1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của KHẨU PHẦN bổ SUNG mỡ cá TRA và dầu PHỘNG lên NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG TRỨNG TRÊN gà ISA BROWN NUÔI CHUỒNG hở tại TIỀN GIANG

51 181 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 377,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CP EE CF NDF NFE Ca P ME kcal TTTĂ KP TL CSHD CSLTĐ CSLĐ HAUGH %TRẮNG %ĐỎ %VỎ ĐDV MÀU LĐ Nghiệm thức bổ sung dầu phông với tỉ lệ 1% Nghiệm thức bổ sung dầu phông với tỉ lệ 3% Nghi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LÊ VĂN HẬU

ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN BỔ SUNG

MỠ CÁ TRA VÀ DẦU PHỘNG LÊN NĂNG SUẤT, CHẤT

LƯỢNG TRỨNG TRÊN GÀ ISA BROWN NUÔI CHUỒNG HỞ TẠI TIỀN GIANG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI THÚ Y

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI THÚ Y

Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN BỔ SUNG

MỠ CÁ TRA VÀ DẦU PHỘNG LÊN NĂNG SUẤT, CHẤT

LƯỢNG TRỨNG TRÊN GÀ ISA BROWN NUÔI CHUỒNG HỞ TẠI TIỀN GIANG

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

PGS Ts Nguyễn Nhựt Xuân Dung Lê Văn hậu Ths Trương Văn phước MSSV: 3052417 Nguyễn Thị Mộng Nhi Lớp: CNTY K31

Cần Thơ, 5/2009

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN BỔ SUNG

MỠ CÁ TRA VÀ DẦU PHỘNG LÊN NĂNG SUẤT, CHẤT

LƯỢNG TRỨNG TRÊN GÀ ISA BROWN NUÔI CHUỒNG HỞ TẠI TIỀN GIANG

Cần thơ, ngày…tháng…năm 2009 Cần thơ, ngày…tháng…năm 2009

Cần thơ, ngày…tháng…năm 2009 Duyệt khoa nông nghiệp và sinh học ứng dụng

………

Cần Thơ, 5/2009

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả số liệu trong bài báo cáo chưa từng được trình bày trong bất cứ tài liệu hay bài báo cáo nào trước đây và tất cả số liệu này là hoàn toàn đúng sự thật

Tác giả

Lê Văn Hậu

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thần cô trường đại học Cần Thơ đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt 4 năm đại học, xin chân thành cám ơn quý thầy cô bộ môn chăn nuôi và bộ môn thú y đã truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên ngành kết sức quý báo để cho tôi bước vào đời

Xin cám ơn thầy Trương Chí Sơn, một nguời thầy cố vấn luôn tận tình giải quyết mọi thắc mắc của tôi trong việc học

Xin chân thành cám ơn cô Nguyễn Nhựt Xuân Dung đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này

Xin chân thành cám ơn cô Trần Thị Điệp, người đã hướng dẫn tôi trong quá trình làm thí nghiệm tại phòng thí nghiệm dinh dưỡng gia súc, bộ môn chăn nuôi

Xin cám ơn Thạc sĩ Trương Văn Phước đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành thí nghiệm này Cám ơn tất cả các cô chú anh chị ở trại chăn nuôi gà tại huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm thí nghiệm

Và sau cùng tôi xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè đã đông viên và giúp đỡ tôi trong 4 năm đại học và trong quá trình hoàn thành đề tài

Cuối cùng tôi xin chúc mọi người có sức khỏe, thành đạt!

Chân thành cám ơn!

Trang 6

MỤC LỤC

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ………2

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN……… 3

2.1 CHẤT BÉO 3

2.1.1 Giới thiệu chung về chất béo 3

2.1.2 Phân loại chất béo 3

2.1.2.1 Glycerol đơn giản 3

2.1.2.2 Glycerol phức tạp 6

2.2 NGUỒN CUNG CẤP CHẤT BÉO TRONG THỨC ĂN GIA SÚC GIA CẦM 8

2.3 THÀNH PHẦN ACID BÉO CÓ TRONG MỠ CÁ TRA VÀ DẦU PHỘNG 11

2.3.1 Thành phần acid béo có trong mở cá tra 11

2.3.2 thành phần acid béo có trong dầu phộng 12

2.4 SỰ TIÊU HÓA VÀ HẤP THU CHẤT BÉO 13

2.5 THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TRỨNG GÀ 14

2.5.1 Thành phần của lòng đỏ trứng 15

2.5.2 Thành phần của lòng trắng 16

2.6 MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG 17

2.7 VAI TRÒ DINH DƯỠNG CỦA CHẤT BÉO TRONG THỨC ĂN GIA CẦM 17

2.8 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT BÉO LÊN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA GÀ MÁI ĐẺ VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG 18

Chương 3 : PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM………

22 3.1 PHƯƠNG TIÊN THÍ NGHIỆM 22

3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 22

3.1.2 Chuồng trại thí nghiệm 22

3.1.3 Động vật thí nghiệm 22

3.1.4 Thức ăn thí nghiệm 22

3.1.5 Dụng cụ thí nghiệm 24

3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 24

3.2.1 Bố trí thí nghiệm 24

3.2.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 24

3.2.3 Tiến hành thí nghiệm 24

Trang 7

3.2.4 Phương pháp lấy chỉ tiêu 25

3.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 25

3.2.5.1 Các chỉ tiêu về năng suất trứng 25

3.2.5.2 Các chỉ tiêu về chất lượng trứng 25

3.2.5.3 Phân tích thành phần dưỡng chất thức ăn 26

3.2.5.4 Hiệu quả kinh tế 26

3.2.4 Xử lý số liệu 26

Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN……….

27

4.1 NĂNG SUẤT SINH SẢN VÀ TIÊU TỐN THỨC ĂN 27

4.2 SỐ LƯỢNG DƯỠNG CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG ĂN VÀO 28

4.3 CÁC CHỈ TIÊU VỀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG 29

4.3.1 Các chỉ tiêu về chất lượng trứng giữa các nghiệm thức 29

4.3.2 Chỉ tiêu về chất béo tổng số trong lòng đỏ 32

4.3.3 Các chỉ tiêu về chất lượng trứng giữa các tuần tuổi thí nghiệm 33

4.3.4 Tương tác ảnh hưởng các mức độ bổ sung chất béo và tuần tuổi đẻ lên các chỉ tiêu chất lượng trứng 35

4.4 CHỈ TIÊU VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ 36

Chương 5: KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ………

37 5.1 KẾT LUẬN 37

5.2 ĐỀ NGHỊ 37

Trang 8

CP

EE

CF NDF

NFE

Ca

P

ME (kcal) TTTĂ

KP

TL CSHD CSLTĐ CSLĐ HAUGH

%TRẮNG

%ĐỎ

%VỎ ĐDV MÀU LĐ

Nghiệm thức bổ sung dầu phông với tỉ lệ 1%

Nghiệm thức bổ sung dầu phông với tỉ lệ 3%

Nghiệm thức bổ sung mỡ cá với tỉ lệ 1%

Nghiệm thức bổ sung mỡ cá với tỉ lệ 1%

Vật chất khô Khoáng tổng số Protein thô Chiết chất ether

Xơ thô Thành phần chất xơ không hòa tan trong thuốc tẩy trung tính

Chiết chất không đạm Canxi

Phospho Năng lượng trao đổi Tiêu tốn thức ăn Khẩu phần Trọng lượng trứng Chỉ số hình dáng Chỉ số lòng trắng đặc Chỉ số lòng đỏ Chỉ số haugh

Tỉ lệ lòng trắng

Tỉ lệ lòng đỏ

Tỉ lệ vỏ

Độ dày vỏ Màu lòng đỏ

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ phân loại chất béo 4

Bảng 2.1: Những acid béo thông thường có trong chất béo tự nhiên 5

Bảng 2.2: Hàm lượng chất béo và acid linoleic của một số loại thức ăn 8

Bảng 2.3: tỉ lệ các acid béo không no có nhiều nối đôi trong một số loại nguyên liệu 9

Bảng 2.4: phần trăm acid béo chưa no trong một số loại mỡ thông dụng 9

Bảng 2.5 : Thành phần acid béo có trong một số loại chất béo 10

Bảng 2.6: Thành phần acid béo và năng lượng trong mỡ cá tra 11

Bảng 2.7: Thành phần các acid béo có trong mỡ cá tra ở các hình thức nuôi khác nhau 12

Bảng 2.8: Thành phần acid béo có trong dầu phộng 13

Bảng 2.9: hàm lượng chất béo và tỷ lệ acid béo có trong dầu phộng 13

Bảng 2.10: Thành phần cấu tạo của trứng gà 14

Bảng 2.11: Tỉ lệ các thành phần của trứng gà 15

Bảng 2.12: Thành phần hóa học của lòng đỏ 15

Bảng 2.13: Thành phần của lòng trắng trứng gà 16

Bảng 2.14: Khả năng tiêu hóa của chất béo và năng lượng của một vài loại chất béo 17 Hình 3.1: chuồng nuôi gà thí nghiệm 22

Bảng 3.1: công thức phối hợp khẩu phần cơ sở 23

Bảng 3.2: Thành phần hóa học của thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 23

Hình 3.2: Sơ đồ bố trí thời gian thí nghiệm ……… 24

Bảng 4.1 Ảnh hưởng bổ sung dầu các và phộng lên tỉ lệ đẻ, tiêu tốn thức ăn, lượng CP và năng lượng trao đổi (ME) ăn vào của gà mái đẻ 27

Biểu đồ 4.1: Ảnh hưởng bổ sung mỡ cá và phộng lên tỉ lệ đẻ và tiêu tốn thức ăn/trứng 28

Biểu đồ 4.2: Lượng CP và ME ăn vào trên ngày giữa các nghiệm thức 29

Bảng 4.2 Ảnh hưởng bổ sung các mức độ dầu cá và dầu phộng lên chất lượng trứng 30 Biểu đồ 4.3: Biểu đồ mô tả sự khác biệt về chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng giữa các nghiệm thức 32

