1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của KHẨU PHẦN bổ SUNG dầu dừa và dầu đậu NÀNH lên NĂNG SUẤT và CHẤT LƯỢNG TRỨNG của gà ISA BROWN NUÔI CHUỒNG hở ở TIỀN GIANG

53 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 403,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG LÊ CẲM HIỀN ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN BỔ SUNG DẦU DỪA VÀ DẦU ĐẬU NÀNH LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ ISA BROWN NUÔI

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LÊ CẲM HIỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN BỔ SUNG DẦU DỪA VÀ DẦU ĐẬU NÀNH LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ ISA BROWN

NUÔI CHUỒNG HỞ Ở TIỀN GIANG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI THÚ Y

Cần Thơ, 2009

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NUÔI CHUỒNG HỞ Ở TIỀN GIANG

NGUYỄN NHỰT XUÂN DUNG Lê Cẳm Hiền TRƯƠNG VĂN PHƯỚC MSSV: 3052420 NGUYỄN THỊ MỘNG NHI Lớp: CNTY K31

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN BỔ SUNG DẦU DỪA VÀ DẦU ĐẬU NÀNH LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ ISA BROWN

NUÔI CHUỒNG HỞ Ở TIỀN GIANG

Luận văn tốt nghiệp Nghành: CHĂN NUÔI THÚ Y

Cần Thơ ngày tháng năm 2005 Cần Thơ ngày tháng năm 2005 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN DUYỆT BỘ MÔN

Nguyễn Nhựt Xuân Dung

Cần Thơ ngày tháng năm 2005 DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả đề tài

Lê Cẳm Hiền

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Xin chân thành cảm ơn:

Cha mẹ đã hy sinh cả đời chăm sóc và dạy dỗ anh em chúng con thành người có ích cho xã hội

Cô Nguyễn Nhựt Xuân Dung đã giúp đỡ, động viên và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Thầy Trương Chí Sơn đã giúp đỡ, động viên và hướng dẫn tôi và các bạn lớp chăn nuôi thý y khóa 31 trong suốt 4 năm học qua

Ban giám hiệu Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học tại trường

Anh Trương Văn Phước và chị Nguyễn Thị Mộng Nhi đã giúp đỡ và hưỡng dẫn tôi trong suốt quá trình làm thí nghiệm

Cô Trương Thị Điệp đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm

Quý thầy cô bộ môn chăn nuôi, quý thầy cô giảng dạy của Trường Đại Học Cần Thơ đã đã giúp tôi trang bị cho tôi hành trang kiến thức trong suốt 4 năm học tại trường

Các anh, chị, em, đã động viên tôi trong học tập, các anh chị lớp chăn nuôi thý y khóa trước và các bạn bè lớp chăn nuôi thú y khóa 31 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, cảm ơn các em lớp chăn nuôi thú y khóa 32 cũng đã nhiệt tình giúp đỡ trong suốt thời gian qua

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả quý thầy cô và anh em bạn bè đã giúp

đỡ cho tôi trong suốt thời gian sống và học tập tại Cần Thơ

Trang 6

DANH SÁCH CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT

NT Nghiệm thức

NTD1 Nghiệm thức sử dụng khẩu phần có bổ sung 1% dầu dừa

NTD3 Nghiệm thức sử dụng khẩu phần có bổ sung 3% dầu dừa

NTN1 Nghiệm thức sử dụng khẩu phần có bổ sung 1% dầu đậu nành NTN3 Nghiệm thức sử dụng khẩu phần có bổ sung 3% dầu đậu nành KPCS Khẩu phần cơ sở

TTTA Tiêu tốn thức ăn

ME Năng lượng trao đổi

DM Vật chất khô ASH Khoáng

CP Protein thô

EE Béo thô NDF Xơ trung tính NFE Chiết chất không đạm

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1 Định mức dinh dưỡng của gà đẻ Isabrown (1993) 3

Bảng 2.2 Mức năng lượng trong khẩu phần theo tỷ lệ đẻ 5

Bảng 2.3 Tiêu chuẩn dinh dưỡng của gà trứng màu Isabrown 5

Bảng 2.4 Khả năng tiêu hóa và năng lượng của một vài loại chất béo 7

Bảng 2.5 Nhu cầu của các chất dinh dưỡng, khoáng vi lượng và vitamin ( tính theo Kric) 9

Bảng 2.6 Nhu cầu về một số vitamin và khoáng cho gà 10

Bảng 2.7 Thành phần acid béo của dầu nành và dầu dừa, g/100g dầu 12

Bảng 2.8 Đặc điểm ngoại hình và chỉ tiêu năng suất của một số giống gà lông màu nhập nội 13

Bảng 2.9 Thành phần dinh dưỡng của trứng (%) 18

Bảng 2.10 Những đặc điểm bên ngoài của gà mái hậu bị tốt và xấu 19

Bảng 2.11 Những đặc điểm bên ngoài của gà mái đẻ tốt và đẻ kém 20

Bảng 2.12 Định mức thức ăn cho gà mái đẻ theo trọng lượng cơ thể và năng suất trứng trong điều kiện nhiệt đới 21

Bảng 2.13 Lịch tiêm phòng vaccine cho gà đẻ 22

Bảng 2.14 Tỉ lệ năng lượng/protein trên các loại gà 23

Bảng 3.1 Công thức khẩu phần cơ sở 24

Bảng 3.2 Thành phần hóa học của khẩu phần 25

Bảng 4.1 Ảnh hưởng bổ sung các mức độ dầu lên tỉ lệ đẻ và tiêu tốn thức ăn ở gà 29 Bảng 4.2 Ảnh hưởng bổ sung các mức độ dầu lên chất lượng trứng theo các nghiệm thức 31

Bảng 4.3 Ảnh hưởng bổ sung các mức độ dầu lên chất lượng trứng theo các tuần tuổi 34

Bảng 4.4 Ảnh hưởng tương tác giữa nghiệm thức và đợt lấy mẫu lên chất lượng trứng ở gà 35

Bảng 4.5 Ảnh hưởng tương tác giữa nghiệm thức và đợt lấy mẫu lên chất lượng trứng ở gà 36

Bảng 4.6 Ảnh hưởng tương tác giữa nghiệm thức và đợt lấy mẫu lên chất lượng trứng ở gà 37

Trang 8

Bảng 4.6 Tổng hợp hiệu quả kinh tế 38

Trang 9

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC 1

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 2

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

2.1 DINH DƯỠNG CHO GÀ ĐẺ TRONG GIAI ĐOẠN SẢN XUẤT 3

2.1.1 Vai trò của năng lượng 3

2.1.2 Vai trò của protein 5

2.1.3 Vai trò của lipit 6

2.1.4 Nhu cầu chất béo 8

2.1.5 Vai trò của vitamin và khoáng 8

2.1.6 Vai trò của nước 10

2.2 TIÊU CHUẨN KHẨU PHẦN CHO GÀ TRONG THỜI KỲ ĐỂ TRỨNG 11 2.3 THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA NGUYÊN LIỆU 11

2.3.1 Dầu nành 11

2.3.2 Dầu dừa 11

2.4 SƠ LƯỢC VỀ GIỐNG GÀ ISA BROWN 11

2.5 CHUỒNG TRẠI, THIẾT BỊ DỤNG CỤ CHĂN NUÔI 13

2.5.1 Địa thế xây dựng 13

2.5.2 Hướng chuồng 14

2.5.3 Phương thức nuôi 14

2.6 TIÊU CHUẨN VỀ ĐIỀU KIỆN TIỂU KHÍ HẬU 14

2.6.1 Nhiệt độ 14

2.6.2 Ẩm độ 15

2.6.3 Chế độ chiếu sáng 15

2.6.4 Màu sắc ánh sáng 15

2.6.5 Thông thoáng 16

2.6.6 Mật độ nuôi 16

2.7 CHẤT LƯỢNG TRỨNG 16

2.7.1 Chỉ tiêu chất lượng trứng 16

2.7.2 Thành phần dinh dưỡng của trứng 18

2.7.3 Một số yếu tố khác làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng trứng của gà 18

2.8 QUY TRÌNH CHĂN NUÔI GÀ ĐẺ TRỨNG THƯƠNG PHẨM 19

2.8.1 Chọn lọc gà đẻ 19

2.8.2 Thức ăn và nuôi dưỡng gà sinh sản 20

2.8.3 Quy luật của sự đẻ trứng 21

2.8.4 Quy trình phòng bệnh 22

2.9 MỐI QUAN HỆ GIỮA NĂNG LƯỢNG VÀ PROTEIN 22

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 24

3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 24

3.1.1 Địa điểm và thời gian 24

3.1.2 Động vật thí nghiệm 24

Trang 10

3.1.3 Chuồng trại 24

3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm 24

3.1.5 Thức ăn thí nghiệm 24

3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 25

3.2.1 Bố trí thí nghiệm 25

3.2.2 Qui trình chăm sóc nuôi dưỡng 25

3.2.3 Phương pháp lấy mẫu 26

3.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 26

3.2.5 Phân tích và xử lý số liệu 28

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 NHẬN XÉT CHUNG VỀ ĐÀN GÀ THÍ NGHIỆM 29

4.2 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

4.2.1 Ảnh hưởng của việc bổ sung các mức độ dầu lên tỷ lệ đẻ và tiêu tốn thức ăn 29

4.2.2 Ảnh hưởng mức độ bổ sung dầu lên chất lượng trứng 31

4.2.3 Hiệu quả kinh tế 38

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39

5.1 KẾT LUẬN 39

5.2 ĐỀ NGHỊ 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 11

TÓM LƯỢC

Thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của khẩu phần có bổ sung các mức độ 1% và 3% dầu nành và dầu dừa lên tiêu tốn thức ăn và chất lượng trứng của gà Isa brown ở Tiền Giang Thí nghiệm được tiến hành với 120 con gà, mỗi nghiệm thức lặp lại 10 lần, mô hình chuồng hở tiểu khí hậu của chuồng nuôi phụ thuộc vào điều kiện khí hậu của môi trường và bổ sung các mức độ dầu như sau

Khẩu phần cơ sở KPCS + 1% dầu dừa (NTD1)

KPCS + 3% dầu dừa (NTD3) KPCS + 1% dầu nành (NTN1) KPCS + 3% dầu nành (NTN3) Kết quả theo dõi cho thấy: tỷ lệ đẻ của NTD1 là (76,1%) và NTN1 là (76,19%) tương đương nhau cao hơn so với NTD3 là (73,52%) và NTN3 là (73,33%) Sự khác biệt này là có ý nghĩa (P<0,01)

Tiêu tốn thức ăn/gà/ngày ở các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa (P<0,01) Sự khác biệt chủ yếu ở NTD1, NTD3, NTN1 lần lượt là (109,13g), (106,83g), (109,03g )với NTN3 thấp nhất là (103,93g)

Trọng lượng trứng trung bình của 4 NT dao động từ (63,84g – 65,59g) Tương tự màu sắc lòng đỏ của 4 NT cũng xấp xỉ từ (7,35-7,58)

Chỉ tiêu độ dày vỏ cao nhất ở NTN3 là (0,41) và thấp nhất ở NTD3 là (0,39), tuy nhiên sự chênh lệch này không đáng kể

Riêng chỉ tiêu chỉ số Haugh khác biệt có ý nghĩa (P<0,05), NTN1 có chỉ số Haugh trung bình cao nhất là 84,69 và tương đương là NTN3 và NTD3 lần lượt là (77,98)

và (79,30) còn thấp nhất là NTD1 (75,99)

Chỉ số lòng trắng thì sự khác biệt này là rất có ý nghĩa( P = 0,00) Sự khác nhau này chủ yếu ở NTN3 (0,19) là cao nhất, NTD1, NTD3, NTN1 thì chênh lệch nhau từ (0,07-0,12)

Chỉ số lòng đỏ là khác biệt có ý nghĩa (P<0,05), các NT chệnh lệch nhau từ 0,03) NTN1 có giá trị cao nhất là (0,41) và thấp nhất là NTD3 là (0,38)

(0,01-Hiệu quả kinh tế cao nhất là NTD1 có chi phí/trứng là (917đ), riêng NTN1 có chất lượng trứng tốt nhưng giá thành 1 quả trứng cao (933đ)

Dựa vào chi phí sản xuất ra 1 quả trứng và các chỉ tiêu về chất lượng trứng ta chọn NTD1 là thích hợp nhất với gà trong giai đoạn 43-49 tuần tuổi do giảm chi phí thức

ăn trên trứng.

