TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG TRẦN VĂN TRIẾT THAY THẾ CỎ LÔNG TÂY Brachiaria mutaca TRONG KHẨU PHẦN LÊN KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ TIÊU HÓA DƯỠNG C
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRẦN VĂN TRIẾT
THAY THẾ CỎ LÔNG TÂY (Brachiaria mutaca)
TRONG KHẨU PHẦN LÊN KHẢ NĂNG
TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ TIÊU HÓA
DƯỠNG CHẤT CỦA THỎ LAI
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y
Cần Thơ, 2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y
Tên đề tài:
THAY THẾ CỎ LÔNG TÂY (Brachiaria mutaca)
TRONG KHẨU PHẦN LÊN KHẢ NĂNG
TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ TIÊU HÓA
DƯỠNG CHẤT CỦA THỎ LAI
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS.TS NGUYỄN VĂN THU TRẦN VĂN TRIẾT
MSSV: 3052482
Lớp: CN K31
Cần Thơ, 2009
Trang 3TRƯỜNG ÐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
ĐỀ TÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA LỤC BÌNH TƯƠI (Eichhornia crassipes L.)
THAY THẾ CỎ LÔNG TÂY (Brachiaria mutica)
TRONG KHẨU PHẦN LÊN KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG
VÀ TỶ TIÊU HOÁ DƯỠNG CHẤT CỦA THỎ LAI
Cần Thơ, ngày tháng năm 2009 Cần Thơ, ngày tháng năm 2009
Cán bộ hướng dẫn Duyệt Bộ Môn
PGS.TS Nguyễn Văn Thu
Cần Thơ, ngày tháng năm 2009
Duyệt Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình luận văn nào
Người cam đoan
Trần Văn Triết
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn gia đình đã tạo mọi điều kiện để tôi được học hành đến ngày hôm nay Tôi cũng xin chân thành cám ơn thầy cô trường Đại học Cần Thơ đã tận tình dạy tôi về kiến thức chuyên môn, cũng như kiến thức cuộc sống Tôi cũng có lời cảm ơn đặc biệt đến thầy PGS.TS Nguyễn Văn Thu và cô
TS Nguyễn Thị Kim Đông đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi học tập, cũng như trong cuộc sống Bên cạnh đó, tôi cũng cám ơn tất cả anh em trong trại chăn nuôi, tất cả các bạn cùng lớp và anh em khác đã giúp đỡ, động viên tôi trong học tập, cũng như trong những lúc khó khăn Đặt biệt là anh Lâm Phước Thành và anh Đặng Hùng Cường đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp, cũng như công việc khác Một lần nữa tôi xin nữa tôi cám ơn tất cả mọi người
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM TẠ ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH SÁCH BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ vii
DANH SÁCH HÌNH vii
TÓM LƯỢC viii
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 2
2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ Ý NGHĨA KINH TẾ CỦA CHĂN NUÔI THỎ 2
2.1.1 Sản xuất và tiêu thụ thỏ trên thế giới 2
2.1.2 Tình hình sản xuất thỏ trong nước 2
2.1.3 Ý nghĩa kinh tế của chăn nuôi thỏ 2
2.2 SƠ LƯỢC MỘT SỐ GIỐNG THỎ NUÔI PHỔ BIẾN HIỆN NAY 3
2.2.1 Các giống thỏ trên thế giới 3
2.2.2 Một số giống thỏ nuôi phổ biến ở Việt Nam 4
2.3 YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA THỎ 6 2.3.1 Nhiệt độ 6
2.3.2 Ẩm độ 6
2.3.3 Sự thông thoáng 7
2.4 ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA CỦA THỎ 7
2.4.1 Đặc điểm cơ quan tiêu hóa thỏ 7
2.4.2 Đặc điểm sinh lí tiêu hóa 8
2.5 PHÂN MỀM VÀ HIỆN TƯỢNG ĂN PHÂN MỀM CỦA THỎ 9
2.6 VÀI NẾT VỀ TỶ LỆ TIÊU HÓA CỦA THỎ NUÔI 10
2.6.1 Tiêu hóa protein 10
2.6.2 Tiêu hóa chất xơ 12
2.6.3 Tiêu hóa chất béo 14
Trang 72.7 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA THỎ 14
2.7.1 Nhu cầu Protein 14
2.7.2 Nhu cầu chất xơ 14
2.7.3 Nhu cầu vitamin 15
2.7.4 Nhu cầu nước uống 16
2.7.5 Nhu cầu chất khoáng 16
2.8 THỨC ĂN 17
2.81 Cỏ lông tây (Brachiaria mutica) 17
2.82 Lục bình tươi (Eichhornia crassipes L.) 17
2.8 3 Bã đậu nành 18
2.8.4 Khoai mì lát 18
Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 19
3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM 19
3.1.1 Địa điểm 19
3.1.2 Thời gian 19
3.2 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 19
3.2.1 Chuồng trại 19
3.2.2 Động vật thí nghiệm 19
3.2.3 Thức ăn thí nghiệm 20
3.3 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 21
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 21
3.3.2 Phương pháp tiến hành 22
3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 23
3.3.4 Phương pháp phân tích 23
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 23
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 THÍ NGHIỆM NUÔI DƯỠNG 24
4.1.1 Kết quả thành phần hóa học của thực liệu sử dụng trong thí nghiệm nuôi dưỡng 24
Trang 84.1.2 Kết quả lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ của thỏ trong thí nghiệm
nuôi dưỡng 25
4.1.3 Kết quả tăng trọng, hệ số chuyển hóa thức ăn và hiệu quả kinh tế của thỏ thí nghiệm 28
4.2 THÍ NGHIỆM TIÊU HÓA 30
4.2.1 Thành phần hóa học của thực liệu sử dụng trong thí nghiệm tiêu hóa 30
4.2.2 Lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ trong thí nghiệm tiêu hóa 31
4.2.3 Kết quả tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất và nitơ tích lũy của thỏ thí nghiệm 33
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36
5.1 KẾT LUẬN 36
5.2 ĐỀ NGHỊ 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 9DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT DM: vật chất khô
OM: chất hữu cơ
CP: đạm thô
EE: béo thô
NDF: xơ trung tính
ADF: xơ acid
ME: năng lượng
FRC: hệ số chuyển hóa thức ăn
TLĐTN: trọng lượng đầu thí nghiệm
TLCTN: trọng lượng cuối thí nghiệm
Trang 10DANH SÁCH BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 1 Độ dài các đoạn ruột ở thỏ trưởng thành 7
Bảng 2 Thành phần hóa học của hai loại phân thỏ 10
Bảng 3 Nhu cầu vitamin của thỏ 15
Bảng 4 Nhu cầu canxi (Ca) và phospho (P) trong khẩu phần 16
Bảng 5: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ lông tây (%) 17
Bảng 6: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của lục bình tươi (%) 18
Bảng 7: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của bã đậu nành 18
Bảng 8: Thành phần hóa học của thức ăn sử dụng trong thí nghiệm nuôi dưỡng (%DM) 24
