TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG LÊ MINH TRÍ ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG VÀ CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LÊ MINH TRÍ
ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG VÀ CHĂM SÓC
NUÔI DƯỠNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y
Cần Thơ, 12/2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG VÀ CHĂM SÓC
NUÔI DƯỠNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS TS Võ Văn Sơn Lê Minh Trí
MSSV: 3072616
Lớp: CN K33 (CN0712)
Cần Thơ, 12/2010
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG VÀ CHĂM SÓC
NUÔI DƯỠNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2010 Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2010
PGS TS Võ Văn Sơn
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2010 DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua hơn ba năm học tập và những tháng ngày thực hiện luận văn tốt nghiệp tại trường Đại Học Cần Thơ, tôi xin chân thành biết ơn:
– Gia đình là chổ dựa vững chắc về tinh thần và nghị lực để tôi theo đuổi ước
mơ học tập và đã cung cấp kinh phí cho tôi trong thời gian qua
– Quý thầy cô trường Đại Học Cần Thơ nói chung, quý thầy cô bộ môn chăn nuôi, bộ môn di truyền giống nông nghiệp và bộ môn thú y nói riêng đã truyền thụ cho tôi những kiến thức quý báu
– Thầy Võ Văn Sơn đã nhiệt tình để trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
– Cô Nguyễn Thị Hồng Nhân cùng tập thể lớp Chăn Nuôi Thú Y khóa 32, 33 và liên thông 35 đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
– Các bạn thành viên trong nhóm “Hoang Dã” đặc biệt là bạn Lê Thị Kim Thoa
đã cùng tôi trao đổi kinh nghiệm học tập và chia sẽ những niềm vui, nổi buồn trong suốt thời gian theo học tại trường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
MỤC LỤC ii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH SÁCH BẢNG iv
DANH SÁCH HÌNH – SƠ ĐỒ v
TÓM LƯỢC vi
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2: NỘI DUNG 2
2.1 GIỐNG VÀ CÔNG TÁC GIỐNG HEO 2
2.1.1 Giống heo 2
2.1.2 Công tác giống heo 6
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN Ở HEO NÁI 7
2.2.1 Đặc điểm di truyền về khả năng sinh sản ở heo 7
2.2.2 Sinh lý động dục và phối giống ở heo nái 8
2.2.3 Tỷ lệ phối giống đậu thai 10
2.2.4 Thời gian mang thai và khoảng cách giữa hai lứa đẻ 10
2.2.5 Năng suất theo lứa đẻ của heo nái 10
2.3 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI 11
2.4 ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI 12
2.5 ẢNH HƯỞNG CỦA CHĂM SÓC – NUÔI DƯỠNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI 16
2.5.1 Nuôi dưỡng và chăm sóc heo nái hậu bị 16
2.5.2 Nuôi dưỡng và chăm sóc heo nái mang thai 26
2.5.3 Nuôi dưỡng và chăm sóc heo nái nuôi con 36
2.5.4 Nuôi dưỡng và chăm sóc heo nái chờ phối (nái khô) 42
2.6 MỘT SỐ YẾU TỐ KHÁC ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI 46
2.6.1 Ảnh hưởng của mùa đến năng suất sinh sản của heo nái 46
2.6.2 Ảnh hưởng của stress nhiệt đến năng suất sinh sản của heo nái 47
2.6.3 Ảnh hưởng của không gian tử cung 47
2.6.4 Ảnh hưởng của phôi thai bị chết 48
2.6.5 Ảnh hưởng của sẩy thai 49
2.6.6 Ảnh hưởng tuổi heo nái 49
2.6.7 Phương pháp kích thích nái 49
2.6.8 Ảnh hưởng của thời điểm phối giống và số lần phối/đợt 50
2.6.9 Chất lượng tinh và kỹ thuật phối 50
2.6.10 Thời gian chờ phối sau cai sữa quá dài 51
2.6.11 Lốc (tẫng) 51
2.6.12 Mang thai giả 51
2.6.13 Nái sinh sản bị chết và loại 51
Chương 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
3.1 KẾT LUẬN 53
3.2 ĐỀ NGHỊ 54
Trang 6DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
BW Biological Weigh (khối lượng cơ thể sinh lý)
D Giống heo Duroc
DE Digestible Energy (năng lượng tiêu hóa)
ĐB Giống heo Đại Bạch (Yorkshire Large White)
ĐTT Điểm thể trạng
ĐV Đơn vị
H hoặc Ham Giống heo Hampshire
KL Khối lượng
KLCT Khối lượng cơ thể
KLCS Khối lượng heo con cai sữa
KLSS Khối lượng heo con sơ sinh
TL21 Khối lượng heo con 21 ngày tuổi
L Giống heo Landrace
LY hoặc YL Heo lai Landrace × Yorkshire hoặc ngược lại
ME Metabolism Energy (năng lượng trao đổi)
MEm Nhu cầu năng lượng duy trì
NE Net Energy (năng lượng thuần)
NL Năng lượng
NXB Nhà xuất bản
P hoặc Pie Giống heo Pietrain
PiDu Heo lai Pietrain × Duroc
Pro Protein
SCCS Số heo con cai sữa
SCSS Số heo con sơ sinh
SC21 Số heo con 21 ngày tuổi
Trang 7DANH SÁCH HÌNH – SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Heo Yorkshire 2
Hình 2.2 Heo Landrace 3
Hình 2.3 Heo Duroc 3
Hình 2.4 Heo Pietrain 4
Hình 2.5 Heo Hampshire 4
Hình 2.6 Phép lai ưa chuộng 5
Hình 2.7 Thể trạng của heo nái theo các thang điểm khác nhau 45
Sơ đồ 2.1 Sử dụng năng lượng ở heo 17
Sơ đồ 2.2 Protein tham gia chu chuyển ở heo nái hậu bị qua các giai đoạn 19
Sơ đồ 2.3 Tương quan giữa số con đẻ ra/lứa với KLSS của heo con 36
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Năng suất sinh sản ở các giống heo thuần và heo lai 14
Bảng 2.2 Tỷ lệ heo con còn sống qua các giai đoạn theo giống thuần và lai 15
Bảng 2.3 Kết quả sinh sản của nhóm nái thuần Y, L và nái lai LY, YL 15
Bảng 2.4 Ưu thế lai về khả năng sinh sản của hai tổ hợp lai: đực Y × nái L và ngược lại 16
Bảng 2.5 Ảnh hưởng của giống đến năng suất sinh sản cùa VCN01 và VCN02 17
Bảng 2.6 Ảnh hưởng của giống đến năng suất sinh sản của ba giống heo lai Hampshire, lai Large White và lai Pietrain 17
Bảng 2.7 Protein tham gia chu chuyển ở heo nái hậu bị qua các giai đoạn 21
Bảng 2.8 Nhu cầu dinh dưỡng cho heo nái hậu bị ngoại/1 ngày đêm 21
Bảng 2.9 Tiêu chuẩn ăn của heo nái hậu bị tính theo NRC, 1998 23
Bảng 2.10 Tiêu chuẩn ăn cho heo nái hậu bị nội, ngoại 23
Bảng 2.11 Tiêu chuẩn ăn cho nái hậu bị ở nước ta 24
Bảng 2.12 Định mức ăn cho heo nái hậu bị (con/ngày) 24
Bảng 2.13 Tiêu chuẩn ăn cho heo nái nội có chửa 31
Bảng 2.14 Mức ăn cho heo nái mang thai (kg/nái/ngày) 32
Bảng 2.15 Ảnh hưởng của mức ăn trước thời kỳ động dục tới số lượng trứng rụng 35
Bảng 2.16 Ảnh hưởng của ngày ăn cao trước động dục tới số lượng tế bào trứng rụng 35
Bảng 2.17 Ảnh hưởng của mức ăn ở tháng chửa đầu tới tỷ lệ phôi sống 35
Bảng 2.18 Tương quan giữa số con đẻ ra/lứa với trọng lượng sơ sinh của heo con 37
Bảng 2.19 Ảnh hưởng của số heo con/ổ tới sản lượng sữa của heo mẹ 40
Bảng 2.20 Sản lượng sữa ở các cặp vú của heo Yorkshire 41
Bảng 2.21 Ảnh hưởng của mức ăn đến các chỉ tiêu của sữa và hao mòn cơ thể heo nái 41
Bảng 2.22 Thời gian lên giống lại và tỷ lệ phối giống đậu thai heo nái sau cai sữa 44
Bảng 2.20 Kết quả so sánh giửa cai sữa ở 21 ngày tuổi và 28 ngày tuổi 44
Bảng 2.24 Kết quả khảo sát năng suất sinh sản qua hai mùa 46
Bảng 2.25 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến năng suất sinh sản của heo nái 47
Bảng 2.26 Số lần phối và thời điểm phối thích hợp ở heo nái 50
Trang 9TÓM LƯỢC