Trang 12

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, chăn nuôi gia cầm đã trở thành một ngành công nghiệp, chăn nuôi với qui mô lớn, do vậy một số nghiên cứu tập trung về nghiên cứu khẩu phần ăn của gà trong điều kiện chống stress Trong điều kiện stress, nhu cầu axit amin (aa) tăng, nhu cầu năng lượng tăng và chuyển hóa protein giảm, khẩu phần ăn trong điều kiện stress có khuynh hướng giảm năng lượng của tinh bột, tăng năng lượng của chất béo (mỡ động vật hay thực vật), không tăng hàm lượng protein thô mà tăng hàm lượng axit amin (aa), lưu ý đến tỷ lệ Ca/P và Fe/Zn (Nguyễn Văn Bắc, 2007)

Với điều kiện khí hậu nước ta thì dinh dưỡng từ thức ăn vừa cung cấp được dưỡng chất để sản xuất vừa có thể tránh được stress nhiệt là rất quan trọng trong ngành chăn nuôi gia cầm

Để chăn nuôi gia cầm thành công thì ngoài việc tạo ra những giống gia cầm mới cho năng suất sinh học cao chưa đủ, mà điều quan trọng là phải tạo ra nguồn thức

ăn giàu dinh dưỡng, rẻ và được cân bằng đầy đủ chất dinh dưỡng, phù hợp với đặc tính sinh học, mục đích sản xuất và giống gia cầm mới Đặc biệt khẩu phần thức ăn

có ảnh hưởng đến các thành phần hóa học, độ dày vỏ, trọng lượng trứng, tiêu tốn thức ăn

Mặt khác theo Scott (1977) vào mùa hè nắng nóng gà mái yêu cầu lượng protein cao hơn mùa mát 1,5-2% và vẫn giữ mức năng lượng, tuy nhiên thức ăn có hàm lượng protein cao sẽ khó hấp thu và chi phí thức ăn cao

Vì vào mùa nóng khả năng thu nhận thức ăn năng lượng từ ngũ cốc giảm mà nhu cầu về năng lượng từ thức ăn tăng, cho nên giảm nguồn năng lượng từ nguyên liệu ngũ cốc và thay vào dầu thực vật có thể giảm được stress và ít tiêu tố thức ăn Mặt khác, dầu dừa và dầu đậu nành là hai loại dầu khá phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long và theo Nông Thế Cận (2005) dầu dừa chủ yếu là các acid béo bảo hòa chiếm khoảng 84% có đặc tính chịu nhiệt tốt và chống oxy hóa, và dầu nành lượng acid béo không bảo hòa chiếm đáng kể là acid linoleic độ 50% nhằm cung cấp các acid béo thiết yếu, giúp hấp thu và cân bằng vitamin trong cơ thể

Với mục đích khảo sát năng suất và chất lượng của trứng và bổ sung thêm thức ăn năng lượng cho gà nhằm tăng khả năng hấp thu, bảo toàn nguồn năng lượng cần thiết và ít tiêu tốn thức ăn Chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của việc

bổ sung dầu dừa và dầu đậu nành lên tiêu tốn thức ăn và chất lượng trứng của giống

gà Isa Brown nuôi chuồng hở tại Tiền Giang”

Mục tiêu đề tài

Trang 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 DINH DƯỠNG CHO GÀ ĐẺ TRONG GIAI ĐOẠN SẢN XUẤT

Cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho gia cầm và đáp ứng đủ chất dinh dưỡng cho nhu cầu duy trì, tăng trưởng và sản xuất Đây là điều kiện để đảm bảo chăn nuôi gia cầm có sức khỏe tốt và khả năng sản xuất

Bảng 2.1 Định mức dinh dưỡng của gà đẻ Isabrown (1993)

Các chỉ tiêu đơn vị Thức ăn cho gà đẻ

19 – 50 tuần Sau 50 tuần Năng lượng trao đổi Kcal/Kg 2780-2820 2730-2760 Protein thô g/ngày 19,5 18,5

Lysin thô mg/ngày 880 840

Methyonin thô mg/ngày 430 410

Meth + Cystin thô mg/ngày 760 720

Trytophan thô mg/ngày 200 190

Isoleucin thô mg/ngày 730 695

Threonin thô mg/ngày 620 590 Acid linoleic % tối thiểu 1,4 tối đa 1,6

(Nguồn: Võ Bá Thọ (1996))

2.1.1 Vai trò của năng lượng

Năng lượng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn Năng lượng toả nhiệt tuỳ thuộc vào môi trường nuôi dưỡng, thành phần dinh dưỡng của khẩu phần và trạng thái, chức năng sinh lý của cơ thể (Vũ Duy Giảng, 1997)

Theo Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam, 2007 thì nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể gia cầm chủ yếu là tinh bột, mỡ, protein trong thức ăn

1 gam tinh bột cho 4,1kcal năng lượng tổng số

1 gam protein thô cho 5,65kcal năng lượng tổng số

1 gam mỡ cho 9,3kcal năng lượng tổng số

Trang 14

Khi nhiệt độ môi trường tăng cao gà có phản ứng tự nhiên để chống lại là điều tiết thân nhiệt bằng cách tăng tần số hô hấp, ăn ít, uống nhiều nước, Khi ấy việc tăng năng lượng và protein trong khẩu phần là rất cần thiết để bù đắp hao tổn nói trên nhưng khi tiếp tục tăng quá 27% cơ thể gà sẽ bị rối loạn Nếu nhiệt độ tiếp tục tăng nữa thì cơ thể không bị mất năng lượng như trường hợp trên lúc này không nên tăng năng lượng trong thức ăn mà còn phải giảm xuống một cách hợp lí (Peter, Levis,1996) (Dương Thanh Liêm, 1999)

Ngoài ra hàm lượng năng lượng của thức ăn gia tăng thì gà mái sẽ ăn ít đi Quy luật

là sự tiêu tốn thức ăn sẽ giảm 4% cho mỗi 50kcal gia tăng Nếu chỉ dựa trên sự gia tăng trọng lượng của gà mái không thể biết được mức độ thức ăn Bởi lẽ một phần rất lớn năng lượng tiêu thụ được dùng vào việc tăng cường sản sinh nhiệt (Mack, North,1984) ( Dương Thanh Liêm, 1999)