Bảng 9: Lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ của thỏ thí nghiệm nuôi dưỡng (g/con/ngày)25 Bảng 10: Tăng trọng, hệ số chuyển hóa thức ăn và hiệu quả kinh tế thỏ thí nghiệm 28
Bảng 11: Thành phần hóa học của thức ăn sử dụng trong thí nghiệm tiêu hóa (%DM) 30
Bảng 12: Lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ của thỏ thí nghiệm tiêu hóa (g/con/ngày) 31
Bảng 13: Tỉ lệ tiêu hóa dưỡng chất và nitơ tích lũy của thỏ trong thí nghiệm 33
Biểu đồ 1: Lượng DM ăn vào (g/con/ngày) của thỏ trong thí nghiệm nuôi dưỡng 26
Biểu đồ 2: Lượng CP ăn vào (g/con/ngày) của thỏ trong thí nghiệm nuôi dưỡng 26
Biểu đồ 3: Lượng ME tiêu thụ (MJ/con/ngày) của thỏ trong thí nghiệm nuôi dưỡng 27
Biểu đồ 4: Tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn của thỏ thí nghiệm 29
Biểu đồ 5: Hiệu quả kinh tế của thỏ thí nghiệm 29
Biểu đồ 6: Tỷ lệ tiêu hóa DM của thỏ trong thí nghiệm 34
Biểu đồ 7: Lượng nitơ tích lũy (g/con/ngày) của thỏ trong thí nghiệm 35
DANH SÁCH HÌNH Hình 1: Thỏ trong thí nghiệm nuôi dưỡng 20
Hình 2: Thỏ trong thí nghiệm tiêu hóa 20
Hình 3: Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 21
Hình 4: Thỏ ăn thức ăn trong thí nghiệm 22
Trang 11TÓM LƯỢC
Đề tài: “Ảnh hưởng của lục bình (Eichhornia crassipes L.) thay thế cỏ lông tây (Brachiaria mutica) trong khẩu phần lên khả năng tăng trưởng và tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất của thỏ lai ” Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 6 nghiệm thức và 3 lần lặp lại Mỗi đơn vị thí nghiệm gồm 2 thỏ đực và 2 thỏ cái với trọng lượng đầu trung bình là 814±42,5g Thí nghiệm gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn thí nghiệm nuôi dưỡng tiến hành trong 9 tuần và giai đoạn thí nghiệm tiêu hóa được thực hiện ở tuần thứ 6 và tiến hành trong 6 ngày Các nghiệm thức thí nghiệm bao gồm LB0, LB20, LB40, LB60, LB80
và LB100 lần lượt là sự thay thế lục bình bằng cỏ lông tây (%DM) ở các mức độ 0, 20,
40, 60, 80 và 100% Khoai mì lát được bổ 15-30g/con/ngày và bã đậu nành được cung cấp 150-200g/con/ngày trên tất cả các nghiệm thức tùy theo giai đoạn
Kết quả thu được như sau:
Thí nghiệm nuôi dưỡng: lượng DM và CP ăn vào thấp nhất ở nghiệm thức LB100 (59,3gDM/con/ngày và 6,81gCP/con/ngày) và cao nhất ở nghiệm thức LB60 là (71,2gDM/con/ngày và 8,53gCP/con/ngày) (P<0,05) Lượng NDF ăn vào có xu hướng giảm dần ở những khẩu phần nhiều lục bình (P<0,05) ME tiêu thụ cao nhất ở nghiệm thức LB60 (0,614MJ/con/ngày) và thấp nhất là nghiệm thức LB100 (0,500MJ/con/ngày) Tăng trọng cao nhất ở khẩu phần LB40 (19,6g/con/ngày) và LB60 (19,0g/con/ngày), thấp nhất ở khẩu phần LB100 (14,0g/con/ngày) (P<0,05) FCR cao nhất ở nghiệm thức LB80 (4,37) và thấp nhất ở nghiệm thức LB40 (3,63) (P<0,05)
Thí nghiệm tiêu hóa: DMD và OMD cao nhất ở khẩu phần LB60 (P>0,05) Giá trị CPD cao nhất ở khẩu phần LB60 (70,1%) (P>0,05) NDFD cao nhất ở khẩu phần LB60 (49,9%) và thấp nhất ở khẩu phần LB100 (40,0) (P<0,05) Lượng nitơ ăn vào cao nhất ở nghiệm thức LB40 và LB60 là 1,40g/ngày và thấp nhất là nghiệm thức LB100 là 1,09g/ngày (P<0,05) lượng nitơ tích lũy cao nhất ở nghiệm thức LB60 (0,739g/kg W 075 ) và thấp nhất là nghiệm thức LB100 (0,511g/kgW 075 ) gN tích lũy/g tăng trọng (P<0,05), cao nhất ở nghiệm thức LB40 là 0,050gN tích lũy/g tăng trọng và thấp nhất ở nghiệm thức LB100 là 0,037gN tích lũy/g tăng trọng
Qua kết quả thí nghiệm, thỏ được nuôi bằng lục bình cho kết quả tăng trọng tốt ở khẩu phần 40% và 60% Tỷ lệ tiêu hóa các dưỡng chất có khuynh hướng tăng từ nghiệm thức LB0 đến LB60 Hiệu quả kinh tế cao ở khẩu phần 40% và 60% lục bình thay thế cỏ lông tây Vì vậy, Sử dụng khẩu phần 40% và 60% lục bình thay thế cỏ lông tây vào chăn nuôi thỏ
Trang 12Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cả nước nói chung, Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng, số liệu thống kê về sản lượng thịt thỏ vẫn còn ít, có lẽ do thịt thỏ chỉ mới chiếm một tỷ lệ rất thấp so với các loại thịt của gia súc khác trên thị trường Do chăn nuôi còn nhỏ lẻ, tự phát khó kiểm soát Trong khi đời sống cư dân ngày một nâng cao thì nhu cầu về thực phẩm chất lượng và an toàn không ngừng gia tăng Trong khi đó, thịt thỏ có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là đạm,
ít mỡ, lượng cholesterol thấp phù hợp với nhiều lứa tuổi (Nguyễn Quang Sức, 2000)
Bên cạnh đó, chi phí đầu tư nuôi thỏ thấp, thức ăn chủ yếu là rau, cỏ tự nhiên và phụ phẩm công nông nghiệp như: khoai mì, bắp cải, bã đậu nành, bã bia,…
Bên cạnh đó, Đồng Bằng sông Cửu Long còn có nguồn thực vật thủy sinh rất lớn Trong đó, lục bình là loại thực vật thủy sinh có năng suất chất xanh cao, sinh sản nhanh xâm lấn các dòng chảy chính gây khó khăn cho hầu hết các hoạt động trên sông, nhất là hoạt động chuyên chở phục vụ sản xuất nông nghiệp Nhìn chung, lục bình sử dụng làm thức ăn cho thỏ hầu như chưa được quan tâm nhiều, đặc biệt là sử dụng như thế nào để đạt được hiệu quả trong chăn nuôi thỏ đó là vấn đề cần được chú ý
Gần đây, người ta đã khai thác được các tiềm năng của lục bình và đạt được hiệu quả kinh tế cao như: sử dụng lục bình trong sản xuất thủ công mỹ nghệ, làm nấm, làm phân hữu cơ,… Để tìm hiểu sự ảnh hưởng của lục bình trên khả năng sản xuất thịt của thỏ
Chúng tôi tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng của lục bình (Eichhornia crassipes L.) thay
thế cỏ lông tây (Brachiaria mutica) trong khẩu phần lên khả năng tăng trưởng và tỷ
lệ tiêu hóa dưỡng chất của thỏ lai”
Mục đích của đề tài nhằm:
Xác định mức độ tối ưu của lục bình thay thế cỏ lông tây trong khẩu phần
Xác định hiệu quả kinh tế của việc sử dụng lục bình để nuôi thỏ
Xác định tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất của các nghiệm thức trong thí nghiệm
Từ đó, có thể khuyến cáo kết quả đạt được cho người nuôi Nhằm góp phần phát triển chăn nuôi thỏ và tăng thu nhập để cải thiện đời sống gia đình