Biểu đồ 4.4: Biểu đồ mô tả hàm lượng chất béo tổng số trong lòng đỏ, số gam chất béo/trứng của các nghiệm thức 33 Bảng4.3 Ảnh hưởng bổ sung các mức độ dầu cá và dầu phộng lên chất lượng trứng qua

Trang 10

Biểu đồ 4.5: Biểu đồ mô tả chỉ số lòng đỏ và lòng trắng giữa các tuần tuổi 34 Bảng 4.5 Tương tác ảnh hưởng các mức độ bổ sung chất béo và tuần tuổi đẻ lên các chỉ tiêu chất lượng trứng 35 Bảng 4.4: Hiệu quả kinh tế giữa các nghiệm thức 36 Biểu đồ 4.6: Biểu đồ so sánh hiệu quả kinh tế giữa các nghiệm thức 36

Trang 11

TÓM LƯỢC

Thí nghiệm tiến hành khảo sát ảnh hưởng bổ sung hai loại chất béo là dầu phộng và

mỡ cá với tỉ lệ 1% và 3% (NT DP1% , NT DP3%, NT MC1%, NT MC3% ) lên năng suất và chất lượng trứng trên gà ISA brown được nuôi trong chuồng hở tại Tiền Giang kết quả thí nghiệm thu được như sau:

Về tỉ lệ đẻ, các nghiệm thức lần lược là 77,58% (NT DP1% ), 76,69% (NT DP3% ), 74,23% (NT MC1% ), 76,87% (NT MC3% ) tuy nhiên không có sụ khác biệt có ý nghĩa về thống kê (p=0,31) Về tiêu tốn thức ăn/gà/ngày (p=0,32), tiêu tốn thức ăn/trứng (p=0,10) giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa về thống kê

Về các chỉ tiêu về chất lượng trứng: Trọng lượng trứng và chỉ số hình dáng có sự khác biệt không mang ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (P = 0,06 và P = 0,64) Chỉ số lòng trắng đặt thì cao hơn ở khẩu phần bổ sung mỡ cá với tỉ lệ 3% (0,11) Chỉ số lòng trắng đặt ở những khẫu phần bổ sung mỡ cá (ở NT MC1% là 0,10, ở NT MC3% là 0,11) thì cao hơn ở những khẫu phần bổ sung dầu phộng ( ở NT DP1% là 0,10, ở NT DP3% là 0,09),

sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê (P <0,01) Chỉ số haugh ở những khẩu phần

bổ sung mỡ cá (ở NT MC1% là 87,16, ở NT MC3% là 88,60) thì cao hơn ở những khẩu phần

bổ sung dầu phộng ( ở NT DP1% là 86,54, ở NT DP3% là 83,56), sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê (P=0,03) Chỉ số lòng đỏ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (P = 0,01), cụ thể là: Chỉ số lòng đỏ ở khẩu phần bổ sung mỡ cá (NT MC1% (0,43) và NT MC3% (0,41)) thì cao hơn ở khẩu phần bổ sung dầu phộng (NT DP1% (0,42) và NT DP3% (0,41)) và chỉ số lòng đỏ ở những khẩu phần bổ sung 3% chất béo (NT MC3% (0,41) và NT DP3% (0,41)) thì lại thấp hơn những khẩu phần bổ sung 1% chất béo (NT DP1% (0,42) và NT MC1% (0,43))

Tỉ lệ lòng đỏ có sự khác biệt giữa các nghiệm thức (P = 0,04), cụ thể là tỉ lệ lòng đỏ ở những khẩu phần bổ sung 3% chất béo (NT DP3% (24,38%) và NT MC3% (23,69%)) thì cao hơn ở những khẩu phần bổ sung 1% chất béo (NT DP1% (23,42%) và NT MC1% (23,48%)) Khi so sánh giữa các tuần tuổi thì có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các tuần tuổi ở chỉ

số lòng đỏ (P = 0,04) Cụ thể là chỉ số lòng đỏ thì thấp hơn khi càng về sau Chỉ số lòng đỏ ở tuần tuổi thứ 49 của thí nghiệm là 0,41 thấp hơn chỉ số lòng đỏ ở tuần tuổi thứ 45 là 0,42 và tuần tuổi thứ 47 là 0,42

Hàm lượng chất béo tổng số trong lòng đỏ ở những khẩu phần bổ sung 3% chất béo (NT DP3% (31,31%) và NT MC3% (30,81%)) thì cao hơn ở những khẩu phần bổ sung 1% chất béo (NT DP1% (30,18%) và NT MC1% (30,59%)) tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức P =0,41

Tóm lại loại và hàm lượng chất béo trong khẩu phần ít ảnh hưởng đến năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn Các khẩu phần bổ sung mỡ cá mang lại các chỉ tiêu chất lượng trứng như: chỉ số haugh, chỉ số lòng trắng, chỉ số lòng đỏ cao hơn ở những khẩu phần

bổ sung dầu phộng Khẩu phần bổ sung chất béo bằng mỡ cá 3% thì hiệu quả kinh tế hơn so với khẩu phần bổ sung chất béo bằng dầu phộng

Trang 12

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngành chăn nuôi gia cầm đóng một vai trò hết sức to lớn trong việc cung cấp protein cho bữa ăn hằng ngày của mọi người trong đó trứng gà là một loại thực phẩm quan trọng Trứng gà là một loại thực phẩm bổ dưỡng với đầy đủ các acid amin và vitamin cần thiết cho cơ thể Tuy nhiên trứng sẽ là một loại thực phẩm hoàn hảo hơn nếu như các thành phần như: cholesterol, và các chất béo xấu (low density lipoproteins) được cải thiện Chất béo đóng một vai trò quan trọng trong khẩu phần của gà đẻ, ngoài việc cung cấp

các acid béo thiết yếu, là dung môi giúp hòa tan các vitamin, chất béo còn là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng trong những khẩu phần cho gà đẻ trong những ngày nắng nóng Ngoài ra chất béo khẩu phần còn ảnh hưởng đến năng suất sinh sản cũng như chất lượng trứng gia cầm Chính vì vậy việc nghiên cứu sử dụng chất béo nào để

bổ sung vào khẩu phần đóng một vai trò hết sức to lớn

Trong điều kiện ở đồng bằng Sông Cửu Long thì mỡ cá tra là một nguồn phế phẩm rất phong phú, việc tận dụng mỡ cá tra vào chế biến thức ăn cho gia súc gia cầm đã và đang được thực hiện, bởi vì mỡ cá tra, cá basa là một loại chất béo có đầy đủ các acid

béo cần thiết cho sự phát triễn của cơ thể Bên cạnh đó dầu phộng cũng là một loại chất

béo rất phổ biến ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, và cũng được sử dụng trong khẩu phần của một số loại gia súc gia cầm

Trên cơ sở đó tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của khẩu phần bổ sung mỡ

cá tra và dầu phộng lên năng suất, chất lượng trứng trên gà ISA Brown”

Mục tiêu của đề tài là nhằm so sánh ảnh hưởng các mức độ của hai loại chất béo lên tỉ

lệ đẻ, tiêu tốn thức ăn/gà/ngày, tiêu tốn thức ăn/trứng và chất lượng trứng của gà ISA Brown nuôi chuồng hở tại Tiền Giang

Trang 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 CHẤT BÉO

2.1.1 Giới thiệu chung về chất béo

Chất béo còn gọi là lipid bắt nguồn từ chữ Hylạp "Lipos" Lipid là một nhóm chất hữu

cơ không đồng nhất có trong tế bào sống, là ester phức tạp của các acid béo bật cao với glycerin hoặc các alcol khác có cấu tạo đặt biệt Những chất béo thực là ester glycerol

của các acid béo chuỗi dài (Bùi Hà Thành, 2005)

Chất béo là nhóm hợp chất hữu cơ tự nhiên rất phổ biến trong tế bào động vật và thực vật:

Ở thực vật lipid được ở hai dạng: Cấu trúc và tồn trử Ở dạng cấu trúc lipid như là thành phần của màng tế bào bảo vệ lớp bề mặt của tế bào, chủ yếu là chất sáp, acid béo

và cutin Lipid cón là thành phần màng của ty thể, màng nguyên sinh chất…Ở dạng glycolipid và phospholipid Lipid tồn trử ở thực vật chủ yếu trong quả và hạt ở dạng

dầu (Lưu hữu Mãnh et al, 1999)

Ở động vật lipid năng lượng dự trử ở dạng mỡ có thể lên dến 97% trong mô mỡ của con vật béo phị Lipid cấu trúc trong mô của động vật chủ yếu là phospholipid

Mỡ và dầu là thành phần của động vật và thực vật chúng có cùng cấu trúc và tính chất hóa học, và có cùng tính chất vật lý giống nhau là không tan trong nước nhưng tan trong dung môi hửu cơ không phân cực như ester, aceton, cloroform, benzen… Nhưng

do mỡ động vật có chứa tỉ lệ cao các acid béo bão hòa (không có nối đôi) như acid paimitic và acid stearic nên thường đông đặc trong điều kiện nhiệt độ thường Còn dầu của thực vật có chứa tỉ lệ cao các acid béo không bão hòa nên thường ở dạng lỏng trong diều kiên nhiệt độ phòng (Dương Thanh Liêm, 2003)

2.1.2 Phân loại chất béo

Các chất béo trong thức ăn được xác định bằng phương pháp chiết xuất ether được gọi chung là chất béo thô Thực chất nó có rất nhiều hợp chất khác nhau và giá trị về mặt sinh học cũng khác nhau Sự phân loại chất béo thô được trình bày tại sơ đồ 2.1

Theo Mc Donald et al (1994) thì béo thô được phân loại như sau:

2.1.2.1 Glycerol đơn giản

Glycerid đơn giản bao gồm các dầu thực vật và mỡ động vật Khi thủy phân sinh ra 2 loại hợp chất là glycerin và acid béo Có 3 cách phân chia acid béo:

Phân chia theo cấu trúc mạch carbon trong phân tử bao gồm:

Mạch carbon ngắn ( C4 đến C22) và mạch carbon dài (C23 trở lên)

