NGUYỄN MAI KIM LONG ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ CỎ ĐẬU Centrocema pubescens VỚI CỎ LÔNG TÂY VÀ PHƯƠNG THỨC CHO ĂN TRONG KHẨU PHẦN LÊN SỰ TIÊU THỤ DƯỠNG CHẤT VÀ TĂNG TRỌNG CỦA THỎ THỊT Luận
Trang 1NGUYỄN MAI KIM LONG
ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ CỎ ĐẬU
(Centrocema pubescens) VỚI CỎ LÔNG TÂY VÀ
PHƯƠNG THỨC CHO ĂN TRONG KHẨU PHẦN
LÊN SỰ TIÊU THỤ DƯỠNG CHẤT VÀ
TĂNG TRỌNG CỦA THỎ THỊT
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, 5/2011
Trang 2Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ CỎ ĐẬU
(Centrocema pubescens) VỚI CỎ LÔNG TÂY VÀ
PHƯƠNG THỨC CHO ĂN TRONG KHẨU PHẦN
LÊN SỰ TIÊU THỤ DƯỠNG CHẤT VÀ
TĂNG TRỌNG CỦA THỎ THỊT
PGS TS Nguyễn Thị Kim Đông Nguyễn Mai Kim Long
MSSV: LT09055Lớp: CNTY K35
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, 5/2011
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN CHĂN NUÔI
-o0o -ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ CỎ ĐẬU
(Centrocema pubescens) VỚI CỎ LÔNG TÂY VÀ
PHƯƠNG THỨC CHO ĂN TRONG KHẨU PHẦN
LÊN SỰ TIÊU THỤ DƯỠNG CHẤT VÀ
TĂNG TRỌNG CỦA THỎ THỊT
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2011 Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2011
NGUYỄN THỊ KIM ĐÔNG ………
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2011
DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
……….
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ chương trình luận văn nào trước đây
Cán bộ hướng dẫn Người thực hiện
PGS.TS Nguyễn Thị Kim Đông Nguyễn Mai Kim Long
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Đầu tiên tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình tôi Cha, mẹ đã sinh thành, dưỡng dục
và tạo mọi điều kiện cho tôi học tập
Tôi cũng xin chân thành cám ơn PGS.TS Nguyễn Thị Kim Đông và PGS.TS Nguyễn Văn Thu đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến các quý thầy cô trong Bộ môn chăn nuôi đặt biệt là thầy Đỗ Võ Anh Khoa và Cô Nguyễn Thị Hồng Nhân đã tận tình dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường
Tôi xin chân thành cám ơn Thạc sĩ Trương Thanh Trung, Kỹ sư Đặng Hùng Cường,
Kỹ sư Nguyễn Thanh Vân và Kỹ sư Nguyễn Văn Trường đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm thí nghiệm
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn tất cả các bạn học cùng lớp, các anh chị em trong trại thỏ và phòng thí nghiệm đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin cám ơn tất cả mọi người!
Trang 6ADF: xơ acid
ME: năng lượng trao đổi
TLTH: tỉ lệ tiêu hóa
CĐ: cỏ đậu
CLT: cỏ lông tây
BĐN: bã đậu nành
FCR: hệ số chuyển hóa thức ăn
PTCĂ: phương thức cho ăn
TLĐTN: trọng lượng đầu thí nghiệm
TLCTN: trọng lượng cuối thí nghiệm
Trang 7MỤC LỤC Trang
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 LỊCH SỬ VỀ THỎ 2
2.2 SƠ LƯỢC VỀ MỘT SỐ GIỐNG THỎ TRÊN THẾ GIỚI 2
2.2.1 Giống Newzealand white 3
2.2.2 Giống thỏ Chinchilla 3
2.2.3 Giống thỏ California 3
2.2.4 Giống thỏ Angora 3
2.3 MỘT SỐ GIỐNG THỎ PHỔ BIẾN Ở VIỆT NAM 6
2.3.1 Thỏ nội thuần chủng 6
2.3.2 Giống thỏ nhập ngoại 6
2.3.3 Các giống thỏ lai 6
2.4 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 7
2.4.1 Sự đáp ứng của cơ thể với khí hậu 7
2.4.2 Thân nhiệt - Nhịp tim - Nhịp Thở 8
2.4.3 Đặc điểm về khứu giác 8
2.4.4 Đặc điểm về thính và thị giác 8
2.4.5 Đặc điểm tiêu hóa ở thỏ 8
2.5 VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA CỦA THỎ 9
2.5.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan tiêu hóa 9
2.5.2 Sự phát triển đường tiêu hóa của thỏ theo lứa tuổi 10
2.5.3 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa 10
2.5.4 Hiện tượng ăn phân của thỏ (Caecotrophia) 12
2.6 VÀI NÉT VỀ TIÊU HÓA DƯỠNG CHẤT CỦA THỎ 13
2.6.1 Sự tiêu hóa protein 13
2.6.2 Xơ và sự biến dưỡng ở manh tràng 14
Trang 82.6.4 Sự tiêu hóa chất béo 17
2.6.5 Sự tiêu hóa năng lượng 17
2.7 THỨC ĂN 18
2.7.1 Cỏ lông tây 18
2.7.2 Cỏ đậu biếc (Centrocema pubescens) 19
2.7.4 Đậu nành ly trích 19
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 21
3.1 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 21
3.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.1.2 Chuồng trại thí nghiệm 21
3.1.3 Động vật thí nghiệm 21
3.1.4 Thức ăn thí nghiệm 21
3.2 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 23
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 23
3.2.2 Phương pháp tiến hành 23
3.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 24
3.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 24
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 26
4.1 GIAI ĐOẠN THÍ NGHIỆM NUÔI DƯỠNG 26
4.1.1 Thành phần hóa học của thực liệu thức ăn sử dụng trong giai đoạn thí nghiệm nuôi dưỡng 26
4.1.2 Lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ của thỏ trong giai đoạn thí nghiệm nuôi dưỡng 26
4.1.3 Tăng trọng, hệ số chuyển hóa thức ăn và hiệu quả kinh tế của thỏ thí nuôi dưỡng 30
4.2 THÍ NGHIỆM TIÊU HÓA 35
4.2.1 Thành phần hóa học của thực liệu thức ăn sử dụng trong giai đoạn thí nghiệm tiêu hóa dưỡng chất 35
4.2.2 Lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ của thỏ trong giai đoạn thí nghiệm tiêu hóa 35
Trang 9CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 KẾT LUẬN 40
5.2 ĐỀ NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
TrangBảng 1: So sánh tỷ lệ dung tích các thành phần đường tiêu hóa của các gia súc
(%) 9Bảng 2: Độ dài các đoạn ruột thỏ trưởng thành 10Bảng 3: Thành phần hóa học của hai loại phân thỏ 13Bảng 4: Tỷ lệ tiêu hóa(%) của thành phần vách tế bào thức ăn ở một số vật nuôi 15Bảng 5: Ảnh hưởng của nguồn xơ trong khẩu phần đến thời gian lưu giữ và trọnglượng của manh tràng 16Bảng 6: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ lông tây (%) 18Bảng 7: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của bã đậu nành 19Bảng 8: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của đậu nành ly trích (%) 19Bảng 9: Thành phần dinh dưỡng phụ phẩm khoai lang (%) 20Bảng 10: Thành phần thực liệu thức ăn của thí nghiệm 23Bảng 11: Thành phần hóa học của thực liệu thức ăn sử dụng trong giai đoạn thínghiệm nuôi dưỡng (%DM) 26Bảng 12: Lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ của thỏ trong giai đoạn thí nghiệmnuôi dưỡng (g/con/ngày) 27Bảng 13: Tăng trọng, hệ số chuyển hóa thức ăn và hiệu quả kinh tế thỏ thí nghiệm 31Bảng 14: Thành phần hóa học của thực liệu thức ăn sử dụng trong giai đoạn thínghiệm tiêu hóa dưỡng chất (%DM) 34Bảng 15: Lượng thức ăn và dưỡng chất ăn vào của thỏ trong thí nghiệm tiêu hóa 35Bảng 16: Tỉ lệ tiêu hóa dưỡng chất và nitơ tích lũy của thỏ trong thí nghiệm tiêu hóa 37
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Thỏ NewZealand trắng 4
Hình 2: Thỏ Chinchilla 4
Hình 3: Thỏ California 5
Hình 4: Thỏ Angora 5
Hình 5: Cỏ lông tây 22
Hình 6: Cỏ đậu biếc (Centrocema pubescens) 22
Hình 7: Đậu nành li trích 22
Hình 8: Phụ phẩm khoai lang 22
Hình 9: Bã đậu nành 22
Hình 10: Cỏ đậu bằm 41
Hinh 11: Cỏ long tây bằm 41
Hinh 13: Thỏ ở nhân tố tách rời 41
Hình 14: Thỏ ở nhân tố trộn 41
Hình 15: Thí nghiệm tiêu hóa dưỡng chất 41
Trang 12DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Lượng cỏ đậu và cỏ lông tây ăn vào 28
Biểu đồ 2: Lượng DM, CP, NDF ăn vào 29
Biểu đồ 3: Trọng lượng cuối và tăng trọng (g/con/ngày) của thỏ thí nghiệm 32
Biểu đồ 4: Tổng chi, tổng thu, chênh lệch thu-chi 33 Biểu đồ 5: Mối quan hệ giữa CP tiêu thụ và tăng trọng của thỏ trong thí nghiệm34
Trang 13TÓM LƯỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của tỉ lệ cỏ đậu (Centrocema pubescens) với cỏ lông tây và
phương thức cho ăn trong khẩu phần lên sự tiêu thụ dưỡng chất và tăng trọng của thỏ thịt” được tiến hành tại trại chăn nuôi số 474C/18, Khu vực Bình An,
Phường Long Hòa, Quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ.
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu nhân tố: nhân tố 1 là 2 phương thức cho ăn tách rời giữa cỏ đậu và cỏ lông tây, nhân tố 2 là bằm và trộn cỏ đậu với cỏ lông tây Khẩu phần thí nghiệm lần lượt theo tỉ lệ cỏ đậu và cỏ lông tây là 20:80; 40:60; 60:40; 80:20 Thí nghiệm được lập lại 3 lần Mỗi đơn vị thí nghiệm gồm: 2 thỏ (1 đực và1 cái), được bố trí vào 1 ngăn của ô chuồng lồng.
Thí nghiệm gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn thí nghiệm nuôi dưỡng tiến hành trong 70 ngày.
Giai đoạn thí nghiệm tiêu hóa dưỡng chất tiến hành trong 6 ngày.
Kết quả thu được:
Thỏ được nuôi bằng khẩu phần các khẩu phần có tỉ lệ cỏ đậu tăng dần và cỏ lông tây giảm dần đã cải thiện tăng trọng và trọng lượng cuối.
Ở phương thức cho ăn tách rời có hàm lượngDM và CP tiêu thụ cao hơn phương thức trộn.
Các khẩu phần có tỉ lệ cỏ đậu tăng dần, cỏ lông tây giảm dần cóì lượng CP ăn vào cao hơn.
Phương thức cho ăn tách rời cho trọng lượng cuối và tăng trọng cao khi tăng khi tăng mức độ cỏ đậu trong khẩu phần.
Khẩu phần CĐ80-CLT20 cho tăng trọng, trọng lượng cuối và hiệu quả kinh tế cao nhất.
Trang 14Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển và mức sống người dân ngày càng được nâng cao nên nhu cầu ăn những món ngon và bổ dưỡng được ưa chuộng nhiều Trong đó thịt thỏ là một nguồn thực phẩm có thể chế biến ra nhiều món ăn để đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng Vài năm trở lại dây, tình hình dịch bệnh trên vật nuôi diễn biến phức tạp (như dịch cúm ở gia cầm, dịch tai xanh trên heo hay dịch lở mồm lông móng trên trâu bò…) nên nghề nuôi thỏ đã được người chăn nuôi quan tâm đến nhiều hơn
Thỏ là vật nuôi có nhiều ưu thế: sinh sản nhanh, mau lớn, thức ăn dễ tìm… Thịt thỏ
có giá trị dinh dưỡng, nhất là đạm, ít mỡ, lượng cholesterol thấp phù hợp với nhiều lứa tuổi (Nguyễn Quang Sức, 2000)
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có rất nhiều loại thức ăn có thể sử dụng trong khẩu phần để nuôi thỏ như cỏ lông tây, cỏ họ đậu, rau muống, rau lang, bìm bìm,
địa cúc, bã đậu nành, bã bia Trong đó cỏ đậu biếc (Centrocema pubescens) là một
loại thức ăn xanh giàu đạm (22% CP) rất thích hợp để nuôi thỏ Do đó chúng tôi đã
tiến hành thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của tỉ lệ cỏ đậu (Centrocema pubescens) với cỏ lông tây và phương thức cho ăn trong khẩu phần lên sự tiêu thụ dưỡng chất và tăng trọng của thỏ thịt“ Với mục tiêu:
Xác định hiệu quả của phương cách cho ăn: tách riêng hay trộn các thực liệu
Xác định mức độ tối ưu của tỉ lệ cỏ đậu với cỏ lông tây trong khẩu phần nuôi thỏ.Xác định tỉ lệ tiêu hóa dưỡng chất của các nghiệm thức trong thí nghiệm
Xác định nitơ tích lũy của thỏ ở các khẩu phần thí nghiệm
Xác định hiệu quả kinh tế của các khẩu phần nuôi thỏ
Trang 15Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 LỊCH SỬ VỀ THỎ
Có nhiều loài thỏ khác nhau sống ở nhiều nơi trên thế giới Người ta đã tìm thấy những mẫu xương thỏ hóa thạch ước lượng khoảng 30-40 triệu năm Những loài thỏ nhà ngày nay là hậu duệ của những loài thỏ hoang dã ở Châu Âu (Thoại Sơn, 2006).Vào thế kỷ XI, người ta đã nuôi thỏ ở nước Anh và La Mã với mục đích lấy lông và
ăn thịt Họ nuôi chúng trong những vùng đất rộng lớn có hàng rào bao quanh Những giống thỏ này được phối giống và sống như những loài thỏ hoang dã, nhưng chỉ trong phạm vi hàng rào (Thoại Sơn, 2006)
Người Pháp đã nuôi khá nhiều thỏ trong trang trại và đã lai tạo ra nhiều loài thỏ hiện nay Khoảng 900 năm trước, người ta đã đưa thỏ đi từ Pháp đến Anh Những người nuôi thỏ đã trông coi chúng rất chu đáo, cho chúng ăn và bảo vệ chúng khỏi những động vật ăn thịt khác (Thoại Sơn, 2006)
Những năm đầu thế kỷ XVIII, số lượng số lượng các loài thỏ ngày càng nhiều hơn
Do đó, những người chăn nuôi trên khắp nước Anh đã dùng hàng rào cây làm những bức tường bao quanh trên những cánh đồng rộng lớn để nuôi thỏ Hàng rào
đã cung cấp môi trường sống lý tưởng để thỏ có thể đào hang và có một cánh đồng
“ thực phẩm” gần nhà chúng Không có gì phải ngạc nhiên khi thấy số lượng loài thỏ ngày càng tăng lên (Thoại Sơn, 2006)
Vào những năm 1990, thỏ bắt đầu trở nên phổ biến ở nước Mỹ Loài thỏ rừng ở nước Bỉ đã tạo nên một cơn sốt về việc nuôi thỏ và người ta đã nhập ào ạt giống thỏ này vào nước Mỹ Đây là một trong những giống thỏ phổ biến và có số lượng nhiều nhất hiện nay trên thế giới (Thoại Sơn, 2006)
Vào năm 1910, Hiệp hội nuôi thú cảnh ở Mỹ đã xếp loại được 183 loài thỏ Đây là lần đầu tiên người ta tổng kết được tất cả các giống thỏ vào thời kỳ ấy
Ngày nay, thỏ là động vật không chỉ cung cấp thịt và lông cho con người mà còn được nuôi làm cảnh rất phổ biến Chúng là một trong những loài thú cưng mà con người rất thích nuôi, đứng hàng thứ ba sau chó và mèo (Thoại Sơn, 2006)
2.2 SƠ LƯỢC VỀ MỘT SỐ GIỐNG THỎ TRÊN THẾ GIỚI
Trên thế giới hiện nay có những nước nghề chăn nuôi thỏ rất phát triển, bằng công nghệ hiện đại họ nuôi thỏ hướng thịt hoặc kiêm dụng thịt Thỏ được nuôi theo một
hệ thống khép kín Công tác giống cũng được làm rất tốt Hiện nay có gần 90 giống thỏ được nuôi trên thế giới (Việt Chương, 2003), trong đó một số giống thỏ hướng thịt được nuôi phổ biến là:
Trang 162.2.1 Giống Newzealand white
Giống thỏ Newzealand white nhập nội vào nước ta từ năm 1978, được nuôi ở trung tâm giống thỏ Sơn Tây (Viện chăn nuôi quốc gia) đã qua hàng chục đời và đã thích nghi với môi trường khí hậu Việt Nam Có đặc điểm: lông toàn thân màu trắng, lông dày, độ dài lông trung bình 7-10mm, mắt đỏ màu ngọc, tầm vóc trung bình Lúc trưởng thành có khối lượng trung bình 4,5–5 kg (Đinh Quang Bình & Nguyễn Quang Sức, 1999)
Mổi năm đẻ trung bình 5-6 lứa, mổi lứa trung bình 6-7 con Thỏ cai sữa thường được nuôi vỗ béo đến 90 ngày tuổi thì giết thịt Như vậy, một con mẹ có thể cho trung bình 50 kg thịt tươi (30-90kg/1 thỏ cái) và 20-30 tấm lông da (Đinh Quang Bình & Nguyễn Quang Sức, 1999)
Trung bình mổi lứa đẻ 6-8 con, có khả năng thích nghi với điều kiện chăn nuôi khác nhau Thỏ có lông màu xanh, lông đuôi trắng pha lẫn xanh đen, bụng màu trắng xám đen (Nguyễn Ngọc Nam, 2002)
2.2.3 Giống thỏ California
Được tạo ra và phát triển từ Mỹ (khoảng năm 1920) từ hai giống Newzealand White
và Himalyans và sau đó có sự tham gia của giống Chinchilla với mục đích tạo ra giống thỏ có chất lượng thịt và len cao Chúng được du nhập lần đầu tiên vào Anh năm 1958 Đây là giống thỏ tạo ra được lợi nhuận cao cho những người nuôi thương phẩm Đặc điểm của giống thỏ này là: có bộ lông màu trắng tuyết, hai tai, mũi, và bốn bàn chân có màu tro hoặc đen Thỏ trưởng thành có trọng lượng 4-4,5kg, con đực 3,6-4,5kg, con cái nặng 3,8-4,7kg Mổi năm đẻ khoảng 5 lứa mổi lứa khoảng 5-
6 con (Nguyễn Ngọc Nam, 2002)
Trang 17Trọng lượng trung bình khoảng 2.75–trên 4kg Thỏ Angora của Anh khoảng 2,75
kg có bộ lông dày, Angora Pháp: 3,6 kg và Angora Đức: >4 kg
Giống Angora có bộ lông trắng và 12 màu lông khác nhau, trong đó giống Angoratrắng là phổ biến nhất (Sandford, 1997)
Hình 1: thỏ Newzealand trắng
Hình 2 : thỏ Chinchilla
Trang 18Hình 4: thỏ Angora Hình 3: thỏ California
Trang 192.3 MỘT SỐ GIỐNG THỎ PHỔ BIẾN Ở VIỆT NAM
2.3.1 Thỏ nội thuần chủng
Nghề nuôi thỏ đã xuất hiện rất lâu ở nước ta, nhân dân chủ yếu sử dụng những giống thỏ quen thuộc, các nhà khoa học gọi đó là giống thỏ nội thuần chủng Nhưng trải qua nhiều thế hệ nuôi thỏ nội không còn giữ được ý nghĩa “thuần chủng” nữa
Bộ lông của thỏ nội không còn thuần nhất về màu sắc Có con màu trắng tuyền có con màu đen tuyền, có con có bộ lông pha tạp giữa hai màu trắng đen Nhiều con lại
có màu xám tro nhạt hoặc sẫm, màu vàng hoặc đốm trắng Màu mắt của thỏ ta cũng không đồng nhất, có con mắt đỏ, có con mắt đen, một số con mắt lại có màu xám Khi hai con thỏ có cùng màu lông, màu mắt giao phối với nhau sẽ cho ra một đàn con với nhiều màu lông, màu mắt khác bố mẹ chúng Biểu hiện này chứng tỏ có sự phân ly và pha tạp về giống (Nguyễn Ngọc Nam, 2002)
Giống thỏ nội hiện nay ở nước ta có đặc điểm là đầu to vừa phải, tai thẳng hơi lệch hình chữ V, thân hình chắc chắn nhưng cổ không vạm vỡ, lưng hơi cong hoặc tròn, bụng to Trọng lượng trung bình khoảng 2,5-3,5kg Ưu điểm là nuôi con rất khéo, khả năng sinh sản tốt Mổi năm đẻ 5-6 lứa, trung bình 6 con /lứa Ở điều kiện khí hậu nước ta chúng có khả năng chịu đựng rất tốt (Nguyễn Ngọc Nam, 2002)
2.3.2 Giống thỏ nhập ngoại
Nhằm cải tiến giống và năng suất, từ năm 1978 nước ta đã tiến hành nhập một số giống thỏ ngoại Giống thỏ trắng Tân Tây Lan Việt Nam (Newzealand White Việt Nam) được nhập nhiều nhất Giống này có nguồn gốc từ Hungary Trong quá trình nuôi dưỡng chọn lọc đàn thỏ đã thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi, khí hậu nước
ta Là giống thỏ có nhiều ưu điểm chúng được nuôi chủ yếu để lấy thịt và cả lấy da.Thỏ Tân Tây Lan Việt Nam có màu lông trắng tuyền, mắt đỏ Trọng lượng trung bình của con trưởng thành từ 4-4,5kg, mỗi năm đẻ từ 5-6 lứa, mỗi lứa từ 5-6 con Thỏ sơ sinh có trọng lượng trung bình 55-60g, thỏ con cai sữa nặng khoảng 500-600g, đến 3 tháng tuổi thỏ nặng khoảng 1,8-2 kg Tỉ lệ thịt xẻ của giống này đạt 54–56% Nhân dân ta rất ưa chuộng giống thỏ Tân Tây Lan Việt Nam Ngoài việc nuôi thuần chủng, nhân dân còn sử dụng để lai kinh tế với thỏ nội để tạo ra giống mới có năng suất cao trong chăn nuôi (Việt Chương, 2003)
2.3.3 Các giống thỏ lai
Năm 1978 cùng với việc nhập ngoại một số giống thỏ, nước ta cũng tiến hành thànhlập Trung Tâm Nghiên Cứu Thỏ Sơn Tây - Hà Nội Sau nhiều năm nghiên cứu lai tạo, trung tâm đã tạo ra một số giống thỏ đen có giá trị kinh tế cao
Trang 20Giống thỏ xám Việt Nam.
Giống thỏ này được lai tạo từ trung tâm giống thỏ thịt Sơn Tây - Hà Nội Phương pháp lai tạo là lai phân tích và chọn lọc nhiều thế hệ Đặc điểm của giống thỏ này là màu lông xám tro hoặc xám ri, riêng vùng lông ở vùng dưới bụng, ngực, đuôi có màu xám nhạt hơn hoặc màu xám trắng Đầu thỏ xám to vừa phải, màu mắt đen, lưng khum (hơi cong) Trọng lượng trưởng thành 2,5-3kg Khả năng sinh sản của chúng rất tốt, mổi năm đẻ khoảng 6-7 lứa, mổi lứa đẻ khoảng 6-7 con (Đinh Quang Bình & Nguyễn Quang Sức, 1999)
Trong điều kiện khí hậu và nuôi dưỡng ở nước ta thỏ lai xám thích nghi khá tốt Nhiều hộ gia đình rất ưa chuộng giống thỏ này, chúng được đưa vào với qui mô nhỏ trên nhiều vùng nước ta Ngoài ra chúng còn được sử dụng để lai kinh tế với giống thỏ ngoại để nâng cao năng suất lấy thịt, lông, da (Đinh Quang Bình & Nguyễn Quang Sức, 1999)
Giống thỏ đen Việt Nam
Giống thỏ này cũng xuất phát từ trung tâm giống thỏ Sơn Tây - Hà Nội, các nhà khoa học đã lai tạo nên giống thỏ đen Đặc điểm là có màu lông đen tuyền, mắt đen, đầu nhỏ, bụng thon, bốn chân dài thô, xương thô, cổ không vạm vỡ Giống thỏ này
có ưu điểm lớn nhất là có thân hình rắn chắc, thịt ngon Trọng lượng trưởng thành 2,6-3,2kg (Đinh Quang Bình & Nguyễn Quang Sức, 1999)
Thỏ đen Việt Nam rất mắn đẻ, trung bình mổi con đẻ 7 lứa một năm, mổi lứa đẻ 6-7 con So với giống thỏ xám, giống thỏ này có khả năng thích nghi với điều kiện nuôi dưỡng, khí hậu nước ta tốt hơn Khả năng kháng bệnh của thỏ đen cũng rất khá Đây chính là thuận lợi để đưa giống thỏ đen vào sản xuất trong khu vực gia đình ngày càng nhiều Người ta cũng sử dụng chúng để lai với thỏ ngoại Dùng giống thỏ này để chăn nuôi đạt hiệu quả cao cả về thịt lẫn lông da (Việt Chương, 2003)
Đặc điểm sinh sản của hai giống thỏ xám và thỏ đen Viêt Nam có khác so với thỏ mới nhập nội và thỏ lai thương phẩm Chúng vẫn bảo tồn tính năng suất sản xuất cao của thỏ rừng xa xưa như: động dục sớm lúc 4,5-5 tháng tuổi, mắn đẻ, sau khi đẻ 1-3 ngày đã chịu đực phối giống lại Thỏ vừa tiết sữa vừa nuôi con và có chữa Nếu
có điều kiện tốt thì thỏ sẽ đẻ liên tục mổi năm từ 7-8 lứa và dao động từ 11con/lứa (Việt Chương, 2003)
10-2.4 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
2.4.1 Sự đáp ứng của cơ thể với khí hậu
Thỏ rất nhạy cảm với ngoại cảnh, thân nhiệt của thỏ thay đổi theo nhiệt độ môi trường, do thỏ ít tuyến mồ hôi, cơ thể thải nhiệt chủ yếu qua đường hô hấp Khi
Trang 21nhiệt do đó dễ bị cảm nóng Ở nước ta nhiệt độ môi trường thích hợp nhất đối với thỏ khoảng 20-28,50C (Hoàng Thị xuân Mai, 2005).
2.4.2 Thân nhiệt - Nhịp tim - Nhịp Thở
Nhiệt độ cơ thể thỏ thay đổi theo nhiệt độ môi trường không khí từ 38-410C trung bình là 39,50C Nhịp tim của thỏ rất nhanh từ 120-160 lần/phút, tần số hô hấp bình thường là 60-90 lần/phút
Thỏ thở nhẹ nhàng khi không có tiếng động Nếu thỏ mất bình tĩnh hoặc trời nóng, không khí ngột ngạt thì các chỉ tiêu sinh lý trên đều tăng so với bình thường (Nguyễn Văn Thu, 2004)
2.4.3 Đặc điểm về khứu giác
Mũi thỏ rất phát triển nó ngửi mùi và phân biệt được con của nó hay con của con khác Trong thực tế chăn nuôi nếu là thỏ con cùng lứa tuổi đưa từ ổ khác để sau một giờ nhốt chung mà thỏ mẹ không phân biệt được thì coi như ổn, thỏ mẹ không cắn con Xoang mũi thỏ có nhiều vách ngăn chi chít có thể lọc được các tạp chất lần trong không khí, bụi từ không khí hoặc từ thức ăn hít vào Thức ăn đọng lại đây kích thích gây viêm mũi tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển gây bệnh đường hô hấp Do đó thức ăn của nó cần được sạch sẽ, nếu là thức ăn hỗn hợp thì cần phải trộn ẩm hoặc đóng thành viên, còn không khí phải trong sạch, lồng chuồng không chứa nhiều bụi cát
2.4.4 Đặc điểm về thính và thị giác
Tai và mắt thỏ rất tốt, trong đêm tối tai thỏ vẫn nghe được tiếng động nhỏ và mắt thỏ vẫn nhìn thấy mọi vật, do vậy thỏ vẫn có thể ăn uống bình thường vào ban đêm (Nguyễn Văn Thu, 2004)
2.4.5 Đặc điểm tiêu hóa ở thỏ
Thu nhận thức ăn và tiêu hóa cơ bản
Thỏ gặm thức ăn từ răng cửa (răng này tăng trưởng liên tục), rồi đẩy sâu vào khoang miệng và nghiền bằng răng hàm với sự hỗ trợ của các cơ hàm dưới rất khoẻ
Ở miệng thức ăn luôn luôn ngập trong nước bọt: đó là giai đoạn đầu của sự tiêu hóa hóa học
Quá trình tiêu hóa hóa học của thức ăn
Quá trình tiêu hóa kéo dài 4-5 giờ Thức ăn được nuốt vào thực quản, vượt qua tân
vị đến dạ dày, nơi có môi trường rất acid (pH=2,2), tại đây thức ăn được nhào trộn
và phân hủy thành các phân tử nhỏ hơn Sau đó nhờ sự co thắt của những cơ dạ dày, thức ăn đã đồng hóa được chuyển xuống ruột non Ruột non có 3 phần:
Trang 22Tá tràng nơi nối với tuyến tụy và tuyến mật, nơi này có nhiều men tiêu hóa để phân hủy các phân tử.