Nhu cầu năng lượng cho gà đẻ trứng

Theo Nguyễn Mạnh Hùng (1994) Nhu cầu năng lượng cho gà có thể tính theo công thức: ME = 5∆P + P(170 - 2,2T) + 2LE

Trong đó: ME là số Kcal ME/con/ngày

T là nhiệt độ môi trường (oC) P là khối lượng gà (kg)

∆P là tăng trọng bình quân (g/ngày)

L là tỷ lệ đẻ (%)

E là khối lượng trứng sản xuất ra (g)

Nhu cầu để sản xuất một quả trứng tiêu chuẩn nặng 57g là 122kcal (Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 1999)

Hãng ISA (Pháp) (1997) đưa ra mức năng lượng trong khẩu phần cho gà đẻ theo cường độ đẻ trứng

Theo Scott (1999) yêu cầu năng lượng trong thức ăn của gà đẻ phụ thuộc vào hướng giống (trứng hay thịt) hàm lượng protein trong thức ăn và mùa vụ Cũng theo tác giả này thì gà mái tiêu thụ thức ăn giảm khi hàm lượng năng lượng trong khẩu phần tăng và nhiệt độ môi trường tăng, và như vậy khi tăng hàm lượng năng lượng thì phải tăng hàm lượng protein trong khẩu phần, để đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu protein và axit amin cho gà

Theo hãng Hypeco (1993) mức độ năng lượng cho gà sinh sản hướng trứng Goldline 54 ở các giai đoạn tuần tuổi 0-6; 7-20 và 21 đến lúc kết thúc đẻ là như nhau: 2800kcal/kg thức ăn

Trang 15

Bảng 2.2 Mức năng lượng trong khẩu phần theo tỷ lệ đẻ

Tỷ lệ đẻ (%) ME (kcal/gà/ngày) 1-5

5-10 10-20 20-30 30-40 40-50 50-60 60-70 70-80 80-90

2.1.2 Vai trò của protein

Protit là cơ sở của sự sống, chúng thực hiện vai trò tạo hình và cấu tạo nên tế bào, hoormone, kháng thể chúng là nguồn năng lượng duy trì trạng thái cân bằng acid-bazơ điều hoà và trao đổi chất trong cơ thể (Melekhin, Grindin,1977)

Khả năng tiêu hóa và sử dụng protein hoàn toàn phụ thuộc vào giống, tuổi, tính năng sản xuất của gia cầm Ở gia cầm còn non điều này có ý nghĩa hơn so với gia cầm trưởng thành và già, gà con yêu cầu 21-23% protein, trong khi đó gà trưởng

Tiêu chuẩn dinh dưỡng Gà đẻ pha I (20-42 tuần

Phospho hấp thu % Phospho tổng số %

2700-2800

17 0,74 0,34 0,62 3,4 0,45 0,65

2700-2800 15,5 0,68 0,31 0,58 3,7 0,35 0,55

Trang 16

thành sau 7 tuần 18-19%, gà dò 15-16%, còn gà đẻ 17% (Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1999)

Theo Dương Thanh Liêm (2002) nhu cầu protein cho gà đẻ trứng tùy thuộc vào sản lượng trứng, phẩm chất protein trong thức ăn, giá trị dinh dưỡng của thức ăn và điều kiện chăm sóc Ngoài ra còn tùy thuộc trọng lượng trứng và trọng lượng cơ thể của

gà Ngoài cung cấp đủ protein phải cung cấp đầy đủ lương axit amin thiết yếu Theo TCVN (1993) đưa ra mức protein cho gà đẻ thương phẩm pha I (21-44 tuần tuổi) là 17% ; pha II- 16% với mức năng lượng ME – 2850 – 2900kcal/kg

Yêu cầu về protein cho sản xuất trứng

Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1999) Gà đẻ ở pha đầu của chu kỳ đẻ trứng (21- 42 tuần tuổi) cơ thể còn phát triển (tăng khối lượng sống, hoàn thiện các tổ chức bên trong cơ thể) tuy không nhiều so với gà no Vì vậy yêu cầu protein cho tạo trứng hằng ngày phải tính cả 3 yếu tố: protein cho duy trì, cho phát triển và protein cho sản xuất trứng Vậy lượng protein cung cấp từ thức ăn tăng lên cho một gà đẻ trong một ngày ở giai đoạn này

Sau giai đoạn của pha I thì hầu như gà không tăng khối lượng cơ thể Nhưng yêu cầu protein cho sản xuất trứng còn tùy thuộc vào sức tiêu thụ thức ăn, chất lượng thức ăn và nhiệt độ chuồng nuôi

Sự tổng hợp protein trong tế bào, ngoài ảnh hưởng của axit amin, còn bị giới hạn bởi cung cấp năng lượng Khẩu phần không đủ năng lượng sẽ làm giảm năng suất tổng hợp protein và từ đó giảm giá trị sinh học của protein, vậy muốn tổng hợp protein với năng suất cao thì cần phải cung cấp đầy đủ không chỉ axit amin mà còn năng lượng Dư thừa một trong hai yếu tố nêu trên đều không tốt vì nếu dư axit amin thì giảm tính thèm ăn, nếu dư năng lượng thì gia cầm tích nhiều mỡ, đối với

gà chuyên trứng thì giảm tỷ lệ đẻ, còn đối với gà thịt thì giảm chất lượng quầy thịt (Dương Thanh Liêm,1985)

2.1.3 Vai trò của lipit

Lipit là nguồn năng lượng tuyệt vời, khi phân hủy 1g lipit sẽ có 9,3kcal được giải phóng Lipit là nguồn nước trong cơ thể Sự oxy hóa hoàn toàn 100g lipit sẽ cho 107g nước Lipit đặc biệt là lipit dưới da thường dẫn nhiệt rất kém, cho nên nó hạn chế sự tỏa nhiệt và bảo vệ cơ thể khỏi bị lạnh Lipit cần thiết cho sự tạo thành trứng

ở gia cầm Chỉ số trong lòng đỏ trứng gà có chứa 31% lipit trung tính, 9% photphatit và 1,7% cholesterin (Melekhin, Griđin, 1977)

Trang 17

(Nguồn: Lưu Hữu Mãnh et al.,1999)

Sơ đồ phân loại chất béo

Năng lượng tỏa nhiệt khi chuyển hóa chất béo ít hơn chuyển hóa chất đạm và chất bột đường nên trong mùa hè giải quyết năng lượng bằng chất béo cho gà tốt hơn chất bột đường và protein (Dương Thanh Liêm, 1999)

Chất béo có tác dụng bôi trơn khi gà nuốt thức ăn, cung cấp các acid béo thiết yếu, cần thiết cho cơ thể như acid linoleic, acid linolenic, acid arachidonic Trước đây người ta gọi nó là vitamin F Linoleic acid rất cần thiết cho sự sinh trưởng và mọc lông của gia cầm, nếu thiếu thì chúng sẽ bị còi cọc, rụng lông, lỡ da, gan bị tích mỡ, khả năng chống đỡ bệnh đường tiêu hóa giảm Sức đẻ trứng của gia cầm giảm, chất lượng trứng kém Từ acid linoleic cơ thể có thể chuyển thành acid arachidonic với

sự có mặt của vitamin B6 Từ chất béo cơ thể cũng có thể chuyển hóa thành chất khác và cùng tham gia tạo nên sản phẩm thịt trứng của gia cầm (Dương Thanh Liêm, 2002)

Dầu thực vật chứa năng lượng trao đổi cao, dầu nành 9300kcal/kg Do đó dầu là nguyên liệu bổ sung vào thức ăn cho gia cầm nhằm cân bằng mức năng lượng trong thức ăn hỗn hợp thức ăn đó (Bùi Thanh Hà, 2005)

Bảng 2.4 Khả năng tiêu hóa và năng lượng của một vài loại chất béo

Các loại chất béo Khả năng tiêu hóa (%) ME(MJ/kg)

Dầu đậu nành 95 38,36 Dầu mầm bắp 92 30,87 Tinh bột 90 17,57

(Nguồn: Kakuk và chmidt (1988 ) trích từ Dương Thanh Liêm (1999))

Lipid Thô

Không có glycerol

Có glycerol

Phức tạp Đơn giản

Dầu thực vật &

Mỡ động vật

Glucolipid

Glucolipid Galactolipid

Lecithin Cephalins

Sphingomyelin Cerebrosid Sáp Steroid Terpen Prostaglandin Phosphoglyceric

Trang 18

2.1.4 Nhu cầu chất béo

Trong thức ăn hỗn hợp cho gà, thành phần chất béo không nhiều nhưng không thể thiếu Hầu hết các lipid thực vật đều có chứa với tỷ lệ khác nhau 2 loại acid béo, là acid béo bão hòa và avid béo chưa bão hòa Trong đó các acid béo chưa bão hòa như aicd linoleic, acid linolenic, acid arachinoic, đây là những acid béo thiết yếu cho cơ thể gà Các tổ hợp gà trứng đang nuôi tại Việt Nam thường dùng 1-1,6% acid linoleic trong thức ăn Trong giai đoạn sắp đẻ và đang đẻ trước đỉnh cao, tỷ lệ acid linoleic được dùng tối đa (Võ Bá Thọ, 1996)

Vai trò của Acid linoleic

Acid lonileic dùng bổ sung năng lượng cho gà nhưng không sinh thêm nhiều nhiệt, trong trường hợp gà bị stress do nóng, ăn không hết khẩu phần, không hấp thụ đủ năng lượng cần thiết ta có thể bổ sung cho gà nhằm duy trì năng suất đẻ và kích cỡ trứng (Võ Bá Thọ, 1996)

Các acid béo không thay thế có khả năng hấp thụ lipit, cần thiết để thực hiện các quá trình sinh sản, tham gia vào việc trao đổi tê bào, tác dụng tích cực đến việc hấp thu các vitamin thuộc nhóm B và acid ascorbic, ảnh hưởng đến việc tạo thành cholesterin và đến sự ngưng động nó trong thành vách của mạch máu Nguồn chính của vitamin F là dầu thực vật (Melekhin, Griđin, 1977)

Theo Bùi Xuân Mến (2007) thì acid linoleic phải có trong thức ăn của gà con nếu không chúng sẽ sinh trưởng kém, gây tích lũy mỡ trong gan và dễ cảm nhiễm với bệnh đường hô hấp Những mái đẻ cho ăn thức ăn thiếu acid linoleic trầm trọng sẽ làm cho gà đẻ trứng rất nhỏ và cho khả năng ấp nở kém

2.1.5 Vai trò của vitamin và khoáng

Theo Neumeister (1978) đối với gia cầm, vitamin D3 đặc biệt có vai trò quan trọng Không có hay thiếu vitamin D sẽ phá hoại các quá trình tích lũy vôi trong xương của các động vật non và biểu hiện ở chứng bệnh còi cọc Do thiếu sự vững chắc của

tế bào sụn mà các quá trình hóa xương của mô sụn ở các xương ống bị phá hoại Ở

gà mái trước hết là giảm số lượng trứng đẻ và chất lượng trứng ấp Tỷ lệ nở cũng giảm xuống Quá nhiều vitamin D3 cũng gây ảnh hưởng có hại, nó gây ra sự tích lũy không bình thường của canxi bên ngoài mô xương Vì thế không nên cho vitamin

D3 vào cùng với các vitamin khác khi các vitamin này dùng với liều lượng cao Sự tích lũy của vitamin này dưới da với một khối lượng hạn chế (dự trữ được từ 4 đến

7 tháng)

Trang 19

Bảng 2.5 Nhu cầu của các chất dinh dưỡng, khoáng vi lượng và vitamin ( tính theo Kric)

Các chất Gà mái đẻ

Protein thô, % 15-18 Canxi, % 2,9-3,25 Photpho, % 0,75-0,80 Muối ăn, % 0,50 Mangan, mg/kg 70 Vitamin A, IU/kg 8000 Vitamin D 3 , IU/kg 750-900 Vitamin B 2 , mg/kg 2,2 Acid pantotenpic, mg/kg 1,5 Cholin, mg/kg 1000

Ca, P giữ vai trò dinh dưỡng khoáng quan trọng, trước hết nó là thành phần cấu trúc của xương, răng P là thành phần của acid Nucleic, phospholipid, tham gia vào những phản ứng phosphoryl hóa và những phản ứng chuyển hóa năng lượng Ca,

Mg có vai trò quan trọng trong kích thích thần kinh hai nguyên tố này có tác dụng

ức chế sự hưng phấn cho nên nếu thiếu chúng sẽ xuất hiện quá trình hưng phấn, nếu nghiêm trọng sẽ xuất hiện co giật (Vũ Duy Giảng,1997)

Do những vai trò như vậy nên khi thiếu Ca, P sẽ có những biểu hiện xấu đến khả năng sinh sản, tốc độ sinh trưởng, khả năng sản xuất của vật nuôi Khi không cung cấp đủ photpho triệu chứng thấy trước tiên là giảm tính ngon miệng, kéo theo tuần hoàn năng lượng giảm, phát triển chậm lại Trường hợp thiếu Canxi và Vitamin D ở gia cầm đẻ trứng lúc đỉnh cao cũng giống như thiếu photpho sẽ làm giảm năng suất trứng Lúc bình thường hàm lượng Canxi trong máu của gà đẻ là 15mg/100ml máu Khi đẻ trứng mức Canxi huyết có thể lên đến 40mg/100ml máu (Dương Thanh Liêm, 2002)

Theo Neumeister (1978) ở gà mái đẻ phần lớn canxi của thức ăn được sử dụng để tạo thành vỏ trứng, có tới 97% thành phần của vỏ trứng là canxi cacbonat Để đạt mục đích này có tới 25% canxi của cơ thể gà đã được sử dụng Vì thế thiếu canxi trong thức ăn có thể dẫn đến sự ngừng đẻ hoàn toàn Thiếu canxi và photpho cũng như thiếu vitamin D3 sẽ làm cho cơ thể con vật non bị còi và cơ thể già bị teo xương Gà mái thiếu các nguyên tố này sẽ đẻ ra trứng vỏ mỏng hay hoàn toàn không vỏ

Trang 20

Bảng 2.6 Nhu cầu về một số vitamin và khoáng cho gà

Tuần tuổi gà 0-8 9-18 Gà đẻ (19-52) Vitamin A (UI) 1500 500 4000

Vitamin D (UI) 200 200 500 Calcium (%) 1,0 0,8 2,75 Phosphorus(%) 0,7 0,4 0,6 Sodium (%) 0,15 0,15 0,15

(Nguồn: Nguyễn Đức Hưng (2006))

2.1.6 Vai trò của nước

Theo Neumeister (1978) nước có một ý nghĩa đặc biệt trong tất cả các chất cần thiết cho sự sống, vì rằng tất cả các quá trình sống đều liên quan với nước

Tất cả các quá trình tiêu hóa thức ăn phụ thuộc vào sự có mặt của nước Sự phân giải các chất dinh dưỡng là một quá trình hóa học của sự thủy phân và các sản phẩm của sự phân giải chỉ được hấp thu vào thành ruột dưới dạng dung dịch Do đó nước trong cơ thể động vật vừa là dung môi vừa là phương tiện vận chuyển Ngoài ra sự bốc hơi nước của cơ thể còn tham gia vào sự điều hòa thân nhiệt Khi làm bay hơi một kilogam nước sự thoát nhiệt bằng 539kcal

Do các quá trình trao đổi chất mà trong cơ thể động vật thường xuyên tạo ra nước (sự đốt cháy của các chất dinh dưỡng) Theo Magnus và Levi (1996) khi oxi hóa các chất dinh dưỡng, nước được tạo ra với số lượng sau đây

1 kg lipid 1,071 kg nước

1 kg tinh bột 0,555 kg nước

1 kg protein 0,413 kg nước Nhưng một số lượng lớn nước được thường xuyên thải ra ngoài khi thở, cùng với phân, với trứng đẻ ra Cơ thể gà mái có tới 60% là nước, trứng có tới 66% Cường

độ bốc hơi nước phụ thuộc vào điều kiện khí hậu; do đó nhu cầu về nước của động vật phụ thuộc vào khí hậu và sức sản xuất

Nước cần cho việc phân giải protein, lipid, glucid Nuớc tạo điều kiện để thấm hút các chất khoáng, các vitamin và các sản phẩm phân giải khác Nước là môi trường cần thiết cho các quá trình lên men của trao đổi chất trong cơ thể cũng như đối với

Trang 21

Nước trong cơ thể động vật chiếm khoảng 60 – 70%, tùy vào tuổi mà tỷ lệ này giảm dần từ 80% lúc mới sinh còn 45% khi trưởng thành Tỷ lệ nước cũng biến động theo tình trạng và các mô khác nhau (Vũ Duy Giảng, 1997)

2.2 TIÊU CHUẨN KHẨU PHẦN CHO GÀ TRONG THỜI KỲ ĐỂ TRỨNG

Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1999) gà đẻ có khả năng sinh học lớn về tổng hợp protit so với các động vật khác Một đơn vị khối lượng sống của gà mái có khả năng tạo ta lượng protein gấp 3 lần so với một đơn vị khối lượng sống của bò sữa Vì vậy nhu cầu về protein là lớn, nó phụ thuộc vào tuổi và tốc độ đẻ trứng của

gà Chu kỳ đẻ trứng (21-44 tuần tuổi), khi mà sự phát triển chưa hoàn hảo, nhưng sức đẻ trứng lại cao nhất, nhu cầu về protein là lớn nhất so với giai đoạn đẻ trứng tiếp sau đó Cứ 100g khối lượng trứng chứa 11,2-12g protein Nhưng chỉ khoảng 40-50% protein trong thức ăn được chuyển vào trứng , để tạo ra 11,2g protein trứng, phải cần 2-2,5 lần protein trong thức ăn (khoảng trên dưới 28g) Nhu cầu về protein của gà mái đẻ còn bị phụ thuộc vào mức độ năng lượng trong thức ăn Khi giàu năng lượng trong thức ăn, sức tiêu thụ thức ăn giảm, vì vậy phải tăng hàm lượng protein thì mới cung cấp đủ lượng prtein cho tạo trứng

2.3 THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA NGUYÊN LIỆU 2.3.1 Dầu nành

Dầu nành có lượng acid béo không bão hòa cao, chiếm khoảng 80% so với tổng acid béo Trong đó, đáng kể là acid linoleic độ 50% Do có các acid béo đa không bão hòa (PUFA) cao, khoảng 75% nên dầu nành được coi là dầu có giá trị cao Mặt yếu của dầu nành là có chứa acid linolenic với hàm lượng dao động 4 – 12%, và rất

dễ bị oxy hóa khi chuyển sang dạng acid isolinolenic, có mùi lạ, không hấp dẫn (Nông Thế Cận, 2005)

2.3.2 Dầu dừa

Thành phần hóa học chủ yếu của dầu dừa là acid béo bão hòa chiếm trên 84% Đây

là đặc tính làm cho dầu dừa chịu nhiệt tốt và chống oxi hóa tốt các acid béo không bão hòa trong dầu dừa không lớn khoảng 9% (Nông Thế Cận, 2005)

2.4 SƠ LƯỢC VỀ GIỐNG GÀ ISA BROWN

Isa brown là tổ hợp gà đẻ trứng nâu của viện chọn giống súc vật ISA của Pháp Giống gà Isa brown phù hợp với nhiều phương thức nuôi khác nhau như nuôi chuồng lồng, nền có độn trấu, nuôi sàn, dễ thích nghi với điều kiện khí hậu tại nước

ta Hiện nay giống gà trứng thương phẩm Isa brown được nuôi rất phổ biến ở các tỉnh phía Nam với qui mô công nghiệp Isa brown cho năng suất trúng cao, tỷ lệ hao hụt thấp, trọng lượng một trứng trung bình khoảng 62g

Ngoại hình gà bố mẹ: Con trống lông màu nâu, con mái lông màu trắng

Gà con thương phẩm tự phân biệt giới tính qua màu lông: con mái có màu nâu đỏ giống cha, trống có màu trắng giống mẹ có lông màu trắng (Võ Bá Thọ, 1996) Các chỉ tiêu năng suất của gà đẻ thương phẩm 20 – 78 tuần tuổi (tài liệu kĩ thuật của ISA, 1993)

Trang 22

Bảng 2.7 Thành phần acid béo của dầu nành và dầu dừa, g/100g dầu

Tên acid béo Dầu nành Dầu dừa

Bão hòa

Caprylic Capric Lauric Mirystic Palmitic Stearic Arachiric Behennic

0

0 0,10 0,19 9,55 3,82 0,29 0,10

8,10 5,93 49,60 16,30 8,10 2,64 0,09

0

Không bão hòa

Palmitooleic Oleic Eicosenic Linoleic Linolenic

0,19 23,88 0,19 49,66 7,07

0 7,06 0,19 2,07 0,09

(Nguồn: Nông Thế Cận (2005))

Tỉ lệ nuôi sống:

Từ 1ngày đến 20 tuần tuổi: 98%

Từ 20 tuần tuổi đến 72 tuần tuổi: 94%

Sản lượng trứng:

Từ 20-72 tuần tuổi: 303 quả

Từ 20-76 tuần tuổi: 320,6 quả Trọng lượng trứng:

24 tuần tuổi: 56g

35 tuần tuổi: 62g

Trang 23

Bảng 2.8 Đặc điểm ngoại hình và chỉ tiêu năng suất của một số giống gà lông màu nhập nội

Giống gà Chỉ tiêu

Tam Hoàng

Lương Phượng Kabir Sasso ISA-JA-57 Nguồn gốc Trung quốc Trung Quốc Israen Pháp Pháp

Màu lông Vàng tươi Vàng nhạt,

hoặc hoa mơ

Nâu cánh dán Vàng nâu

Vàng, lông cánh

và đuôi phớt trắng

Các chỉ tiêu năng suất của gà bố mẹ

- Tuổi bắt đầu đẻ (tuần) 23 - 24 22 - 23 23 - 24 23 - 24 18 - 19

- Tỷ lệ đẻ cao nhất (%) 75 - 80 85 - 86 82 - 85 80 - 82 85 - 88

- TL gà mái lúc bắt đầu đẻ (kg) 1,8 - 1,9 1,8 - 1,9 2,0 - 2,1 2,0 - 2,1 1,6 - 1,7

1,6 - 1,7 (63 NT)

2,1 - 2,4 (63 NT)

2,0 - 2,1 (63 NT)

2,0 - 2,1 (70 NT)

Để tránh vào mùa mưa nước đọng thì trước khi xây dựng phải đào mương, rãnh thoát nước trong khu vực chăn nuôi (Hồ Văn Giá, 1992)

Trang 24

2.5.2 Hướng chuồng

Thông thường thì mưa bão từ hướng Tây - Nam bay đến, gió lạnh thì từ hướng Bắc thổi vào Nên xây dụng hướng chuồng theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và cửa chuồng mở theo hướng Đông Nam là tốt nhất vừa tránh được mưa bão vừa sử dụng được ánh nắng buổi sáng có nhiều tia hồng ngoại chiếu vào chuồng (Võ Văn Sơn, 2002)

2.5.3 Phương thức nuôi

Đối với gà đẻ trứng thương phẩm có hai phương thức nuôi: nuôi dưỡng đồng pha và nuôi dưỡng lệch pha

2.5.3.1 Nuôi dưỡng đồng pha

Nuôi gà trong chuồng: từ lúc nhỏ đến lớn và trong giai đoạn đẻ đều nuôi gà trên lồng Gà không ăn lại phân khô nên không tự bổ sung vitamin B12, khi thiếu chất

sơ gà không tự bổ sung bằng cách ăn chất độn chuồng Vì vậy cần bổ sung vào khẩu phần đầy đủ chất Mặt khác gà mái đẻ nhốt trong lồng chật nên ít vận động, do đó

dễ mập có hiện tượng ngán ăn nên ta cần giảm năng lượng thức ăn và tăng mức protein cao hơn nuôi nền Gà nuôi trên lồng tuy vỏ trứng sạch nhưng vỏ trứng mỏng, dễ bể (Dương Thanh Liêm, 2002)

Nuôi nền cần ít năng lượng 2750kcal/kg thức ăn và mức đạm là 18% thì nuôi lồng cần 2650kcal/kg thức ăn, mức protein là 19% (Phylaxia (1978)

2.5.3.2 Nuôi dưỡng lệch pha

Giai đoạn hậu bị nuôi nền, giai đoạn đẻ trứng nuôi lồng Ưu điểm của phương pháp này là không tốn lồng để nuôi gà hậu bị, thể chất của gà nuôi nền tốt hơn nuôi lồng, xương cứng, sức đề kháng bệnh tốt hơn, bắp thịt rắn chắc và ít tích mỡ hơn, do đó khi gà mái đưa lên lồng để khai thác trứng, có sức chịu đựng tốt hơn nuôi lồng từ đầu đến cuối (Dương Thanh Liêm, 2002)

2.6 TIÊU CHUẨN VỀ ĐIỀU KIỆN TIỂU KHÍ HẬU 2.6.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ của chuồng nuôi là điều kiện tiểu khí hậu quan trọng nhất Ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và năng suất của đàn gà Nhiệt độ nóng hay lạnh đều tác động trực tiếp đến cơ thể gà và khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của chúng Nhiệt độ lí tưởng trong chuồng từ 20 - 250C (Võ Bá Thọ, 1996)

Gà sinh sản nhiệt độ chuồng nuôi tốt nhất là 18-20oC, không quá 25oC Nếu nhiệt

độ nuôi dưới 150

C hoặc cao hơn 300C ảnh hưởng lớn đến sức đẻ trứng và khối lượng trứng, tỉ lệ gà chết tăng lên (Nguyễn Đức Hưng, 2006)

Trang 25

đó cần có hệ thống thông khí Độ ẩm của không khí tốt nhất trong chuồng nuôi từ 65-70%, độ ẩm không khí cao ảnh hưởng đến sự cân bằng nhiệt, gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của gà Độ ẩm thấp có hại cho gà vì bụi sinh ra nhiều làm hỏng màng nhầy, không khí khô làm khô da, gây ra bệnh ngứa, đây là một trong những nguyên nhân gây mổ nhau, ăn lông (Hattenhauer, 1978)

Ẩm độ tương đối của không khí chuồng nuôi hoàn toàn phụ thuộc vào kĩ thuật nuôi, mật độ nuôi, phương pháp cho uống và thể thức lưu thông khí của chuồng nuôi Khi

ẩm độ cao gà có biểu hiện khó thở dễ mắc các bênh về đường hô hấp, ảnh hưởng đến cơ chế điều tiết than nhiệt Ẩm độ cao gây tác hại gián tiếp là điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển ciủa các loại mầm bệng như vi khuẩn, nấm mốc … đặc biệt là cầu trùng (Võ Bá Thọ, 1996)

Ẩm độ chuồng nuôi gà sinh sản thích hợp là 60-70% ( Nguyễn Đức Hưng, 2006)

Ẩm độ khô nhu cầu về nước uống của gà tăng lên đồng thời nhu cầu về thức ăn sẽ giảm, gà đễ bị mất nước, da khô, chuồng bụi,…Giữa nhiệt độ và độ ẩm tương đối

có mối tương quan nghịch với nhau Thông thường ẩm độ tốt nhất đối với gà là từ

65 – 75% (Dương Thanh Liêm, 1999)

2.6.3 Chế độ chiếu sáng

Thời gian chiếu sáng ở gà đẻ không dưới 14h/ngày đêm, tuần đẻ thứ 16 trở đi tăng dần và đạt tối đa là 17h/ngày đêm Cường độ chiếu sáng 3-4 W/m2 nền Ánh sáng màu đỏ có lợi cho gà đẻ (Nguyễn Đức Hưng, 2006)

Đối với nuôi gà đẻ các loại không bao giờ tăng thời gian và cường độ chiếu sáng trong giai đoạn tăng trưởng Ngược lại cũng không bao giờ giảm thời gian và cường

độ chiếu sáng trong giai đoạn sắp đẻ và đang đẻ (Võ Bá Thọ, 1996)

2.6.4 Màu sắc ánh sáng

Màu sắc của ánh sáng đối với khả năng sản xuất của gà có ý nghĩa thứ yếu nhưng người ta đã thấy rằng màu đỏ có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn Màu đỏ vàng, xanh lục, xanh lam, da cam Thường được dùng chiếu sáng, làm cho sinh dục chín sớm hơn

gà không được chiếu sáng và có ảnh hưởng tốt đến khả năng đẻ trứng (Hattenhauer, 1978)

Trang 26

(Nguồn: công ty chăn nuôi C.P Việt Nam )

Biểu đồ chiếu sáng cho gà đẻ

2.6.5 Thông thoáng

Điều kiện thông thoáng phụ thuộc vào kết cấu và kiểu chuồng Nếu gà sống trong đều kiện thông thoáng kém dưới 0,9 m3

không khí/giờ/kg thể trọng thì đàn gà đó có nguy cơ mắc bệnh hô hấp và bệnh Newcastle cao hơn bình thường Nếu gà sống trong điều kiện có sự trao đổi thông khí tốt trên 5m3 không khí/giờ/kg thể trọng thì khả năng mắc bệnh rất thấp (Lã Thị Thu Minh, 1995)

Nhiệt độ của môi trường làm tăng tốc độ bài tiết ra khí cacbonic của gà Sơ bộ có thể tính được là một gà mái đẻ thải ra khoảng 1,4 lit khí cacbonic trên một kilogam

cơ thể Hàm lượng cacbonic không thể là tiêu chuẩn để xét chất lượng không khí trong chuồng nuôi vì thiếu sự tương quan với các thành phần khác và các yếu tố của tiểu khí hậu ( Hattenhauer, 1978)

2.6.6 Mật độ nuôi

Mật độ nuôi có liên quan đến sức khỏe và năng suất của gà Mật độ nuôi phụ thuộc vào các yếu tố: tuổi, giống, phương thức nuôi, điều kiện khí hậu, điều kiện trang thiết bị chuồng nuôi

Theo Hattenhauer (1978) khả năng sản xuất của gà phụ thuộc vào mật độ nuôi (số lượng gà mái/1m2 diện tích sản xuất của chuồng nuôi) Nuôi càng dầy thì sức đẻ

0 2 4 6 8 10 12 14 16

Ngày đăng: 11/04/2018, 22:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w