Mạch carbon chẵn và mạch carbon lẻ

Trang 14

Mạch carbon thẳng và nhánh Trong tự nhiên ít khi thấy mạch nhánh, nó chỉ xuất hiện trong trường hợp tổng hợp nhân tạo acid béo

Glucolipid Galactolipid

Glucolipid

Lecithine Cephaline

(Mc Donald et al 1994)

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ phân loại chất béo

Phân chia dựa trên giá trị sinh học bao gồm: dựa theo khả năng tổng hợp của cơ thể, người ta chia các chất béo ra làm hai loại:

Acid béo không thiết yếu: là những acid béo mà cơ thể có khả năng tổng hợp được Acid béo thiết yếu: là những acid béo rất cần thiết nhưng không tổng hợp được trong

cơ thể Đã từ lâu, người ta phát hiện ra có 3 acid béo thiết yếu rất quan trọng Nếu thiếu

nó trong thức ăn sẽ gây ra bệnh excema nơi động vật có vú và bệnh trụi lông ở gia cầm,

gà con sinh trưởng chậm, trọng lượng trứng giảm, khả năng ấp nở cũng giảm Về mặt hóa học thí có 3 acid béo thiết yếu sao dây:

Acid arachidonic (C20:4) 20 carbon có chứa 4 nối đôi

Acid linolenic (C18:3) 18 carbon có 3 nối đôi

Acid linoleic ( C18:2) 18 carbon có 2 nối đôi

Trong 3 acid trên thì acid arachidonic chỉ tìm thầy trong lipid động vật, không thấy trong thực vật Ngược lại acid linoleic rất phong phú trong thực vật Những kiểm tra gần đây cho thấy từ acid linoleic cơ thể động vật có thể chuyển hóa thành arachidonic

Từ linoleic cơ thể cũng chuyển hóa thành linolenic Linoleic cũng có hai dang hóa học, dạng αβ Tuy dạngβ có giá trị sinh học mạnh, nhưng cơ thể có khả năng chuyển

Trang 15

hóa từ α linoleic ra, dạng α tuy yếu hơn nhưng cơ thể không có khả năng tổng hợp nên có thể coi nó là acid béo thiết yếu Trong nhu cầu dinh dưỡng gia súc, gia cầm hiên nay, người ta thường chỉ ghi nhu cầu acid linoleic Ngoài ra người ta còn nhận thấy rằng sản phẩm trao đổi chất trung gian của arachidonic qua nhiều bước phản ứng đã tạo

ra được chất tiền hormon sinh dục là prostaglandin

Bảng 2.1: Những acid béo thông thường có trong chất béo tự nhiên

Nói chung ở độ tuổi khác nhau, trong thức ăn của heo gà nên có tối thiểu từ 0,8% đến 1% acid linoleic Đối với gà giống cao sản phải có tối thiểu 1,5% acid linoleic, acid béo thiết yếu phải đáp ứng từ 3-4% giá trị năng lượng của khẩu phẩn Acid linoleic có

C 1.Acid béo bão hòa

2 Acid béo không bão hòa

Linolenic (octadecatrienoic) C17H29.COOH -14,5 Arachidonic (eiscosatetraenoic) C19H31.COOH -49,5 Omega-3,DHA(Docosahexaenoic) C22H31.COOH

Trang 16

nhiều nhất trong đậu nành (chiếm 55% trong dầu), Thứ nhì là bắp ( chiếm 42% trong dầu)

vi sinh vật dạ cỏ

Các phosphatid, còn gọi là phospholipid: Cấu trúc của nó từ một glycerid có một gốc R được thay thế bởi một acid phosphorid qua phản ứng esther hóa và liên kế với acid phosphorid bởi cholin Sau đây là công thức cấu tạo:

H2C OCO R1 R = - H : Phosphatid

HC OCO R2 = - CH2 - CH2 -N(CH3): lecithine,(Phosphatid-Cholin)

H2C OCO P R = - CH2 – CH2-NH2: cephaline,(phosphatidil-etanol-cholamin) OH

Tùy theo sự thay đổi gốc hóa học X mà có tên gọi khác nhau

Trong công thức này có một gốc hóa học tan trong chất béo gọi là lipofil, một gốc hóa học khác tan trong nước gọi là hydrofil, cho nên người ta còn gọi nó là hợp chất lưỡng cực

Từ đặc tính này nó trở thành chất có hoạt tính bề mặt nổi tiếng, ví vậy nó trở thành chất quan trọng trong cấu trúc màng tế bào và là hợp chất vận chuyển lưỡng cực Lecitin có nhiều trong lòng đỏ trứng gà, đặc biệt là trong trứng cúc và nó cũng được tìm thấy trong các loại dầu thực vật, nó là chất vận chuyển quan trọng trong cơ thể Trong kỹ nghệ dầu công nghiệp tinh luyện, người ta tách lecitin ra khỏi dầu thu được sản phẩm lecitin công nghiệp Người ta sử dụng lecitin công nghiệp bổ sung vào mỡ công nghiệp

để nhũ hóa chất béo, rồi cho thêm vào sữa bột khử bơ cho thú non ăn thay thế sữa mẹ, giúp cho sự tiêu hóa chất béo trở nên tốt hơn nhiều