Đề tài được tiến hành tại trường Đại Học Cần Thơ dựa trên các số liệu nghiên cứu thực tế của nhiều tác giả Thời gian thực hiện từ 10/2010 – 12/2010 Kết quả ghi nhận như sau:
– Các giống Yorkshire, Landrace và con lai của chúng đều cho kết quả tương đương nhau về các chỉ tiêu năng suất sinh sản Heo Landrace có khối lượng toàn ổ
21 ngày tuổi cao hơn các giống còn lại, chứng tỏ khả năng tiết sữa, nuôi con tốt hơn nhưng đến cai sữa thì khối lượng heo Yorkshire cao hơn heo Landrace (59,9 kg so với 56,3 kg), chứng tỏ heo này thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi ở trại so với các giống khác
– Số ngày lên giống lại sau cai sữa, tuổi phối giống lần đầu của nhóm nái lai LY,
YL thấp hơn nhóm nái thuần L, Y
– Giống heo Duroc nuôi con không giỏi, sức sản xuất sữa thấp và chống chịu điều kiện môi trường kém hơn hai giống Yorkshire và Landrace
– Sự khác biệt về số con/ổ và khối lượng/con giữa các tổ hợp lai 3 và 4 máu là không rõ ràng Các con lai có sự tham gia của đực lai PiDu có sức sinh trưởng cao
– Thời điểm cai sữa thì heo con Landrace và Yorkshire có tỷ lệ sống cao nhất, kế đến là Duroc, Pietrain và sau cùng là Hampshire
– Kiểu di truyền không tác động đến tỷ lệ sinh trưởng trong 3 tuần đầu Nhưng ở tuần thứ 3, heo con lai Hampshire và Yorkshire Large White lớn nhanh hơn heo con lai Pietrain
– Không nên cai sữa heo con trước 18 ngày hoặc sau 28 ngày Tuổi cai sữa heo con càng sớm thì thời gian lên giống lại càng kéo dài và tỷ lệ phối giống đậu thai càng thấp
– Năng suất sinh sản của heo nái rạ (lứa 3 – 6) cao hơn nái tơ (lứa 1 – 2) và nái già (trên 7 lứa)
– Tăng mức ăn trước khi phối và hạn chế mức ăn trong tuần đầu sau khi phối sẽ tăng tỷ lệ thụ thai, tăng số con đẻ ra/lứa Tăng mức ăn trong giai đoạn đầu của thời
kỳ có chửa sẽ giảm tỷ lệ số phôi sống
– Sản lượng sữa của heo mẹ lứa đầu thấp sau đó tăng dần, đạt đỉnh cao ở lứa thứ
3, sau đó ổn định và giảm dần từ lứa đẻ thứ 8, thứ 9 trở đi
– Năng suất sinh sản chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, ngoài những yếu tố chính như: con giống, di truyền, nó còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh, chăm sóc nuôi dưỡng, mùa vụ
Trang 10Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi heo là một nghề phổ biến và chiếm vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi ở nước ta Gần 90% gia đình nông dân và nhân dân vùng ven đô thị đều chăn nuôi heo Thịt heo chiếm 70 – 80% so với các loại thịt khác trong nhu cầu thực phẩm cho con người Do đó, con heo vừa là nguồn cung cấp một lượng lớn chất dinh dưỡng cho con người vừa là nguồn thu nhập đáng kể cho nhân dân
Mục tiêu phát triển chăn nuôi heo theo định hướng kế hoạch của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đến năm 2010, cả nước sẽ đạt 30 triệu con, bình quân trên đầu người là 35 kg thịt hơi (Lê Hồng Mận, 2002) Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi heo ở nước ta dần chuyển sang phương thức chăn nuôi tập trung và thâm canh cao Để nâng cao năng suất sinh sản trong chăn nuôi nói chung
và nuôi heo nói riêng là mục tiêu cao nhất Do đó, công tác giống ngày càng được chú trọng để tạo ra những giống heo có tốc độ tăng trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng thấp, chất lượng quầy thịt thơm ngon… heo nái sinh sản phải có nhiều con trong năm, heo con đồng đều, khỏe mạnh tạo tiền đề cho heo con và heo thịt tăng trưởng nhanh và phát triển tốt để cung cấp sản lượng thịt cao và chất lượng thịt tốt cho thị trường
Muốn đạt được những mục tiêu trên, người chăn nuôi heo phải hiểu biết về đặc điểm sinh lý sinh sản, kỹ thuật chăn nuôi heo, phòng trừ dịch bệnh, các yếu tố môi
trường và tiếp cận thị trường tốt… bên cạnh các yếu tố này thì “ảnh hưởng giống
và chăm sóc nuôi dưỡng đến năng suất sinh sản của heo nái” là điều đặc biệt
quan trọng cần phải chú ý đến
Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu năng suất sinh sản của các giống heo cao sản nuôi phổ biến ở Việt Nam hiện nay đồng thời đưa ra quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho từng loại heo nái Từ đó xác định mức độ ảnh hưởng của chúng đến năng suất sinh sản của heo nái nói chung, để làm cơ sở khoa học áp dụng trong thực tế chăn nuôi heo nái sinh sản mang lại năng suất cao, góp phần hạ giá thành sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người chăn nuôi
Trang 11Chương 2: NỘI DUNG
2.1 GIỐNG VÀ CÔNG TÁC GIỐNG HEO
2.1.1 Giống heo
2.1.1.1 Khái niệm chung về giống gia súc
Giống là phương tiện sản xuất nông nghiệp Sự hình thành và phát triển của giống gia súc, xuất phát từ nhu cầu con người Do đó, giống là một sản phẩm thông qua quá trình thuần dưỡng và chọn lọc Giống phải có sự đồng dạng về kiểu hình,
có cùng hướng sản xuất, cùng tầm vóc, hình dáng và tính năng sản xuất Giống phải
có tính di truyền ổn định qua các thế hệ về ngoại hình và tính năng sản xuất
2.1.1.2 Các giống heo ngoại nhập
Ø Heo Yorkshire:
Heo Yorkshire có nguồn gốc từ Anh,
được nôi phổ biến ở nhiều nước, thích nghi
tốt Nước ta đã nhập giống heo này từ nhiều
nước: Cuba, Nhật, Bỉ, Đức… là giống heo
hướng nạc – mỡ và nạc, lông da trắng tuyền
(có thể có đốm đen nhỏ trên da), lưng thẳng,
đầu thanh, tai đứng hơi nghiêng về phía
trước, mông nở, đùi to, vai lớn, có từ 12 –
14 vú (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng,
2002)
Heo Yorkshire có 3 loại hình: kích thước lớn gọi là Đại bạch, Trung bạch và cỡ nhỏ Ở Miền Nam giống heo Yorkshire nhập nội thuộc hai loại: Đại bạch và Trung Bạch (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2000)
Hiệu suất thịt 74%, khối lượng trưởng thành 300 – 400 kg, có thể đạt 112 kg lúc 7,5 – 8 tháng tuổi Heo nái đẻ sai và tốt sữa, bình quân mỗi lứa có 10 – 12 heo con còn sống Khối lượng heo con sơ sinh và cai sữa không đồng đều lắm Heo Yorkshire được dùng làm heo nái nền trong hầu hết công thức lai sản xuất heo con thương phẩm (Võ Ái Quốc, 1996)
Ø Heo La drac :
Heo Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch Giống heo này được nuôi phổ biến khắp nơi trên thế giới và được xem như giống heo hướng nạc Heo có lông da trắng tuyền, mình dài hơn heo Yorkshire, vì tầm vóc to và bốn chân nhỏ nên thường bị bệnh về chân và móng
Hình 2.1 Heo Yorkshire
Nguồn: National Swine Registry, West Lafayette (2005)
Trang 12Đặc điểm của heo Landrace là tai to và
cúp, hướng về phía trước, sườn tròn, bụng
gọn, phần sau thân phát triển theo hướng
nhiều nạc Heo nái trưởng thành trên 200
kg, heo đực trên 300 kg, heo thịt nuôi 6
tháng tuổi trên 100 kg Heo nái có 14 vú trở
lên, đẻ 10 – 12 con/ổ, heo sơ sinh nặng 1,2
– 1,4 kg, nuôi 2 tháng tuổi được 15 – 18
kg/con Tỷ lệ nạc cao trên 56%, tiêu tốn
thức ăn cho 1 kg tăng trọng là 2,9 – 3,5 kg
(Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2002)
Heo nái mỗi năm đẻ từ 1,8 – 2,2 lứa, nếu chăm sóc và nuôi dưỡng tốt có thể đạt 2,5 lứa Heo nái Landrace có tiếng là tốt sữa, sai con và nuôi con giỏi, tỷ lệ nuôi sống cao (Võ Văn Ninh, 1999)