Hỗng tràng (ruột chay) và hồi tràng: tại đây, các phân tử dinh dưỡng được cơ thể hấp thụ Phần còn lại của thức ăn đi qua mang tràng, nơi có các cơ chế phân hủy khác nhau tùy vào thời điểm trong ngày:
Ban ngày, tạo phân “bình thường” khô
Ban đêm, tạo phân dinh dưỡng (caecotrophe), ẩm
Thức ăn đã tiêu hóa đi qua hồi tràng và mang tràng, vào buổi tối và một phần buổi sáng, được một cơ chế đặc biệt chế biến thành phân dinh dưỡng, gồm thức ăn mịn
và nước, bao quanh bằng một lớp màng nhầy Phân dinh dưỡng di chuyển về phía, nơi đây nhờ bộ nhớt và hình thỏi của nó Khiến thỏ có cảm giác đặc biệt báo hiệu là chúng đến nơi: Thỏ có thể thu hồi phân dinh dưỡng trực tiếp từ hậu môn, không để rơi xuống đất
Tóm lại, tiêu hóa thức ăn của thỏ xảy ra vào lúc hoàng hôn và bình minh, nó có thể tạo phân dinh dưỡng và hấp thụ trực tiếp vào buổi sáng tại hậu môn, đó là thức ăn thực thụ (Hoàng Thị xuân Mai, 2005)
2.5 VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA CỦA THỎ
2.5.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan tiêu hóa
Đặc điểm cấu tạo đường tiêu hóa thỏ nhà là dạ dày đơn, đường ruột dài 4–6m, manh tràng lớn hơn dạ dày và có khả năng tiêu hóa chất xơ nhờ hệ vi sinh vật, kết tràng được chia thành hai phần: phần trên có nhiều lớp vân cuộn sóng, phần dưới nhăn trơn Tỷ lệ dung tích của các phần đường tiêu hóa của thỏ cũng khác so với các gia súc khác Dạ dày của bò lớn nhất (71%) so với tổng dung tích đường tiêu hóa Còn thỏ có manh tràng lớn nhất (49%) (Nguyễn Ngọc Nam, 2002)
Bảng 1: So sánh tỷ lệ dung tích các thành phần đường tiêu hóa của các gia súc (%)
Tên đoạn đường tiêu hóa Động vật
Trang 23Độ pH của các phần đường tiêu hóa ở thỏ cũng khác nhau: dạ dày rất chua, pH trung bình là 2,2 Vật chất khô của chất chứa dạ dày phụ thuộc vào dạng thức ăn, trung bình 17% Chất chứa ruột non có pH=7,2-7,9 Manh tràng có pH=6, vật chất khô là 23% Kết tràng có pH=6,6 Dịch mật và tuyến tụy có tác dụng cân bằng độ
pH của ruột non Tổng số vi khuẩn trong manh tràng là cao nhất Hoạt động lên men của vi khuẩn trong môi trường hơi chua sẽ tạo nên được nhiều axit béo bay hơi từ chất celluloza (Nguyễn Quang Sức và Đinh Văn Bình, 2000)
2.5.2 Sự phát triển đường tiêu hóa của thỏ theo lứa tuổi
Cơ thể thỏ sinh trưởng đều đặn cho đến tuần tuổi thứ 11–12 Nhưng đường tiêu hóa (trừ gan) thì dừng phát triển ở tuần tuổi thứ 9 Từ tuần 3–9 khối lượng của từng đoạn ruột cũng thay đổi khác nhau Vào tuần thứ 3 ruột non nặng gấp đôi ruột già Đến tuần thứ 9 thì khối lượng hai phần ruột đó đã tương đương nhau Sự phát triển của đoạn ruột già chỉ hoàn chỉnh khi có sự lên men vi khuẩn, khi thỏ chuyển sang thức ăn cứng Phát triển về độ dài của các đoạn ruột thỏ cũng tương tự như phát triển khối lượng (Nguyễn Quang Sức & Đinh Văn Bình, 2000)
Bảng 2: Độ dài các đoạn ruột thỏ trưởng thành
Nguồn: Nguyễn Quang Sức & Đinh Văn Bình (2000)
2.5.3 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa
Đường tiêu hóa của những loài động vật ăn cỏ nhỏ như thỏ có hướng phát triển khác những động vật nhai lại khác bởi vì chúng có nhu cầu dưỡng chất cao/đơn vị trọng lượng cơ thể và chỉ được thỏa mãn khi có dưỡng chất cao từ hệ thống tiêu hóa
(Santoma et al., 1987)
Thỏ đạt được điều này thông qua sự hỗ trợ của lượng ăn vào cao (cao gấp 4 lần so với bò thiến nặng 250kg, và gấp 2 lần so với heo đang tăng trưởng nặng 40kg) kết hợp với thời gian lưu giữ ngắn thức ăn trong hệ thống tiêu hóa Tuy nhiên, đặc tính của hệ thống tiêu hóa thỏ cho phép chọn lựa sự tích lũy từ sự tiêu hóa thức ăn và những tế bào vi sinh vật dễ dàng cùng với sự tái sử dụng một phần của chất chứa
trong đường tiêu hóa (Santoma et al., 1987).
Hệ thống enzym trong đường tiêu hóa của thỏ cũng giống như những loài dạ dày đơn khác, vì vậy nó có thể đảm nhận việc tiêu hóa những thành phần không có vách
Trang 24bởi răng và trộn với nước bọt, có chứa enzym để khởi đầu quá trình phá vỡ thức ăn Khi thức ăn được nuốt vào trong dạ dày thì nó được trộn với axit dạ dày và tiêu hóa enzym (Tessmer & Smith, 1998)
Sự mô tả tiếp theo của quá trình tiêu hóa được giới thiệu bởi Lebas et al (1997) như sau: Thức ăn được ăn bởi thỏ nhanh chóng đến dạ dày Nó được lưu giữ trong dạ dày từ 3-6 giờ, ít chịu ảnh hưởng của sự thay đổi hóa học Cấu tạo dạ dày thỏ không thích ứng với việc tiêu hóa chất xơ Ở thỏ chất xơ được tiêu hóa ở manh tràng (ruột già) Các chất dinh dưỡng trong thức ăn được phân hủy, tiêu hóa hấp thu phần lớn là
ở tá tràng Dạ dày thỏ đơn ngăn, co giãn tốt nhưng co bóp rất yếu Thức ăn được đưa vào tới dạ dày là nhờ sự nhu động của hầu và thực quản Thức ăn không được trộn đảo lẫn lộn ở dạ dày mà được xếp thành tầng lớp trước sau rồi cứ thế chuyển dần xuống ruột non, ruột già Nếu thức ăn cứng khó tiêu thì dễ gây viêm dạ dày, viêm ruột Thức ăn trong dạ dày được phân hóa chất đạm nhờ dịch dạ dày Nếu thiếu muối trong khẩu phần ăn thì dịch dạ dày tiết ra ít dẫn đến cơ thể không sử dụng hết nguồn đạm trong thức ăn Khi chất chứa đi vào trong ruột non chúng được pha loãng với dịch mật, sự bài tiết đầu tiên của ruột và cuối cùng là dịch tụy
(Santoma et al., 1987).
Sau hoạt động tiêu hóa enzym từ hai dịch bài tiết, thức ăn có thể dễ dàng bị phá vỡ
và đi xuyên qua thành ruột theo máu đến tế bào Thức ăn từ lúc vào miệng chuyển đến tá tràng, mất thời gian từ 8-10 giờ Những phần không được phá vỡ, sau 1-1,5 giờ ở trong ruột non sẽ được đưa vào manh tràng Nơi đây, những mảnh thức ăn này dược lưu giữ khoảng 2-12 giờ để enzym vi sinh vật hoạt động phân giải Những phần bị phá vỡ bởi sự phân hủy của vi sinh vật sẽ tạo chủ yếu là axit béo bay hơi
được giải phóng và xuyên qua thành ruột đi vào dòng máu (Santoma et al., 1987).
Những chất chứa của manh tràng tiếp đó được đẩy xuống kết tràng Khoảng phân nữa những mảnh thức ăn nhỏ và lớn không được phá vỡ Hơn thế nữa, chức năng của hệ thống tiêu hóa thỏ hầu như giống với những loài dạ dày đơn khác Nó đặc biệt ở chỗ đôi chức năng của đầu gần kết tràng Nếu chất chứa manh tràng đi vào trong kết tràng vào buổi sáng sớm chúng sẽ chịu một số thay đổi sinh hóa Thành vách kết tràng sẽ tiết ra dịch nhầy dần dần bao phủ lấy những viên viên phân được hình thành bởi sự co bóp Những viên phân này gộp lại thành từng chùm và gọi là phân mềm hay phân ban đêm Nếu chất chứa manh tràng xuống kết tràng ở những thời gian khác trong ngày thì phản ứng của kết tràng hoàn toàn khác và tạo ra phân cứng Chức năng tiêu hóa của manh tràng, kết tràng thỏ là một bộ máy đặc biệt nó cho phép thỏ giữ lại những phần nhỏ và thành phần hòa tan trong manh tràng, nơi phần lớn quá trình đi đến hậu môn và được bài thải dưới dạng phân cứng (Santoma
et al., 1987).
Trang 25Dạ dày thỏ khỏe không bao giờ hết thức ăn Nếu dạ dày lép xẹp hoặc chứa tạp chất
ở thể lỏng là thỏ bị bệnh và phân thải ra sẽ nhão không thành viên Thỏ khỏe mạnh phân thải ra thành viên Ở ruột non các chất đạm, đường, mỡ được phân giải nhờ các men tiêu hóa ở dịch ruột Các chất dinh dưỡng cũng được hấp thụ chủ yếu ở đây Nếu ruột non bị viêm do vi trùng, cầu trùng thì không hấp thụ được hết dinh dưỡng từ thức ăn, thỏ sẽ gầy yếu (Đinh Văn Bình & Nguyễn Quang Sức, 1999)
Do ruột già nhu động yếu, thời gian thức ăn lưu ở ruột già lâu Từ khi thức ăn vào miệng đến khi chuyển hóa thành phân thải ra ngoài cơ thể, ở thỏ lớn cần 72 giờ, ở thỏ con cần 60 giờ mới hoàn thành Thức ăn dừng lại ở ruột già lâu, trong ruột già lại có nhiều loại vi sinh vật giúp cho quá trình tiêu hóa Khi vi sinh vật ở ruột già tham gia phân hủy chất xơ đồng thời các quá trình gây thối rửa cũng xảy ra và có chất độc hình thành Vì vậy nếu cho thỏ ăn thức ăn nghèo xơ khó tiêu hóa, thức ăn rau xanh củ quả chứa nhiều nước, mẫu nát dễ phân hủy, thức ăn có hàm lượng bột đường nhiều hoặc thiu dễ lên men thì làm thỏ rối loạn tiêu hóa như: tạo khí nhiều, phân không tạo viên cứng gây tiêu chảy, đường ruột căng khí đầy bụng, bệnh do cầu trùng, trực trùng…(Nguyễn Chu Chương, 2003)
2.5.4 Hiện tượng ăn phân của thỏ (Caecotrophia)
Động vật ăn cỏ chỉ có thể tiêu hóa chất xơ từ thức ăn thực vật bằng quá trình lên men vi khuẩn Quá trình này ở động vật nhai lại xảy ra ở dạ dày và phần đầu ruột non, ở thỏ và ngựa thì xảy ra ở manh tràng và ruột già Trong các trường hợp trên,
sự tiêu hóa tinh bột tạo thành axit béo và hấp thụ vào đường máu thì đều giống nhau Nhưng riêng sự hấp thụ axit amin thì có khác nhau: ở động vật nhai lại axit amin phân hủy và hấp thụ ngay ở dạ múi khế và ruột non Đến phần ruột già, từ manh tràng axit amin không có khả năng hấp thụ được Thỏ đã bổ sung sự khiếm
khuyết đó bằng hiện tượng sinh lý ăn phân mềm (Caecotrophia) (Nguyễn Quang
Sức & Đinh Văn Bình, 2000)
Đặc điểm tiêu hóa của thỏ là ăn phân (Caecotrophia) Trong đường ruột thỏ tạo
thành 2 loại phân: một loại mềm, luôn được thỏ ăn lại gọi là phân mềm hoặc do
xuất phát từ manh tràng (Caecum) nên gọi là phân manh tràng (Caecotrophia)
Phân mềm chứa rất nhiều vitamin B (B1, B12, B3…) nên còn gọi là phân vitamin Còn loại phân viên tròn, cứng, thỏ không ăn thì gọi là phân cứng Phân cứng có vật chất khô cao hơn, nhưng hàm lượng protein nhỏ hơn phân mềm Phân cứng ở dạng viên đơn, phân mềm bao gồm 5-10 viên nhỏ kết dính thành chùm dài bởi màng mỏng Phân mềm khi thải ra đến cửa hậu môn thì thỏ cúi xuống ăn ngay, nuốt chửng vào dạ dày và tan ra ở đó, trộn lẫn với chất chứa dạ dày, đẩy dần vào ruột non, các chất dinh dưỡng được hấp thụ Vì có hiện tượng này nên gọi thỏ là loài
Trang 26Bảng 3: Thành phần hóa học của hai loại phân thỏ
Thành phần hoá học Phân cứng Phân mềm
Nguồn: Nguyễn Văn Thu, 2004
Thỏ con còn bú mẹ không có hiện tượng ăn phân, hiện tượng này chỉ bắt đầu hình thành khi thỏ đến 3 tuần tuổi, bắt đầu ăn thức ăn cứng Phân cứng còn gọi là phân ban ngày, phân mềm còn gọi là phân đêm Như vậy chứng tỏ rằng thỏ ăn phân mềm trong môi trường yên tĩnh (Nguyễn Ngọc Nam, 2002)
Sự đóng góp của phân mềm trong vật chất khô ăn vào ở khẩu phần thực tế thường là một hằng số (khoảng 14%) Chỉ khi có mức độ cao của cỏ hoặc những phụ phẩm trồng trọt khó tiêu trong khẩu phần thì có thể dẫn đến tiêu thụ khoảng 20–23% phân
mềm trong tổng vật chất khô ăn vào (Carabano et al., 1988 & Lorente, 1988).
2.6 VÀI NÉT VỀ TIÊU HÓA DƯỠNG CHẤT CỦA THỎ
2.6.1 Sự tiêu hóa protein
Theo Henschell (1973) những enzym phân giải protein của thỏ được hoàn thiện vào khảng 4 tuần tuổi và sự phát triển của nó lệ thuộc chủ yếu vào sự phát triển của tuyến nội tiết và ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi khẩu phần
Tỷ lệ tiêu hóa của thỏ trưởng thành có mối liên hệ với nguồn protein (Maertens &
De Groote, 1984) Theo cách này protein đến từ thức ăn hỗn hợp và hạt ngũ cốc thì được tiêu hóa tốt (cao hơn 70%) trong khi đó protein ít nhiều có liên kết với xơ thì
có giá trị thấp hơn (55-70%) nhưng cao hơn những loài dạ dày đơn khác (tỷ lệ tiêu hóa protein của cỏ linh lăng và bột cỏ ở heo và gia cầm lần lượt là 30 và 50% (Just
et al., 1985 & Green, 1987).
Sự biến dưỡng nitơ trong manh tràng
NH3là sản phẩm chính cuối cùng của sự biến đổi Nitơ trong manh tràng, như là một nguồn Nitơ chính cho sự tổng hợp protein của vi sinh vật Giống như những động vật nhai lại, NH3trong manh tràng đến từ sự biến dưỡng của urê máu (khoảng 25%
NH3trong manh tràng) và đến từ sự phân hủy thức ăn của khẩu phần Ngoài ra Nitơ còn có nguồn gốc từ sự nội sinh của những vi sinh vật manh tràng, làm gia tăng sự hoạt động phân giải protein (Makkar & Singh, 1987)
Nồng độ NH3 trong manh tràng từ 6–8,5 mg/100 ml chất chứa manh tràng trong
Trang 27protein của vi sinh vật khi so sánh với động vật nhai lại (Satter & Slyter, 1974) và
có ý kiến chứng minh rằng năng lượng thì giới hạn hơn cho sự tăng trưởng tối ưu của vi sinh vật trong manh tràng (Just, 1983) Trong các trường hợp này mặc dù
NH3trong manh tràng có thể là yếu tố giới hạn cho sự tăng trưởng của vi sinh vật thì nguồn urê cung cấp không đáp ứng được nhu cầu (King, 1971) bởi vì urê được thủy phân và hấp thu như NH3 trước khi đến manh tràng dẫn đến gia tăng Nitơ trong nước tiểu Hơn thế nữa sự gia tăng NH3 trong manh tràng làm pH cao hơn mức tối ưu và làm tăng nhanh sự xáo trộn tiêu hóa
Phân mềm và sự tiêu hóa protein
Sự đóng góp chủ yếu của hiện tượng ăn phân mềm như là một nguồn dưỡng chất cung cấp quan trọng như protein Thỏ ăn phân mềm 1 lần một ngày, phân mềm được giữ lại trong dạ dày từ 6-8 giờ phụ thuộc vào màng bao bảo vệ chúng thoát khỏi sự phá vỡ của quá trình tiêu hóa Trong khi đó vi sinh vật thì tiếp tục quá trình lên men của chúng sản xuất ra một lượng đáng kể acid lactic Cuối cùng màng bao
bị hủy đi và phân mềm đi vào sự tiêu hóa bình thường (Griffiths & Davies, 1963).Protein cung cấp từ phân mềm thay đổi từ 10% (Spreadbury, 1978) đến 55% (Haresigs, 1989) của tổng protein ăn vào tùy thuộc vào thực liệu được sử dụng Trong khẩu phần thực tế nguồn protein cung cấp từ phân mềm khoảng 18% trong tổng protein ăn vào (Haresigs, 1989) hay khoảng 28% protein (Stevens & Hume, 1995) Một trong những thuận lợi chính của hiện tượng ăn phân là ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ tiêu hóa trong khẩu phần Theo Stephens (1977) tỷ lệ tiêu hóa protein tăng từ 5-20% là kết quả của hiện tượng ăn phân, sự gia tăng đến giá trị cao nhất khi protein trong thức ăn hỗn hợp thấp Thỏ có thể tiêu hóa protein trong cỏ rất tốt, khoảng 75-85% của protein cỏ linh lăng Thấp protein tổng hợp làm gia tăng sự ăn phân và nếu mức độ protein cao trong khẩu phần thì sự ăn phân giảm
Ở động vật nhai lại, protein vi sinh vật cung cấp nguồn amino acid cho nhu cầu của
nó Tuy nhiên, điều này không đúng ở thỏ Mặc dù amino acid được vi sinh vật sản xuất có thể có sẵn trong phân mềm (đặc biệt là lysin, amino acid có lưu huỳnh,
threonine; Carabano et al.,1988), nghiên cứu chỉ ra rằng những protein vi sinh vật
này chỉ đóng vai trò thứ yếu trong nhu cầu protein và amino acid ở thỏ Protein vi sinh vật được vật nuôi sử dụng được tiêu hóa chủ yếu ở kết tràng (Stevens & Hume, 1995) Vì vậy amino acid tổng hợp thường được thêm vào thức ăn công nghiệp để đáp ứng nhu cầu của thỏ, đặc biệt là lysin và methionin, là những loại thường giới hạn trong khẩu phần
Phân mềm cũng là một nguồn quan trọng cung cấp vitamin B, K và có thể tận dụng một số khoáng chất như sắt Mặc dù vitamin B cung cấp có thể đủ cho sự sản
Trang 28xuất của thỏ theo cách nuôi truyền thống nhưng cần thiết cung cấp thêm vitamin
tổng hợp và khoáng cho thỏ nuôi tập trung (Harris et al., 1983).
2.6.2 Xơ và sự biến dưỡng ở manh tràng
Khi còn nhỏ thỏ đã có hệ thống vi sinh vật trong đường ruột để tiêu hóa chất xơ Khi so với những loài động vật ăn cỏ khác thì khả năng tiêu hóa xơ của thỏ là rất thấp (14% so với 44% ở bò và 41% ở ngựa) Thành phần xơ của hầu hết các loại cỏ
ăn thường từ 20-25% và phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cỏ Rõ ràng, cỏ càng già thì xơ càng cao Những mảnh thức ăn không phải xơ, protein và cacbohydrate hòa tan thì dễ tiêu hóa bởi thỏ Ở thỏ, khẩu phần xơ có vai trò chính trong việc duy trì hoạt động bình thường của đường tiêu hóa, kích thích sự vận động của ruột (chỉ có xơ không hòa tan), làm giảm nhai lại lông và ngăn ngừa viêm ruột (Brooks, 1997)
Bảng 4: Tỷ lệ tiêu hóa (%) của thành phần vách tế bào thức ăn ở một số vật nuôi
Nguồn: Santoma et al ( 1987)
Nguồn năng lượng cung cấp từ xơ thường thấp trong khẩu phần (ít hơn 5% tổng năng lượng tiêu hóa của khẩu phần) Nơi đây trung bình xơ tiêu hóa khoảng 17%
(De Blas et al., 1986).
Tuy nhiên, loại xơ đặc biệt và hòa tan trong manh tràng được lên men chủ yếu bằng
vi sinh vật tạo ra acid béo bay hơi (VFA) Theo Carabano et al (1988) thì năng
lượng là một yếu tố giới hạn cho sự tăng trưởng của vi sinh vật manh tràng Acid propionic được sản xuất thì rất thấp (8% trong tổng số) Với acid acetic chiếm số lượng lớn (73%) và cao hơn mức độ của acid butyric (17%) Thành phần của VFA trong manh tràng thay đổi rất lớn từ 34,5 mol/g DM đến 351 mol/g DM Tuy nhiên, cũng có thể kết luận rằng các yếu tố được đề cặp ở trên thích hợp làm gia tăng thời gian lưu giữ thức ăn trong ruột cũng làm gia tăng thành phần của VFA trong manh tràng, đặc biệt là acid acetic khi tiêu hóa nhiều xơ, và acid butyric khitiêu hóa nguồn xơ ít trong khẩu phần (nhỏ hơn 14% CF/DM) làm pH trong manh tràng giảm
Trang 29Vi sinh vât trong ruột thỏ tạo VFA có hoạt động cũng giống như vi sinh vật trong dạ
cỏ bò Thỏ được cho ăn cỏ linh lăng, bắp thì vi sinh vật sản sinh chủ yếu là acetate,
kế đến là butyrate và propionate Butyrate là nguồn tạo năng lượng chính (Stevens
et al., 1995; Gidenne et al., 1998 & Jenkins, 1999) Vi sinh vật ở manh tràng thỏ
sản xuất nhiều VFA ở khẩu phần nhiều tinh bột hơn so với khẩu phần ăn cỏ
(Cheeke, 1994 và Stevens et al., 1995) Nếu kháng sinh được đưa vào, mật độ vi sinh vật sẽ thay đổi, E coli và Clostridia sẽ tiết ra chất độc gây hại cho đường ruột
là nguyên nhân gây tiêu chảy, viêm ruột hoại tử (Cheeke, 1994; Stein & Walshaw,
1996 & Brooks, 1997)
Một vài tác giả khác (Borriello & Carman, 1983; Rolfe, 1984 và Toofanian & Hammen, 1986) cũng chỉ ra sự biến đổi trong manh tràng và sự tăng trưởng của những vi sinh vật gây bệnh khác tạo cơ hội cho sự xáo trộn tiêu hóa Tuy nhiên, những nghiên cứu khác rất cần thiết để hiểu được ảnh hưởng của khẩu phần về sự biến dưỡng của năng lượng trong manh tràng Thành phần hóa học của những thức
ăn tiêu hóa nhiều hơn xơ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất VFA
Từ những đạt được đầu tiên chỉ ra rằng có một vài sự khác nhau giữa nguồn năng lượng được cung cấp từ xơ (khoảng 5% năng lượng tiêu hóa của khẩu phần) và năng lượng cung cấp từ VFA thì khoảng 12-40% của nhu cầu năng lượng cho duy trì ở thỏ trưởng thành (Hoover & Heitmann, 1972; Marty & Vernay, 1984)
Bảng 5: Ảnh hưởng của nguồn xơ trong khẩu phần đến thời gian lưu giữ và trọng lượng của manh tràng
Chỉ tiêu
Khẩu phần 51% bã cam
quít 29% bã củ cải đường 27% cỏ linh lăng khô 25% bánh dầu nho
Nguồn: Santoma et al (1987)
2.6.3 Sự tiêu hóa tinh bột
Do nguyên nhân của việc nuôi tập trung, thỏ được cho ăn với dinh dưỡng cao và vì thế nó bao gồm mức độ cao của hạt ngũ cốc và tinh bột hơn cách nuôi truyền thống Những điều này được chứng minh bởi Cheek & Patton (1980) là việc tăng sự thủy phân nguồn tinh bột trong khẩu phần cùng với thời gian di chuyển nhanh của sự tiêu
Trang 30hóa thức ăn có thể là nguồn cung cấp tinh bột quan trọng cho vi sinh vật manh tràng, gây nên hiện tượng lên men làm tăng nhanh sự xáo trộn tiêu hóa.