Chất lipid không chứa glycerol

Trong nhóm các chất này có chứ những hợp chất có vai trò sinh học đặc biệt sau đây: Sphingomyelin là loại lipid có chứ phosphorur vì vậy nó có đặc tính phân cực, một cực tan trong béo, một cực háo nước có liên kế phosphatidil-cholin

Cerebrosid cũng gần giống với chất trên, song nó thiếu phosphat nếu thiếu phần phân cực của cholin, thay thế vào đó nó được liên kết với đường galactose

Trang 17

Cả hai chất trên có rất phong phú trong tổ chức thần kinh Nó có vai trò quan trọng trong đời sống động vật Song về mặt dinh dưỡng thì nó không quan trọng lắm bởi vì

cơ thể động vật có thể tổng hợp được dể dàng Tuy nhiên để có nguyên liệu tổng hợp ra hợp chất này cần phải có acid béo thiết yếu, gần đây người ta đã xác định đó chính là acid béo omega-3, Còn gọi là DHA (docosahexaenoic acid)

Các chất có chứa khung steran: Trong nhóm chất này có nhiều chất có hoặt tính sinh học quan trọng Ví dụ như: Từ chất cholesterin biến thành chất 7-dehydro-cholesterol rồi biến đổi tiếp dưới tác dụng của tia tử ngoại để thành vitamim D3

Chất steroid là hormon của tuyến thượng thận, hormon tuyến sinh dục

Chất esgosterol là tiền sinh tố D2, 7- dehyrocholesterol là tiền vitamin D3

Cũng là hợp chất steroid, song nếu có nguồn gốc từ thực vật thì gọi là phitosterine, từ

vi sinh vật thì gọi là micosterin Cả hai loại này không hấp thu trực tiếp trong đường ruột Chỉ khi nào nó được hoạt hóa lên biến thành vitamin D thì mới hấp thụ được Chất sáp: Nó là một ester giữa một rượu bật nhất với một acid béo có mạch cacbon dài Chất sáp cấu tạo trên bề mặt lá, trên bề mặt da để chống lại sự tấn công của vi sinh vật

và sự mất nước Cơ thể động vật không có men tiêu hóa, nên chất không có giá trị về mặt dinh dưỡng

Các hợp chất có chứa tinh dầu: phần lớn nó là các ester thơm đặc trưng cho từng loại động thực vật Nó không có giá trị về mặt cung năng lượng, song nó có ảnh hưởng đến mùi của thức ăn mà con thú có thể cảm nhận được, hoặc có ảnh hưởng đến mùi của sản phẩm động vật khi con thú ăn nó Ngày nay do kỹ nghệ hóa học phát triển nên người ta

có thể chế ra các mùi đặc trưng khác nhau để quyến dụ đông vật tiêu thụ thức ăn Các chất esther có mùi trong cây cỏ tự nhiên cũng giúp cho thú nhận biết trong công việc chọn lựa thức ăn

Các chất terpen: Đây là nhóm chất có chứa chuổi carbon mạch vòng isopren Trong số những chất này có 3 hợp chất quan trọng trong đời sống thực vật:

Chlorophill màu xanh có nhiều trong diệp lục tố thực vật, chất này động vật không thể tiêu hóa và hấp thu được nên không có giá trị về mặt dinh dưỡng

Carotenoid màu vàng, trong số này có một số dẫn suất có tính chất là một tiền sinh tố

A Nó cũng là chất sơn màu lòng đỏ của trứng

Vitamin K

Chất Prostaglandin: Từ acid Arachidonic tạo nên acid mạch vòng còn gọi là acid Prostanic Tiếp theo khi nó nhận thiêm hai nhóm hydroxyl thì trở thành Prostaglandin Trong cơ thể động vật có đến 14 loại Prostaglandin khác nhau Nhưng người ta thường

sử dụng nhiều nhất là loại có tính chất gây động dục Hiện nay con người đã tổng hợp nhân tạo chất Prostaglandin gọi là PGα 2

Trang 18

2.2 NGUỒN CUNG CẤP CHẤT BÉO TRONG THỨC ĂN GIA SÚC GIA CẦM

Như chúng ta đã biết thì chất béo là một nhóm hợp chất hữu cơ tự nhiên rất phổ biến trong tế bào động vật và thực vật, cho nên nguồn cung cấp chất béo rất phong phú Hàm lượng chất béo biến động từ 1-2% ở thức ăn thực vật rơm rạ khô, lên đến 3-8% ở thức ăn hạt ngũ cốc( bắp, mì, cao lương …) đến giàu mỡ thô rất nhiều là ở các loại hạt của cây họ đậu từ 30-50% trong vật chất khô Còn đối với nguồn mỡ động vật biến

động 15-16% đến 60-70% Trong thức ăn gia cầm chất béo có thể được cung xấp từ

dầu thực vật như dầu nành, cám, dầu phộng, dầu dừa… Và từ mỡ động vật như mỡ bò, heo, cá… Trong thức ăn gia cầm thường không bổ sung vượt quá 8% chất béo (Dương Thanh Liêm, 2003)