Các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh sản nuôi ở nước ta thấp hơn so với giống gốc 10 – 15% Heo được dùng trong lai kinh tế với các giống heo nội để tăng khối lượng và
tỷ lệ nạc (Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 2004)
Ø Heo Duroc:
Theo Lê Hồng Mận (2006), heo Duroc
xuất xứ từ vùng Đông Bắc nước Mỹ, còn
gọi là heo bò vì lông da có màu nâu sẫm
giống như lông da bò, được nhập vào nước
ta từ năm 1967 Đây là giống heo siêu nạc,
phẩm chất thịt tốt
Heo Duroc có đầu tương đối nhỏ, mặt
hơi cong, tai ngắn và cụp về phía trước
Thân hình cân đối, ngực sâu và nở nang, đùi
to và rắn chắc, bụng thon, chân khoẻ Chính
nhờ vào những ưu điểm trên nên heo này được nhiều người chọn nuôi Đực giống trưởng thành 250 – 280 kg, heo nái 200 – 230 kg, năng suất vừa phải: 9 con/ổ Thường sử dụng heo Duroc cho lai kinh tế được đời con có tỷ lệ nạc cao, tăng trọng nhanh (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2005)
Heo được sử dụng trong công thức lai ba máu, để tăng tỷ lệ thịt, tầm vóc và năng suất sinh trưởng cùng với Yorkshire và Landrace (Trương Chí Sơn và Lê Thị Mến, 2000)
Trang 13Ø Heo Pietrain:
Giống heo này xuất xứ ở Bỉ Heo
Pietrain được dùng trong lai kinh tế ở nhiều
nước trên thế giới Đặc điểm của giống heo
là trên da có những đốm đỏ và đen không
đồng đều Heo có tuổi đẻ lứa đầu là 418
ngày, khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 165,1
ngày, cai sữa ở 35,2 ngày, đẻ 10 con/lứa, số
con cai sữa là 8,3 con, số con cai
sữa/nái/năm là 18,3 con Khả năng tăng
trọng ở giai đoạn 35 – 90 kg là 770 g/ngày,
tiêu tốn 2,58 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng, tỉ lệ thịt xẻ là 75,9% Tỷ lệ nạc/thịt xẻ
là 61,35% Heo Pietrain có năng suất rất ổn định, mẫn cảm với stress, tăng trọng chậm, tim yếu, khó nuôi, chất lượng thịt thường gặp là PSE liên quan đến Halothan chiếm tỷ lệ cao (Lê Hồng Mận, 2006)
Ø Heo Hampshire:
Theo Nguyễn Quang Linh và ctv (2009),
giống heo này có nguồn gốc từ Anh Quốc,
vùng Hampshire, Scotland, Northumberland
Khoảng giữa năm 1825 và 1835, giống heo
Hampshire được xuất sang Mỹ và từ đó
giống heo này được phát triển khá phổ biến
ở châu Mỹ
Heo có màu lông đen toàn thân và có
vành lông trắng vắt qua vai bao gồm cả
chân trước và ngực Heo có đầu nhỏ thanh,
cổ dài và hẹp thân Toàn thân trông rắn chắn và vận động tốt, thích hợp với hệ thống chăn nuôi chăn thả trên đồng cỏ Heo Hampshire có khả năng sinh sản tương đối tốt, heo đẻ từ 10 – 12 con/lứa, mỗi năm đẻ 1,8 – 2 lứa Khối lượng sơ sinh heo con trung bình đạt 1,1 – 1,2 kg Sức tiết sữa của heo 5 – 7 kg/ngày Khả năng sinh trưởng của heo tương đối nhanh, tăng trọng 700 g/ngày Heo có tỷ lệ thịt xẻ cao và đây là một giống heo hướng nạc
2.1.1.3 Các giống heo nội ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Heo có tầm vóc nhỏ, đã có từ lâu đời ở đồng bằng Nam Bộ, nhưng do năng suất thấp nên số đầu con không nhiều Trước đây các giống heo Ba Xuyên và Thuộc Nhiêu… được người nuôi nuôi nhiều (Võ Văn Ninh, 1999)
Hình 2.4 Heo Pietrain
Nguồn: Jonathan Long (2009)
Hình 2.5 Heo Hampshire
Nguồn: JacksonShowPigs (2009)
Trang 142.1.1.4 Nhóm heo lai
Ø Heo ai làm giống:
Những công thức lai có khả năng sinh sản tốt như: Landrace × Yorkshire, Yorkshire × Landrace (Võ Văn Ninh, 2006)
Heo lai có lông màu trắng, tròn mình, lưng thẳng, bụng thon, mông xuôi, chân
và đầu thanh Con lai nuôi thịt lớn nhanh, 6 – 7 tháng tuổi đạt 100 kg, tiêu tốn 2,8 – 3,2 kg thức ăn cho 1 kg đơn vị tăng trọng Tỷ lệ nạc 52 – 57% Con lai nếu nuôi dưỡng tốt và đúng kỷ thuật, có thể đạt được yêu cầu về chất lượng sản phẩm đáp ứng thị hiếu tiêu dùng và xuất khẩu (Phạm Hữu Danh và Lưu Kỷ, 2004)
Heo lai YL (Yorkshire × Landrace) được lai từ hai giống: cái Yorkshire và đực Landrace Heo lai LY (Landrace × Yorkshire) được lai từ hai giống: cái Landrace
và đực Yorkshire Heo lai thường dùng làm cái nền, sinh sản tốt, đẻ sai, nuôi con khéo (Lê Hồng Mận, 2002)
† Heo ai nuôi thịt:
Những công thức lai đạt năng suất và chất lượng thịt cao hiện nay rất rất phổ biến như: Duroc × (Yorkshire × Landrace), Duroc × (Landrace × Yorkshire), (Pietrain × Duroc) × (Yorkshire × Landrace)… (Võ Văn Ninh 2006)
Lai 2 giống: ở các tỉnh phía Nam, sản xuất heo F1 giữa heo đực Yorkshire và nái Thuộc Nhiêu đạt tăng trọng 500 – 520 g/ngày Heo đạt 90 – 100 kg ở 8 – 9 tháng tuổi với mức tiêu tốn thức ăn 3,1 – 3,5 kg, tỷ lệ nạc trung bình 51% Heo lai (Landrace × Ba Xuyên) đạt tăng trọng thấp 350 – 400 g/ngày Heo đạt 90 – 95 kg lúc 10 tháng tuổi với mức tiêu tốn thức ăn trung bình 3,23 kg/kg tăng trọng, tỷ lệ nạc trung bình 50,6% (Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2004)
Lai 3 giống: Heo lai Duroc × (Landrace × Yorkshire) và Duroc × (Yorkshire
× Landrace) đạt được các chỉ tiêu: trung bình 90 kg lúc 155 – 160 ngày tuổi, tỷ lệ nạc/thịt xẻ là 56,8 – 57%, tiêu tốn thức ăn 2,95 – 3 kg/kg tăng trọng (Lê Hồng Mận, 2002)
Hình 2.6 Phép lai ưa chuộng
Trang 15Lai 4 giống ngoại: heo (Duroc × Hampshire) × heo (Landrace × Yorkshire) và heo (Pietrain × Duroc) × heo (Landrace × Yorkshire) Heo con cai sữa 27 ngày đạt 6,3 – 6,5 kg, nuôi 60 ngày đạt 20 kg Heo nuôi chóng lớn, 165 – 170 ngày đạt 95
kg, tăng trọng bình quân 645 – 650 g/ngày, tiêu tốn thức ăn 2,8 – 3 kg/kg tăng trọng, tỷ lệ nạc/thân thịt xẻ trên 58% (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2004)
2.1.2 Công tác giống heo
– Đầu và cổ kết hợp tốt, mặt thanh, mắt tinh, tính hiền lành
– Thân trước: nở nang, vai bằng, ngực sâu, sườn tròn, khoảng cách hai chân trước rộng
– Thân giữa: lưng dài, bụng gọn
– Thân sau: nở nang, bộ phận sinh dục phát triển bình thường
– Bốn chân: vững chắc, đi ngón, không đi bàn, không vọng kiềng, chữ bát, đi chạm khóe
– Có mười hai vú trở lên, khoảng cách giữa hai núm vú đều, hai hàng không so
le với nhau, núm vú phát triển tốt
Theo Võ Văn Ninh (2006), để chọn heo nái đẻ tốt phải chọn theo gia phả, chọn những con mau lớn, tốt sữa, sai con… sẽ sinh ra đàn con, cháu mang những đặc điểm di truyền tốt Chọn ngoại hình: dài đòn, đùi to, mỡ lưng mỏng, rộng mông, bụng thon, vai nở, khung xương vững chắc, đi ngón nhanh nhẹn Số vú: 12 – 14 –
16 vú, cách quảng giữa hai hàng vú ngắn Âm môn phát triển lộ rõ, không dị tật Tăng trọng nhanh (trên 600 – 650 g/ngày) Động dục lần đầu sớm (160 – 180 ngày), biểu hiện rõ
2.1.2.2 Nhân giống heo
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2004), khi cho lai giữa các giống nhằm đạt các mục tiêu sau: kết hợp được các điểm khác nhau giữa các giống, khai thác được những biến dị theo quy luật để đạt được hiệu quả kinh tế cao, có những điểm hơn bố
mẹ ở đời con
Nhân giống heo gồm hai phương pháp: nhân giống thuần và nhân giống lai
Trang 16† Nh n giốn huần:
Theo Nguyễn Quang Linh và ctv (2009), đây là phương pháp chọn heo đực và heo cái trong cùng một giống cho phối với nhau, tạo ra đàn con mang các đặc điểm hoàn toàn giống như cha mẹ Với phương pháp này, ta có thể chọn các đực và cái của các dòng heo khác nhau trong cùng một giống cho dao dòng và kết quả sẻ được thế hệ con tốt hơn bố mẹ
Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2000), nhân giống thuần gia tăng mức đồng hợp tử để ổn định đàn giống thuần Tuy nhiên nên chọn giống và ghép đôi giao phối cẩn thận, tránh giao phối cận huyết quá đáng vì đồng huyết ảnh hưởng xấu đến sinh lực của thế hệ sau Để tránh đồng huyết quá đáng người ta đưa ra hình thức nhân giống theo dòng và nhân giống giữa các dòng
† Nh n giốn ai:
Theo Trương Chí Sơn và Lê Thị Mến (2000), phải nhân giống lai vì không có một giống nào có thể cung cấp hoặc thể hiện một cách đầy đủ các đặc điểm tốt theo yêu cầu thị hiếu của người nuôi Do đó, phải có sự kết hợp giữa các đặc tính đó ở các giống khác nhau bằng phương pháp nhân giống lai để tạo ra con lai có những đặc tính mong muốn Đồng thời, về mặt di truyền còn có thể có những thế hệ sau vượt trội nhờ ưu thế lai
Các phương pháp lai: lai kinh tế, lai cải tiến, lai luân chuyển, lai gây thành Theo Võ Văn Ninh (2006) một số công thức giống lai cho heo sinh sản Yorkshire × Landrace, Landrace × Yorkshire Lai giữa heo nội với heo ngoại: Yorkshire × Móng Cái, Landrace × Móng Cái Lai giữa các giống heo ngoại nhập: heo lai (YL) × heo lai (LY)
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN Ở HEO NÁI
2.2.1 Đặc điểm di truyền về khả năng sinh sản ở heo
Theo Nguyễn Thiện và Đào Đức Thà (2007), khả năng sinh sản là yếu tố quan tâm hàng đầu của người chăn nuôi heo nái Năng suất sinh sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có nhiều chỉ tiêu để đánh giá năng suất sinh sản của heo nái, nhưng xét về mặt di truyền và chọn giống, người ta thường quan tâm tới một số tính trạng năng suất sinh sản nhất định: tuổi động dục lần đầu, tỷ lệ thụ thai, số con trong ổ, thời gian cai sữa tới động dục trở lại…
Các tính trạng năng suất sinh sản có hệ số di truyền thấp, do đó nó chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện môi trường Trong khi đó các tính trạng về khả năng sinh trưởng, chất lượng thịt, thân thịt có hệ số di truyền cao
Trang 17Theo Perrocheau M., (1994), hệ số di truyền của heo nái là sinh sản là:
– Số heo con cai sữa/ổ h2 = 0,12
– Khối lượng lúc cai sữa h2 = 0,17
Các tính trạng chủ yếu phản ánh năng suất chủ ở heo nái là số con đẻ ra/lứa, số heo con cai sữa, khối lượng heo con lúc cai sữa Phần lớn các tính trạng này phụ thuộc nhiều các yếu tố ngoại cảnh
2.2.2 Sinh lý động dục và phối giống ở heo nái
2.2.2.1 Tuổi động dục đầu tiên
Tuổi động dục đầu tiên ở heo nội rất sớm: 4 – 5 tháng tuổi Ở heo nái lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn: khoảng 6 tháng tuổi Ở heo ngoại thì tuổi động dục đầu tiên muộn hơn heo lai, tức khoảng 6 – 7 tháng tuổi Không nên cho heo phối giống vào thời kỳ này vì cơ thể chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ đủ chất dinh dưỡng để nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt hiệu quả tốt trong sinh sản và duy trì con nái lâu bền, cần bỏ qua 1 – 2 chu kỳ động dục mới cho phối giống (Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 2004)
Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân (2004), cho biết heo Landrace thành thục tính dục là 213,1 ngày Heo Yorkshire là 219,4 ngày Khi nghiên cứu về heo cái lai và heo cái thuần trên các giống Landrace, Yorkshire và Duroc, tác giả Hutchens và ctv (1981), kết luận: heo cái lai có tuổi động dục sớm hơn heo cái thuần là 7,9 ngày và tuổi thành thục về tính biến động 135 – 250 ngày
Theo Nguyễn Thiện và Đào Đức Thà (2007), tuổi động dục lần đầu là tuổi thành thục về tính, nó có ý nghĩa quan trọng giúp người chăn nuôi định tuổi phối giống thích hợp, nhằm tăng thời gian và hiệu quả sử dụng heo nái Tuổi đông dục đầu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: giống, khả năng sinh trưởng, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, khí hậu, tác động kích thích từ con đực
2.2.2.2 Chu kỳ động dục và động dục trở lại sau đẻ của heo nái
Theo tác giả Banne Donadona (1995), thì chu kỳ động dục ở heo cái là 21 ngày, được chia làm 4 giai đoạn: Tiền động dục (Prooestrus) kéo dài khoảng 4 ngày;
Trang 18Động dục (Oestrus), khoảng 6 ngày; Sau động dục (Prostoestrus) 3 ngày và giai đoạn yên tĩnh (Dioestrus) khoảng 8 ngày
Kết quả nghiên cứu của Rapael (1971) cho rằng: ở heo nái hậu bị có chu kỳ động dục ngắn hơn ở heo nái trưởng thành Lứa đẻ 2 – 3 có chu kỳ động dục 19,5 ngày, lứa đẻ 4 và 5 chu kỳ 20,8 ngày Lứa 6 – 7 chu kỳ 21,5 ngày Lứa 8 – 9 chu kỳ 22,4 ngày
Theo Lê Hồng Mận (2002) cho rằng heo nái có hiện tượng động dục trở lại sau khi đẻ 3 – 4 ngày Lúc này bộ máy sinh dục của heo mẹ chưa phục hồi, trứng chín chưa đều nên không cho phối giống Chỉ có khi sau cai sữa heo con khoảng 3 – 5 ngày thì heo nái động dục trở lại, cho phối giống dễ đậu thai, và trứng chín nhiều sẽ
có nhiều con
2.2.2.3 Đặc điểm động dục ở heo nái
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2004), có thể chia làm 3 giai đoạn:
† Giai đoạn trước khi chịu đực: heo nái thay đổi tính tình: kêu rít nhỏ, bỏ ăn, nhảy lên lưng con khác Âm hộ đỏ tươi, sưng mọng, có nước nhờn chảy ra nhưng chưa chịu cho đực nhảy
† Giai đoạn chịu đực: heo kém ăn, đứng yên, mê ì, lấy tay ấn lên lưng gần mông, heo đứng im, đuôi vắt về một bên Âm hộ giảm sưng có nếp nhăn, màu sẫm hoặc màu mận chín, có nước nhờn chảy dính đục Con đực lại gần thì đứng yên chịu cho phối
† Giai đoạn sau chịu đực: heo nái trở lại bình thường, ăn uống như cũ, âm hộ giảm độ nở, se nhỏ, thâm, đuôi cụp, không cho đực phối
2.2.2.4 Thời điểm phối giống thích hợp
Theo Lê Hồng Mận (2006), thời điểm phối giống thích hợp nhất là giữa hai giai đoạn chịu đực Như vậy đối với heo nái ngoại và heo nái lai cho phối vào cuối ngày thứ 3, đầu ngày thứ 4, hoặc sau khi có hiện tượng chịu đực 6 – 8 giờ thì cho phối Đối với nái nội thì cho phối sớm hơn một ngày
Nếu dùng phương phương pháp thụ tinh nhân tạo thì khi heo có biểu hiện chịu đực vào buổi sớm thì phối vào buổi chiều, còn nếu buổi chiều tối thì cho phối vào sáng sớm hôm sau Nên cho phối 2 lần, nhằm “chặn đầu, khóa đuôi” của thời kỳ rụng trứng
Hãng CP group (2006), có quy trình gieo tinh như sau:
– Để tinh dịch ở 25oC trong vòng 5 phút
– Để tiếp tinh dịch ở 35oC trong vòng 5 phút nữa
Trang 19– Tiếp đó là phối giống
– Thời gian phối phải đảm bảo từ 10 – 20 phút
2.2.3 Tỷ lệ phối giống đậu thai
Tỷ lệ phối giống đậu thai là phần trăm heo được phối (kể cả nhảy trực tiếp hay
gieo tinh nhân tạo) mà phôi còn sống và phát triển Tỷ lệ đậu thai phụ thuộc vào
nhiều yếu tố: kỹ thuật gieo tinh, chất lượng tinh dịch, giống, nhiệt độ môi trường…
Tỷ lệ phối giống đậu thai từ 75% trở lên là đạt kết quả tốt (Phùng Thị Vân, 2004)
Tỷ lệ đậu thai ở heo lai thường cao hơn heo thuần và heo hậu bị thấp hơn heo nái
rạ 10 – 15% Gieo tinh nhân tạo có tỷ lệ đậu thai thấp hơn nọc phối 10% Nọc phối
kép với lần phối thứ hai cách lần phối thứ nhất từ 12 – 24 giờ sẽ cải thiện đáng kể tỷ
lệ đậu thai (Phạm Hữu Thiện, 2000)
Theo Đỗ Võ Anh Khoa (2003) tỷ lệ phối giống đậu thai của đàn heo nái tại trại
heo Phước Thọ, Vĩnh Long là 92,4% Theo thống kê của Trần Thị Bích Phương
(2007), thì tỷ lệ này qua các năm như sau: 90% (2001); 83,9% (2002); 83,2%
(2003); 77,7% (2004); 81,7% (2005); 83,4% (2006)
2.2.4 Thời gian mang thai và khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Thời gian mang thai của heo nái biến động từ 108 – 122 ngày tùy cá thể, số thai
đang mang, lứa đẻ… nhưng tập trung hơn 98% trong khoảng 111 – 119 ngày, trung
bình là 115 ngày (Trương Chí Sơn và Lê Thị Mến, 2000)
Khoảng cách hai lứa đẻ phản ánh tình trạng mắn đẻ của heo nái, phẩm chất con
giống và chế độ nuôi dưỡng trong thời gian nuôi con Khoảng cách hai lứa đẻ càng
ngắn thì số vòng quay càng ngắn và ngược lại (Nguyễn Quang Linh và ctv, 2009)
Qua khảo sát 2046 ổ đẻ trong thời gian 2001 – 2005 và 8 tháng đầu năm 2006, bình
quân khoảng cách giữa hai lứa đẻ ở đàn heo Phước Thọ là 155,5 ngày (Trần Thị
Bích Phương, 2007) Con số này được Thạch Thị Thanh Thúy (2002) ghi nhận trên
đàn heo ở trại Vĩnh Khánh là 159,82 ngày và số lứa đẻ trung bình là 2,27
lứa/nái/năm
2.2.5 Năng suất theo lứa đẻ của heo nái
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2004), lứa đẻ tốt từ lứa 2 đến lứa thứ 6 – 7
Tuổi sinh sản ổn định từ năm tuổi thứ 2 – 4 Thời gian sử dụng nái 4 – 5 năm Để
giữ được năng suất sinh sản ổn định, trong đàn nái cần có số heo nái có lứa đẻ 3 – 5
lứa chiếm 50 – 55%/đàn
Theo Võ Văn Ninh (2006), thông thường nái ngoại nhập hay giống cao sản, sử
dụng đến lứa 5 – 6 thì loại thải Tuy nhiên cũng có những trường hợp cá biệt, nái đẻ
Trang 20sai, tốt sữa…, có thể khai thác đến lứa 8, lứa 9 vẫn tốt Một số giống heo nội có khả
năng khai thác trên 10 lứa như: Thuộc Nhiêu, Móng Cái…
Theo Thạch Thanh Thúy (2002) heo cái hậu bị mới chuyển lên sinh lý sinh dục
chưa ổn định, heo cái chưa chuẩn bị đủ điều kiện nuôi con, số trứng rụng biến động
cao, đến lứa đẻ tiếp theo số trứng rụng biến động ít hơn, do đó số con sơ sinh/ổ lứa
1 thường thấp
Theo Lê Hồng Mận (2002), heo nái đẻ đến lứa tuổi 4 – 5 cho số heo con cai sữa
cao và khối lượng cai sữa cao hơn các lứa sau, heo con từ lứa đẻ 2, 3, 4 có khối
lượng cai sữa lớn hơn lứa đầu và 5, 6
Theo Trương Lăng (2004) và Trần Thị Dân (2004), heo mẹ sau khi đẻ thì lượng
sữa tăng dần từ tuần thứ nhất đến tuần thứ ba sau đó lượng sữa bắt đầu giảm Sản
lượng sữa tăng dần từ lứa 1 đến lứa 4 và giảm dần ở các lứa sau đó (Lê Hồng Mận,
2002) Hàm lượng kháng thể trong sữa đầu gia tăng theo lứa đẻ ở heo nái (Trần Thị
Dân, 2004)
2.3 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA
HEO NÁI
Theo thông tin tiêu chuẩn đo lường chất lượng: TCVN 1280 – 81, heo nái sinh
sản trong các cơ sở nhân giống nhà nước, khả năng sinh sản được đánh giá trên 4
chỉ tiêu:
– Số con sơ sinh còn sống: là số con còn sống sau khi nái mẹ đẻ xong con cuối
cùng, không tính những con có khối lượng từ 0,2 kg trở xuống với heo nội và 0,5 kg
trở xuống với heo ngoại và heo lai có máu ngoại.
– Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi (tính bằng kg): là tổng khối lượng tất cả
các heo con do nái đó nuôi đến 21 ngày tuổi Đây là chỉ tiêu để đánh giá khả năng
tăng trọng của heo con và khả năng tiết sữa của heo mẹ
– Khối lượng toàn ổ lúc cai sữa: là tổng khối lượng tất cả các heo con do nái đó
nuôi đến cai sữa
– Tuổi đẻ lứa đầu tiên đối với heo nái đẻ lứa 1 hay khoảng cách giữa hai lứa đẻ
đối với heo nái đẻ từ lứa 2 trở đi Tuổi đẻ lứa đầu tiên là số ngày tuổi khi con nái đó
đẻ lứa đầu tiên Khoảng cách giữa hai lứa đẻ là số ngày từ khi heo nái đó đẻ lứa
trước đến lứa tiếp theo Nếu heo nái đó không nuôi con thì phải cộng thêm 60 ngày
nữa mới coi là khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Trang 212.4 ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI
Theo Nguyễn Minh Thông (1997), khi theo dõi ở trại Phước Thọ về năng suất sinh sản giữa các giống heo cho thấy: giống Duroc có số con, khối lượng 21 ngày tuổi và khối lượng cai sữa thấp, tỷ lệ hao hụt cao hơn, khối lượng trưởng thành cũng thấp hơn, do giống này đòi hỏi điều kiện chăn nuôi cao
Các giống Yorkshire, Landrace và con lai của chúng đều cho kết quả tương đương nhau về các chỉ tiêu năng suất sinh sản Heo Landrace có khối lượng toàn ổ
21 ngày tuổi cao hơn các giống còn lại, chứng tỏ khả năng tiết sữa, nuôi con tốt hơn nhưng đến cai sữa thì khối lượng heo Yorkshire cao hơn heo Landrace (59,9 kg so với 56,3 kg), chứng tỏ heo này thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi ở trại so với các giống khác
Điều này phù hợp với nhiều nhận xét ở Việt Nam rằng, nếu có điều kiện nuôi dưỡng tốt thì nuôi heo Landrace cho kết quả cao hơn, sử dụng heo này làm nái nền trong công thức lai sẽ phát huy tính đẻ sai, tốt sữa, nuôi con khéo Nếu điều kiện chăn nuôi kém hơn thì nuôi heo Yorkshire làm nái nền sẽ đạt kết quả cao hơn do tính chịu đựng, thích nghi với điều kiện Việt Nam từ lâu của giống heo này Heo Duroc có số con 21 ngày tuổi và cai sữa thấp hơn heo Yorkshire và Landrace mặc
dù có số con sơ sinh tương đương
Nguyễn Minh Thông (1997) dẫn theo Võ Thị Tuyết (1996), heo Yorkshire thuần
có số con sơ sinh trên ổ thấp hơn heo Landrce (9,92 con/ổ so với 10,03 con/ổ) nhưng có số con cai sữa cao hơn giống thuần Landrace ở xí nghiệp Dưỡng Sanh (8,56 con/ổ so với 8,26 con/ổ) và tương đương ở xí nghiệp 3/2 (8,43 con/ổ) Sự khác biệt về năng suất sinh sản của các giống thuần và lai ở xí nghiệp Dưỡng Sanh
là không có ý nghĩa thống kê
Nguyễn Minh Thông (1997) dẫn theo Quintana và Erdozain (1995), khi đánh giá năng suất sinh sản của các con lai Đại Bạch × Landrace và Duruc × Landrace thấy rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa về các chỉ tiêu năng suất sinh sản giữa chúng
Theo ghi nhận của Đỗ Võ Anh Khoa (2003), những giống heo ngoại có khối lượng sơ sinh cao hơn so với những giống heo nội Giống heo Yorkshire có số con
sơ sinh/ổ thấp hơn giống heo Landrace (10,07 con/ổ so với 10,43 con/ổ) Giống heo Duroc nuôi con không giỏi, sức sản xuất sữa thấp và chống chịu điều kiện môi trường kém hơn hai giống Yorkshire và Landrace Khối lượng sơ sinh của heo con
ở các giống thuần và lai không có sự khác biệt và dao động trong khoảng 1,39 – 1,41 kg/con
Trang 22Bảng 2.1 Năng suất sinh sản ở các giống heo thuần và heo lai
SCSS (con/ổ)
KLSS (kg/ổ)
SC21 (con/ổ)
KL21 (kg/ổ)
SCCS (con/ổ)
KLCS (kg/ổ)
Nguồn: Đỗ Võ Anh Khoa (2003)
Theo nhận định của Trần Thị Dân (2004), tuy có sự biến động về sức sống của heo con giữa các giống, ít tác giả xử lý thống kê kết quả này vì sức sống của heo con được kiểm soát bởi gen của heo con lẫn gen của heo mẹ Lai giống là phương pháp hữu hiệu để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của bộ gen của heo con và heo bố
mẹ lên sự biến động sức sống của heo con Tuy nhiên, việc giải thích kết quả từ các nghiên cứu này cũng khá phức tạp vì biến động giữa các giống có thể gây nhiễu bởi biến động của số heo con/ổ lúc sơ sinh (có sự gia tăng của số heo con chết khi số heo con/ổ tăng) Mặc dù có thể có ảnh hưởng của mẫu khảo sát, điều kiện môi trường và khác biệt di truyền giữa các nhóm trong một giống, người ta ghi nhận ở thời điểm cai sữa thì heo con Landrace và Yorkshire có tỷ lệ sống cao nhất, kế đến
là Duroc, Pietrain và sau cùng là Hampshire Khi ước tính mức độ đóng góp của gen heo con và gen heo mẹ vào sự khác biệt giữa các giống, người ta nhận thấy gen của heo con Hampshire và gen của heo mẹ Duroc có ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ sống của heo con theo mẹ Nhiều thí nghiệm cho thấy việc chọn lọc đàn nái mắn đẻ (chọn những con nái đẻ ra còn sống lớn hơn 13 con/ổ) có thể cho kết quả tốt về số heo con sơ sinh/ổ ở những thế hệ sau
Theo Đỗ Võ Anh Khoa (2003), mặc dù số con/ổ qua các giai đoạn không có khác biệt có ý nghĩa giữa các giống heo nhưng tỷ lệ heo con còn sống từ sơ sinh đến cai sữa ở giống heo Duroc thuần thấp hơn so với các giống khác Điều này chỉ
ra rằng giống heo Duroc nuôi con không giỏi, sức sản xuất sữa thấp và chống chịu điều kiện môi trường kém hơn hai giống heo Landrace và Yorkshire Tuy nhiên giống heo Duroc lai vẫn thừa hưởng được những ưu điểm của hai giống heo nói trên, vì vậy mà tỷ lệ này không có sự khác biệt giữa giống heo Duroc với giống heo Yorkshire hoặc Landrace và vẫn duy trì tỷ lệ sống ở mức cao đến giai đoạn cai sữa (87,99%)
Trang 23Bảng 2.2 Tỷ lệ heo con còn sống qua các giai đoạn theo giống thuần và lai
Nguồn: Đỗ Võ Anh Khoa (2003)
Theo Nguyễn Thị Viễn và ctv (2004), khi nghiên cứu năng suất sinh sản của nái tổng hợp hai nhóm giống Yorkshire và Landrace nhận thấy: năng suất sinh sản của nhóm nái lai LY, YL được thể hiện qua so sánh với nhóm nái thuần L, Y ở bảng 2.3, nhóm nái lai YL cho số con sơ sinh sống cao hơn 0,32 con/ổ so với nái LY; 0,39 con/ổ (nái L) và 0,44 con/ổ (nái Y) Khối lượng sơ sinh nhóm nái lai LY, YL
có khối lượng cao hơn nhóm nái thuần L và Y là 0,2 – 0,88 kg/ổ Với số ngày cai sữa bình quân ở các nhóm giống là 22,3 ngày; nhóm nái lai LY có số con cai sữa và khối lượng cai sữa cho giá trị cao nhất, hơn 0,26 – 0,61 con/ổ và 1,11 – 3,85 kg/ổ so với nhóm nái lai YL, L và Y (P < 0,05) Về số con sơ sinh chết, số thai khô không
bị ảnh hưởng bởi các nhóm giống thuần và lai
Bảng 2.3 Kết quả sinh sản của nhóm nái thuần Y, L và nái lai LY, YL
Số con sơ sinh sống/ổ Con 10,12 ± 0,47 10,19 ± 0,46 10,07 ± 0,49 10,51 ± 0,47
Số con sơ sinh chết/ổ Con 0,24 ± 0,42 0,12 ± 0,22 0,19 ± 0,34 0,09 ± 0,16
Số thai khô (gỗ) Con 0,04 ± 0,08 0,04 ± 0,07 0,02 ± 0,04 0,007 ± 0,01
KL sơ sinh/ổ Kg 11,94 ± 0,38a 12,14 ± 0,38ab 11,26 ± 0,40c 12,12 ± 0,39ab
Số con cai sữa/ổ Con 8,91 ± 0,30a 9,40 ± 0,29b 8,79 ± 0,31ac 9,14 ± 0,29a
KL cai sữa/ổ Kg 44,99 ± 1,94a 47,44 ± 1,94a 43,59 ± 1,59ad 46,33 ± 1,93ac
Số ngày phối lại SCS Ngày 9,56 ± 7,91a 7,14 ± 3,74b 7,43 ± 4,33b 7,18 ± 3,69b
Tuổi đẻ lứa đầu Ngày 388,68±11,2a 349,75± 9,5b 407,83±13,1ad 345,38±9,8bc
Ghi chú: trong cùng hàng chữ số, những chữ cái khác nhau có sai khác thống kê (P<0,05)
Nguồn: Nguyễn Thị Viễn và ctv (2004)
Tỷ lệ hao hụt của các nhóm giống từ 7,75 – 13,03%; nhóm có tỷ lệ hao hụt thấp nhất là nhóm nái lai LY (7,75%)
Số ngày lên giống lại sau cai sữa của nhóm nái lai thấp hơn nhóm nái thuần L, Y
từ 0,29 – 2,42 ngày Rút ngắn thời gian lên giống là một trong những chỉ tiêu cần quan tâm, nó góp phần làm tăng số lứa đẻ/nái/năm, rút ngắn được thời gian không
Trang 24sử dụng của nái, giảm chi phí thức ăn và công chăm sóc, nâng cao được số đầu heo con/nái/năm Song chúng ta cũng cần phải tác động thêm cho đàn nái như cải thiện môi trường như chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng
Tuổi đẻ lứa đầu của nhóm nái lai YL sớm nhất: 345 ngày, kế đến là nhóm nái lai LY: 349 ngày; hai nhóm này có tuổi đẻ lứa đầu sớm hơn nhóm nái L, Y là 39 –
62 ngày
Theo nghiên cứu của Đặng Vũ Bình và ctv (2005), ưu thế lai của con lai F1 giữa hai giống Yorkshire và Landrace được biểu hiện ở hầu hết các tính trạng: cao nhất
là số con đẻ ra/ổ, tiếp đó là số con để nuôi/ổ và khối lượng sơ sinh/ổ Các tính trạng
có ưu thế lai thấp là: khối lượng sơ sinh/con và khối lượng cai sữa/con Khi số con/ổ có biểu hiện ưu thế lai, do có mối tương quan âm giữa số con/ổ và khối lượng trung bình/con nên không có biểu hiện ưu thế lai
Nếu so sánh ưu thế lai giữa hai công thức F1 (LY) và F1 (YL), có thể nhận biết rõ ràng là F1 (LY) có nhiều ưu điểm hơn: hầu hết các tính trạng có biểu hiện ưu thế lai Các tính trạng số con đẻ ra/ổ., số con để nuôi/ổ, khối lượng sơ sinh/ổ có ưu thế lai cao; ưu thế lai thấp hơn là các tính trạng số con cai sữa/ổ và khối lượng cai sữa/ổ.Biểu hiện ưu thế lai của F1 (YL) là trái ngược so với F1 (LY)
Bảng 2.4 Ưu thế lai về khả năng sinh sản của hai tổ hợp lai: đực Y × nái L và ngược lại
Các chỉ tiêu Y
Thuần
L Thuần
F 1 (LY)
F 1
(YL)
ƯTL
F 1 (%)
ƯTL
F 1 (YL) (%)
ƯTL
F 1 (LY) (%)
SCSS/ổ (con) 9,90 9,94 8,91 11,65 6,65 – 4,13 17,44 SCSS để nuôi (con) 9,24 8,85 8,49 10,35 4,15 – 6,14 14,43 SCCS/ổ (con) 9,48 8,44 8,68 9,35 0,61 – 3,13 4,35 KLSS/ổ (kg) 13,24 12,90 13,00 14,21 4,09 – 0,54 8,72 KLSS/con (kg) 1,48 1,50 1,57 1,39 – 0,67 5,37 – 6,71 KLCS/ổ (kg) 56,06 51,87 54,45 54,69 1,12 0,90 1,34 KLCS/con (kg) 5,95 6,17 6,22 5,75 – 1,24 2,64 – 5,12
Nguồn: Đặng Vũ Bình và ctv (2005)
Qua nghiên cứu của Khuất Chi Mai (2009), được trình bày ở bảng 2.5 sau khi khảo sát trên 425 ổ heo lai gồm: 140 ổ lai Hampshire (Ham), 145 ổ lai Đại Bạch (ĐB) và 140 ổ lai Pietrain (Pie), với heo mẹ là con lai hai máu Đại Bạch × Landrace
và heo bố tương ứng là Ham, ĐB, Pie nhận thấy:
– Ít có sai khác giữa heo con của các giống heo bố khác nhau Giống của heo bố không tác động đến số con sơ sinh/ổ, số con chết lưu hoặc thai gỗ
– Heo con của các công thức lai có khối lượng sơ sinh và cai sữa tương nhau – Heo lai 3 máu có tỷ lệ sống cao trong 24h đầu sau khi sinh, không có sai khác
rõ rệt về sức sống giữa các giống
Trang 25– Khả năng tăng trọng của heo con: qua theo dõi 708 heo con (234 lai Ham, 240 con lai ĐB và 234 con lai Pie) thấy rằng: kiểu di truyền không tác động đến tỷ lệ sinh trưởng trong 3 tuần đầu Nhưng ở tuần thứ 3, heo con lai Ham và ĐB lớn nhanh hơn heo con lai Pie
– Mức độ ăn được tương tự nhau ở các kiểu di truyền Con lai Pie có chuyển hóa thức ăn tốt hơn Con lai 3 máu đều khỏe mạnh Không có sai khác giữa các kiểu di truyền về số heo con bị bệnh
Bảng 2.5 Ảnh hưởng của giống đến năng suất sinh sản của ba giống heo lai Hampshire, lai Đại Bạch và lai Pietrain
Số con sơ sinh còn sống 11,15 11,05 11,27 0,901 Bình quân KL heo con sau 24h (kg) 1,55 1,49 1,56 0,167 Bình quân KL heo con khi cai sữa (kg) 8,10 7,90 8,00 0,499
Số con chết trong 24h sau sinh 0,65 1,10 0,48 < 0,001
Số con chết sau 24h – cai sữa 0,71 0,59 0,91 0,117 Tăng trọng toàn bộ (g/con/ngày) 303 298 289 > 0,050 Tăng trọng tuần thứ 3 (g/con/ngày) 457 462 392 < 0,001
Hệ số chuyển hóa thức ăn 1,15 1,19 1,13 < 0,050
Tỷ lệ heo bệnh 0,73 3,70 0,67 0,013
Nguồn: Khuất Chi Mai (2009)
Theo Phan Xuân Hảo (2009), năng suất sinh sản của các tổ hợp lai giữa nái Landrace, Yorkshire và F1 (LY) phối với đực lai PiDu là tương đối cao và ổn định
Sự khác biệt về số con/ổ và khối lượng/con giữa các tổ hợp lai 3 và 4 máu là không
rõ ràng Các con lai có sự tham gia của đực lai PiDu có sức sinh trưởng tương đối cao Sử dụng đực lai PiDu phối với nái ngoại thuần và nái ngoại lai có thể duy trì được khả năng sinh sản cao và con lai sinh trưởng tốt
2.5 ẢNH HƯỞNG CỦA CHĂM SÓC – NUÔI DƯỠNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI
2.5.1 Nuôi dưỡng và chăm sóc heo nái hậu bị
Việc nuôi dưỡng, chăm sóc heo nái hậu bị phải đúng kỹ thuật, đảm bảo heo không được quá mập hoặc quá ốm Vì quá mập sẽ gây nên hiện tượng nâng, còn quá gầy sẽ gây nên hiện tượng không động dục hay chậm động dục hoặc động dục không đều đặn, giảm khả năng sinh sản, hay tốc độ sinh trưởng chậm không đủ tiêu chuẩn phối giống (mặc dù đã đến tuổi phối giống) Cho nên việc nuôi dưỡng và chăm sóc heo nái hậu bị rất quan trọng
Trang 262.5.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng của heo nái hậu bị
Ø Nh cầu năng ượng:
Năng lượng trong thức ăn của heo được tiếp nhận và phân bố theo sơ đồ sau:
] Nhu cầu năn ượng cho heo nái hậu bị (t n heo năng ượng ra đổi (ME) : Theo Nguyễn Quang Linh và ctv (2009), ME = Năng lượng duy trì (ME m ) + Năng lượng tăng trọng (ME p )
ME m = 0,5 MJDE W 0,75
MEp bao gồm:
Năng lượng cho sinh trưởng của heo hậu bị chủ yếu tăng trọng ME g = Năng lượng tích luỹ tổ chức nạc + Năng lượng tích luỹ tổ chức mỡ Khi tính toán năng
lượng để tích lũy vào nạc và mỡ như sau:
Để tích luỹ được 1 kg tổ chức nạc, cần cung cấp 15 MJDE từ thức ăn
Để tích luỹ được 1 kg tổ chức mỡ cần cung cấp 50 MJDE từ thức ăn
Ví dụ: Tính lượng thức ăn cần thiết phải cung cấp hàng ngày cho 1 heo nái hậu
bị có khối lượng 60 kg (W 0,75 = 21,6 kg), tăng trọng 600 g/ngày (trong đó tăng trọng của tổ chức nạc là 400 g/ngày) Biết rằng giá trị nhiệt năng chứa trong 1 kg thức ăn = 13 MJDE
Tính: Năng lượng duy trì = 0,5 MJDE × 21,6 kg = 10,8 MJDE
Năng lượng tích lũy nạc = 15 MJDE × 0,4 kg = 6 MJDE
NL trong phân (FE)
NL thô (GE)
NL tiêu hóa (DE)
NL trong nước tiểu
(UE)
NL trao đổi (ME)
Nhiệt tăng tiêu chuẩn
(HI)
NL thuần (NE)
NL thuần cho sản xuất
Trang 27Năng lượng tích lũy mỡ = 50 MJDE × 0,2 kg = 10 MJDE
Vậy nhu cầu năng lượng cung cấp cho heo nái hậu bị trong trường hợp này là: 10,8 MJDE + 6 MJDE + 10 MJDE = 26,8 MJDE Lượng thức ăn cần cung cấp hằng ngày: 26,8 MJDE/13 MJDE = 2,06 kg/ngày
Theo hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kì (2000), heo nái hậu bị cần được cho
ăn tự do tới khi được chọn vào đàn giống, với khối lượng cơ thể khoảng 100 kg, cho phép đánh giá được tỷ lệ phát triển và tích lũy nạc tiềm năng Sau khi đã được chọn vào đàn giống, năng lượng ăn vào cần được hạn chế nhằm đạt được khối lượng yêu cầu khi sử dụng làm giống
] Nhu cầu năng ượng duy rì:
Theo Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng (2002), nhu cầu năng lượng duy trì được tính theo đơn vị năng lượng trao đổi (ME) gọi tắt là MEm Năng lượng duy trì được tính cho khối lượng cơ thể (KLCT) sinh lý theo quy ước KLCT mũ ¾ hay 0,75 Cho đến nay, các tổ chức khoa học của khối EU, Anh, Pháp, Mỹ… thường sử dụng công thức KLCT sinh lý là BW0,75
– Phổ biến nhất hiện nay, ước tính để duy trì 1 kg BW0,75/ngày cần 106 Kcal ME cho heo hậu bị:
ME m = 106 Kcal ME/kg BW 0,75 /ngày
– Đối với heo nái chửa, 60 – 80% nhu cầu năng lượng là dành cho duy trì Hội nghiên cứu quốc gia Hoa Kì (2000), khuyến cáo:
– Đối với nái nuôi con lứa đầu và lứa kiểm định, nhiều tác giả đưa ra mô hình tính khác nhau:
+ Nái đẻ lứa đầu và nái kiểm định:
+ Đối với nái nuôi con lứa thứ 3, thứ 4 trở đi
] Nh cầu năng ượng cho ăng rưởng hịt nạc và mỡ (ME G )
+ Nhu cầu năng lượng cho tích lũy nạc (protein) theo Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng (2002), biến động từ 6,8 – 14,0 Mcal ME/ngày
+ Nhu cầu năng lượng cho tích lũy mỡ (tăng trưởng) theo hội đồng nghiên cứu
Trang 28Trung bình ME LG = 12,9 Mcal ME/kg BW 0,75 /ngày (5) Công thức (4), (5) áp dụng cho các giống heo ngoại, với tỷ lệ nạc cao Đối với các giống heo cho tỷ lệ nạc thấp và khối lượng cơ thể nhỏ có thể áp dụng công thức:
NL cho duy trì = 0,5 MJDE = 0,114 Mcal ME/kg W 0,75
NL cho tích lũy nạc = 15 MJDE/kg nạc/ngày = 3,4 Mcal ME/kg
NL cho tích lũy mỡ = 50 MJDE/kg mỡ/ngày = 11,35 Mcal ME/kg
] Nh cầu năng ượng cho chống ạnh:
Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng (2002), nhiệt độ tới hạn trong chăn nuôi heo choai và heo lớn là 180C, ở mức đó mọi hoạt động sinh lý của heo là tốt nhất, hiệu quả nhất Nếu T0C thấp hơn mức đó, cứ 10C là tiêu hao mất 0,00406 Mcal
W0,75/ngày
Ø Nh cầu protein:
Theo Nguyễn Quang Linh và ctv (2009), protein đóng vai trò rất quan trọng trong dinh dưỡng heo nái hậu bị, vì heo nái hậu bị đang nằm trong giai đoạn sinh trưởng mạnh (đặc biệt là hệ cơ bắp) và hoàn thiện các cơ quan tổ chức bên trong cơ thể nên nhu cầu protein đòi hỏi cao Nhu cầu protein cho heo nái hậu bị được tính
toán như sau: Nhu cầu protein của heo nái hậu bị = Nhu cầu protein duy trì + Nhu
cầu protein tăng trọng
– Protein duy trì: là lượng protein để bù đắp cho sự hao hụt protein của cơ thể do quá trình chuyển hóa protein Khoảng 15% khối lượng sống của cơ thể là proein trong đó 6 – 13% protein được tham gia vào chu chuyển hàng ngày Lượng protein mất đi khoảng 6% so với lượng protein tham gia vào quá trình chu chuyển Lượng protein tham gia chu chuyển tỷ lệ với khối lượng của heo như sơ đồ 2.2
Sơ đồ 2.2 Protein tham gia chu chuyển ở heo nái hậu bị qua các giai đoạn
Khối lượng heo
% protein tham gia chu chuyển trong cơ thể heo
Nguồn: Nguyễn Quang Linh và ctv (2009)
Trang 29Do đó, số protein duy trì duy trì cho heo nái hậu bị có khối lượng 20 kg là: 015 × 0,13 × 0,06 = 0,0012 kg = 1,2 g protein/kg thể trọng Tương tự, protein duy trì cho heo 40 kg là 0,99 g, heo 50 kg 0,9 g, heo 60 kg là 0,8 g, heo 80kg là 0,72 g, heo 95
kg là 0,63 g protein/kg thể trọng Nhu cầu protein cho tăng trọng phụ thuộc vào khả năng tích lũy tổ chức nạc hàng ngày của heo Dựa vào thành phần hóa học của cơ thể heo (trong cơ thể heo 15% protein, trong tổ chức nạc là 22% protein) Từ đó dựa vào khả năng tăng trọng hằng ngày của heo, ta sẽ xác định được lượng protein tích lũy hằng ngày Từ nhu cầu protein cho duy trì và protein cho tăng trọng ta sẽ xác định được lượng protein Căn cứ vào giá trị sinh vật học (BV) của protein, ta sẽ xác định được lượng protein tiêu hóa Căn cứ vào tỷ lệ tiêu hóa protein, ta sẽ xác định được lượng protein thô cần cung cấp hằng ngày cho heo Dựa vào lượng thức ăn cần cung cấp hằng ngày cho heo, ta sẽ xác định được hàm lượng protein thô thích hợp trong khẩu phần
Bảng 2.6 Nhu cầu dinh dưỡng cho heo nái hậu bị ngoại/1 ngày đêm
Nguồn: Nguyễn Quang Linh và ctv (2009)
Ví dụ: Xác định nhu cầu protein thô cần cung cấp hằng ngày cho heo nái hậu bị
có khối lượng 50 kg, tăng trọng 600 g/ngày Biết rằng giá trị BV của protein là 65%, tỷ lệ tiêu hóa của protein là 80%
Tính: Protein nhu cầu = protein duy trì + protein tăng trọng
Trang 30riêng Khoáng đa lượng chủ yếu là các chất Ca và P, tham gia vào quá trình tạo nên
bộ xương, răng cho cơ thể Na và K tham gia vào dẫn truyền xung động thần kinh Chất khoáng tham gia duy trì tính ổn định nội môi trong cơ thể, duy trì áp suất thẩm thấu, cân bằng độ toan và kiềm của máu, sự bài tiết của tuyến tiêu hóa, xúc tác các phản ứng sinh học trong cơ thể, hoạt hóa các men, hormone… Vì vậy đảm bảo nhu cầu về khoáng cho gia súc là rất quan trọng, nhất là nái hậu bị Khoáng vi lượng có vai trò đặc biệt quan trọng như cung cấp thành phần để tham gia cấu tạo nên các tổ chức, đặc biệt các dịch trong cơ thể của heo, ví dụ như Fe là thành quan trọng của Hemoglobin trong máu, đóng vai trò quan trọng trong chức năng hô hấp của mô bào Khoáng Se có vai trò quan trọng và tác động đến hệ thống miễn dịch của tế bào Khoáng Cr có vai trò tạo nên màu sắc của thân thịt tạo ra sức hấp dẫn với người tiêu dùng… (Lê Minh Hoàng, 2002)
Ø Nh cầu vi amin:
Theo Nguyễn Quang Linh và ctv (2009), vitamin đóng vai trò hết sức quan trọng trong trao đổi chất của cơ thể, trong hấp thu các chất dinh dưỡng và kích thích quá trình sinh trưởng và sinh sản Đặc biệt là các vitamin quan trọng A, D, E, B, C, K Khi cung cấp dinh dưỡng cho heo nái hậu bị, cần đảm bảo đủ số lượng, cân đối dinh dưỡng và cung cấp lượng thức ăn hằng ngày thích hợp để heo không quá mập hoặc quá ốm
2.5.1.2 Nuôi dưỡng – chăm sóc heo nái hậu bị
† Yêu cầu cần đạt: heo nái hâu bị trước khi phối giống phải đạt thể trạng phối
giống, nghĩa là không quá mập hoặc quá ốm Muốn vậy cần chú ý các yếu tố sau: – Giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần hợp lý cho từng giai đoạn
– Mức ăn cho heo hằng ngày hợp lý theo từng giai đoạn
† Chế độ dinh dưỡng trong khẩu phần thức ăn cho heo nái hậu bị qua các giai đoạn: từ nhu cầu của các chất dinh dưỡng bảng 2.7 sẽ khái quát chung và tính toán thành tiêu chuẩn ăn của heo
Trang 31Bảng 2.7 Tiêu chuẩn ăn của heo nái hậu bị tính theo NRC, 1998
Tăng trọng tính theo nạc
(g/ngày) 300 325 350 300 325 350
Khối lượng trung bình (kg) 65 65 65 100 100 100
DE có trong 1 kg thức ăn (Kcal) 3400 3400 3400 3400 3400 3400
ME có trong 1 kg thức ăn (Kcal) 3265 3265 3265 3265 3265 3265
DE ăn vào trong ngày (Kcal) 8165 8165 8165 9750 9750 9750
ME ăn vào trong ngày (Kcal) 7840 7840 7840 9360 9360 9360
Lượng thức ăn ăn vào (kg) 2,40 2,40 2,40 2,865 2,865 2,865
Bảng 2.8 Tiêu chuẩn ăn cho heo nái hậu bị nội, ngoại
Chỉ tiêu ĐV Heo nái hậu bị nội Heo nái hậu bị ngoại
Khối lượng của heo kg 6 - 5 15 - 25 25 - 40 11 – 30 30 - 45 50 - 100 Lượng vật chất khô kg 0,60 0,96 1,20 1 - 1,2 1,8 2,4 Đơn vị thức ăn ĐV 0,75 1,2 1,5 1,25 - 1,5 2,25 3,0 Protein tiêu hóa g 65 110 120 150 – 180 225 280
Ca g 4,8 7,7 8,4 8,0 10,6 17,0
P g 3,5 5,8 6,0 5,0 9,0 12,0 NaCl g 2,4 5,9 6,0 5,0 9,0 12,0
Nguồn: Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng (2002)
Trang 32Bảng 2.9 Tiêu chuẩn ăn cho heo nái hậu bị ở nước ta
Nguồn: Lê Minh Hoàng (2002)
Bảng 2.10 Định mức ăn cho heo nái hậu bị (con/ngày)
Năng lượng trao đổi
Theo Trần Văn Phùng (2008), đề nghị như sau:
Từ 90 kg đến 10 – 14 ngày trước khi phối giống dự kiến cho ăn 2,0 kg/con/ngày (tương ứng protein thô là 280 g, năng lượng trao đổi ME = 5800 Kcal)
Từ 10 – 14 ngày trước khi phối giống dự kiến cho ăn 2,7 – 3,0 kg/con/ngày (tương ứng protein thô là 378 – 420 g, năng lượng trao đổi ME = 7823 – 8700 Kcal) Mục đích tăng thức ăn nhằm để tăng số trứng rụng để tăng số con sơ sinh/ổ Sau phối giống cho ăn 1,8 – 2,0 kg/con/ngày bằng loại thức ăn nuôi heo nái chửa (tương ứng protein thô là 252 – 280 g, năng lượng trao đổi ME = 5220 – 5900 Kcal)
Đối với heo nái nội, cho ăn khoảng 80% nhu cầu của heo nái ngoại
† Chế độ ăn: Từ 20 – 30 kg, ngày cho ăn 4 bữa Từ 32 – 65 kg, ngày cho ăn 3
bữa Từ 66 kg đến khi phối giống, ngày cho ăn 2 bữa
† Ảnh hưởng của chế độ ăn không hợp lý đối với heo nái hậu bị:
Trang 33– Khẩu phần không đảm bảo dinh dưỡng, mức dinh dưỡng cung cấp không đủ thì giảm khả năng tăng trọng, kéo dài ngày đạt khối lượng phối giống lần đầu dẫn đến kéo dài tuổi đẻ lứa đầu
– Trường hợp cho ăn quá mức so với nhu cầu (đặc biệt giai đoạn từ 80 – 120 kg đối với heo ngoại, 55 kg trở lên đối với heo nội) làm cho heo quá mập, khó động dục hoặc động dục bất thường, tỷ lệ thụ thai kém
2.5.1.3 Kỹ thuật quản lý heo nái hậu bị
Theo Nguyễn Quang Linh và ctv (2009), đề nghị như sau:
† Bố trí heo nái hậu bị trong ô chuồng nuôi: heo cái nuôi nhốt chung trong ô sẽ
tốt hơn nuôi riêng biệt từng con với diện tích 1 – 1,2 m2/con (giai đoạn nhỏ) và 3 m2(giai đoạn lớn)
† Kích thích heo nái hậu bị động dục sớm: khi heo cái ở độ tuổi khoảng 5 – 6
tháng hằng ngày cho heo đực tiếp xúc 2 lần, mỗi lần khoảng 10 – 15 phút để kích thích heo nái động dục sớm hơn Heo đực giống bài tiết nước bọt có chứa pheromon, có tác dụng kích thích heo cái động dục sớm hơn Tác dụng của chất pheromon (3 α andiosterol) còn gọi là “hiệu ứng đực giống” Những đực giống dưới
10 tháng tuổi chưa hoặc ít có tác dụng đến việc kích thích phát dục ở heo nái vì lượng pheromon chưa tiết ra nhiều
† Theo dõi để phát hiện heo động dục lần đầu: ghi chép đầy đủ để nắm chắc các
diễn biến của chu kỳ động dục Từ đó xây dựng kế hoạch phối giống và lên lịch tăng mức ăn trước khi phối giống Để phát hiện heo động dục chính xác hơn cần kết hợp quan sát bằng mắt thường ngày 2 lần và dùng đực thí tình Dùng sổ ghi chép ngày động dục, thời gian động dục kéo dài như vậy mới nhận xét được heo động dục có đều hay không để quyết định là phối giống hay loại thải Nếu heo động dục bất thường, thời gian động dục kéo dài giữa các chu kỳ, động dục không đều hoặc động dục nhưng không chịu đực… với những trường hợp như vậy nên loại thải và không nên phối ép
† Tuổi và thời gian phối giống: đối với heo cái hậu bị, cần kết hợp đồng thời 3
yếu tố gọi là “yếu tố cần và đủ”:
– Tuổi phối giống: từ 7,5 – 8,5 tháng, trung bình phối lúc 8 tháng tuổi
– Khối lượng phối giống: trung bình từ 115 – 120 kg (heo ngoại, heo lai), từ 45 –
50 kg (heo nội)
– Phối giống: không phối ngay ở lần động dục thứ nhất, mà sẽ phối cho heo cái
ở lần động dục thứ hai hoặc thứ ba
† Thú y đối với heo nái hậu bị: