lại giá trị của luật ấy chỉ ở trong phạm vi chính tả Người đàng trong, dầu cho đã thạo rồi, cũng không sao nói đúng được
Muốn giải quyết đến cội rễ vấn đề này, ta hãy nghĩ xem: tại sao người đàng ngoài, dầu chẳng biết luật Nguyễn Đình, vẫn nói đúng va viết đúng hỏi ngã? Ấy bởi vì từ thuở mới học nói, họ đã nghe chung quanh họ, hai thanh này phân biệt rõ ràng Vậy phương pháp của âm học, đối với mỗi người, và áp dụng cho tất cả, sẽ thành phương pháo giải quyết được vấn
đề đến triệt để
Dầu ta có thạo thông lệ này, hay thông lệ nọ, mà ta nói vẫn sau, thì trẻ
em nghe ta nói sai, sẽ nói sai, ắt là vấn đề hãy còn mãị
Việc đánh dấu đúng, tuy là cần chỉ là gáo nước để tưới trận lửa to, làm sao
mà trừ đám cháy được? Còn nếu ta nhờ các thông lệ làm phương tiện riêng để phân biệt hỏi, ngã, hầu nói đúng, thì thế hệ sau nghe ta nói đúng,
sẽ nói đúng Rồi ít lâu, ở toàn cõi Việt Nam, sẽ không còn vấn đề nàỵChúng tôi soạn tập sách vấn đề giải quyết vấn đề hỏi ngã Khi ai nấy đã nói đúng và viết đúng cả rồi, vấn đề sẽ không còn, sách sẽ hết cần, hóa thành vô dụng Nên lòng cầu nguyện là được một ngày gần đây, sách sẽ
Trang 3không được dùng nữa, và chỉ dành cho những kẻ khảo cứu tài liệu lịch sử xem chơi mà thôị
Paris, đầu mùa hè 1950
TÍNH CÁCH ÂM HỌC CỦA HAI THANH HỎI NGÃ
1 Tiếng Việt là tiếng có nhiều thanh, hơn cả tiếng Tàụ Những thanh này chia làm hai loại: loại thanh thuần là loại thanh biến
2 Thanh thuần là những thanh có một tính cách đơn thuần, và giữ mãi tính cách ấy từ đầu đến cuối:
Những tiếng luôn luôn giọng ngang nhau, mà ta thường viết khôngdấu
Những tiếng luôn luôn giọng cất cao lên, mà ta có thể viết không dấuhoặc phải viết với dấus sắc
Những tiếng luôn luôn giọng kéo dài xuống, mà ta phải viết với dấuhuyền
Những tiếng giọng rớt xuống rồi dừng liền, mà ta phải viết dấu nặng
Ở khắp cõi Việt Nam, ai cũng nói được và tất nhiên, viết đúng bốn thanh thuần này
3 Những thanh biến không giữ mãi một tính cách Khi phát tiếng ra thì, ban đầu theo tính cách này, rồi biến liền sang tính cách khác:
Hoặc mới phát ra, giọng đưa lên, rồi biến thành đưa xuống: ấy lànhững tiếng phải đánh dấu hỏi
Hoặc mới phát ra, giọng cho xuống rồi biến thành đưa lên: ấy lànhững tiếng phải đánh dấu ngã
Những người từ Thanh Hoá trở ra, đều phân biệt được như vậỵ Bởi vì, khi nói,
họ để luồng hơi ra lâu, có thời giờ mà biến thanh rõ ràng được Những người
từ Nghệ, Tịnh trở vào, đều nói không được Bởi vì, khi nói, họ cho luồng hơi qua mau quá,không có thời giờ mà biến thanh cho kịp
Trang 44 Tuy người đàng ngoài nói đúng hỏi, ngã, song không phải ở địa phương nào cũng nói y như nhaụ
Ví dụ như nói dấu hỏị Có nơi thì nói phần đưa giọng lên nhiều, phần đưa giọng lên nhiều, phần đưa giọng xuống ít Có nơi thì trái lại, đưa giọng lên ít, đưa giọng xuống nhiềụ Vì vậy mà mỗi vùng có giọng đặc biệt của mình Nhưng dầu thế nào, vẫn theo đúng tuần tự lên xuống
Còn như nói dấu ngã, thì cũng vậỵ Có nơi đưa giọng xuống nhiều, giọng lên
ít Có nơi đưa giọng xuống ít, giọng lên nhiềụ Bởi thế mà mỗi vùng có đặc biệt của mình Nhưng dầu thế nào vẫn nói đúng theo tuần tự xuống lên.Nói tóm lại, bất cứ giọng địa phương nào, hỏi ấy là lên rồi xuống và ngã ấy
là xuống rồi lên Dựa vào thời gian làm thứ nguyên để lộ cách biến chuyển của hai thanh ấy thế nào, chúng ta thấy hai thanh ấy biến theo hai chiều nghịch nhau luôn
5 Vậy, muốn nói được rõ ràng hỏi, ngã, tất phải theo cho đủ hai điều kiện này
Nói cho luồng hơi ra vừa lâu, đủ thời giờ để ta chuyển thanh
Phải chuyển thanh đúng theo mỗi loại: gặp hỏi trước cho lên, rồi mớixuống; gặp ngã trước cho xuống, rồi mới cất lên
Nếu theo đúng như trên, thì nói, đọc hỏi ngã sẽ không còn khó khăn gì cả
MUỐN NÓI ĐƯỢC HỎI, NGÃ
10 Sự phân tích ở trước đã chỉ rằng hai thanh hỏi, ngã khác nhau như hai điệu nhạc Vì vậy mà muốn nói được hai thanh này, chúng ta phải tập như làtập hát hai điệu nhạc khác nhaụ Và phép tập nói, được trình bày ở đây, cũngphỏng theo phép tập hát
11 Bắt đầu, phải tập nghẹ Trẻ con ở đàng ngoài, vừa mới nhớm có trí khôn,
là đã nghe thật lâu, rồi mới bập bẹ vài lờị Và bởi chúng nó biết nghe phân biệt hỏi, ngã, mà chúng nó nói được rõ ràng
Người học hát cũng thế Lỗ tai của họ đã quen một điệu hát, biết phân biệt điệu hát của mình học, trong muôn điệu, thì mới có thể hát đúng được
Trang 5Khi ta tập nghe, tất nhiên phải nghe những người nói đúng, nhất là những trẻ con đàng ngoài, vì tiếng nói của chúng nó trong trẻo hơn Khi chúng nó nói mau, mà ta phân biệt kịp được tiếng nào thanh hỏi, tiếng nào thanh ngã,
ấy là phần thứ nhất đã xong rồị
12 Kế đến tập nóị Khi lỗ tai đã quen rồi, thì tất nhiên miệng nói theo ý được Ban đầu còn ngượng chút ít Nhưng việc biến thanh không phải là khó,đối với kẻ biết lên giọng xuống giọng Nên cẩn thận nơi tuần tự trước sau, như đã bày ở trước
Cũng nên lấy tay mà vẽ trên không lằn cong mô tả sự lên giọng, xuống giọng, giống như người chỉ huy cuộc hoà nhạc ra dấu vậỵ Cách thực tiễn này, nếu được các nhà giáo áp dụng ở nhà trường, sẽ đem lại mau lẹ những thành tích tốt đẹp
13 Sau là phải luôn luôn thực hành Nói chuyện với người đàng ngoài phân biệt hỏi, ngã đã đành, mà nói với ai cũng giữ cho nghiêm nhặt, chẳng cho saị Lại cũng nên dùng mọi phương pháp để cho chung quanh mình, ai nấy đều nói phân biệt hỏi, ngã Ở nhà trường, các nhà giáo phải nghiêm khắc Ởsân khấu, các diễn giả phải thận trọng cách phát ngôn Ở diễn đàn, mọi người phải tập nói trúng Thì lần lần, phong trào lan rộng, sẽ lôi cuốn được
số đông theọ
14 Chừng ấy, mỗi người đều nghe chung quanh mình phân biệt rõ ràng, sẽ xem việc nói cẩu thả của mình như là một việc nới đớt Rồi sẽ xấu hổ, tự chữạ Lại gặp hoàn cảnh thuận tiện để chữa được vì có khác nào trẻ con ở đàng ngoài, đã nghe mọi người nói phân biệt, ắt sẽ nói phân biệt dễ dàng Rồi một thế hệ sau, khi mỗi người đã phân biệt hẳn hoi rồi, thì tình trạng ngày nay chỉ có ở đàng ngoài, sẽ được phổ cập toàn cõi Việt Nam Vấn đề hỏi ngã sẽ giải quyết xong rồi vậỵ
15 Nhưng trước khi đến được tình trạng đẹp đẽ ấy, phải trải qua một hồi quá độ Ấy là lúc mọi người biết cách nói và nói được, viết được hỏi, ngã, nhưng hãy còn chưa thuần thục và tự nhiên được như người đàng ngoàị Gặp một tiếng, thuộc về loại các thanh biến, không biết nó là thanh nào, hỏi hay
là ngã Vậy làm sao mà nói đúng, viết đúng được? Nói cách khác, thì đâu là phương pháp để phân biệt tiếng ấy có thanh hỏi hay ngã Chúng ta sẽ có trảlời ở phần sau nàỵ
Trang 6LÀM SAO BIẾT ĐƯỢC TIẾNG NÀO HỎI TIẾNG NÀO NGÃ
Phương Pháp Tự Nhiên
16 Khi ta biết cách nói rồi, muốn có thể phân biệt tiếng nào hỏi, tiếng nào
ngã, thì nên theo phương pháp tự nhiên hơn hết, là học
Phương pháp này đã đem lại những công hiệu rõ ràng Nhiều người ngoại quốc, tuy nói tiếng Việt rất khó khăn, song đã chịu khó học cẩn thận rồi, thì nói, viết rất đúng hỏi ngã Nhiều người đàng trong, chịu khó học, cũng nói được viết đúng như người đàng ngoàị
Mà bằng chứng đích xác hơn hết là, cả một cõi Bắc Việt, ai cũng nói đúng nhờ học từ thuở bé ở nơi chung quanh mình
17 Cái may của người đàng ngoài, là sự học này là một cái học thường xuyên, trong mỗi lúc nghe nói, trong mỗi lúc nói, mà người học thấy cực nhọc hay để tí công cố gắng nàọ Chung quanh mình, cha, mẹ, anh, chị, bè, bạn, lối xốm, thảy là người thầy sẵn sàng dạy mình, và lại những ngưòi thầy dạy đúng phương pháp tự nhiên Kết quả là lên năm, lên sáu tuổi, đứa bé đã học xong rồi, đến trường khỏi phải trở lại vấn đề
Cái rủi của người đàng trong là không có trường học tự nhiên ấỵ Ngay nhà trường chính quy cũng vẫn là một lớp học thiếu sót về vấn đề nàỵ Thầy giáo nào có công, cũng chỉ dfạy cho học trò đánh dấu đúng, khi viết Chúng tôi chưa hề gặp một thầy giáo nào ở đàng trong đã dạy học trò nói thanh ngã, thanh hỏi bao giờ Và cũng chớ nên trách họ, vì chính họ còn chưa nói được thay!
18 Vậy cần phải học, tuy trong những điều kiện khắt khe hơn, nhưng phải
cố tìm tạo ra một hoàn cảnh gần như tự nhiên, và dõi theo một phương pháp
tự nhiên
Hoàn cảnh ấy, là một nhóm người biết cố gắng nói đúng, viết đúng hỏi, ngã Phương pháp ấy, là nên học thuộc lòng, không khác nào trẻ con mới học nói phải thuộc tiếng mới, không khác nào người ngoại quốc học nói phải học thuộc tiếng lạ
Trang 7Trong khi nói chuyện, nếu phải dừng trước một tiếng để suy nghĩ nên nói thanh nào, thì làm sao cho lời được suôn, lại còn nói chi đến việc trổ tài hùngbiện? Trong khi viết, nếu phải dừng mỗi lúc để suy nghĩ nên đánh dấu nào, thì làm sao chép kịp lời của người, hay ghi cho kịp nguồn hứng của mình?
19 Học phải chọn sách Học về hỏi, ngã, không có gì qua từ điển, tự điển, tự
vị Những người có tiếng là viết đúng chính tả, như Phan Khôi, Phan Văn Hùm, thường thú nhận rằng không có dụng cụ nào hơn là tự điển để tra cứu,mỗi lần trí nhớ của họ hơi lờ mờ
Ngày nay, những từ điển, lấy tiếng Việt làm nền để cắt nghĩa và điển chế tiếng Việt, thật là khó tìm Một vài quyển hãy còn lưu hành, nhưng lại rất cẩu thả về vấn đề chính tả.
20 Học trong tự điển là một việc rất mau chán Vì vậy mà cần có một lối họcmau lẹ, lại có nhiều kết quả
Lối học thực tiễn này dựa vào những nhận xét sau đây:
Trong tiếng Việt, tiếng thanh hỏi nhiều hơn tiếng thanh ngã Vậy ta học trước hết những tiếng thanh ngã, ắt ít tốn công hơn Còn tất cả những tiếng nào thừa lại, là to cho thanh hỏị Dựa theo sự nhận xét này, chúng tôi trích đăng ở phần phụ lục một bảng kể những tiếng thanh ngã để cho tiện việc học thuộc lòng
Trí nhớ muốn được chắc chắn, cần nên vận dụng tất cả các cơ quan, tai nghe, mắt nhìn, tay viết Phần lỗ tai đã được chú trọng rồị Còn nêncho quen mắt, bằng cách đọc kỹ và nhiều những sách đánh dấu đúng,những bản viết tay đánh dấu đúng Và nhất là tập đánh dấu cho quen mắt, quan tay như người đàng ngoài, dấu hỏi rõ ràng vẽ hình kéo xuống, sau khi đã vòng tròn, dấu ngã rõ ràng kéo lên, sau khi đã vòngtròn Tay, mắt, tai hiệp nahu làm cho phần máy móc của trí nhớ được vận dụng đầy đủ, thì sự nhớ càng chắc
Rồi cũng phải làm cho phần thông minh của trí nhớ làm việc, để tập luyện và để củng cố những điều đã học được với một cách máy móc Vậy cần phải suy nghĩ, để tìm cái lý của sự việc (nghĩa là cái lẽ vì sao phải đánh dấu ngã) và những liên quan của các việc Đây là một côngcuộc đòi lắm hiểu biết Vậy xin xét ở chương saụ
Trang 8Tiểu sử tác giả:
Nguyễn Du tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn lạp hộ,
sinh năm Ất Dậu dưới triều Lê Cảnh Hưng (1765); người xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh
Là dòng dõi trâm anh thế phiệt: cha là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, từng làm tới Tể Tướng triều Lê mạt; mẹ là người vợ thứ ba, nhũ danh Trần Thị Tần người Kinh Bắc; anh là Toản Quận Công Nguyễn Khản cũng làm tới Tham
Tụng, Thái Bảo trong triềụ
Sinh ra trong một gia Đình quan lại, có truyền thống văn học, năng khiếu thơ văn của Nguyễn Du sớm có Điều kiện nảy nở và phát triển Từ nhỏ ông Đã nổi tiếng thông minh dĩnh ngộ Năm 1783, Nguyễn Du thi hương Đậu Tam Trường
Vì lẽ gì không rõ, ông không tiếp tục thi lên nữạ
Năm 1789, Nguyễn Huệ kéo binh ra Bắc, Đại thắng quân Thanh Nguyễn Du, vì
tư tưởng trung quân phong kiến, không chịu ra làm quan cho nhà Tây Sơn
Năm 1802, Nguyễn Ánh lật Đổ Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, vời Nguyễn Du
ra làm quan; ông từ mãi mà không Được nên miễn cưỡng tuân mệnh Năm
1805, ông Được thăng Đông Các Điện học sĩ, tước Du Đức Hầụ Năm 1813, thăng Cần Chánh Điện học sĩ, Được cử làm Chánh Sứ Đi Trung Quốc Sau khi
về nước, năm 1815, ông Được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Trị
Đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn chẳng có mấy trở ngạị Ông thăng chức nhanh và giữ chức trọng, song chẳng mấy khi vui, thường u uất bất
Đắc chí Theo Đại Nam Liệt Truyện: ``Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ,
song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệtnhư không biết nói năng gì ''
Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, cử ông Đi sứ lần nữa, nhưng lần này chưa kịp
Đi thì ông Đột ngột qua Đờị
Đại Nam Liệt Truyện viết: ``Đến khi ốm nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân Họ thưa Đã lạnh cả rồị Ông nói "Được" rồi mất; không
trối lại Điều gì.''
Trang 9 Tác phẩm tiêu biểu: ngoài Truyện Kiều nổi tiếng ra, Nguyễn Du còn Để lại Văn
Tế Thập Loại Chúng Sinh, Văn Tế Sống Hai Cô Gái Trường Lưu, Thác Lời Trai Phường Nón bằng chữ Nôm, và ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên Thi Tập, Nam Trung Tạp Ngâm, và Bắc Hành Tạp Lục
Nhận xét về Nguyễn Du và Truyện Kiều:
Tiên Phong Mộng Liên Đường Chủ Nhân: `` Xem chỗ giấc mộng Đoạn trường tỉnh dậy mà căn duyên vẫn gỡ chưa rồi; khúc Đàn bạc mệnh gảy xong
mà oán hận vẫn còn chưa hả, thì dẫu Đời xa người khuất, không Được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở Đầu ngọn bút, nước mắtthắm ở trên tờ giấy, khiến ai Đọc Đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, Đau Đớn
như Đứt ruột Thế thì gọi tên là Đoạn Trường Tân Thanh cũng phảị''
``Ta nhân lúc Đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Như tử dụng tâm Đãkhổ, tự sự Đã khéo, tả cảnh Đã hệt, Đàm tình Đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn Đời, thì tài nào có cái bút lực ấỵ.''
Phong Tuyết chủ nhân: ``Đem bút mực tả lên trên tờ giấy nào những câu vừa lâm ly, vừa ủy mị, vừa Đốn tỏa, vừa giải thư, vẽ hệt ra người tài mệnh trong mười mấy năm trời, cũng là vì cái cảnh lịch duyệt của người ấy có lâm ly, ủy
mị, Đốn tỏa, giải thư, mới có cái văn tả hệt ra như vậỵ ''
Phạm Quỳnh: ``Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn ''
Dương Quảng Hàm: ``trên từ các bậc văn nhân thi sĩ, dưới Đến các kẻ thường dân phụ nhụ, ai cũng thích Đọc, thích ngâm và thuộc Được ít nhiềụ ''
Ca dao:
Đàn ông chớ kể Phan TrầnĐàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiềụ
Huỳnh Thúc Kháng: `` (Truyện Kiều) về mặt mỹ thuật rõ là cực tốt, mà ở trong Đựng những vật có chất Độc ''
Nguyễn Bách Khoa: ``Truyện Kiều là một thứ văn chương Đã ở vào một vị trí phản tiến hóa lúc Đương thời của Nguyễn Dụ Nó chứa chan một chất tàn héo,
Trang 10tiêu mạ Nó là kết tinh phẩm của một chặng Đường suy Đồi nhất trên tràng kỳ tiến hóa của cá tính Việt Nam ''
Hoài Thanh: `` (Truyện Kiều) là một tiếng kêu thương, một bản tố cáo, một giấcmợ một cái nhìn bế tắc ''
Xuân Diệu: `` (Truyện Kiều) là một tiếng khóc vĩ Đạị Nguyễn Du Đã nhìn thấy,
Đã cảm xúc, Đã tổng kết hàng vạn vạn Đau khổ của người Đời dưới chế Độ phong kiến suy Đồị ''
Tố Hữu: ``Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiềụ ''
Chế Lan Viên: ``Nguyễn Du viết Kiều, Đất nước hóa thành văn ''
Khuyết danh: ``Hồn Nguyễn Du phảng phất mỗi trang Kiềú'
câu 1 đến 16
"1 Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhaụ
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
5 Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen
Cảo thơm lần giở trước đèn,
Phong tình có lục còn truyền sử xanh
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh,
10 Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ, nối dòng nho giạ
15 Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân
câu 17 đến 32
Trang 11Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Một người một vẻ, mười phân vẹn mườịVân xem trang trọng khác vời,
20 Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu dạ
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn
25 Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.Một, hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa haị
Thông minh vốn sẵn tư trời,
30 Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương
câu 33 đến 48
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên bạc mệnh, lại càng não nhân
35 Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh sấp xỉ tới tuần cập kệ
Êm Đềm trướng rủ màn che,
Tường Đông ong bướm đi về mặc aị
câu 33 đến 48
Ngày xuân con én Đưa thoi,
40 Thiều quang chín chục Đã ngoài sáu mươị
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng Điểm một vài bông hoa
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh
45 Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Trang 12Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm
câu 49 Đến 64
Ngổn ngang gò Đống kéo lên,
50 Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
55 Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
Sè sè nấm Đất bên Đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
Rằng: "Sao trong tiết thanh minh,
60 "Mà Đây hương khói vắng tanh thế mà?"
Vương Quan mới dẫn gần xa:
"Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhị
"Nổi danh tài sắc một thì,
"Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh
câu 65 Đến 80
65 "Kiếp hồng nhan có mong manh,
"Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.
"Có người khách ở viễn phương,
"Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơị
"Thuyền tình vừa ghé tới nơi,
70 "Thì Đà trâm gẫy bình rơi bao giờ.
"Buồng không lạnh ngắt như tờ,
"Dấu xe ngựa Đã rêu lờ mờ xanh.
"Khóc than khôn xiết sự tình,
"Khéo vô duyên ấy là mình với tạ
75 "Đã không duyên trước chăng mà,
"Thì chi chút ước gọi là duyên saụ
"Sắm xanh nếp tử xe châu,
Trang 13"Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoạ
"Trải bao thỏ lặn ác tà,
80 "Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!"
câu 81 Đến 96
Lòng Đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều Đã Đầm Đầm châu sa
"Đau Đớn thay phận Đàn bà!
"Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
85 "Phũ phàng chi bấy hoá công,
"Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha
"Sống làm vợ khắp người ta,
"Khéo thay thác xuống làm ma không chồng.
"Nào người phượng chạ loan chung,
90 "Nào người tích lục tham hồng là ai ?
"Đã không kẻ Đoái người hoài,
"Sẵn Đây ta kiếm một vài nén hương.
"Gọi là gặp gỡ giữa Đường,
"Họa là người dưới suối vàng biết chọ"
95 Lầm rầm khấn khứa nhỏ to,
Sụp ngồi vài gật trước mồ bước rạ
câu 97 Đến 112
Một vùng cỏ áy bóng tà,
Gió hiu hiu thổi một vài bông lau
Rút trâm sẵn giắt mái Đầu,
100 Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần.Lại càng mê mẩn tâm thần
Lại càng Đứng lặng tần ngần chẳng rạLại càng ủ dột nét hoa,
Sầu tuôn Đứt nối, châu sa vắn dàị
Trang 14Nỗi niềm tưởng Đến mà Đau,
110 Thấy người nằm Đó biết sau thết nào ?" Quan rằng: "Chị nói hay sao,
"Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ."
Một lời nói chửa kịp thưa,
120 Phút Đâu trận gió cuốn cờ Đến ngaỵ
Ào ào Đổ lộc rung cây,
Ở trong dường có hương bay ít nhiềụ
Đè chừng ngọn gió lần theo,
Dấu giày từng bước in rêu rành rành
125 Mắt nhìn ai nấy Đều kinh,
Nàng rằng: "Này thực tinh thành chẳng xạ Hữu tình ta lại gặp ta,
Chớ nề u hiển mới là chị em."
Câu 1 đến 24
1 Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.Xanh kia thăm thẳm tầng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ?
5 Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt,Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mâỵ
Chín tầng gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.Nước thanh bình ba trăm năm cũ
10 Áo nhung trao quan vũ từ đâỵ
Trang 15Sứ trời sớm giục đường mây,
Phép công là trọng, niềm tây sá nào
đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn,
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noạ
15 Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng
Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung
Thành liền mong tiến bệ rồng,
20 Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trờịChí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng maọ
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thụ
Câu 25 đến 49
25 Cổ bề thanh động Tràng Thành nguyệt,Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân
Cửu trùng án kiếm khởi đương tịch,
Bán dạ phi hịch truyền tướng quân
Thanh bình tam bách niên thiên hạ,
30 Tùng thử nhung y thuộc vũ thần
Sứ tinh thiên môn thôi hiểu phát,
Hành nhân trọng pháp khinh ly biệt
Cung tiễn hề tại yêu,
Thê noa hề biệt quyết
35 Liệp liệp tinh kỳ xuất tái sầu,
Huyên huyên tiêu cổ từ gia oán
Hữu oán hề phân huề,
Hữu sầu hề khế khoát
Lương nhân nhị thập Ngô môn hào,
40 đầu bút nghiễn hề sự cung đaọ
Trực bã liên thành hiến minh thánh,
Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiêụ
Trượng phu thiên lý chí mã cách,
Thái Sơn nhất trịch khinh hồng maọ
45 Tiện từ khuê khổn tùng chinh chiến,
Trang 16Tây phong minh tiên xuất Vị Kiềụ
Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
đường bên cầu cỏ mọc còn non
Nhủ rồi nhủ lại cầm tay,
Bước đi một bước dây dây lại dừng
55 Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
Dạ chàng xa tìm cõi Thiên San
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beọ
Săn Lâu Lan, rằng theo Giới Tử,
60 Tới Man Khê, bàn sự Phục Bạ
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia taỵ
65 Hà Lương chia rẽ đường này,
Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùị
Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu,
Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương
Quân đưa chàng ruổi lên đường,
70 Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng ?Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng,
Hàng cờ bay trong bóng phất phợ
Dấu chàng theo lớp mây đưa,
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà
75 Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ gối chăn
đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Trang 17Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
60 Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâụ
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai ?
65 Chàng từ đi vào nơi gió cát,
đêm trăng này nghỉ mát phương nao ?
Xưa nay chiến địa dường bao,
Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầụ
Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn,
70 Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon
Ôm yên gối trống đã chồn,
Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh
Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại,
Mai Hồ vào Thanh Hải dòm quạ
Bà là em cùng cha với Hồ Sĩ Đống (1738-1786), đậu Hoàng Giáp, làm quan đến Hành Tham Tụng, tước Quận Công, cùng Bùi Huy Bích đứng đầu phủ chúa Trịnh Sâm, Trịnh Khảị
Tác phẩm nổi bật nhất của bà là số thơ Nôm trong Xuân Hương Thi Tập (dù có đôi bài đáng nghi vấn) Ngoài ra bà còn để lại tập thơ chữ Hán tựa đề Lưu Hương Ký
Trang 18 Thơ văn bà có ý lẳng lơ, mai mỉa, tinh nghịch, táo bạo, nhưng chứa chan tình cảm lãng mạn, thoát ly hẳn với những lễ giáo phong kiến thời bấy giờ
Cách tả cảnh, tả tình, cách dùng từ trong thơ Nôm của bà có một không hai,
vô cùng sống động và đặc sắc Xuân Diệu đánh giá thơ Hồ Xuân Hương là "tót vời của nguồn thơ nôm na bình dân"
Thiếu Nữ Ngủ Ngày
Muà hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc chải cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm,
Một lạch Đào nguyên suối chửa thông
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,
Đi thì cũng dở, ở không xong
Đèo Ba Dội
Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leọ
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêụ
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương reọ
Hiền nhân quân tử ai là chẳng ?
Trang 19Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèọ
Động Hương Tích
Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm,
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót
Con thuyền vô trạo cúi lom khom
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,
Rõ khéo trời già đến dở dom
Ông sinh năm 1019 và mất tháng Sáu năm Ất Dậu (tức từ 13 tháng Bảy đến 11 tháng Tám năm 1105)
Lý Thường Kiệt tinh thông thao lược, lại có tài thơ văn Năm 23 tuổi, ông đã được bổ làm Hoàng môn chi hậu rồi thăng đến chứcThái úy Ông có công rất lớn trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ đất nước: phá Tống, bình Chiêm, dẹp tan phản loạn
Tác phẩm còn lại gồm có bài Lộ Bố Văn phát ra cho nhân dân Trung Quốc ở các châu Ung Khâm Liêm nhân dịp chủ động đemquân sang đánh Tống năm 1075, lời tâu xin vua Lý Nhân Tông
Trang 20cho đi dẹp loạn Lý Giác năm 1103, và tiêu biểu nhất là bài thơ Nam Quốc Sơn Hà
Lý Thường Kiệt
Nam Quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên định phận tại thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phạm ?Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !
Dịch thơ:
Sông Núi Nước NamSông núi nước Nam vua Nam ởRành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm ?Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời !
Trang 21Tống hoang mang, rúng động, dẫn đến thất bại thảm hại của chúng chẳng bấy lâu sau đó
Lĩnh Nam Chích Quái có chép một dị bản:
Nam Quốc sơn hà Nam Đế cưHoàng thiên dĩ định tại thiên thưNhư hà Bắc lỗ lai xâm lược ?Bạch nhận phiên thành phá trúc dư !
Đặng Dung Đôi dòng tiểu sử
Đặng Dung là con Đặng Tất, một tướng tài thời Hậu Trần Năm sinh và năm mất của ông không rõ, chỉ biết ông là người làng Tả Thiên Lộc, huyện Phỉ Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
Giận cha mình bị vua Giản Định giết oan (1408) vì lời gièm pha của gian thần sau trận Bô Cô, ông Đem quân từ Thuận Hóa về Thanh Hóa, tôn Trần Quý Khoáng lên ngôi vua, và Được giữ chức Đồng bình chương sự
Ông cùng Nguyễn Cảnh Dị nhiều lần trực tiếp chiến Đấu với quân Minh Đêm tháng 9 năm Quý Tỵ (1413), Đặng Dung Đánh úp doanh trại giặc và xuýt nữa bắt sống tướng Minh Trương Phụ (vì không biết rõ mặt nên Phụ lợi dụng Đêm tối dùng thuyền nhẹ trốn thoát Được)
Tháng 11 năm 1413, vua tôi nhà Hậu Trần thế cô cuối cùng bị quân Minh bắt giải về Yên Kinh Đại Việt Sử Ký Toàn Thư không có chép gì về cái chết của ông Theo Ngô Thì Sĩ trong Việt Sử Tiêu Án thì ông và Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ moi gan ăn
Ông còn để lại duy nhất một bài thơ, Cảm Hoài, chép trong Toàn Việt Thi Lục
Lý Tử Tấn có lời bình phi hào kiệt chi sĩ bất năng (nếu không phải là kẻ sĩ hào
kiệt, ắt không thể làm được bài thơ này)
Đặng Dung
Trang 22Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma
Bản Dịch Tản Đà
Việc đời man mác, tuổi già thôi !
đất rộng trời cao chén ngậm ngùi
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,
Tan tành sự thế luống cay ai !
Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch trờị
đầu bạc giang san thù chửa trả,
Long tuyền mấy độ bóng trăng soi
Đặng Dung
Bản Dịch Phan Kế Bính
Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc saỵ
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng caỵ
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mâỵ
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày
Chú thích:
đồ điếu: điển tích đời Hán, Phàn Khoái làm nghề bán thịt chó, Hàn Tín làm nghề câu cá, cả hai sau này đều là khai quốc công thần, giúp Hán Cao Tổ Lưu Bang phá Tần diệt Sở.
Trang 23 tẩy binh: điển tích từ hai câu thơ của đỗ Phủ trong bài Tẩy Binh Mã:
An đắc tráng sĩ vãn Ngân Hà
Tịnh tẩy giáp binh trường bất dụng
(Ước gì có được người tráng sĩ kéo sông Ngân Hà
Rửa sạch giáp binh để mãi mãi không dùng đến nữa).
Long Tuyền: tên một loại gươm báu thời xưa
Nguyễn Công Trứ Đôi dòng tiểu sử
Nguyễn Công Trứ (1778-1858) hiệu là Ngộ Trai, tự là Hy Văn, quê quán tại
làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh
Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng Cụ thân sinh là Nguyễn Tần, đỗ Hương Cống đời nhà Lệ
Buổi thiếu thời, dù sống trong cảnh hàn vi, ông luôn cố công trau dồi kinh sử đểmong thi đỗ ra làm quan giúp dân, giúp nước Sau nhiều lần thi hỏng, ông cuối cùng đậu Tú Tài năm 1813 và đậu Giải Nguyên năm 1819
Hoạn lộ của ông lắm bước thăng trầm: ông làm quan ở nhiều tỉnh, nhiều vùng,
có khi lên đến Binh Bộ Thượng Thư, nhưng cũng có lắm lần bị dèm pha giáng chức Ông giúp triều đình nhà Nguyễn đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa lớn (Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Phan Bá Vành ); làm Doanh điền Sứ, giúp dân khai khẩn đất hoang (1828)
Ông mất ngày 7 tháng 12 năm 1858 tại chính quán, thọ 81 tuổi, được phong tước Dinh Bình Hầụ
Nguyễn Công Trứ để lại nhiều tác phẩm chữ Hán (câu đối, sớ) cũng như chữ Nôm (thơ, hát nói, phú, câu đối, ca trù ) Thơ văn Nguyễn Công Trứ phản ảnh khá trung thực sự biến chuyển tâm lý của một nhà nho cổ điển qua từng giai đoạn đời sống Phần lớn các tác phẩm hào hùng và ngạo nghễ, biểu lộ một bản lĩnh vững chắc, một chí khí mạnh mẽ, và thái độ cầu tiến, vươn lên Lúc vềgià, sáng tác của ông lại tìm về tư tưởng an nhàn, hưởng lạc
Trang 24Than Nghèo
Chửa chán ru mà quấy mãi đây,
Nợ nần dan díu mấy năm naỵ
Mang danh tài sắc cho nên nợ,
Quen thói phong lưu hóa phải vaỵ
Quân tử lúc cùng thêm thẹn mặt,
Anh hùng khi gắp cũng khoanh taỵ
Còn trời, còn đất, còn non nước
Có lẽ ta đâu mãi thế này ?
Có lẽ ta đâu mãi thế này,
Non sông lẩn thẩn mấy thu chầỵ
đã từng tắm gội ơn mưa móc,
Cũng phải xênh xang hội gió mâỵ
Hãy quyết phen này xem thử đã
Song còn tuổi trẻ chịu chi ngay ?
Xưa nay xuất xử thường hai lối,
Mãi thế rồi ta sẽ tính đâỵ
Mãi thế rồi ta sẽ tính đây,
điền viên thú nọ vẫn xưa naỵ
Giang hồ bạn lứa câu tan hợp
Tùng cúc anh em cuộc tỉnh saỵ
Tòa đá Khương Công (1) đôi khóm trúc,
Áo xuân Nghiêm Tử (2) một vai cày
Thái bình vũ trụ càng thong thả,
Chẳng lợi danh gì lại hóa haỵ
Than Nghèo (tiếp theo)
Chẳng lợi danh gì lại hóa hay,
Chẳng gì phiền lụy chẳng ai rầỵ
Ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp,
Trong thú yên hà mặc tỉnh saỵ
Liếc mắt coi chơi người lớn bé
Trang 25Vểnh râu bàn những chuyện xưa naỵ
Của trời trăng gió kho vô tận,
Cầm hạc (3) tiêu dao đất nước nàỵ
Vịnh Cảnh Nghèo
Chẳng phải rằng ngây chẳng phải đần
Bởi vì nhà khó hóa bần thần
Mấy đời thầy kiện mà thua mẹo,
Nghĩ phận thằng nghèo phải biết than
Số khá bĩ rồi thời lại thái
Cơ thường đông hết hẳn sang xuân
Trời đâu riêng khó cho ta mãi,
Vinh nhục dù ai cũng một lần
(1) Khương Công: tức Khương Thượng (còn được gọi là Khương Tử Nha, Lã Thượng,
Lã Vọng) thường ngồi câu ở bến sông Vị trước khi ra giúp vua Chu Văn Vương
(2) Nghiêm Tử: tức Nghiêm Tử Lăng, người đời đông Hán, trước khi đắc dụng thường
đi cày ruộng ở núi Phú Xuân
(3) Cầm hạc: điển tích Triệu Thanh Hiến đời Tống đi làm quan ở đất Thục chỉ đem theo một cây đàn và một con chim hạc
Đường khoa cử của ông lận đận: đi thi từ năm 15 tuổi nhưng hỏng hoài, mãi tớinăm 24 tuổi (1894) mới đổ Tú Tàị Sau đó ông lại trượt Cử Nhân 5 khoa liền
Trang 26 Nhà nghèo, con đông, nghề dạy học lại bấp bênh trong thời kỳ Nho Học suy tànxuống dốc, ông chỉ còn biết trông cậy vào bà vợ đảm đang ``quanh năm buôn bán ở mom sông''
Trong lúc đang còn bị ám ảnh bởi cơn mộng khoa cử, ông đột ngột qua đời năm 1907 lúc mới 37 tuổi
Tác phẩm ông để lại gồm nhiều thể loại thơ, phú, câu đối, hát nói phần lớn đều bằng chữ Nôm
Nếu như các cuộc nội chiến tàn khốc thời Lê mạt Nguyễn sơ đã sản sinh những Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiềụ thì vận mệnh đất nướclong đong thời thuộc Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã khơi thông thi tứ cho Tú Xương Thơ văn ông giản dị, bình dân, nhưng tự nhiên và linh hoạt Nhiều sáng tác trình bày tâm sự đau đớn, xót xa; hoặc mỉa mai, ngạo đời một cách chua chát, cay độc; hoặc gửi gấm tấm lòng yêu nước thương nòi một cách kín đáo và sâu sắc
Chúc Tết
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râụ
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầụ
Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu ?
Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc
Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầụ
Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước; đứa mua quan
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng
Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn
Trang 27Phố phường chật hẹp, người đông đúcBồng bế nhau lên nó ở non
Bắt chước ai ta chúc mấy lờiChúc cho khắp hết ở trong đờiVua, quan, sĩ, thứ, người muôn nướcSao được cho ra cái giống ngườị
Đi Thi Tự Vịnh
Tấp tểnh người đi tớ cũng đi,
Cũng lều, cũng chỏng, cũng vô thi
Tiễn chân, cô mất ba đồng lẻ;
Sờ bụng, thầy không một chữ gì
Lộc nước cũng nhờ thêm giãi nghạch [1],
Phúc nhà may được sạch tràng quy [2]
Mai không tên tớ, tớ đi ngay,
Giỗ Tết từ đây nhớ lấy ngày
Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ăn ớt thế mà cay
Trang 28Khoa Thi
Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà [1]
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loạ
Xe kéo rợp trời: quan sứ đến;
Váy lê phết đất, mụ đầm ra
Sao không nghĩ đến điều tu sỉ [2] ?
Ngảnh cổ mà xem lại nước nhà
[1] Nam, Hà: Nam Định và Hà Nội
[2] tu sỉ: xấu hổ, thẹn thùng
Giời Nực Mặc Áo Bông
Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông,
Tưởng rằng ốm dậy, hóa ra không
Một tuồng rách rưới, con như bố,
Ba chữ nghêu ngao, vợ chán chồng
Đất biết bao giờ sang vận đỏ ?
Trời làm cho bỏ lúc chơi ngông
Gần chùa, gần cảnh, ta tu quách;
Cửa Phật quanh năm vẫn áo sồng
Nguyễn Trãi
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cỏi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần
bao đời xây nền độc lập;
Trang 29Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên
mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có
Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết chí lớn phải vong thân;
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cứ còn ghị
Vưà rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thưà cơ gây loạn
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nguyễn Trãi
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tànVùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị
Nặng thuế khóa sạch không đầm núị
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
khốn nỗi rừng sâu nước độc
Trang 30Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất,
chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửị
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !Lòng người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha;
Nguyễn Trãi
Ta đây:
Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trờiNếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tốị
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước,
vẫn đăm đăm muốn tiến về đông,
Cỗ xe cầu hiền,
Trang 31thường chăm chắm còn dành phía tả.
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng,
mịt mù như nhìn chốn bể khơị
Tự ta, ta phải dốc lòng,
vội vã hơn cứu người chết đóị
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một độị
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan
Nguyễn Gia Thiều
1-25 Trải vách quế gió vàng hiu hắt
26-50 Địch lầu thu đường ngã tiêu lang
51-75 Vẽ chi ăn uống sự thường
76-100 Bức tranh vân cẩu vẽ người tan thương
Nguyễn Gia Thiều
1 Trải vách quế gió vàng hiu hắt,
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng,
Oán chi những khách tiêu phòng,
Mà xui phận bạc nằm trong má đàọ
5 Duyên đã may cớ sao lại rủi,
Nghĩ nguồn cơn dở dói sao đang,
Vì đâu nên nỗi dỡ dang,
Nghĩ mình, mình lại thêm thương nỗi mình
Trộm nhớ thuở gây hình tạo hóa,
10 Vẻ phù dung một đóa khoe tươi,
Nụ hoa chưa mỉm miệng cười,
Gấm nàng Ban đã lạt mùi thu dung
Trang 32Áng đào kiểm đâm bông não chúng,
Khóe thu ba rợn sóng khuynh thành,
15 Bóng gương lấp loáng trong mành,
Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưạ
Chìm đáy nước cá lừ đừ lặn,
Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa,
Hương trời đắm nguyệt say hoa,
20 Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình
Câu cẩm tú đàn anh họ Lý,
Nét đan thanh bậc chị chàng Vương,
Cờ tiên rượu thánh ai đang,
Lưu Linh, đế Thích là làng tri âm
25 Cầm điếm nguyệt phỏng tầm Tư Mã,
Nguyễn Gia Thiều
địch lầu thu đường gã Tiêu Lang,
Dẫu nghề tay múa miệng xang,
Thiên tiên cũng xếp nghê thường trong trăng.Tài sắc đã vang lừng trong nước,
30 Bướm ong còn xao xác ngoài hiên,
Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn,
Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên đùng đùng
Hoa xuân nọ còn phong nộn nhị,
Nguyệt thu kia chưa hé hàn quang,
35 Hồng lâu còn khóa then sương,
Thâm khuê còn rấm mùi hương khuynh thành.Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ,
Khách công hầu ngấp nghé mong sao,
Vườn xuân bướm hãy còn rào,
40 Thấy hoa mà chẳng lối vào tìm hương.Gan chẳng đá khôn đường khá chuyển,Mặt phàm kia dễ đến Thiên Thai,
Hương trời sá động trần ai,
Dẫu vàng nghìn lạng dễ cười một khị
45 Ngẫm nhân sự cớ gì ra thế,
Sợi xích thằng chi để vướng chân,
Trang 33Vắt tay nằm nghĩ cơ trần,
Nước dương muốn rẩy nguội dần lửa duyên.Kìa thế cục như in giấc mộng,
50 Máy thuyền vi mở đóng khôn lường,
Nguyễn Gia Thiều
Vẻ chi ăn uống sự thường,
Cũng còn tiền định khá thương lọ là
đòi những kẻ thiên ma bách chiết,
Hình thì còn bụng chết đòi nau,
55 Thảo nào khi mới chôn nhau,
đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra !
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế,
Ai bày trò bãi bể nương dâu,
Trắng răng đến thuở bạc đầu,
60 Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần.Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc,
Lớp cùng thông như đúc buồng gan,
Bệnh trần đòi đoạn tâm toan,
Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt dạ
65 Gót danh lợi bùn pha sắc xám,
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu,
Nghĩ thân phù thế mà đau,
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mệ
Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ,
70 đường thế đồ gót rỗ kỳ khu,
Sóng cồn cửa bể nhấp nhô,
Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh.Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán,
Chết đuối người trên cạn mà chơị
75 Lò cừ nung nấu sự đời,
Nguyễn Gia Thiều
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương
đền vũ tạ nhện giăng cửa mốc,
Trang 34Thú ca lâu dế khóc canh dài,
đất bằng bỗng rấp chông gai,
80 Ai đem nhân ảnh nhuốm mùi tà dương
Mồi phú quí dữ làng xa mã,
Bả vinh hoa lừa gã công khanh,
Giấc Nam Kha khéo bất bình,
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không
85 Sân đào lý mây lồng man mác,
Nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng
Cánh buồm bể hoạn mênh mang,
Cái phong ba khéo cợt phường lợi danh
Quyền họa phúc trời tranh mất cả,
90 Chút tiện nghi chẳng trả phần ai,
Cái quay búng sẵn lên trời,
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm
Hình mộc thạch vàng kim ố cổ,
Sắc cầm ngư ủ vũ ê phong,
95 Tiêu điều nhân sự đã xong,
Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hự
Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ,
Quán thu phong đứng rũ tà huỵ
Phong trần đến cả sơn khê,
100 Tang thương đến cả hoa kia cỏ nàỵ
Trang 35Dưới thời Tiền Lê, ông làm đến Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ Năm 1009, Lê Ngọa Triều mất, ông được quần thần tôn lên làm vua, đổi niên hiệu là Thuận Thiên và dời đô từ Hoa Lư ra Đại La,nhân đó để lại áng văn Thiên Đô Chiếụ<
Ông là người thông minh, nhân ái, có chí lớn, và rất hâm mộ Phật giáọ
Lý Công Uẩn
i'ch Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam
tỉ Khởi Tam đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhândân chí, cẩu hữu tiện triếp cảị Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ Nhi đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo
Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tín hao tổn, vạn vật thất nghị Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ
Huống Cao Vương cố đô đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung;đắc long bàn hổ cứ chi thế Chính Nam Bắc đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bội chi nghị Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khảị Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địạ Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng độ
Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà ?
Lý Công Uẩn Chiếu dời đô
ưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần đời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời độ Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời ? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổị Cho nên vận
Trang 36nước lâu dài, phong tục phồn thịnh Thế mà hai nhà đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của
Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở no*i -da^y, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghị Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không đổidờị
Huống gì thành đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: ở vào nơi trung tâm trời đất; được thế rồng cuộn hổ ngồị đã đúng ngôi Nam Bắc đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núị địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươị Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địạThật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đờị
Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chổ ở Các khanh nghĩ thế nào ?
Bàn Canh: vua thứ mười bảy của nhà Thương, một triều đại rất xưa trong lịch sử Trung Quốc; năm lần dời đô nói việc các vua
nhà Thương dời đô từ đất Bặc (Thương Khâu, Hà Nam) sang đất Hiêu (Huỳnh Trạch, Hà Nam), đất Tương (An Dương, Hà Nam), đất Cảnh (Hà Tân, Sơn Tây), đất Hình (Hình đài, Hà Bắc),rồi đất Ân (Yển Sư, Hà Nam)
Thành Vương: vua thứ ba nhà Chu, triều đại cổ tiếp nối nhà Thương; ba lần dời đô nhắc đến việc Chu Văn Vương dựng
nghiệp ở đất Kỳ (Thiểm Tây), Chu Vũ Vương dời đô đến TrườngYên (cũng Thiểm Tây), và Chu Thành Vương lại dời đô sang Lạc
Ấp (Hà Nam) Thật ra, phải nói hai lần dời đô mới đúng !
Trang 37 Tam đại: tên chung chỉ ba triều đại cổ ở Trung Quốc nhà Hạ
do Vũ sáng lập, nhà Thương do Thành Thang dựng lên, và nhà Chu do Chu Văn Vương khởi thủỵ
nơi đây: ý chỉ Hoa Lư, kinh đô của nhà đinh do đinh Bộ Lĩnh
sáng lập và nhà Tiền Lê do Lê Hoàn sáng lập Lúc Lý Công Uẩn mới lên ngôi, kinh đô của nhà Lý vẫn còn ở đó
Cao Vương: tức viên quan cai trị nhà đường Cao Biền, tên tự
Thiên Lý, làm đô hộ sứ châu Giao từ 864 đến 875 Cao Biền xâythành đại La thuộc vùng đất Hà Nội khoảng năm 866 Tương truyền Cao Biền giỏi địa lý, tướng số, bùa phép, có tài vẫy đậu thành binh và biết trấn yểm các nơi có long khí
Trần Quốc Tuấn
Dụ Chu Tỳ Tướng Hịch Văn
ư thường văn chi: Kỷ Tín dĩ thân đại tử nhi thoát Cao đế; Do Vu dĩ bối thụ qua nhi tế Chiêu Vương Dự Nhượng thốn thán nhi phục chủ thù; Thân Khoái đoạn tí nhi phó quốc nạn Kính đức nhất tiểu sinh dã, thân dực Thái Tông nhi đắc miễn Thế Sung chi vi; Cảo Khanh nhất viễn thần dã, khẩu mạ Lộc Sơn nhi bất tòng nghịch tặc chi kế Tự
cổ trung thần nghĩa sĩ, dĩ thân tử quốc hà đại vô chi ? Thiết sử sổ tử khu khu vi nhi nữ
tử chi thái, đồ tử dũ hạ, ô năng danh thùy trúc bạch, dữ thiên địa tương vi bất hủ tai !
Nhữ đẳng thế vi tướng chủng, bất hiểu văn nghĩa, kỳ văn kỳ thuyết, nghi tín tương bán Cổ tiên chi sự cô trí vật luận Kim dư dĩ Tống, Thát chi sự ngôn chi: Vương Công Kiên hà nhân dã ? Kỳ tỳ tướng Nguyễn Văn Lập hựu hà nhân dã ? Dĩ điếu Ngư tỏa tỏađẩu đại chi thành, đương Mông Kha đường đường bách vạn chi phong, sử Tống chi sinh linh chí kim thụ tứ ! Cốt đãi Ngột Lang hà nhân dã ? Kỳ tỳ tướng Xích Tu Tư hựu
hà nhân dã ? Mạo chướng lệ ư vạn lý chi đồ, quệ Nam Chiếu ư sổ tuần chi khoảnh, sửThát chi quân trưởng chí kim lưu danh !
Trần Quốc Tuấn
Dụ Chu Tỳ Tướng Hịch Văn
Trang 38Huống dư dữ nhữ đẳng, sinh ư nhiễu nhương chi thu; trưởng ư gian nan chi tế Thiết kiến ngụy sứ vãng lai, đạo đồ bàng ngọ Trạo hào ô chi thốn thiệt nhi lăng nhục triều đình; ủy khuyển dương chi xích khu nhi cứ ngạo tể phụ Thác Hốt Tất Liệt chi lệnh nhi sách ngọc bạch, dĩ sự vô dĩ chi tru cầu; giả Vân Nam Vương chi hiệu nhi khu kim ngân, dĩ kiệt hữu hạn chi thảng khố Thí do dĩ nhục đầu nỗi hổ, ninh năng miễn di hậu hoạn dã tai ?
Dư thường lâm xan vong thực, trung dạ phủ chẩm, thế tứ giao di, tâm phúc như đảọ Thường dĩ vị năng thực nhục tẩm bì, nhứ can ẩm huyết vi hận dã Tuy dư chi bách thân, cao ư thảo dã; dư chi thiên thi, khỏa ư mã cách, diệc nguyện vi chị
Nhữ đẳng cửu cư môn hạ, chưởng ác binh quyền Vô y giả tắc ý chi dĩ y; vô thực giả tắc tự chi dĩ thực Quan ti giả tắc thiên kỳ tước; lộc bạc giả tắc cấp kỳ bổng Thủy hànhcấp chu; lục hành cấp mã Ủy chi dĩ binh tắc sinh tử đồng kỳ sở vi; tiến chi tại tẩm, tắc tiếu ngữ đồng kỳ sở lạc Kỳ thị Công Kiên chi vi thiên tì, Ngột Lang chi vi phó nhị, diệc
vị hạ nhĩ
Hịch Tướng Sĩ
Trần Quốc Tuấn
Dụ Chu Tỳ Tướng Hịch Văn
a thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước Kính đức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có ? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất
Trang 39sâu ! Cốt đãi Ngột Lang là người thế nào ? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào ? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt !
Trần Quốc Tuấn
Dụ Chu Tỳ Tướng Hịch Văn
Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về saụ
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm
Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không
có ăn thì ta cho cơm Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương đi thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựạ Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn
hạ thì cùng nhau vui cườị So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ
tá, nào có kém gì?
Lê Ngọc Hân
Lê Ngọc Hân là con vua Lê Hiển Tông và bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền
Bà có nhan sắc, thông minh, lại giỏi thơ văn
Năm 1786, anh hùng "áo vải cờ đào" Nguyễn Huệ ra Bắc với chiêu bài "phù Lê
diệt Trịnh" Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ và theo ông về Thuận Hóạ
Trang 40 Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế trước khi ra Bắc lần thứ ba để diệt quân Thanh, lấy niên hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân làm Hữu Cung Hoàng Hậụ
Năm 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ lại phong bà làm Bắc Cung Hoàng Hậụ
Năm 1792, Quang Trung Hoàng Đế đột ngột băng hà Bà viết Tế Vua Quang Trung và Ai Tư Vãn để bày tỏ nỗi đau khổ cùng cực cũng như nỗi tiếc thương
vô hạn cho người chồng anh hùng vắn số
Tác phẩm Ai Tư Vãn chịu nhiều ảnh hưởng của bản dịch Chinh Phụ Ngâm của
Đoàn Thị Điểm, nhưng cũng không hiếm những đoạn, những câu tình ý cảm động tha thiết, làm rung động lòng ngườị
Có nhiều giả thuyết về cái chết của Ngọc Hân Hoàng Hậu, song thuyết đáng tincậy nhất là bà mất vào năm 1799 từ bài văn tế bà do Phan Huy Ích viết, có
chép trong Dụ Am Văn Tập
Lê Ngọc Hân
1 Gió hiu hắt phòng tiêu lạnh lẽo
Trước thềm lan, hoa héo ron ron
Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non,
Xe rồng thăm thẳm, bóng loan dàu dàụ
5 Nỗi lai lịch dễ hầu than thở
Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao ?
Sầu sầu, thảm thảm xiết baọ
Sầu đầy giạt bể, thảm cao ngất trời !
Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc,
10 Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng,
Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quỵ
Trăm ngàn dặm quản chi non nước;
Chữ "nghi gia" mừng được phải duyên.