Trang 13Chương 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ Ý NGHĨA KINH TẾ CỦA CHĂN NUÔI THỎ 2.1.1 Sản xuất và tiêu thụ thỏ trên thế giới
Châu Âu đứng đầu thế giới về sản xuất thịt thỏ, trong đó Italia là nước có ngành chăn nuôi thỏ thịt phát triển nhất, nơi mà sản xuất thịt thỏ trở thành truyền thống từ đầu những năm 1970 Năm 1975, việc chăn nuôi thỏ đã được công nghiệp hóa và đến năm
1990 ngành chăn nuôi thỏ công nghiệp đã phát triển bền vững khắp đất nước Italia Do
đó, sản lượng thịt thỏ ở nước này đã tăng vọt từ 120.000 tấn (1975) lên 300.000 (1990) Chăn nuôi thỏ ở Châu Á phát triển không mạnh, tập trung chủ yếu ở các nước như Indonesia, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Trong đó, nghề chăn nuôi thỏ ở Trung Quốc khá phổ biến, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ tại địa phương
Hai nước xuất khẩu thịt thỏ lớn nhất trên thế giới là Trung Quốc và Hungary Thịt thỏ
từ Trung Quốc được xuất khẩu sang Pháp và một số nước Châu Âu khác chủ yếu dưới dạng thịt đông lạnh, một phần khác được xuất khẩu trực tiếp sang các nước đang phát triển Phần lớn thịt thỏ sản xuất ra ở Hungary được xuất khẩu ra nước ngoài, thị trường trong nước chỉ tiêu thụ khoảng dưới 5% tổng sản lượng thịt thỏ sản xuất hàng năm tại nước này
2.1.2 Tình hình sản xuất thỏ trong nước
Ở Việt Nam, chăn nuôi thỏ đã có từ lâu đời nhưng chưa được quan tâm nhiều, chủ yếu
2.1.3 Ý nghĩa kinh tế của chăn nuôi thỏ
Thỏ là một loại gia súc không ăn tranh lương thực với người và gia súc khác, thỏ có khả năng sử dụng được nhiều thức ăn thô xanh trong khẩu phần, tận dụng được các nguồn phụ phẩm nông nghiệp như rau , lá, cỏ tự nhiên…
Trang 14Chăn nuôi thỏ có vốn đầu tư ban đầu thấp, có thể tận dụng các vật liệu sẵn có để làm chuồng trại cho thỏ Chi phí mua con giống ban đầu ít so với các gia súc khác
Thỏ mắn đẻ, vòng đời sản xuất của thỏ ngắn (nuôi 3-3,5 tháng là giết thịt, 5-6 tháng bắt đầu sinh sản) nên thu hồi vốn nhanh, phù hợp với khả năng của nhiều gia đình
Thịt thỏ cân đối và giàu chất dinh dưỡng hơn các loại thịt các gia súc khác, hàm lượng cholesterol rất thấp nên thịt thỏ là loại thực phẩm điều dưỡng được bệnh tim mạch, đặc biệt không có bệnh truyền nhiễm nào của thỏ lây sang người
Thỏ là một gia súc rất mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh nên nó được dùng làm động vật thí nghiệm, động vật kiểm nghiệm thuốc và chế vaccin trong y học và thú y
(Đinh Văn Bình và Ngô Tiến Dũng, 2004)
2.2 SƠ LƯỢC MỘT SỐ GIỐNG THỎ NUÔI PHỔ BIẾN HIỆN NAY
Hầu hết các giống thỏ nhà (Domestic rabbit) ngày nay đều có nguồn gốc thỏ Châu Âu
(Oxyctolagus cunicullus) qua chọn lọc từ thế kỷ XVIII và đến nay đã có hơn 100 giống
với sự đa dạng về khối lượng cơ thể, màu sắc, ngoại hình và một số đặc tính khác
Ở các nước phát triển, người ta áp dụng công nghệ tiên tiến vào quy trình chăn nuôi khép kín, trong đó công tác chọn lọc, nhân giống và quản lý giống được thực hiện rất nghiêm ngặt nhằm đạt hiệu quả chăn nuôi tối đa Giống có tầm vóc trung bình thường được chọn để nuôi theo hướng thịt kiêm dụng Các giống thỏ này lúc trưởng thành có khối lượng đạt 4,5-5,0kg với tỷ lệ thịt xẻ 50-58% Các giống thỏ có tầm vóc lớn, mặc
dù khi trưởng thành khối lượng cơ thể đạt ở mức cao nhưng ít được chọn nuôi vì chúng
có bộ khung xương to, tỷ lệ thịt xẻ thấp (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999)
2.2.1 Các giống thỏ trên thế giới
Thỏ California
Đây là giống thỏ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi thương phẩm theo hướng công nghiệp Chúng có bộ lông trắng tuyết nhưng hai tai, mũi, đuôi và bốn bàn chân có màu tro hoặc đen Trọng lượng trưởng thành 4-4,5kg; con đực 3,6-4,5kg, con cái 3,8-4,7kg, mỗi năm đẻ khoảng 5 lứa, mỗi lứa khoảng 5-6 con (Nguyễn Ngọc Nam, 2002) Giống này được nhập vào Trung tâm nghiên cứu dê thỏ Sơn Tây từ năm 1977 đến nay
đã thích nghi với điều kiện khí hậu và tập quán nuôi dưỡng chăm sóc ở nước ta Tỷ lệ
thịt xẻ từ 55 -58% và một tấm da lông 300-400g (Nguyễn Ngọc Nam, 2002)
Thỏ Angora
Trang 15Màu lông của thỏ Angora không đồng nhất, hiện nay giống này có tới 12 màu khác nhau nhưng màu trắng là phổ biến nhất Giống Angora Anh trưởng thành cân nặng 2,75kg và có thể cho 350g lông tơ rất mịn trong năm, trong khi Angora Pháp nặng trung bình 3,6kg và Angora Đức là 4kg (Sandford, 1997)
Thỏ Newzealand White
Thỏ có bộ lông toàn thân màu trắng, lông dày với độ dài trung bình 7-10mm, mắt đỏ màu ngọc Trọng lượng trưởng thành đạt 4,5-5,0kg Trung bình một năm đẻ 6 lứa, mỗi lứa 6-7 con Thỏ sơ sinh nặng 55-60g/con, sau cai sữa nặng khoảng 550-600g/con, đến 3 tháng tuổi nặng 1,8-2,0kg Tỷ lệ thịt xẻ đạt 54-56% Thỏ con cai sữa thường được nuôi
vỗ béo đến 90 ngày tuổi thì giết thịt Như vậy, một thỏ mẹ có thể cho trung bình 50kg thịt tươi trong một năm (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999)
Nhân dân ta rất ưa chuộng giống thỏ này, ngoài việc nuôi thuần chủng người ta còn sử dụng chúng để lai kinh tế với thỏ nội tạo ra giống mới có tính thích nghi và năng suất cao hơn
Thỏ Chinchilla
Được lai tạo từ thỏ rừng với hai giống thỏ Blue Beverens và Himalayan, lần đầu tiên được công bố tại Pháp năm 1913 bởi Dybowski (Sandford, 1997) Màu sắc của giống này rất thay đổi, màu vàng sậm hoặc nâu sậm, vùng bụng có màu trắng xám thường chiếm ưu thế Trọng lượng lúc trưởng thành đạt 2,5-3kg (Sandford, 1997) Chúng có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu và nuôi dưỡng khác nhau Trung bình mỗi lứa đẻ 6-8 con (Nguyễn Ngọc Nam, 2002)
2.2.2 Một số giống thỏ nuôi phổ biến ở Việt Nam
Thỏ nội thuần chủng
Nghề nuôi thỏ đã xuất hiện ở nước ta từ rất lâu với các giống thỏ sẵn có và quen thuộc, các nhà khoa học gọi đó là thỏ nội thuần chủng Tuy nhiên, qua nhiều thế hệ thỏ nội không còn thuần nhất về màu sắc nữa Có con màu trắng tuyền, con màu đen tuyền, có con thì pha tạp giữa hai màu đó, nhiều con có màu xám tro nhạt hoặc sẫm, đôi khi có màu vàng hay đốm trắng Màu mắt cũng không đồng nhất, có con mắt đỏ, con thì mắt đen, một số con lại có mắt màu xám Khi cho phối hai con thỏ cùng màu lông, màu mắt chúng sẽ cho ra đàn con với nhiều màu lông và màu mắt khác với bố mẹ của chúng Điều này biểu hiện sự phân ly và tính pha tạp về giống của thỏ nội (Nguyễn Ngọc Nam, 2002)
Trang 16Giống thỏ nội hiện nay có đặc điểm đầu to vừa phải, tai thẳng hơi chếch hình chữ V, thân hình chắc chắn nhưng cổ không vạm vỡ, lưng hơi cong, bụng to Trọng lượng trung bình 2,5-3,5kg Thỏ có khả năng sinh sản và nuôi con tốt, mỗi năm đẻ 5-6 lứa, mỗi lứa khoảng 6 con (Nguyễn Ngọc Nam, 2002)
Giống thỏ nhập ngoại
Nhằm cải tiến giống và năng suất, từ năm 1978 nước ta đã tiến hành nhập một số giống thỏ ngoại Giống thỏ trắng Tân Tây Lan Việt Nam (Newzealand White Việt Nam) được nhập nhiều nhất Giống này có nguồn gốc từ Hungary Trong quá trình nuôi dưỡng chọn lọc đàn thỏ đã thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi, khí hậu nước ta Là giống thỏ có nhiều ưu điểm chúng được nuôi chủ yếu để lấy thịt và cả lấy da
Thỏ Tân Tây Lan Việt Nam có màu lông trắng tuyền, mắt đỏ Trọng lượng trung bình của con trưởng thành từ 4-4,5kg, mỗi năm đẻ từ 5-6 lứa, mỗi lứa từ 5-6 con Thỏ sơ sinh có trọng lượng trung bình 55-60g, thỏ con cai sữa nặng khoảng 500-600g, đến 3 tháng tuổi thỏ nặng khoảng 1,8-2 kg Tỉ lệ thịt xẻ của giống này đạt 54–56% Nhân dân ta rất ưa chuộng giống thỏ Tân Tây Lan Việt Nam Ngoài việc nuôi thuần chủng, nhân dân còn sử dụng để lai kinh tế với thỏ nội để tạo ra giống mới có năng suất cao trong chăn nuôi (Việt Chương, 2006)
Các giống thỏ lai
Từ năm 1977, cùng với việc nhập ngoại một số giống thỏ, nước ta cũng đã tiến hành thành lập Trung tâm nghiên cứu thỏ Sơn Tây Sau nhiều năm nghiên cứu lai tạo đã cho
ra một số giống thỏ mới có giá trị kinh tế cao
* Giống thỏ xám Việt Nam
Giống này có màu lông xám tro hoặc xám ghi, riêng màu lông vùng dưới bụng, ngực, đuôi có màu xám nhạt hơn hoặc màu xám trắng Đầu thỏ xám to vừa phải, mắt đen, lưng khum Trọng lượng trưởng thành 2,5-3kg Khả năng sinh sản của chúng rất tốt , mỗi năm đẻ 6-7 lứa, mỗi lứa 6-7 con (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999) Thỏ lai xám thích nghi khá tốt với điều kiện khí hậu và nuôi dưỡng ở nước ta, chúng được nuôi với quy mô nhỏ trên nhiều vùng và địa phương Ngoài ra thỏ xám Việt Nam còn được sử dụng để lai kinh tế với thỏ ngoại nhằm nâng cao năng suất thịt và lông da (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999)
* Giống thỏ đen Việt Nam
Giống thỏ này có bộ lông đen tuyền, mắt đen, đầu và miệng nhỏ, bụng thon, bốn chân dài và thô, cổ không vạm vỡ Thịt của giống thỏ này rất ngon Trọng lượng trưởng
Trang 17thành từ 2,6-3,2kg Một vài nơi còn có thỏ xù trắng do có máu thỏ Angora (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999)
Thỏ đen đẻ trung bình 7 lứa một năm, mỗi lứa 6-7 con Giống thỏ này có khả năng thích nghi với điều kiện nước ta tốt hơn thỏ xám, khả năng đề kháng bệnh tật của thỏ đen cũng rất khá Đây là những lợi thế của thỏ đen nên ngày càng được ưa chuộng và chúng cũng được sử dụng để lai tạo với thỏ ngoại (Việt Chương, 2006)
Đặc điểm sinh sản của hai giống thỏ xám và thỏ đen Việt Nam có điểm khác biệt so với thỏ mới nhập nội và thỏ lai thương phẩm Chúng vẫn bảo tồn tính năng sinh sản của thỏ rừng xa xưa như động dục sớm lúc 4,5-5 tháng tuổi, mắn đẻ… Sau khi đẻ 1-3 ngày đã chịu đực phối giống lứa tiếp theo Thỏ cái vừa tiết sữa nuôi con vừa có chửa, nên nếu trong điều kiện tốt thì thỏ sẽ đẻ liên tục mỗi năm 7-8 lứa với số con khoảng
10-11 con mỗi lứa (Việt Chương, 2006)
2.3 YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA THỎ
Chuồng trại, lồng nuôi cần được thiết kế sao cho đáp ứng tốt nhất các yêu cầu sinh trưởng bình thường của thỏ, nhiệt độ và ẩm độ môi trường thuận lợi cho nuôi thỏ ở nước ta là từ 18-28°C và ẩm độ 80-86% (Nguyễn Quang Sức, 2000)
2.3.1 Nhiệt độ
Thỏ trưởng thành (từ 1 tháng tuổi) có nhiệt độ bên trong cơ thể (đo qua trực tràng) ổn định, vì vậy việc sinh và thải nhiệt phải thay đổi để duy trì thân nhiệt Nếu nhiệt độ xuống dưới 10°C thỏ sẽ cuộn mình lại nhằm giảm tối đa bề mặt cơ thể tiếp xúc môi trường để giảm mất nhiệt, nếu nhiệt độ tăng cao 25-30°C chúng sẽ duỗi cơ thể ra nhằm gia tăng bề mặt để thải nhiệt Tuyến mồ hôi của thỏ không có chức năng hoạt động và cách duy nhất kiểm soát sự thoát nhiệt trong cơ thể là việc thay đổi nhịp thở Khi nhiệt
độ xung quanh lên đến 35°C thì thỏ không còn kiểm soát được thân nhiệt và chúng sẽ
bị kiệt sức nhanh chóng (Lebas et al., 1986)
2.3.2 Ẩm độ
Thỏ rất nhạy cảm với ẩm độ thấp (dưới 55%) nhưng lại thích nghi tốt với điều kiện ẩm
độ cao Điều này được chứng minh qua việc thỏ hoang có thể sống trong hang với mức
ẩm độ gần 100%
Thỏ rất mẫn cảm với việc thay đổi ẩm độ một cách đột ngột nên tốt nhất cần giữ cho
ẩm độ ổn định và việc này hoàn toàn tuỳ thuộc vào thiết kế chuồng trại Khi nhiệt độ
và ẩm độ môi trường đều ở mức cao, nhiệt độ bên trong cơ thể không thể thải ra ngoài
vì chỉ có một lượng ít nước được bốc hơi và có thể đưa thỏ đến tình trạng kiệt sức
Trang 18Những đợt nắng nóng cùng với ẩm độ cao gần 100% có thể gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng Ẩm độ chuồng nuôi không nên vượt ẩm độ bên ngoài quá 5% và nhiệt
độ không nên khác biệt với bên ngoài quá 5°C (Sandford, 1997)
Không khí quá hanh khô (ẩm độ dưới 60%) và quá nóng thì càng nguy hiểm cho thỏ Nó không chỉ làm rối loạn sự tiết đờm dãi mà tiếp theo đó làm bốc hơi phân và nước tiểu mang các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào đường hô hấp của thỏ một cách dễ dàng
2.3.3 Sự thông thoáng
Chuồng thỏ cần có sự thông thoáng tối thiểu để rút các khí có hại phát sinh từ hoạt động
hô hấp của thỏ (CO2) hay từ chất độn chuồng, các chất thải (NH3, H2S, CH4,…) và thay mới lượng oxygen cùng với giảm thấp ẩm độ, nhiệt độ trong chuồng nuôi Nhu cầu thông thoáng có thể thay đổi rất lớn tuỳ thuộc vào khí hậu, kiểu chuồng và mật độ thỏ Nồng độ NH3 không khí cao (20-30ppm) làm suy yếu đường hô hấp trên tạo điều kiện cho các vi khuẩn pasteurella và bordetella xâm nhập cơ thể Mức độ NH3 tối đa cho
phép trong môi trường chuồng nuôi là 5ppm (Lebas et al., 1986)
2.4 ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA CỦA THỎ
2.4.1 Đặc điểm cơ quan tiêu hóa thỏ
Một con thỏ thành thục (4-4,5kg) có ống tiêu hóa dài khoảng 4,5-5m Sau đoạn thực quản ngắn là dạ dày có thể chứa 90-100g hỗn hợp thức ăn nhão Ruột non dài gần 3m, đường kính từ 0,8-1,0cm và được kết thúc tại gốc của manh tràng
Manh tràng dài 40-45cm với đường kính 3-4cm, chứa 100-120g hỗn hợp nhão đồng nhất với khoảng 22% là vật chất khô Phần đuôi manh tràng 10-12cm có đường kính nhỏ dần ở phần cuối, vách của nó gồm các mô bạch huyết Kết tràng chia làm hai phần,
phần trên có nhiều lớp vân cuộn sóng, phần dưới nhăn và trơn (Lebas et al., 1986)
Bảng 1 Độ dài các đoạn ruột ở thỏ trưởng thành
Trang 19Đường tiêu hóa phát triển nhanh ở giai đoạn thỏ còn non và hầu như hoàn thiện kích cỡ
khi thỏ đạt trọng lượng 2,5kg, lúc này đạt 60-70% trọng lượng trưởng thành (Lebas et
al., 1986) Độ pH ở các đoạn ống tiêu hóa không đồng đều; dạ dày có pH trung bình
2,2 Chất chứa ruột non có pH từ 7,2-7,9 Manh tràng có pH bằng 6,0 Kết tràng có pH bằng 6,6 (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999)
2.4.2 Đặc điểm sinh lí tiêu hóa
Thỏ gặm thức ăn nhờ răng cửa (răng này tăng trưởng liên tục), rồi đẩy sâu vào khoang miệng và nghiền bằng răng hàm dưới sự hỗ trợ của cơ hàm dưới rất khoẻ Ở miệng thức ăn luôn ngập trong nước bọt Đó là giai đoạn đầu của sự tiêu hóa Trước khi đến xoang bụng nơi chứa các cơ quan tiêu hóa (dạ dày, ruột non, ruột già…) thực quản đi
qua lồng ngực, dọc theo lưng về phía khí quản
Cấu tạo dạ dày thỏ không thích ứng với tiêu hóa chất xơ Ở thỏ chất xơ được tiêu hóa ở manh tràng (ruột già) Các chất dinh dưỡng trong thức ăn được hấp thu phần lớn là ở tá tràng Dạ dày thỏ chỉ có một ngăn, co giãn tốt nhưng co bóp yếu Thức ăn được đưa vào tới dạ dày là nhờ nhu động của hầu và thực quản Thức ăn không được nhào trộn
mà được xếp từng lớp trước sau rồi cứ thế chuyển dần xuống ruột non, ruột già Nếu thức ăn cứng khó tiêu thì dễ gây viêm ruột, viêm dạ dày Thức ăn trong dạ dày được phân hóa chất đạm nhờ dịch dạ dày Nếu thiếu muối trong khẩu phần ăn thì dịch dạ dày tiết ra ít dẫn đến cơ thể không sử dụng hết nguồn đạm trong thức ăn
Dạ dày thỏ khoẻ không bao giờ hết thức ăn Nếu dạ dày lép xẹp ít thức ăn hoặc chứa tạp chất ở thể lỏng là thỏ bị bệnh và phân thải ra sẽ nhão không thành viên Thỏ khoẻ mạnh phân thải ra thành dạng viên Ở ruột non các chất đạm, đường, mỡ được phân giải nhờ các men tiêu hóa của dịch ruột Các dưỡng chất cũng được hấp thu chủ yếu ở đây Nếu ruột non bị viêm nhiễm trùng thì không hấp thu được dưỡng chất từ thức ăn, thỏ sẽ gầy yếu
Thức ăn từ miệng xuống tới tá tràng mất từ 8-10 giờ Thức ăn sau khi tiêu hóa ở ruột non, những phần còn lại được đẩy tiếp xuống ruột già được tiêu hóa nhờ hệ vi sinh vật
cư trú ở đây tác động, phân huỷ Ở ruột già chủ yếu hấp thu muối và nước Manh tràng
dự trữ và tiêu hóa chất xơ nhờ hệ vi sinh vật Các chất dinh dưỡng và vitamin cần thiết được tổng hợp ở manh tràng nhưng không hấp thu hết ở đây mà được tồn tại ở dạng các viên phân mềm, nhỏ mịn, dính kết lại vào nhau và được thỏ thải ra ban đêm gọi là
“phân vitamin”, loại phân này được thỏ ăn trở lại (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999)
Trang 20Do ruột già nhu động yếu, thời gian thức ăn lưu lại ruột già lâu nên thời gian từ khi thức ăn vào miệng đến khi chuyển hóa thành phân thải ra ngoài cơ thể ở thỏ lớn cần 72 giờ, ở thỏ con cần 60 giờ mới hoàn thành Thức ăn tồn tại ở ruột già lâu và ở đây có vi sinh vật giúp quá trình tiêu hóa Khi vi sinh vật ở ruột già tham gia phân huỷ chất xơ đồng thời các quá trình thối rửa cũng xảy ra và có chất độc hình thành Do đó, nếu cho thỏ ăn thức ăn nghèo chất xơ khó tiêu hóa, thức ăn rau xanh củ quả chứa nhiều nước, mẫu nát dễ phân huỷ, thức ăn có hàm lượng bột đường nhiều hoặc thức ăn thiu thì dễ lên men gây rối loạn tiêu hóa như tạo khí nhiều, phân không tạo viên gây tiêu chảy, chướng hơi, bệnh do cầu trùng, trực trùng… (Nguyễn Chu Chương, 2003)
2.5 PHÂN MỀM VÀ HIỆN TƯỢNG ĂN PHÂN MỀM CỦA THỎ
Thức ăn được nuốt vào dạ dày nhanh chóng Sau khi lưu lại trong dạ dày vài giờ, qua một số biến đổi hóa học, thức ăn từ từ đi vào ruột non nhờ sự co bóp của dạ dày Khi đi vào ruột non, thức ăn được trộn dịch mật và sau đó là dịch tụy Sau các phản ứng enzyme, thành phần thức ăn dễ phân hóa được giải phóng và đi vào vách ruột non rồi được máu vận chuyển vào tế bào Phần thức ăn không bị phân hóa sau khoảng một giờ rưỡi trong ruột non thì trôi vào manh tràng và lưu lại đây từ 2-12 giờ để được phân hủy bởi các enzyme vi sinh vật Những sản phẩm được tạo ra do các quá trình phân hóa ở manh tràng (chủ yếu các axit béo bay hơi - VFA) cũng được phóng thích xuyên qua
vách manh tràng đi vào dòng máu (Santomas et al., 1989)
Đến đây, đường tiêu hóa của thỏ gần giống với các loài độc vị khác Sự khác biệt duy nhất là ở hai chức năng của đoạn trên kết tràng (proximal colon) Nếu chất chứa manh tràng vào ruột trong buổi sáng sớm thì chúng ít bị những biến đổi hóa học Vách ruột tiết chất nhày bao bọc các viên phân do sự co thắt của ruột Các viên phân này tụ lại thành chuỗi dài được gọi là phân mềm hay phân ban đêm Nếu chất chứa manh tràng đi vào ruột ở thời điểm khác trong ngày thì phản ứng của ruột hoàn toàn khác và sẽ không tạo ra phân mềm Các sóng liên tục của sự co thắt theo nhiều hướng xen kẽ nhau bắt đầu hoạt động; hướng thứ nhất nhằm tháo chất chứa một cách bình thường và hướng
thứ hai nhằm đẩy chúng trở lại manh tràng (Santomas et al., 1989)
Dưới áp lực và nhịp điệu thay đổi của sự co thắt này, chất chứa bị ép lại như một gạc xốp Hầu hết chất dịch chứa các sản phẩm hoà tan và những phần tử nhỏ hơn 0,1mm được đẩy trở vào manh tràng Phần rắn chủ yếu chứa các phần tử lớn hơn 0,3mm tạo thành những viên phân cứng được thải ra kết tràng
Trang 21Phân cứng được thải ra ngoài nhưng phân mềm thì được thỏ ăn lại trực tiếp ngay sau khi thải ra khỏi hậu môn bằng cách nuốt lại không cần nhai Sau đó, phân mềm cùng
được tiêu hóa như thức ăn bình thường khác (Lebas et al., 1986)
Phân cứng có hàm lượng vật chất khô cao nhưng protein lại thấp hơn phân mềm Phân cứng ở dạng viên đơn, phân mềm ở dạng chùm dài gồm 5-10 viên nhỏ kết lại bởi màng mỏng Phân mềm khi được thải ra đến cửa hậu môn thì thỏ cúi xuống ăn ngay, nuốt chửng vào dạ dày, tan ra và trộn lẫn chất chứa dạ dày đưa xuống ruột non Vì có hiện tượng này nên người ta gọi thỏ là loài “nhai lại giả” (Nguyễn Chu Chương, 2003) Thỏ con còn bú mẹ không có hiện tượng ăn phân, hiện tượng này chỉ bắt đầu khi thỏ đến ba tuần tuổi, lúc thỏ ăn được thức ăn cứng Phân cứng còn được gọi là phân ban ngày, phân mềm là phân ban đêm, nhưng đối với thỏ rừng thì ngược lại, như vậy chứng
tỏ rằng thỏ ăn phân mềm trong môi trường yên tĩnh (Nguyễn Ngọc Nam, 2002)
Bảng 2 Thành phần hóa học của hai loại phân thỏ
27,1 29,5 2,40 22,0 10,8 35,1
(Nguồn: Nguyễn Văn Thu, 2004)
Thực tế thì tỷ lệ phân mềm trong tổng vật chất khô khẩu phần ăn vào thường cố định (khoảng 14%) Chỉ khi nào cỏ hoặc những phụ phẩm trồng trọt khó tiêu hiện diện nhiều trong khẩu phần thì dẫn đến mức độ tiêu thụ cao có thể từ 20-23% phân mềm
trong tổng vật chất khô ăn vào (Carabano et al.,1988)
2.6 VÀI NẾT VỀ TỶ LỆ TIÊU HÓA CỦA THỎ NUÔI
2.6.1 Tiêu hóa protein
Enzyme phân giải protein của thỏ được hoàn thiện vào tuần tuổi thứ tư (Corring et al.,
1972 và Henschell, 1973), sự phát triển của enzyme phụ thuộc chủ yếu vào sự phát
triển của hệ thống nội tiết và ít nhiều bị ảnh hưởng bởi khẩu phần (Corring et al.,
1972)
Có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ tiêu hóa protein giữa các loại thức ăn hỗn hợp (gần 80%), ngũ cốc và cám (65-70%) và cỏ (45-65%) Từ đó, tỷ lệ tiêu hóa CP ở các khẩu phần
Trang 22khác nhau phụ thuộc vào thực liệu hơn là vào thành phần hóa học của chúng (Fraga et
al., 1977 và De Blas et al., 1984) Vì vậy mà tỷ lệ tiêu hóa protein thô (CPD) có mức độ
chính xác cao hơn protein thô (CP) trong đánh giá protein thức ăn và thực liệu
Số liệu nghiên cứu về mức độ tiêu hóa protein trước manh tràng còn rất hiếm Gần đây, Gidenne (1988) đã thực hiện thí nghiệm thông lỗ dò hồi tràng thỏ và những kết quả bước đầu cho thấy rằng chỉ có 35% tổng số protein tiêu hóa của cỏ Linh lăng khô xảy
ra ở ruột non (protein từ thức ăn hỗn hợp có thể có giá trị cao hơn) Vì vậy, sự biến dưỡng ở manh tràng dường như có vai trò quan trọng trong tiêu hóa hấp thụ protein của thỏ, nhất là đối với protein có nguồn gốc từ cỏ (Haresign, 1989)
*Biến dưỡng nitơ trong manh tràng
Amoniac (NH3) là sản phẩm chính cuối cùng của quá trình dị hóa nitơ trong manh tràng và là nguồn nitơ chính cho sự tổng hợp protein của vi sinh vật Cũng như loài nhai lại, nguồn NH3 quan trọng này trong manh tràng bắt nguồn từ sự biến dưỡng urea máu (khoảng 25% NH3 trong manh tràng, Forsythe et al.,1985), phần còn lại đến từ sự
phân hủy thức ăn và các phức hợp nitơ nội sinh của vi sinh manh tràng có hoạt lực
phân giải protein cao (Makkar et al., 1987)
Nồng độ NH3 manh tràng từ 6-8.5 mg/100ml chất chứa trong đoạn ruột này Lượng
NH3 này dường như đủ cho sự tổng hợp protein của vi sinh vật khi so sánh với động
vật nhai lại (Carabano et al., 1988) Trong trường hợp nồng độ NH3 là yếu tố giới hạn cho sự tăng trưởng của vi sinh vật manh tràng (ví dụ khẩu phần có protein rất thấp) thì
nguồn urea cung cấp không thể thoả mãn nhu cầu (Olceste et al.,1948; King, 1971 và
sau này được xác định bởi nhiều tác giả khác) vì urea được thuỷ phân và hấp thu như
NH3 trước khi đến manh tràng dẫn đến sự gia tăng nitơ trong nước tiểu
Hơn nữa, lượng NH3 manh tràng tăng cao tạo điều kiện cho pH manh tràng cao hơn mức tối ưu, từ đó có thể kích thích gây ra sự xáo trộn tiêu hóa (Lebas, 1984)
*Phân mềm và sự tiêu hóa protein
Hiện tượng ăn phân mềm có vai trò như sự cung cấp dưỡng chất được quan tâm - đó là protein Thành phần hóa học của phân mềm tương tự với chất chứa trong manh tràng mặc dù phân mềm có hàm lượng protein hơi cao hơn và lượng xơ hơi thấp hơn
(Carabano et al., 1988) Sự khác biệt này liên quan đến nồng độ nitơ cao của lớp nhày
bao bọc chất chứa manh tràng ở các đoạn cuối của ruột già tạo ra phân mềm trước khi bài xuất Phân mềm cũng ít nước hơn chất chứa manh tràng do sự hấp thu nước ở phần cuối ruột già mặc dù sự hấp thu ít hơn so với phân cứng
Trang 23Khi được ăn vào, phân mềm lưu lại trong dạ dày khoảng 6-8 giờ tuỳ khả năng bảo vệ của màng nhày trước sự công phá của hoạt động tiêu hóa Trong khi đó các vi sinh tiếp tục quá trình lên men sản sinh một lượng đáng kể lactic acid vì chất đệm phosphate trong phân mềm tạo ra độ pH phù hợp Cuối cùng thì màng nhày bị phá hủy và phân
mềm đi vào quá trình tiêu hóa bình thường (Griffiths et al., 1963)
Protein cung cấp từ phân mềm thay đổi từ 10% (Spreadbury, 1978) đến 55% (Falcao et
al., 1986) trên tổng lượng protein ăn vào tuỳ thực liệu thô được sử dụng Trong khẩu
phần thực tế, nguồn protein cung cấp từ phân mềm chiếm khoảng 18% tổng lượng protein ăn vào (Haresign, 1989)
Một trong những ưu điểm của hiện tượng ăn phân mềm là nó tác động tích cực lên khả
năng tiêu hóa protein trong khẩu phần Theo Fraga et al (1977) thì protein thô tiêu hóa
tăng từ 5-20% nhờ hiện tượng này, tăng đến giá trị cao nhất khi protein bổ sung từ thức
ăn hỗn hợp giảm thấp Kết quả quan sát này giải thích lý do tại sao thỏ sử dụng protein
từ cỏ tốt hơn các loài không nhai lại khác
Kennedy and Hershberger (1974) cho rằng hiện tượng ăn phân mềm có thể hỗ trợ việc khắc phục tình trạng khẩu phần chứa protein kém chất lượng Ngoài ra, phân mềm còn
là nguồn quan trọng cung cấp vitamin nhóm B, K và một số khóang có thể tái sử dụng như sắt (Salze, 1983)
2.6.2 Tiêu hóa chất xơ