Hầu hết các acid béo trong chất béo có thể được cơ thể động vật tổng hợp Tuy nhiên,

có một acid béo có thể không được tổng hợp trong cơ thể là acid linoleic Acid linoleic phải có trong thức ăn của gà con nếu không chúng sẻ sinh trưởng kém, gây tích lũy mỡ trong gan và dễ cảm nhiễm với bệnh đường hô hấp Những gà mái đẻ cho ăn thức ăn thiếu acid linoleic trầm trọng sẻ làm cho gà đẻ trứng rất nhỏ và cho khả năng ấp nở kém Acid arachidonic có thể được tổng hợp từ acid linoleic và giúp làm giảm triệu chứng thiếu nếu nó được bổ sung trong khẩu phần Các acid arachidonic và linoleic được cho là các acid béo thiết yếu, bởi vì phải có ít nhất một trong hai acid này hiện diện trong thức ăn Nguồn cung cấp tốt nhất các acid béo thiết yếu này là từ dầu thực vật, như dầu bắp và dầu đậu nành Khẩu phần dựa chủ yếu vào bắp thường chứa đầy đủ acid linoleic Nhưng nếu khẩu phần có tỉ lệ cao của các loại hạt như gạo, lúa mạch hoặc

mì thì sự thiếu hụt đôi chút có thể thấy được trong khẩu phần sản xuất

Nếu nguồn chất béo cung cấp trong khẩu phần là acid béo chưa no cao thì có ảnh hưởng đến mỡ dự trử của gia súc càng nhiều (mỡ càng mềm) thì giá trị sử dụng không cao Chất lượng trứng của gia cầm cũng phụ thuộc vào nguồn và mức độ cung cấp chất

béo (Dương Thanh Liêm et al, 2002)

Bảng 2.2: Hàm lượng chất béo và acid linoleic của một số loại thức ăn

Trang 19

Ngoài ra các nguồn chất béo chưa no có tỉ lệ các acid béo chưa no có ít hay nhiều nối đôi thì cũng ảnh hưởng đến chất lượng chất béo có trong sản phẩm gia súc gia cầm

Bảng 2.3: Tỉ lệ các acid béo không no có nhiều nối đôi trong một số loại nguyên liệu

Acid béo không no Nguyên liệu Hàm lượng

chất béo %

Acid béo no %

Loại 1 nối đôi %

Loại chứa nhiều nối đôi %

Trang 20

Bảng 2.5 : Thành phần acid béo có trong một số loại chất béo

(Handbook of Chemistry and Physics, 1993-1994)

Acid béo bão hòa

Acid béo chưa bão hòa đơn%

Acid béo chưa bão hòa đa%

Mỡ hay dầu

Tỉ số acid béo chưa bão hòa/acid béo bão hòa

Capric Acid C10:0

Lauric Acid C12:0

Myristic Acid C14:0

Palmitic Acid C16:0

Stearic Acid C18:0

Oleic Acid C18:1

Linoleic Acid (ω6) C18:2

Alpha Linolenic Acid (ω3) C18:3

Trang 21

2.3 THÀNH PHẦN ACID BÉO CÓ TRONG MỠ CÁ TRA VÀ DẦU PHỘNG

2.3.1 Thành phần acid béo có trong mỡ cá tra

Bảng 2.6: Thành phần acid béo và năng lượng trong mỡ cá tra

Acid béo Mẩu 1: phần lỏng mỡ cá (%) Mẩu 2: toàn bộ mỡ (%)

Trung tâm dịch vụ phân tích và thí nghiệm TP.HCM (Lê Hồng Thanh,2004)

Tỉ lệ 3 acid béo thiết yếu là acid Linoleic (C18.2), acid Linolenic (C18.3) và acid Arachidonic (C20.4) khá cao trong thành phần mỡ cá tra, nên sử dụng mỡ cá tra trong khẩu phần nuôi dưỡng đảm bảo nhu cầu acid béo thiết yếu đối với cơ thể heo (Trần

Trang 22

Acid Palmitic (C16.0) chiếm một tỉ lệ khá lớn trong thành phần mỡ cá tra (24.27% - 30.11%) là acid béo no và chuỗi acid béo trung bình nhìn chung hấp thu kém, ngược lại acid Oleic (C18.1) chiếm tỉ lệ cao nhất trong thành phần mỡ cá tra (36.37%-38.27%) là acid béo chưa no chuỗi dài được hấp thu và tiêu hóa nhanh hơn (White more, 1998)

Ngoài ra khi cá tra được nưôi với những điều kiện khác nhau thì tỉ lệ % cùa các loại acid béo trong mỡ cá cũng khác nhau cụ thể như sao:

Bảng 2.7: Thành phần các acid béo có trong mỡ cá tra ở các hình thức nuôi khác nhau

2.3.2 thành phần acid béo có trong dầu phộng

Thành phần acid béo của dầu phộng có sự hiện đầy đủ các acid béo Trong đó, các acid béo không bão hòa chiếm tỉ lệ khá cao, trên 80% Đáng lưu ý, lượng acid linolenic dễ

bị oxi hóa chỉ có 0.76%, trái lại acid oleic có khả năng chống chịu oxi cao, gần 47% Đây là yếu tố tạo ra độ bền của dầu phộng (Nông Thế Cận, 2005)

Trang 23

Trong các acid béo bão hòa của dầu phộng, có acid arachidic 1.15%, acid behenic 3.25% và acid lignoceric 1.06% với số lượng không lớn, nhưng ở nhiệt độ 8-120C các acid này tạo vẩn đục của dầu, không phải là hiện tượng biến hóa hỏng (Nông Thế Cận, 2005)

Bảng 2.8: Thành phần acid béo có trong dầu phộng

Acid béo bão hòa

Acid béo chưa bão hòa đơn %

Acid béo chưa bão hòa đa %

Dầu

Tỉ số acid béo chưa bão hòa/acid béo bão

hòa

Capric Acid C10:0

Lauric Acid C12:0

Myristic Acid C14:0

Palmitic Acid C16:0

Stearic Acid C18:0

Oleic Acid C18:1

Linoleic Acid (ω6) C18:2

Alpha Linolenic Acid (ω3) C18:3 Dầu

(Handbook of Chemistry and Physics, 1993-1994)

Bảng 2.9: hàm lượng chất béo và tỉ lệ acid béo có trong dầu phộng

Acid béo không no,%

Nguyên liệu

Hàm lượng chất béo %

Acid béo no %

Loại 1 nối đôi %

Loại chứa nhiều nối đôi %

Ghi chú

phộng

(Hoàng Đức Như, 2003)

2.4 SỰ TIÊU HÓA VÀ HẤP THU CHẤT BÉO

Theo Dương Thanh Liêm (2003) thì sự tiêu hóa và hấp thu chất béo như sau: chất béo được tiêu hóa và hấp thu chủ yếu ở phần trên của ruột non, nhưng sự hấp thu đáng kể

có thể diễn ra tại phần phía dưới ruột non ( hồi tràng).Chất béo được nhũ hóa bởi muối mật và tiếp xúc với các enzyme lipase khác nhau trong tá tràng, tiếp theo bị phân giải thành các monoglyceride và acid béo Các acid béo chuỗi ngắn sau đó được hấp thu trực tiếp vào màng nhày của ruột non và chuyển hóa đến hệ tuần hoàn cửa Các Monoglycerides và các acid béo không hòa tan được nhũ hóa bởi muối mật để hình thành các chuỗi phân tử Bằng các gắn vào bề mặt của các tế bào biểu mô, thành phần các chuỗi phân tử có thể được hấp thu vào các tế bào Ngay khi ở bên trong các tế bào

Trang 24

Triglyceride Các triglyceride sau đó kết hợp với cholesterol, lipoprotein và phospholipid để hình thành các chylomicron, là những giọt mỡ rất nhỏ Các chylomicron sau đó được chuyển hóa vào trong hệ tuần hoàn bạch huyết

Triglycerid tổng hợp trong bạch huyết xuất phát từ thức ăn nhưng không hoàn toàn giống triglycerid của thức ăn: 78% glycerol lấy từ thức ăn (22% tổng hợp mới) và 88% acid béo trên nhánh 1.3 và 75% acid béo nhánh 2 là giống với acid béo của thức ăn Acid béo < C12 hấp thu vào máu

Phospholipid (phần lớn là lecithin) ưa nước và bị phospholipase của dịch tụy phân giải phóng thích acid béo và lysolecithin, hình thành micelles hấp thu và được tế bào niêm mạc tái tổng hợp tạo thành phospholipid hoặc có thừa sẽ tổng hợp thành triglycerid Choslesterol ester bị choslesterol esterse dịch tụy phân giải và tan vào lõi lipid của micelle và hấp thu theo micelle

2.5 THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TRỨNG GÀ

Như chúng ta đả biết trứng có ba thành phần chính: lòng đỏ, lòng trắng, và vỏ trứng với thành phần như sau:

Bảng 2.10: Thành phần cấu tạo của trứng gà

(Dương Thanh Liêm et al, 2002)

Thành phần hóa học của trứng gà gần như cố định Ngoại trừ hàm lượng lipid, một số chất vi khoáng và sinh tố thay đổi theo thức ăn

Tỉ lệ protein của các thành phần của trứng như sau: trung bình trứng chứa 12.8% protein và phân bố 41.9% là protein của lòng đỏ, 53.6% là protein trong lòng trắng, 2.1% là protein của màng lụa của vỏ trứng và 2.4% là protein của vỏ trứng Lòng đỏ chứa gần như toàn bộ lipid của trứng, có sự khác biệt lớn về hàm lượng nước trong lòng trắng và lòng đỏ: lòng trắng chứa 88% nước trong khi lòng đỏ có 49%

Trang 25

(Dương Thanh Liêm, et al, 2002)

( Parkinson,1966, trích dẫn Dương Thanh Liêm et al, 2002)

Lipid có trong lipoprotein của trứng điều ở dạng lipovitellinin, những hợp chất giàu phosphate này thường kết hợp với canxi và sắt Hầu hết protein tự do trong lòng đỏ

Ngày đăng: 11/04/2018, 22:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm