1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của THỜI GIAN TRỮ TRỨNG và CHẾ độ đảo TRỨNG lên các CHỈ TIÊU ấp nở của gà SAO BẰNG máy ấp bán tự ĐỘNG

61 202 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 630,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

41 DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT FCR CSHD CSLĐ CSLT SGTL TLTP TLTCP TLTS TLTN TB SE TL TGTT SLĐT Hệ số chuyển hóa thức ăn Chỉ số hình dạng Chỉ số lòng đỏ Chỉ số lòng trắng Sự giảm trọng lượng

Trang 1

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y

Cần Thơ, 05/2011

Trang 2

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

ĐẶNG THN PHƯƠNG THẢO

ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN TRỮ TRỨNG VÀ CHẾ ĐỘ ĐẢO TRỨNG LÊN CÁC CHỈ TIÊU

ẤP NỞ CỦA GÀ SAO BẰNG MÁY ẤP BÁN TỰ ĐỘNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y

Giáo viên hướng dẫn:

PGS.TS Nguyễn Thị Kim Đông

Sinh viên thực hiện:

Đặng Thị Phương Thảo

MSSV: LT09248 Lớp: CN K35

Cần Thơ, 05/2011

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN TRỮ TRỨNG VÀ CHẾ ĐỘ ĐẢO TRỨNG LÊN CÁC CHỈ TIÊU

ẤP NỞ CỦA GÀ SAO BẰNG MÁY ẤP BÁN TỰ ĐỘNG

Trang 4

………

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Kính gởi: Ban lãnh đạo khoa nông nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng và các thầy cô trong bộ môn chăn nuôi

Tôi tên Đặng Thị Phương Thảo (MSSV: LT09248) là sinh viên lớp Chăn Nuôi- Thú Y

Khóa 35 (2009- 2011) Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Đồng thời tất cả các số liệu, kết quả thu được trong thí nghiệm hoàn toàn có thật và

chưa từng được công bố

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2011

Sinh viên thực hiện

ĐẶNG THN PHƯƠNG THẢO

Trang 6

CẢM TẠ

Luận văn tốt nghiệp là cả một quá trình dài học tập và của bản thân Bên cạnh những nổ lực của cá nhân tôi còn nhận được sự ủng hộ, chia sẻ, giúp đở của gia đình, bạn bè và của quý thầy cô!

Xin ghi nhớ công ơn của cô Nguyễn Thị Kim Đông và thầy Nguyễn Văn Thu đã dành thời gian tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Chân thành biết quý Thầy Cô bộ môn Chăn nuôi- Thý y Khoa Nông nghiệp và SHƯD nó

đã tận tình truyền đạt kinh nghiệm, kiến thức để tôi hoàn thành tốt khóa học

Xin cảm ơn các anh,chị phòng E005 và các bạn ở trại chăn nuôi ô, đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn hội đồng đánh giá luận án đã đóng góp ý kiến để luận văn thật sự

có giá trị khoa học

Xin trân trọng cảm ơn và kính chào!

Trang 7

được nuôi theo khầu phần thức ăn hổn hợp có hàm lượng CP là 20% và ME là 2800kcal

Kết quả ghi nhận được như sau:

Nhiệt độ trung bình sử dụng trong máy ấp bán tự động ấp gà Sao: 1-7 ngày: 37,8 0 C, 7-

14 ngày: 37,3 0 C, 14- 21 ngày: 3,17 0 C, 21 ngày đến nở hết: 36,1 0 C

Ẩm độ bình quân sử dụng trong máy ấp bán tự đông ấp gà Sao: 1- 7 ngày: 1- 7 ngày:

62,2%, 7- 14 ngày: 65,5%, 14-21 ngày ấp: 73,8%, 21 ngày đến nở hết: 86,6%

Từ ngày ấp thứ 21- 24 làm mát 5-7 lần/ ngày Từ ngày ấp thứ 25 đến nở hết làm mát 5-7 lần/ ngày bằng cách phun ướt trứng

Thời gian trứng tốt nhất là 3 ngày cho kết quả tỷ lệ trứng chết phôi, tỷ lệ trứng sát thấp,

Tỷ lệ nở:79,4%- 80,6% Ở thời gian trữ 3 ngày có tỷ lệ cao nhất là 80,6%

Trọng lượng gà con trung bình: 27,5g/con

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

CẢM TẠ i

TÓM LƯỢC ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮC vi

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

Chương 1 ĐẶC VẤN ĐỀ 1

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

2.1 Đăc điểm của gà Sao 2

2.1.1 Sơ lược về gà Sao 2

2.1.2 Đặc điểm sinh học của gà Sao 2

2.1.3 Tính năng sản xuất của gà Sao 5

2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TRỨNG GÀ 6

2.2.1 Thành phần cấu tạo 6

2.2.2 Chất lượng trứng gà Sao 7

2.3 Điều kiện để ấp trứng 11

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của phoi và tỷ lệ ấp nở 11

2.4.1 Ảnh hưởng của việc thu lượm trứng 11

2.4.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ 12

2.4.3 Ảnh hưởng của Nm độ 13

2.4.4 Ảnh hưởng của độ thông thoáng 14

2.4.5 Ảnh hưởng của việc đảo trứng 15

2.4.6 Bảo quản trứng ấp 15

2.4.7 Ảnh hưởng của thiếu vitamin và khoáng 16

2.4.8 Thời gian trữ trứng 17

2.4.9 Những ảnh hưởng khác 17

2.5 Ấp trứng gia cầm 18

Trang 9

2.5.1 Yêu cầu trứng đưa vào ấp 18

2.5.2 Bảo quản và vận chuyển trứng ấp 18

2.5.3 Điều kiện để ấp trứng gia cầm 19

2.5.4 Quy trình ấp 20

2.6 Qúa trình phát triển của phôi 21

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 23

3.1 Phương tiện và phương pháp thí nghiệm 23

3.1.1 Thời gian thí nghiệm 23

3.1.2 Địa điểm thí nghiệm 23

3.1.3 Các dụng cụ thí nghiệm 23

3.1.4 Đối tượng thí ngiệm 23

3.2 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM 23

3.2.1 Bố trí thí nghiệm 23

3.2.2 Kỹ thuật ấp 24

3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 25

3.3.1 Nhiệt độ (0C) và Nm độ bảo quản (%) 25

3.3.2 Sự giảm trọng lượng trứng trong quá trình bảo quản (%) 26

3.3.3 Sự giảm trọng lượng trứng trong quá trình ấp 26

3.3.4 Tỷ lệ trứng có phôi (%) 27

3.3.5 Tỷ lệ trứng chết phôi (%) 27

3.3.6 Tỷ lệ trứng sát (%) 27

3.3.7 Tỷ lệ nở (%) 27

3.4 Xử lý số liệu 27

Chương 4 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 28

4.1 Nhiệt độ và Nm độ môi trường bảo quản trứng 28

4.2 Chế độ nhiệt độ của máy ấp được áp dụng trong quá trình ấp trứng gà Sao bằng máy ấp bán tự động 28

4.3 Chế độ Nm độ của máy ấp được áp dụng trong quá trình ấp 30

Trang 10

4.4 Sự giảm trọng lượng của gà Sao trong quá trình ấp 32

4.5 Kết quả các chỉ tiêu ấp nở ở trứng gà Sao được ấp bằng máy ấp bán tự động 35

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHN 39

5.1 Kết luận 39

5.2 Đề nghị 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

FCR

CSHD

CSLĐ

CSLT

SGTL

TLTP

TLTCP

TLTS

TLTN

TB

SE

TL

TGTT

SLĐT

Hệ số chuyển hóa thức ăn Chỉ số hình dạng

Chỉ số lòng đỏ Chỉ số lòng trắng

Sự giảm trọng lượng

Tỷ lệ trứng có phôi

Tỷ lệ trứng chết phôi

Tỷ lệ trứng sát

Tỷ lệ trứng nở Trung bình Sai số chuNn Trọng lượng Thời gian trứng

Số lần đảo trứng

Trang 11

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Một số tính năng sản xuất của gà Sao 5

Bảng 2.2 Chỉ tiêu chất lượng trứng gà Sao 7

Bảng 2.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỉ lệ ấp nở trứng gà 13

Bảng 4.1 Nhiệt độ và Nm độ môi trường bảo quản trứng 28

Bảng 4.2 Nhiệt độ trong máy ấp qua thời gian theo dõi 29

Bảng 4.3 Ẩm độ máy ấp qua thời gian theo dõi 31

Bảng 4.4 Sự giảm trọng lượng của trứng gà Sao trong quá trình ấp 33

Bảng 4.5 Kết quả các chỉ tiêu ấp nở trứng gà Sao bằng máy ấp bán tự động 36

Trang 12

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 2.1 Gà Sao 2

Hình 2.2 Cấu tạo trứng gia cầm 7

Hình 3.1 Nơi bảo quản trứng 14

Hình 3.2 Trứng gà nở 19

Hình 4.1 Biểu đồ sự giảm trọng lượng trong quá trình ấp 35

Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ trứng nở 38

Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ trứng chết phôi và trứng sát 38

Trang 13

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm của nước ta không ngừng phát triển, với nhiều mô hình chăn nuôi trên nhiều giống gà khác nhau, đặc biệt gần đây xuất hiện một số mô hình chăn nuôi gà Sao Gà Sao có sức đề kháng cao, dễ nuôi, thích hợp với nhiều vùng sinh thái, có thể nuôi nhốt hoặc thả vườn, thịt thơm ngon (Phùng Đức Tiến et

al, 2006) Vì vậy, trên thế giới gà Sao được nuôi ngày càng nhiều để làm món ăn đặc sản

cao cấp ở các nhà hàng, khách sạn (Saina, 2005) Thêm vào đó giá cả trên thị trường của

giống gà Sao khá cao so với các giống gà thông thường khác như gà Tàu, Tam Hoàng, Lương phượng…nên người chăn nuôi thu được lợi nhuận cao

Hiện nay, gà Sao đã được Viện Chăn nuôi chuyển giao nuôi rộng rãi ở nhiều địa phương, nhất là ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế rất cao cho người chăn nuôi (Nguyễn Văn Bắc, 2008), nhưng vẫn còn ở quy mô nhỏ lẻ Để đáp ứng cho nhu cầu phát triển giống gà Sao chúng ta cần phải đưa gà Sao vào quy mô chăn nuôi lớn, và nên sử dụng ấp trứng nhân tạo nhằm cung cấp số lượng lớn con giống Bên cạnh một số các nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng như đạm, năng lượng và khả năng tận dụng chất xơ trong khNu phần nuôi, cho gà Sao tăng trưởng và sinh sản thì nhu cầu về kĩ thuật ấp trứng nhân tạo cũng cần quan tâm nghiên cứu Việc ấp trứng nhân tạo không chỉ đáp ứng nhu cầu lớn về con giống, mà còn rút ngắn thời gian nghỉ đẻ do ấp, nâng cao năng suất trứng/năm Hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về ấp trứng gà Sao,

nên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của thời gian trữ và chế độ đảo trứng lên các chỉ tiêu ấp nở của trứng gà Sao bằng máy ấp bán tự động” nhằm mục

đích nâng cao tỉ lệ ấp nở trứng gà sao, từ đó có thể khuyến cáo kết quả đạt được đến người chăn nuôi nhằm góp phần phát triển nghề chăn nuôi gà Sao ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

Trang 14

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm của gà Sao

2.1.1 Sơ lược về gà Sao

Gà Sao (Guinea Fowl) có tên khoa học là Numida melagis là động vật hoang dã có tiềm

năng phát triển trong điều kiện thức ăn có nhiều xơ, có phNm chất thịt, trứng đặc biệt thơm ngon, thịt săn chắc, ít tích lũy mỡ và có hương vị giống như thịt các loài chim

(Phùng Đức Tiến et al, 2006) Gà Sao có nhiều tên gọi như: Gà Nhật, Gà Phi, Gà Lôi,

chim Trĩ Châu Phi Gà Sao có đặc điểm ngoại hình có bộ lông xám đen, trên phiến lông điểm nhiều những chấm trắng tròn nhỏ

2.1.2 Đặc điểm sinh học của gà Sao

Gà Sao (Helmeted Guineafowl) thuộc lớp Aves, bộ Gallformes, họ Phasianidae, giống Numididae, loài Helmeted (Moreki, 2005 và Phùng Đức Tiến et al., 2006)

Đặc điểm ngoại hình

Gà Sao có bộ lông màu xám đen điểm những đốm tròn nhỏ màu trắng Đầu không có lông và mào nhưng có mũ sừng nên trông chúng giống loài kền kền Dưới cổ có yếm thịt màu đỏ Lông đuôi ngắn và thường dốc xuống Gà Sao con có ngoại hình giống chim cút con, bộ lông chúng có những sọc màu nâu đỏ chạy dài từ đầu đến cuối thân (Pinoyfarmer, 2010) Gà Sao Hungary có 3 dòng (dòng lớn, trung bình và dòng nhỏ) đều có ngoại hình đồng nhất Ở 1 ngày tuổi gà Sao có bộ lông màu cánh sẻ, có những đường kẻ sọc chạy dài

từ đầu đến cuối thân Mỏ và chân màu hồng, chân có 4 ngón và có 2 hàng vảy Giai đoạn

Hình 2.1: Gà Sao

Trang 15

trưởng thành gà Sao có bộ lông màu xám đen, trên phiến lông điểm nhiều những nốt chấm trắng tròn nhỏ Thân hình thoi, lưng hơi gù, đuôi cúp Đầu không có mào mà thay vào đó là mấu sừng, mấu sừng này tăng sinh qua các tuần tuổi, ở giai đoạn trưởng thành, mấu sừng cao khoảng 1,5 – 2 cm Mào tích của gà Sao màu trắng hồng và có 2 loại là hình lá dẹt áp sát vào cổ và hình lá hoa đá rủ xuống Da mặt và cổ gà Sao không có lông, lớp da trần này có màu xanh da trời, dưới cổ có yếm thịt mỏng Chân khô, đặc biệt con

trống không có cựa (Phùng Đức Tiến et al, 2006) Gà Sao có rất nhiều màu như xám

ngọc trai, tím hoàng gia, tím, đá, đồng, xanh, san hô, chocolate, trắng, da bò và xám ngọc trai (Andrews, 2009)

Phân biệt trống mái

Rất khó phân biệt giới tính của gà Sao vì con trống và con mái có ngoại hình khá giống nhau Thông thường, có thể phân biệt giới tính của gà Sao khi được khoảng 2 tháng tuổi qua tiếng kêu, mũ sừng, yếm thịt và đầu Con trống 12 – 15 tuần tuổi có yếm thịt lớn, trong khi con mái phải đến 15 – 16 tuần tuổi mới có yếm thịt như con trống Con trống trưởng thành có mũ sừng, yếm thịt lớn hơn con mái một chút và đầu thô hơn con mái Tiếng kêu của con trống và con mái đều có âm tiết giống như “buckwheat, buck–wheat”,

“put–rock, putrock” hoặc "quatrack, qua–track", nhưng con trống chỉ kêu được một tiếng Khi vui mừng hay hoảng loạn hay vì một lý do nào đó thì cả con trống và con mái đều kêu 1 tiếng nhưng không bao giờ con trống kêu được 2 tiếng như con mái (Darre, 2002

và Moreki, 2005) Để chính xác khi chọn giống người ta phân biệt trống mái qua lỗ huyệt

khi gà đến giai đoạn trưởng thành (Phùng Đức Tiến et al, 2006)

Tập tính của gà Sao

Gà Sao có khả năng bay, nhưng chúng tìm kiếm thức ăn và làm tổ đẻ trên mặt đất Gà Sao có tính bầy đàn cao, thông thường chúng di chuyển theo đàn khoảng 20 con Về mùa đông, chúng sống từng đôi trống mái trong tổ trước khi nhập đàn vào những tháng ấm năm sau Gà Sao mái có thể đẻ 20 – 30 trứng và làm ổ đẻ trên mặt đất, sau đó tự ấp trứng

(Phùng Đức Tiến et al, 2006), con mái ấp trứng, trứng nở sau 26 – 28 ngày ấp (Moreki,

2005)

Gà Sao rất nhút nhát và rất nhạy cảm với những tiếng động như: mưa, gió, sấm, chớp, tiếng cành cây gãy, tiếng rơi vỡ của đồ vật Đặc biệt, gà Sao khi còn nhỏ rất sợ bóng tối, những lúc mất điện chúng thường chồng đống lên nhau đến khi có điện gà mới trở lại hoạt động bình thường Vì vậy, cần hết sức chú ý khi nuôi gà Sao để tránh stress có thể

xảy ra (Phùng Đức Tiến et al, 2006) Gà Sao thuộc loài hiếu động, ban ngày hầu như

Trang 16

chúng không ngủ, trừ giai đoạn gà con Ban đêm, chúng ngủ thành từng bầy và thích ngủ trên cây (Andrews, 2009)

Hiện tượng mổ cắn

Gà Sao rất ít mổ cắn nhau, tuy nhiên chúng lại rất thích mổ những vật lạ Những sợi dây tải, hay những chiếc que nhỏ trong chuồng, thậm chí cả nền chuồng, tường chuồng Do vậy thường làm tổn thương đến niêm mạc miệng của chúng, vì vậy trong chuồng không nên để bất cứ vật gì ngoài máng ăn, máng uống, nền, tường chuồng phải làm chắc chắn

(Phùng Đức Tiến et al, 2006)

Tập tính tắm, bay và kêu

Gà Sao bay giỏi như chim Chúng biết bay từ rất sớm, 2 tuần tuổi gà Sao đã có thể bay Chúng có thể bay lên cao cách mặt đất từ 6 – 12 m Chúng bay rất khỏe nhất là khi hoảng loạn Gà Sao cũng có nhu cầu tắm nắng, gà thường tập trung tắm nắng vào lúc 9 – 11 giờ sáng và 3 – 4 giờ chiều Khi tắm nắng gà thường bới một hố cát thật sâu rồi rúc mình

xuống hố, cọ lông vào cát và nằm phơi dưới nắng (Phùng Đức Tiến et al, 2006) Trong

chăn nuôi tập trung, gà Sao vẫn còn giữ lại một số bản năng hoang dã Chúng nhút nhát,

dễ sợ hãi, hay cảnh giác và bay giỏi như chim, khi bay luôn phát ra tiếng kêu khác biệt Chúng sống cực kỳ ồn ào và hiếm khi ngừng tiếng kêu do đó không thể nuôi trong khu dân cư (Moreki, 2005)

Tập tính sinh dục

Các giống gà khác khi giao phối thường bắt đầu bằng hành vi ghẹ gà mái của con trống,

đó chính là sự khoe mã Ngoài ra, chúng còn thể hiện sức mạnh thông qua tiếng gáy dài nhưng ở gà Sao lại không như vậy, chúng không bộc lộ tập tính sinh dục rõ ràng ngay cả người chăn nuôi hàng ngày cũng khó phát hiện thấy Gà Sao mái thì đẻ trứng tập trung,

khi đẻ trứng xong không cục tác mà lặng lẽ đi ra khỏi ổ (Phùng Đức Tiến et al, 2006)

Gà Sao mái bắt đầu đẻ vào mùa xuân (ánh sáng ban ngày tăng) và kéo dài khoảng 6 – 9 tháng Thời gian đẻ cũng có thể được kéo dài bằng cách sử dụng ánh sáng nhân tạo Tỷ lệ trống mái có thể sử dụng 1 trống cho 4 – 5 mái (Moreki, 2005) Theo Sở Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) nếu quản lý tốt có thể sử dụng 1 trống cho 6 – 8 mái Tuy nhiên, sử dụng 1 trống/5 mái là tốt nhất

Một số tính năng đặc biệt của gà Sao

Gà sao có nhiều tính năng đặc biệt như: chịu đựng kham khổ giỏi, thích nghi với nhiều vùng sinh thái, không đòi hỏi cao về chuồng trại, khả năng kiếm mồi tuyệt vời, tiêu thụ tất cả các nguồn thức ăn kể cả những loại thường không sử dụng trong nuôi gà, thịt giàu

Trang 17

vitamin và ít cholesterol (Moreki, 2005) Gà Sao có sức đề kháng cao, ít mẫn cảm đối với

hầu hết các bệnh thông thường trên gà (Bonds, 1997; Dieng et al, 1999 và Mandal et al,

1999) Gà Sao không mắc các bệnh như Marek, Gumboro, Leucosis, những bệnh trong giai đoạn sinh sản các giống gà khác thường hay mắc như Mycoplasma, Sallmonella thì ở

gà Sao chưa thấy, kể cả bệnh cúm A H5N1 cũng chưa ghi nhận trường hợp nào xảy ra trên

gà Sao (Phùng Đức Tiến et al, 2006)

Một số trang trại ở châu Phi gà Sao được dùng như “watch animals” cho trại vì chúng có tầm nhìn tuyệt vời, tiếng kêu inh tai khi có tiếng động hoặc kẻ lạ xâm nhập (Microlivestock, 1991; Mallia, 1999 và Smith, 2000) Ngoài ra, chúng cũng được sử dụng

để kiểm soát rắn, chuột, bắt ve cho Hươu nhằm phòng bệnh Lyme, diệt sâu bọ và cỏ dại (Cactus Ranch, 2001 và Frit’s Farm, 2001)

2.1.3 Tính năng sản xuất của gà Sao

Gà Sao tiêu thụ trung bình 43 kg thức ăn, trong đó 12 kg trong thời kỳ phát triển và 31 kg trong thời gian đẻ Trong điều kiện nuôi thâm canh, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) từ 3,1 – 3,5 tương ứng gà giai đoạn 12 – 13 tuần tuổi và khối lượng sống 1,2 – 1,3 kg (Say, 1987)

Thời gian ấp khoảng 26 - 28 ngày Trọng lượng trung bình của gà con một ngày tuổi là 24,62g, ở khí hậu ôn đới giai đoạn đẻ phù hợp cho gà Sao là 40 tuần Một gà mái có thể

đẻ 170 - 180 trứng/năm, một phương thức nuôi trên đất gà có thể đẻ 70 - 100 trứng/năm

Theo Fani et al, (2004) thì tính năng sản xuất chủ yếu của gà Sao được thể hiện ở bảng 1

Bảng 1.1 Một số tính năng sản xuất của gà Sao

Trang 18

Khối lượng một ngày tuổi (g) 24,6

Nguồn: Moreki (2005) trích dẫn từ Fani et al (2004)

2.2 Đặc điểm của trứng gà

2.2.1 Thành phần cấu tạo

Trứng cấu tạo gồm 3 phần: phần vỏ vôi, phần lòng trắng, phần lòng đỏ

Tìm hiểu về cấu tạo quả trứng từ ngoài vào trong ta thấy: lớp ngoài cùng là lớp màng keo đây chính là lớp bảo vệ vỏ vôi quả trứng Vỏ vôi không những bảo vệ thành phần bên trong quả trứng mà còn cung cấp canxi cho nhu cầu phát triển của phôi sau này Trên bề mặt vỏ vôi có nhiều lỗ nhỏ li ti gọi là lỗ thông khí Sự phân bố những lỗ khí trên bề mặt

vỏ vôi không đều nhau giữa các điểm, thường thì lỗ khí tập trung nhiều ở phần đầu lớn quả trứng, quan sát trên một cm2 quả trứng: đầu lớn có 77 - 144 lỗ, giữa có 106 - 131 lỗ, đầu nhỏ có 16 - 90 lỗ

Dưới lớp vỏ vôi là lớp màng vỏ (còn gọi là vỏ lụa) Vỏ lụa quả trứng gồm có lớp rất mỏng, lớp ngoài sát với vỏ vôi, lớp trong sát với lòng trắng, bề dày của hai lớp màng không giống nhau, lớp ngoài dày hơn lớp trong Độ dày của hai lớp khoảng 0,057 - 0,069mm Cả hai lớp màng đều có các lỗ thở cho không khí đi vào Khi quả trứng chưa được đẻ ra ngoài, hai lớp màng vỏ nằm sát vào nhau Nhưng khi quả trứng được đẻ ra ngoài, hai lớp màng vỏ mới từ từ tách rời nhau để tạo thành buồng khí ở đầu lớn quả trứng, sau 24 giờ buồng khí có độ lớn cực đại Tuy nhiên độ lớn của buồng khí còn phụ thuộc vào thời gian và điều kiện môi trường nơi bảo quản trứng Lòng trắng trứng chứa nhiều chất dinh dưỡng và nước cung cấp cho nhu cầu phát dục của phôi thai Chất dinh dưỡng chủ yếu trong lòng trắng là đường vitamin B2 Lòng trắng trứng gồm 4 lớp (tính từ ngoài vào trong):

Lớp lòng trắng loãng ngoài chiếm 23% trọng lượng lòng trắng

Lớp lòng trắng đặc ngoài chiếm 50 - 57% trọng lượng lòng trắng

Lớp lòng trắng loãng trong chiếm 16,8% trọng lượng lòng trắng

Lớp lòng trắng đặc trong, lớp này dính chặt vào màng lòng đỏ và chiếm khoảng 2,7% trọng lượng lòng trắng

Trong cùng là lòng đỏ: lòng đỏ là một tế bào rất lớn, được bao bọc bởi một lớp màng gọi

là màng lòng đỏ Lớp này rất mỏng có tính đàn hồi rất lớn, nhờ đó mà lòng đỏ được bảo

vệ, nó ngăn cản sự thNm thấu của lòng đỏ và lòng trắng Tuy nhiên nếu trứng bảo quản lâu ngày hoặc được bảo quản trong điều kiện không tốt thì tính đàn hồi của màng lòng đỏ

Trang 19

Hình 2.2: Cấu tạo trứng gia cầm

sẽ ngày một giảm đi Tế bào trứng có nhiều nếp sậm và lợt màu khác nhau (màu vàng),

cứ một lớp vàng sậm, lại một lớp màng lợt xen kẽ nhau Ngay tại trung tâm tế bào trứng

có một lớp lợt màu nhất gọi là lõi của lòng đỏ Trên bề mặt của lòng đỏ có một đĩa phôi hay còn gọi là điểm phôi Sau khi được thụ tinh đĩa phôi sẽ phát triển thành phôi

Ở hai đầu lòng đỏ có hai sợi dây giữ chặt hai đầu của nó thành một trục ngang và được gọi là dây chằng hay dây treo Nhiệm vụ của dây treo là giữ cho lòng đỏ luôn ở trạng thái cân bằng, tránh khỏi sự tác động của những chấn động bên ngoài, nhất là những khi vận chuyển trứng

2.2.2 Chất lượng trứng gà Sao

Theo Phùng Đức Tiến et al, (2006), chất lượng trứng được trình bày qua bảng sau:

Bảng 2.2 Chỉ tiêu chất lượng trứng gà Sao

Trang 20

Tỷ lệ lòng trắng (%) 54,05 54,20 55,25

Màu lòng đỏ 8,13 8,40 8,10

Ph*m chất trứng

Theo Phùng Đức Tiến et al, (2006), một số đặc điểm về phNm chất trứng như sau:

Hình dạng quả trứng là một đặc tính có liên quan đến tỷ lệ ấp nở Kết quả ấp nở sẽ cao đối với các trứng có hình dạng bình thường, cân đối, đúng “chuNn” và ngược lại sẽ cho tỷ

lệ ấp nở thấp

Sự cân đối của quả trứng: Sử dụng chỉ số hình dáng (CSHD) của trứng:

Đường kính ngắn: đường xích đạo của quả trứng

Đường kính dài: khoảng cách giữa đầu lớn và đầu nhỏ

Độ bền của vỏ trứng: thông thường việc tính độ bền của vỏ trứng thông qua độ dày của

Đường kính ngắn Đường kính dài

Độ cao lòng đỏ Đường kính lòng đỏ

Độ cao lòng trắng đặc Đường kính trung bình lòng trắng đặc

Trang 21

lòng trắng thấp do mất nước Nếu gia cầm ăn khNu phần đạm cao (cao hơn nhu cầu) hoặc hàm lượng vitamin B1 thì chỉ số lòng trắng thấp (Lã Thị Thu Minh, 2000)

Kiểm tra chất lượng lòng đỏ: kiểm tra hàm lượng caroten, dùng quạt so màu:

Từ 1 – 6 không đạt yêu cầu

Từ 7 – 12 đạt yêu cầu

Từ 13 – 15 rất tốt

Chỉ số Haugh là 82,26 – 83 (Phùng Đức Tiến et al., 2006)

Trứng dị hình

Theo Đào Đức Long (1993), trứng dị hình là những trứng có hình dạng khác thường hoặc

là trứng quá bé, quá to, trứng dài hoặc tròn, trứng méo mó, sần sùi, vỏ dày mỏng không đều…

Trọng lượng trứng

Trọng lượng trứng: theo Moreki (2006) nếu trọng lượng trung bình của quả trứng nặng 40g và có vỏ trứng rất khó kiểm tra khả năng sinh sản của chúng và có thể gây ra vấn đề với máy ấp nhân tạo

Trọng lượng quả trứng không những là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đáng giá chất lượng trứng mà còn là một chỉ tiêu đánh giá sản lượng trứng Sản lượng trứng giống nhau nhưng khối lượng trứng khác nhau thì tổng khối lượng trứng rât khác nhau, do đó ảnh hưởng đến thu nhập, sản lượng và giá cả Vì vậy trọng lượng trứng là chỉ tiêu để đánh giá sản lượng trứng tuyệt đối của gia cầm

Trang 22

Trọng lượng của trứng thay đổi tùy theo tuổi, cá thể , giống, hướng sản xuất, cá thể, chế

độ dinh dưỡng, tuổi gà mái, khối lượng gà mái…

Trong kỹ thuật lựa chọn trứng ấp, những quả trứng có khối lượng trung bình của giống luôn có kết quả ấp nở tốt nhất Khối lượng trứng càng xa trị số trung bình thì tỉ lệ nở càng thấp hơn Nguyên nhân sinh lý của hiện tượng này là sự mất cân đối giữa các thành phần cấu tạo của trứng Ngoài rab ở những quả trứng quá lớn hay quá nhỏ, diện tích bề mặt tính trên một đơn vị khối lượng sẽ nhỏ hơn hay lớn hơn so với các quả trứng trung bình, điều đó đã ảnh hưởng đến sự hao hụt khối lượng trứng trong thời gian ấp nên ảnh hưởng đến kết quả ấp nở

Trọng lượng trứng là một đặc tính có liên quan đến tỷ lệ ấp nở (Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thị San, 1993)

Những biến đổi của trứng trong quá trình bảo quản

Theo Lã Thị Thu Minh (2000) thì trứng có những biến đổi sau:

Giảm khối lượng: trứng được bảo quản có hiện tượng bay hơi nước, chủ yếu là ở lòng trắng do đó mà khối lượng của nó bị giảm

Trong điều kiện bảo quản giống nhau trứng gà tơ sự giảm khối lượng nhiều hơn trứng gà trưởng thành

Sự giảm khối lượng của trứng phụ thuộc vào độ lớn của nó Trứng lớn hơn sự giảm về khối lượng ít hơn, trứng nhỏ hơn sự giảm về khối lượng nhiều hơn

Trứng có vỏ vôi sù sì và mỏng sự giảm về khối lượng nhiều hơn trứng bình thường tới 2 - 2,5 lần

Sự giảm về khối lượng trứng trong thời gian bảo quản diễn ra không giống nhau

Sự giảm trọng lượng riêng: khối lượng của quả trứng giảm trong quá trình bảo quản trong khi thể tích không thay đổi, dẫn đến trọng lượng riêng của trứng giảm

Sự thay đổi của vỏ vôi: sự bay hơi nước của trứng làm cho vỏ vôi của quả trứng xuất hiện những vết loang dạng đá hoa

Màu sắc của vỏ vôi thay đổi theo thời gian bảo quản

Nếu trứng được bảo quản trong phòng tối có nhiệt độ thấp thì tốc độ thay đổi màu sắc của

vỏ trứng sẽ chậm lại

Trang 23

Mùi của trứng: những trứng tươi, vỏ vôi của chúng có mùi vôi nhẹ Trứng sau khi được

đẻ ra ngoài rất dễ dàng hấp thu những mùi của môi trường xung quanh Vì vậy cần phải tránh không cho trứng tiếp xúc hoặc để gần các loại có mang mùi

Những thay đổi của lòng trắng và lòng đỏ: Khi các điều kiện bảo quản trứng không tốt, đặc biệt khi nhiệt độ quá cao sẽ kích thích sự phân hủy của lòng trắng và lòng đỏ về mặt hóa học Phản ứng của lòng trắng tươi nghiêng về kiềm tính, pH=7,6 - 9,3 Trong quá trình bảo quản dần trở lên trung tính Độ pH của lòng đỏ tăng lên nhưng chậm hơn lòng trắng Nó có thể tăng từ 6,0 - 6,8 Sự tăng độ kiềm (tăng pH) là hậu quả của việc mất CO2trong trứng

2.3 Điều kiện để ấp trứng

Theo Bùi Đức Lũng và Nguyễn Xuân Sơn (1999), điều kiện ấp trứng tự nhiên (gà mẹ tự ấp) phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện môi trường tự nhiên và sự khéo léo điều khiển nhiệt độ trong khi ấp của con mái Tuy nhiên để nở được, nhiệt độ của con mẹ cung cấp cho trứng ấp cũng phải đạt yêu cầu cho sự phát triển sinh lý của phôi biến động 37 -

390C, đôi khi nhiệt độ này không đảm bảo được, do nhiệt độ môi trường quá cao hoặc quá thấp Cho nên tỷ lệ ấp nở phụ thuộc hoàn toàn vào nhiệt độ, Nm độ của môi trường Thường tỷ lệ ấp nở rất thấp, chỉ đạt 60 - 70%, ở mùa hè hoặc mùa đông Vì vậy ở các nước tiên tiến có nền chăn nuôi gia cầm công nghiệp đã chế tạo ra máy ấp để ấp trứng nhân tạo Điều kiện môi trường trong quá trình ấp trứng là:

Nhiệt độ: nhiệt độ môi trường để ấp trứng là yếu tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến khả năng nở, phát triển , sức sống của phôi Nhiệt độ ấp trong máy tối ưu phụ thuộc vào giai đoạn phát triển phôi, vào loại gia cầm và môi trường trong phòng ấp Nhưng bình thường phải đạt 370C Đến nay nhiều tác giả nghiên cứu đã đưa vào quy trình ấp nhiệt độ thích hợp là 37,5 - 390C

Độ Nm: độ Nm không khí cần thiết để điều chỉnh sự thải nhiệt của trứng qua thời gian ấp,

nó tạo ra môi trường cân bằng cho quá trình sinh lý, sinh hóa xảy ra của phôi thai Nếu độ

Nm không đạt (cao hoặc thấp hơn tiêu chuNn) làm trứng tích trữ hoặc mất nước nhiều, làm cho phôi phát triển yếu, gà nở muộn, gà nhỏ hoặc nặng bụng Tỷ lệ nở kém do trứng sát

và chết phôi nhiều

Qua nghiên cứu, các nhà kĩ thuật đã đưa thành quy trình về độ Nm trong máy ấp là 55 - 60% (ngày đầu) đến 70 - 75%, còn qua nửa cuối chu kỳ đặc biệt vài ngày cuối, Nm độ phải bảo đảm 70 - 75%

Trang 24

Trao đổi không khí trong máy: trứng ấp yêu cầu không khí như cơ thể gia cầm sống bên ngoài Khi lượng O2 trong máy ấp dưới 15% gây chết phôi hàng loạt Khi lượng CO2

trong không khí khoảng 1% làm đình trệ sự phát truển, sinh trưởng của phôi thai cũng như tăng cao tỷ lệ chết của chúng những nghiên cứu của Trechiacov (1979) đã xác định rằng lượng khí CO2 biến động trong khoảng 0,2 – 0,4% là đảm bảo cho phôi phát triển tốt

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của phôi và tỷ lệ ấp nở

2.4.1 Ảnh hưởng của việc thu lượm trứng

Theo Lê Hồng Mận và Hoàng Hoa Cương (1999), việc thu nhặt trứng ngay có lợi:

Trứng ít bị nhiễm khuNn (do thời gian tiếp xúc với tạp chất ít) Trong vòng 2 giờ sau khi

ra khỏi cơ thể gà mái, trứng có khả năng ngăn cản sự xâm nhập của vi khuNn vào bên trong trứng Trứng không bị nóng lên khi gà khác vào nằm đẻ - nhất là vào mùa hè Theo Hồ Văn Giá (1969), nếu không thu lượm trứng sau mỗi khi gà vào đẻ, gà sẽ nằm lên trứng Gặp nhiệt độ của gà chuyển sang mầm của trứng sẽ tượng hình Đến khi đẻ xong gà rời ổ, trứng nguội trở lại Mầm trứng vừa tượng hình, rơi vào hoàn cảnh không phù hợp thì chết hoặc bị yếu đi Khi đem ấp, trứng không nở, chết phôi ở giai đoạn đầu hoặc nở yếu đi

Việc thu lượm trứng sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở, vì vậy nên thường xuyên thu lượm trứng, mỗi ngày thu 5 lần vào lúc 8 giờ, 10 giờ, 12 giờ, 14 giờ và 17 giờ

2.4.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ

Theo Bùi Đức Lũng và Nguyễn Xuân Sơn (1999), trong các máy ấp lớn, nhiệt độ ấp thường xuyên trong phạm vi 37 - 380C và rất ít khi vượt ra ngoài giới hạn này

Giai đoạn đầu (6 - 7 ngày sau khi ấp) cần nhiệt độ cao hơn khoảng 37,8 - 380C Nhiệt độ cao làm phôi phát triển nhanh, do làm tăng tiêu hóa thức ăn trong trứng của phôi, niệu nang khép kín sớm Nước trong trứng bốc hơi nhanh tạo khoảng trống niệu nang để chứa nước nội sinh (nước tạo ra do quá trình trao đổi chất) Do đó kích thích phôi tiêu hóa nhiều lòng trắng lòng đỏ hơn và thải nhiều nước cặn hơn

Vào cuối chu kì ấp, khoang niệu nang khép kín, màng niệu nang tiêu đi, lúc này phôi hô hấp bằng phổi

Nếu thiếu nhiệt trong những ngày đầu ấp trứng sẽ làm giảm sự lớn của phôi biểu hiện phôi nhỏ, nằm gần vỏ và di động yếu, mạch máu ở lòng đỏ phát triển kém, làm phôi chết nhiều sau 4 - 6 ngày ấp Những trứng chết phôi lúc này có vòng máu nhỏ, nhạt

Trang 25

Nếu nhiệt đủ hoặc thấp chút ít, gà nở khỏe, lông bung, bụng nhẹ, nhanh nhẹn

Nếu thiếu nhiệt kéo dài dưới 370C gà nở bị nặng bụng, thường bị ỉa chảy, sau khi nở mặt trong của vỏ trứng có màu nâu ngà hoặc hồng nhạt

Khi ấp, trứng phải chịu nhiệt độ quá thấp dưới 35 - 360C kéo dài trong nhiều thời điểm

ấp, thì túi lòng đỏ không co vào được xoang bụng, gà nở bị hở rốn, túi lòng đỏ có màu xanh lá cây

Bảng 2.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỉ lệ ấp nở trứng gà

Nhiệt độ

(oC)

Tỷ lệ nở (%)

Thời gian kéo dài (ngày)

Theo Bùi Đức Lũng và Nguyễn Xuân Sơn (1999), có hai ảnh hưởng quan trọng:

Thứ nhất: ảnh hưởng bởi sự bay hơi của nước từ trứng Phần lớn trong thời gian ấp độ bay hơi nước từ trứng phụ thuộc trực tiếp vào độ Nm tương đối của máy ấp Nếu độ Nm trong máy tăng, thì lượng nước bay hơi từ trứng giảm và ngược lại Khi bay hơi làm cho khối lượng trứng giảm

Trong những ngày đầu ấp trứng, cần làm giảm bay hơi nước trong trứng để các chất dinh dưỡng của lòng trắng và lòng đỏ dễ hòa tan, cung cấp cho phôi phát triển và làm giảm tỉ

lệ chết phôi Vì vậy độ Nm tương đối trong máy phải duy trì ở mức quy định, để giảm độ bay hơi nước trong trứng

Trang 26

Giữa quá trình ấp (sau mười ngày ấp), lượng nước trong trứng bớt dần, cho nên độ Nm tương đối trong máy cao hơn, chỉ đủ để bay hơi nước nội sinh (nước tạo ra trong quá trình trao đổi chất của phôi)

Vào cuối thời kì ấp (sang máy nở), phôi đã phát triển hoàn toàn thành gà con, trong trứng cần đủ độ Nm để gà con dễ nở Cho nên độ Nm tương đối trong máy cao hơn so với các giai đoạn ấp khác, mục đích làm giảm độ bay hơi nước trong trứng Nếu lúc này độ Nm trong máy thấp hơn so với quy định sẽ làm gà chết trong trứng Độ Nm trong máy ở giai đoạn gà con chuNn bị nở phải đảm bảo 86 - 95,50F hay 75 - 80% Nếu cao hơn mức yêu cầu, gà nở chậm, lông ướt

Thứ hai: điều chỉnh sự tỏa nhiệt của trứng phụ thuộc vào từng giai đoạn ấp Trong nửa đầu của chu kì ấp nhiệt độ của trứng chỉ bằng hoặc thấp hơn nhiệt độ của không khí trong máy ấp, vì trứng mới vào chỉ thu nhiệt Lúc này trứng bị mất nhiệt do sự bay hơi nước (nước bay hơi làm thu nhiệt của trứng) Vì vậy độ Nm cao trong những ngày đầu sẽ làm giảm bay hơi nước, góp phần giữ nhiệt, đồng thời làm nước trong trứng bốc hơi từ từ Vào nửa sau của chu kì ấp trứng, do quá trình trao đổi chất của phôi tăng, trứng sản sinh nhiệt nhiều Một phần nhiệt này dùng vào làm bay hơi nước Nhiệt độ của trứng, nhất là những ngày cuối của chu kì ấp cao hơn so với nhiệt độ không khí trong máy ấp Vì vậy trong những ngày cuối cùng này (ở máy nở) phải tăng độ Nm trong máy để hút bớt nhiệt

độ của trứng, làm hạ nhiệt độ trong trứng và trong máy ấp

Khi Nm độ trong máy vượt quá yêu cầu (quá 80%) gà nở bị yếu, ít hoạt động, lông gà bị dính bết ở rốn và hậu môn, màu lông vàng đậm, mỏ và chân nhợt nhạt Gà con bị bụng to

và nặng Sau này nuôi gà chậm lớn, tỷ lệ chết cao

Trang 27

2.4.4 Ảnh hưởng của độ thông thoáng

Khái niệm: độ thông thoáng là tốc độ hút không khí sạch ở ngoài vào và tốc độ đNy không khí bNn (chứa nhiều CO2, H2S…), khí nóng trong máy ra ngoài Đảm bảo thông thoáng khí là đảm bảo cung cấp lượng oxi cần thiết cho phôi hô hấp và phát triển, đồng thời loại khí độc CO2

Nếu nồng độ CO2 vượt cao, nồng độ khí O2 giảm cũng có thể làm cho phôi chết hàng loạt

Dấu hiệu phôi chết ngạt thường thấy ở phôi của trứng được ấp sau 9 - 12 ngày tất nhiên còn có thể kết hợp một số nguyên nhân khác như trứng bị bNn lấp hết lỗ thông khí trên mặt vỏ trứng

Để đảm bảo độ thông khí, thì những hệ thống quạt hút, quạt đNy phải làm việc liên tục chạy đủ tốc độ

2.4.5 Ảnh hưởng của việc đảo trứng

Theo Đào Đức Long (1993), trứng xếp vào khay ấp ở ngày đầu phải để đầu to (chứa buồng khí) lên trên, đầu nhọn xuống dưới, nếu xếp ngược lại, thì tuy phôi phát triển bình thường, nhưng vào cuối chu kì ấp đầu phôi gà ở phía đầu nhọn (đầu trứng không có buồng khí) sẽ không có không khí thở, bị chết ngạt Có thể đặt trứng nghiêng 450 cũng không ảnh hưởng đến sự ấp nở Nếu đảm bảo đầu to lên trên Khi sang máy nở, thì trứng không phải xếp như trên mà đặt trứng nằm ngang, vì lúc này đầu gà con đã ngóc lên buồng khí rồi hơn nữa để trứng nở dễ dàng

Trứng trong khay ấp khi còn trong máy phải được đảo nghiêng (trái, phải) theo chu kì 1 -

Trang 28

chất trong trứng vẫn tiếp tục Để bảo vệ khả năng sống của phôi người ta thường bảo quản trứng ấp ở nhiệt độ 100C đến 150C, nhiệt độ thấp quá cũng không tốt đối với trứng Khi nhiệt độ lên cao quá 270C các quá trình sống trong trứng sẽ tăng lên, nhưng sự phát triển của phôi diễn ra không đúng quy luật dẫn đến sự chết phôi Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất trong thời gian bảo quản trứng, nhiệt độ có liên quan đến thời gian, nhiệt độ

150C – 160C có thể bảo quản trứng trên 1 tuần và nhiệt độ thấp hơn có thể bảo quản trứng lâu hơn nữa

Ngoài ra nhiệt độ cao còn làm lòng trắng và lòng đỏ bị phân giải và tạo thành khí CO2 Khi nhiệt độ lên cao 270C thì trứng bắt đầu phát triển phôi, nhưng phôi lớn không đều và

bị chết sớm (khi soi trứng thấy vết máu hay lòng đỏ ở phôi thai)

2.4.7 Ảnh hưởng của thiếu vitamin và khoáng

Sự thiếu một số vitamin và khoáng trong trứng (chính là thiếu chúng trong thức ăn của gà đẻ) đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của phôi và quá trình ấp nở, cũng như chất lượng của gà con

Thiếu vitamin B (Thiamin): đặc trưng khi trong trứng thiếu vitamin B1 là gà con nở ra có hiện tượng viêm đa thần kinh (Polineurist) Gà đi ngật ngưỡng, loạng choạng, một số con

có thể bị liệt Cần tăng vitamin B1 trong thức ăn

Thiếu vitamin B2 (Riboflavine): khi thiếu vitamin B2 làm phôi chậm phát triển, phôi chết nhiều vào giữa và cuối thời kì ấp Từ 9 – 14 ngày sau khi ấp ở những phôi chết thường thấy hiện tượng chân ngắn, ngón cong, mỏ trên ngắn Cần bổ sung vitamin B2 vào thức

ăn cho gà đẻ…

Thiếu vitamin H (Biotin): khi thiếu vitamin H trong thức ăn của gà đẻ, gây chết phôi Những phôi chết thấy biến dạng – đầu to, mỏ dưới ngắn, mỏ trên quặp xuống, các xương đùi, bàn chân ngắn lại Gà con ngữa đầu vào lưng và quay tròn đến khi chết, gà bị bệnh thần kinh

Thiếu vitamin B12 (Cobalamine): Khi thiếu vitamin B12 tỷ lệ chết phôi tăng, thận sưng, xung huyết và đọng nhiều muối urat màu trắng ngà Gà và vịt con nở ra mắt nhắm nghiền, có nhiều mắt dữ, da chân khô

Trang 29

Thiếu vitamin D3 (Cholecalcipherol): Khi thiếu vitamin D3 thì chất lượng trứng giảm, tỷ

lệ nở giảm Trứng bị dị hình nhiều, vỏ mỏng, do đó nước trong trứng bay hơi mạnh Khả năng sử dụng Calci, Photpho của phôi kém Gây tỉ lệ chết phôi cao trong giai đoạn cuối thời kì ấp Tuy nhiên thừa D3 cũng làm giảm tỉ lệ ấp nở

Thiếu Calci, Photpho làm vỏ trứng mỏng, dị hình, tỷ lệ trứng có phôi và ấp nở kém, phôi chết nhiều Gia cầm nở ra bị khuyết tật ở các bộ phận xương chân, đầu, cánh…

Thiếu Manga làm giảm chất lượng vỏ trứng: phôi phát triển kém và dị hình như chân ngắn, đầu to, mỏ vẹt, đùi cong Gia cầm con đầu gục vào bụng Điển hình gia cầm con nở

ra bị sưng khớp xương, đi lại khó khăn, bị liệt (bệnh Perosis)

Nói tóm lại khi sự phát triển của phôi và gà con nở ra kém phát triển, bị khuyết tật, tỷ lệ chết phôi cao, gà con một ngày tuổi bị loại thải nhiều cũng còn bởi nguyên nhân khác, nhưng nguyên nhân quan trọng là thức ăn cho gà sinh sản thiếu dinh dưỡng, vitamin và khoáng Cần bổ sung chúng vào thức ăn cho đủ

Những trứng ấp của những đàn gà mái nuôi thiếu dinh dưỡng sẽ không cho tỷ lệ nở cao, một số phôi thai có thể phát triển rồi chết nửa chừng hoặc nở ra bị dị hình

Việc bảo quản và vận chuyển trứng cũng gây ra những ảnh hưởng nhất định Trứng bNn

do nhiễm khuNn dễ làm phôi chết nửa chừng

Đặc biệt với những gia cầm có bệnh, trứng ấp sẽ kém, nhiều gà con nở ra yếu đuối, dị hình hoặc chúng có thể chết trước khi sinh nở ra Quan sát những phôi thai không nở ra được ta có thể nhận biết một số nguyên nhân đã gây ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi

Theo Bùi Quang Toàn (1981), tỷ lệ nở của trứng ấp không những đơn thuần phụ thuộc

Trang 30

Ảnh hưởng của gia cầm trống và cơ cấu đàn lên tỉ lệ ấp nở: qua nhiều kết quả nghiên cứu, người ta thấy rằng trứng ở những con gà ghép đôi giao phối khác tuổi có tỷ lệ thụ tinh cao hơn là trứng ở những con gà bố mẹ cùng tuổi Khi thời tiết nóng cũng trong thời gian thay lông của gà trống thì khả năng thụ tinh của trứng cũng giảm đi

Tuổi của gà trống càng tăng thì tỷ lệ thụ tinh càng giảm Ở những con gà trống thành thục thì tỷ lệ thụ tinh cao hơn những con gà trống chưa thành thục

Dinh dưỡng: trứng ấp thiếu dinh dưỡng là trứng có chất lượng kém không thể cho tỷ lệ

nở cao, từ đó gia cầm con nở ra không thể khỏe mạnh bình thường được Nguồn gốc của trứng thiếu dinh dưỡng là do đàn gia cầm sinh sản không được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết trong khNu phần hàng ngày

Chất lượng đàn giống: đàn gia cầm sinh sản bị mắc bệnh có nhiều bệnh truyền nhiễm mà mầm bệnh có thể xâm nhập vào trứng Trứng bị nhiễm bệnh từ trong cơ thể mẹ mắc bệnh

Nn tính, mãn tính hoặc trong những gà mái mang mầm bệnh Mặt khác trứng cũng bị nhiễm bệnh trong lúc thu lượm trứng, bảo quản trứng

Phôi thai bị nhiễm khuNn có thể chết bất cứ giai đoạn nào, tỷ lệ nở thấp, gia cầm con nở

ra có triệu trứng mắc bệnh này hay bệnh khác

2.5 Ấp trứng gia cầm

2.5.1 Yêu cầu trứng đưa vào ấp

Theo Bùi Đức Lũng và Nguyễn Xuân Sơn (1999), nên thu mua trứng từ những đàn gà đã trưởng thành, khỏe mạnh, không bị nhiễm bệnh Những con gia cầm này đã đẻ được 40 - 50% trở lên, vì lúc đó trở đi mới có nhiều trứng đạt khối lượng để ấp

Theo Lã Thị Thu Minh (2000) khi chọn trứng cần lưu ý các chỉ tiêu sau:

Sự cân đối của quả trứng (CSHD) : 71 - 75

Kết cấu vỏ vôi trơn láng, đều đặn, không có lỗi

Vỏ vôi sạch sẽ, trứng gà sạch hoàn toàn

Màu của vỏ vôi làm màu đặc trưng của giống

Độ cao của buồng khí: 5 - 6mm

2.5.2 Bảo quản và vận chuyển trứng ấp

Bảo quản: theo Bùi Đức Lũng và Nguyễn Xuân Sơn (1999), trứng gà được thu nhặt ngay sau khi gà đẻ thường vào buổi sáng, số ít vào buổi chiều Phải thu trứng ngay sau khi đẻ,

Ngày đăng: 11/04/2018, 22:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w