Xơ là thành phần chính có chức năng tác động thúc đẩy cho sự tiêu hóa hoàn hảo, nhưng khác với loài nhai lại, vai trò của xơ đối với thỏ có liên quan đến cả hai đặc tính
lý học và hóa học Vì vậy nếu khẩu phần không đáp ứng đầy đủ chất xơ thì rất dễ phát
sinh các rối loạn tiêu hóa (Santomas et al., 1989)
Việc xác định tỷ lệ chất xơ tối ưu trong khẩu phần là một trong những mục tiêu nghiên cứu chính về dinh dưỡng Thỏ được nuôi bằng khẩu phần xơ thấp cho thấy tỷ lệ các rối loạn về tiêu hóa (thường biểu hiện triệu chứng tiêu chảy) và tỷ lệ chết cao Điều này
có thể do mức độ xơ thấp làm cho thời gian lưu lại của chất chứa trong đường ruột lâu
hơn (Fraga et al.,1984 và Gidenne, 1987)
Sự gia tăng chất chứa manh tràng xuất hiện rõ ở khẩu phần chứa chất xơ thấp hơn 12%, mức độ này có thể chi phối tốc độ đổi mới chất chứa manh tràng, tình trạng này tạo điều kiện thuận lợi cho sự lên men không mong muốn ở manh tràng và sự phát triển
của vi khuẩn sinh bệnh (Carabano et al., 1988)
Trang 24Kích cỡ nghiền của xơ cũng ảnh hưởng đến nhu động ruột (Bouyssou et al., 1988) Nghiền mịn làm tăng thời gian lưu lại của thức ăn trong ruột (Lebas et al., 1977) và
làm tăng chất chứa manh tràng (Candau et al.,1986) Hiện nay chưa có sự thống nhất
giữa các tác giả về kích thước tối thiểu của tiểu thể xơ để tránh những bất lợi trên vì nó còn phụ thuộc vào nguồn cung cấp xơ và các yếu tố làm ảnh hưởng đến việc sắp xếp kích cỡ các tiểu thể xơ trong đường ruột Tuy nhiên, kích thước tối thiểu 2mm dường
như là hợp lý (Lebas et al, 1986)
* Xơ và sự biến dưỡng ở manh tràng
Do tỷ lệ tiêu hóa xơ thô (CF) trung bình khoảng 17% (De Blas et al., 1986; Maertens et
al.,1987) nên năng lượng cung cấp từ chất xơ trong khẩu phần thường thấp (dưới 5% tổng
DE khẩu phần) Tuy nhiên, phần tử xơ mịn và các vật chất hoà tan đi vào manh tràng là nguồn nguyên liệu cho vi khuẩn lên men chủ yếu tạo ra các acid béo bay hơi (VFA) Theo Carabano (1988), năng lượng là yếu tố giới hạn cho sự phát triển tối ưu của vi sinh manh tràng Tổng nồng độ và tỷ lệ tương đối của các VFA trong manh tràng đều không giống như trong dạ cỏ, do đó propionic acid hiện diện với một tỷ lệ rất thấp (8% trong tổng số), acetic acid chiếm ưu thế (73%) và butyric acid cũng chiếm tỷ lệ khá (17%) Lượng VFA trong manh tràng biến động từ 34 µmol/g DM (Morisse,1985) đến
351 µmol/g DM (Candau et al., 1986) Những thay đổi về biến dưỡng manh tràng và
sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh khác đều là cơ hội phát sinh các rối loạn tiêu
hóa (Borirello et al., 1983; Rolfe, 1984; và Toofanian et al., 1986)
* Xơ và phân mềm
Một phần của chất chứa manh tràng được thải ra hàng ngày ở dạng phân mềm Với các khẩu phần thông thường, việc sản sinh phân mềm không liên quan đến mức độ xơ
trong khẩu phần (Dehalle, 1981 và Carabano et al., 1988) Lượng phân mềm thỏ tiêu
thụ so với tổng vật chất khô ăn vào (DMI) khá ổ định ở khoảng 14% (9-15%) (Dehalle,
1981; Carabano et al., 1988 và Lorente et al., 1988) Phân mềm có thể được tiêu thụ tới
20-23% tổng vật chất khô ăn vào khi khẩu phần chủ yếu là cỏ hoặc các phụ phẩm khó
tiêu (Gidenne, 1987 và Falcao et al., 1986)
Tăng mức xơ khẩu phần làm tăng mức độ xơ trong phân mềm nhưng không theo tỷ lệ nhất định, điều này chứng minh tính hiệu quả của cơ chế phân tách tránh cho khối
lượng lớn chất xơ đi vào manh tràng (Santomas et al., 1989)
Trang 252.6.3 Tiêu hóa chất béo
Khẩu phần của thỏ bình thường có chứa xơ, chất béo thì thiết yếu cho sự gia tăng nguồn năng lượng Có rất ít số liệu về tỷ lệ tiêu hóa chất béo ở thỏ Nhưng kết quả tỷ lệ tiêu hóa cũng xác định rằng thỏ cũng giống như những động vật dạ dày đơn khác Theo
cách này Maretens and De Groote (1984), Santomas et al (1987) đã tìm thấy mối quan
hệ tích cực giữa mức độ của acid béo chưa bão hòa Và tỷ lệ tiêu hóa của chúng cũng giống như ở heo và gia cầm Những tác giả này cũng chỉ ra rằng có sự đối lập giữa mức độ chất béo của khẩu phần và tỷ lệ tiêu hóa chất béo bão hòa
Santomas et al (1987) đã phát hiện hiệu quả đặc biệt của chất béo, điều này giống như
ở gia cầm và điều này được giải thích là tỷ lệ tiêu hóa của những thành phần không phải là béo tăng 5,8% khi chất béo được thêm vào trên 3%
2.7 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA THỎ
Thỏ là loài ăn thực vật có khả năng tiêu hóa nhiều chất xơ, nên có thể nuôi thỏ bằng các loại rau, cỏ, củ và các phụ phế phẩm nông nghiệp Ngoài ra cần bổ sung thêm thức
ăn tinh bột, đạm, khoáng vitamin…và phải bổ sung vào thời điểm thích hợp để đáp ứng
đủ nhu cầu dinh dưỡng khác nhau trong từng thời kì khác nhau của chúng (Nguyễn Văn Thu, 2004)
2.7.1 Nhu cầu Protein
Tất cả các đặc tính: lông, sinh trưởng, sản xuất và cho sữa của thỏ đều đòi hỏi hàm lượng cao của protein chất lượng tốt
Khả năng tăng trọng của thỏ đang tăng trưởng phụ thuộc rất nhiều vào protein Do đó việc đáp ứng nhu cầu protein cho thỏ là rất quan trọng Thỏ nuôi thâm canh tăng trọng cần 4-5g protein/kg thể trọng/ngày Nhu cầu protein tiêu hóa của thỏ 6-7 tuần tuổi là 7-
9,5g/kg thể trọng Sau 8 tuần tuổi giảm xuống còn 4,5-7g/kg thể trọng/ngày
Chất đạm đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thỏ Nếu thỏ mẹ trong thời kì mang thai và nuôi con mà thiếu đạm thì thỏ con sơ sinh nhỏ, sức đề kháng kém, sữa mẹ ít dẫn đến tỉ lệ nuôi sống đàn con thấp Sau cai sữa cơ thể thỏ chưa phát triển hoàn thiện, nếu thiếu đạm thì thỏ con sẽ còi cọc, dễ sinh bệnh tật trong giai đoạn vỗ béo (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999)
2.7.2 Nhu cầu chất xơ
Việc xác định mức độ xơ tối ưu trong khẩu phần thỏ là một trong những mục tiêu chính của việc nghiên cứu về dinh dưỡng thỏ Thỏ được cho ăn khẩu phần xơ thấp thì
có những biểu hiện xáo trộn trong hệ thống tiêu hóa với những biểu hiện như tiêu chảy
Trang 26kèm với tỷ lệ chết cao Điều này có thể giải thích là do khẩu phần có mức độ xơ thấp sẽ kéo dài thời gian lưu trữ thức ăn trong hệ thống tiêu hóa (Hoover and Heitmann, 1972) Hơn thế nữa, ở khẩu phần xơ thấp hơn 12% thì sự thay thế chất chứa trong manh tràng
sẽ thấp hơn Tình trạng này dẫn đến hai trường hợp: sự lên men không mong muốn trong manh tràng và sự gia tăng của những vi sinh vật gây bệnh (Carabano, 1988)
Từ đặc điểm sinh lý tiêu hóa của thỏ chúng tôi nhận thấy thức ăn xơ thô vừa là chất chứa đầy dạ dày và manh tràng vừa có tác dụng chống đói đảm bảo sinh lý tiêu hóa bình thường Chất xơ như là nguồn cung cấp năng lượng, tác động tốt cho quá trình lên men của vi khuẩn manh tràng Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy: nếu cho thỏ ăn thức
ăn nghèo xơ (dưới 8%) thì thỏ sẽ bị tiêu chảy Nhu cầu tối thiểu về xơ thô là 12% trong khẩu phần ăn của thỏ, tốt nhất là 13-15% Thức ăn này sẽ kích thích sự hoạt động của đường tiêu hóa và nhu động của ruột bình thường Nhưng nếu tỷ lệ xơ thô trên 16% thì
sẽ gây cản trở tăng trọng và khả năng sử dụng thức ăn của thỏ Riêng thỏ trưởng thành
có thể sử dụng được khẩu phần có xơ thô trên 16-18% Cung cấp xơ thô có thể theo dạng cỏ, lá xanh, khô hoặc dạng bột nghiền nhỏ 2-5mm trộn vào thức ăn hổn hợp để đóng viên hoặc dạng bột (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999)
2.7.3 Nhu cầu vitamin
Trong chăn nuôi thỏ rất cần thiết phải cung cấp vitamin đặc biệt là thỏ nuôi nhốt và thỏ
có năng suất cao Đối với thỏ sinh sản cần thiết phải được cung cấp vitamin A và E, nếu đầy đủ thì tỷ lệ đẻ có thể đạt 70-80%, nếu thiếu tỷ lệ này có thể là 40-50% và tỷ lệ nuôi sống là 30-40%
Bảng 3 Nhu cầu vitamin của thỏ
2500
250 1.0 2.0 8.0 1.0 0.005
1000
100 0.5 1.0 8.0 0.5 0.003
(Nguồn: Nguyễn ngọc Nam, 2002)
Trang 272.7.4 Nhu cầu nước uống
Nước uống cũng là nhu cầu rất quan trọng của thỏ Thỏ có thể sử dụng cả hai nguồn nước là nước trong thức ăn xanh và nước uống Khi cho ăn nhiều thức ăn thô xanh thì chỉ đáp ứng được 80-60% nhu cầu nước tổng số, vì vậy vẫn cần phải cung cấp nước cho thỏ uống Nhu cầu nước phụ thuộc vào nhiệt độ không khí và hàm lượng vật chất khô trong thức ăn xanh hàng ngày, đồng thời cũng phụ thuộc vào các giai đoạn sinh lý khác nhau của thỏ Thông thường thỏ cần lượng nước uống gấp 1,5-2 lần vật chất khô
ăn được Mùa nóng cần 2,5-2,5 lần lượng nước bình thường Nhu cầu nước uống còn phụ thuộc vào thời kỳ sản xuất Thỏ vỗ béo và hậu bị cần 0,2-0,5 l/ngày, thỏ chửa cần 0,4-0,6 l/ngày, thỏ cho con bú cần 0,6-0,8 l/ngày (thời kỳ tiết sữa cao nhất cần 0,8-1,5 l/ngày) Mỗi ngày thỏ trưởng thành cần uống 0,6-0,8 l/con, thỏ nhỏ 0,3l/con Thỏ chửa có 8-10 con cần lượng nước rất lớn để tăng trưởng thai Thời kỳ nuôi con cần 70-75% nước để sản xuất sữa
Thỏ sẽ bị tiêu chảy, chướng hơi khi không cho uống đều đặn hoặc khi cho uống nước nhiều sau thời gian nhịn khát, cho uống nước nhiễm bẩn (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999) Thỏ thiếu nước nguy hiểm hơn thiếu thức ăn Thỏ nhịn khát đến ngày thứ 2 là bỏ ăn, đến ngày thứ 10-12 là chết (Nguyễn Ngọc Nam, 2002)
2.7.5 Nhu cầu chất khoáng
Thỏ cũng giống như các loài động vật khác cần phải có canxi và các khoáng chất cần thiết khác trong khẩu phần để đảm bảo chức năng sinh lý bình thường của chúng Canxi là nguyên tố khoáng phổ biến đóng vai trò cơ bản, trong cơ thể bình thường là 1 trong 15 loại khoáng dưỡng chất cần thiết và có số lượng lớn trong cơ thể động vật Hầu hết canxi trong cơ thể (khoảng 99%) được tìm thấy trong xương và răng Hầu hết các loài thú mọc 1 hay 2 bộ răng trong cả đời nhưng đối với thỏ răng tiếp tục phát triển
và đây là yếu tố đòi hỏi canxi trong chu trình sống của chúng Phần canxi còn lại (1%) tham gia vào các chức năng biến dưỡng quan trọng khác, bao gồm tạo xung lực thần kinh, co duỗi cơ, điều hòa nhịp tim và tham gia vào quá trình đông máu
0,22 0,37 0,5
(Nguồn: Postman,1998)
Trang 28Thiếu canxi sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu các loại khoáng khác nhất là phospho và magie Khi phối hợp khẩu phần cần chú ý tỷ số cân bằng Ca/P ở mức 1/1 hoặc 1,5/1 Nếu tỷ
số này nằm ngoài thì sự mất cân bằng sẽ xảy ra
2.8 THỨC ĂN
2.8.1 Cỏ lông tây (Brachiaria mutica)
Loại cỏ thân bò trên mặt đất, rễ nhiều, thân dài 0,6-2,0m, lá to bản, có lông Giống cỏ này có nguồn gốc từ Châu Phi Thuộc giống cỏ đa niên, giàu protein, dễ trồng, chịu được đất ẩm ướt Ở Việt Nam cỏ lông tây được nhập trồng ở Nam Bộ từ năm 1887 tại các cơ sở nuôi bò sữa, nay đã trở thành cây mọc tự nhiên ở khắp hai miền Nam Bắc (NguyễnThiện, 2003) Sau 1,5-2 tháng trồng thì có thể thu hoạch lứa đầu Từ đó, cứ khoảng 30 ngày thì thu hoạch được một lần, trừ mùa khô phải hơn hai tháng mới cắt được nên thu hoạch lúc cỏ cao 50-60cm và khi thu hoạch thì nên cắt cách mặt đất 5-10cm Cỏ lông tây rất thích hợp trồng ở các vùng đồng bằng, năng suất cỏ thay đổi nhiều, có nơi đạt 120 tấn/ha trong 5 lần cắt (Nguyễn Thiện, 2003) Chúng ta có thể trồng cỏ lông tây ở đất bùn lầy, đất ruộng, đất bãi, bờ đê, ven hồ ao, bờ sông suối Có thể sử dụng cỏ lông tây cho gia súc ăn dưới dạng cỏ tươi hoặc phơi khô (Nguyễn Thiện, 2003)
Bảng 5: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ lông tây (%)
Nguồn: Trương Thanh Trung, 2006), DM: vật chất khô, OM: vật chất cất hữu cơ, CP: đạm thô, EE: chất béo,
NDF: xơ trung tính, ADF: xơ axit, Ash: khoáng tổng số
2.8.2 Lục bình (Eichhornia crassipes L.)
Lục bình còn gọi là bèo tây, lá đơn, lá mọc thành hoa nhị, cuống xốp phồng lên thành phao nổi khi còn non, trưởng thành cuống thon dài, hoa có màu xanh tím nhạt Là cây thân cỏ sống lâu năm, nổi trên mặt nước hay bám dưới bùn, rễ dài và rậm Sinh sản vô tính, từ các nách lá, đâm ra những thân bò dài và mỗi đỉnh thân bò cho một cây mới, sớm tách khỏi cây mẹ thành cá thể độc lập
Lục bình gốc Brazin, năm 1905 được đem vào làm cảnh ở Hà Nội, về sau lan ra khắp nơi (Võ Văn Chi, 1977) Lục bình chứa nhiều nước nên cần làm héo khi ủ chua (Gold, 1998)
Lục bình có chứa một lượng chất xơ thô cao (17%) (Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 1996)