Wolter et al (1980) chỉ ra rằng khoảng 70% tinh bột trong khẩu phần đến ruột non
không qua sự phân rã Điều này chỉ ra rằng pH của dạ dày thấp làm cho enzymekhông ổn định Ngoài ra có khoảng 85% tinh bột được tiêu hóa trước manh tràng với khẩu phần gồm 35% hạt ngũ cốc Thỏ cai sữa dường như nhạy cảm với tinh bột thoát qua ruột sau bởi vì hệ thống enzym tuyến tụy vẫn còn non nớt và chỉ phát triển nhanh từ 3-4 tuần tuổi Theo cách này Blas (1986) đã chỉ ra rằng ở thỏ 28 ngày tuổi thì tinh bột ở hồi tràng khoảng 4% với khẩu phần gồm 30% tinh bột Trong khi đó ở thỏ trưởng thành, giá trị này thấp hơn 0,5% Sự quan sát này là một thực tế quan trọng để hiểu về những xáo trộn tiêu hóa trong suốt tuần lễ đầu sau cai sữa (28-40 ngày tuổi)
Lee et al (1985) đã chỉ ra rằng tỷ lệ tiêu hóa của tinh bột lệ thuộc vào nguồn của nó cũng như cách nuôi dưỡng Tuy nhiên, Santoma et al (1987) không thấy sự khác
nhau về tỷ lệ chết, tăng trọng, tỷ lệ chuyển hóa thức ăn, tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, vật chất hữu cơ và tiêu hóa protein khi sử dụng khẩu phần lớn hơn 33% của những hạt ngũ cốc khác nhau (lúa mì, ngô, lúa mạch)
2.6.4 Sự tiêu hóa chất béo
Khẩu phần của thỏ bình thường có chứa xơ, chất béo thì thiết yếu cho sự gia tăng nguồn năng lượng Có rất ít số liệu về tỷ lệ tiêu hóa chất béo ở thỏ Nhưng kết quả
tỷ lệ tiêu hóa cũng xác định rằng thỏ cũng giống như những động vật dạ dày đơn
khác Theo cách này Maertens & De Groote (1984) và Santoma et al (1987) đã tìm
thấy mối quan hệ tích cực giữa mức độ của acid béo chưa bão hòa Và tỷ lệ tiêu hóa của chúng cũng giống như ở heo và gia cầm Những tác giả này cũng chỉ ra rằng có
sự đối lập giữa mức độ chất béo của khẩu phần và tỷ lệ tiêu hóa chất béo bão hòa
Santoma et al (1987) đã phát hiện hiệu quả đặc biệt của chất béo, điều này giống
như ở gia cầm (Mateos & Sell, 1981) và điều này được giải thích tỷ lệ tiêu hóa của thành phần không phải là béo tăng 5,8% khi chất béo được thêm vào trên 3%
2.6.5 Sự tiêu hóa năng lượng
Như tất cả các loài động vật khác, năng lượng là thành phần dưỡng chất chính có vai trò quyết định năng suất của thỏ Vì vậy những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sử dụng năng lượng sẽ được thảo luận sau đây:
Nói chung, năng lượng mất đi trong phân thay đổi từ 25-45% năng lượng thô trong khẩu phần Do đặc tính sinh lý của hệ thống tiêu hóa của thỏ, thành phần vách tế bào là thành phần hóa học chính có liên quan đến việc tạo năng lượng Sự khác nhau giữa các tác giả đã chỉ ra mối quan hệ tiêu cực giữa năng lượng tiêu hóa (DE)
Trang 31và mức độ xơ trong khẩu phần với sự tương quan nhẹ với ADF hơn CF Sự đánh giá tốt nhất của việc tiêu hóa năng lượng thức ăn đạt được thông qua sự tiêu hóa các
dưỡng chất khác (CP, EE, và NFE) (Maertent et al., 1988).
Những kết quả này đạt được với sự đánh giá không đúng mức các loại thức ăn của
thỏ gồm mức độ cao của xơ tiêu hóa (De Blas et al., 1984a và Maertens et al., 1988)
và khẩu phần có bổ sung béo Với sự đề cập này, thêm chất béo vào đã xảy ra sự hiệp đồng tác động lên tỷ lệ tiêu hóa khẩu phần bởi vì nó làm gia tăng tỷ lệ tiêu hóa
của những chất cặn bã của khẩu phần (Santoma et al., 1987 & Fraga et al., 1989).
Mối quan hệ giữa ME và DE
Theo Spreadbury & Davidson (1978), năng lượng mất trong nước tiểu thay đổi từ 8% của DE trong khẩu phần với mức độ biến đổi cao của cả xơ và protein (4-33% ADF và 16-28 % CP) Những năng lượng mất đi này không liên quan đến mức độ
4-xơ trong khẩu phần cân bằng năng lượng/protein (Ortiz, 1986) vì vậy 6% DE có thể được là mức độ năng lượng mất trung bình ở thỏ Có ít thông tin về sự mất năng lượng như metan ở những loài này, nhưng với những khẩu phần có lượng lớn xơ tiêu hóa có thể có giá trị cao đủ để đánh giá theo cách giống như ở heo
2.7 THỨC ĂN
2.7.1 Cỏ lông tây
Loại cỏ thân bò trên mặt đất, rễ nhiều, thân dài 0,6-2,0m, lá to bản, có lông Giống
cỏ này có nguồn gốc từ Châu Phi Thuộc giống cỏ đa niên, giàu protein, dễ trồng, chịu được đất ẩm ướt Ở Việt Nam cỏ lông tây được nhập trồng ở Nam Bộ từ năm
1887 tại các cơ sở nuôi bò sữa, nay đã trở thành cây mọc tự nhiên ở khắp hai miền Nam Bắc (Nguyễn Thiện, 2003) Sau 1,5-2 tháng trồng thì có thể thu hoạch lứa đầu
Từ đó cứ khoảng 30 ngày thì thu hoạch được một lần, trừ mùa khô phải hơn hai tháng mới cắt được nên thu hoạch lúc cỏ cao 50-60cm và khi thu hoạch thì nên cắt cách mặt đất 5-10cm Cỏ lông tây rất thích hợp trồng ở các vùng đồng bằng, năng suất cỏ thay đổi nhiều, có nơi đạt 120 tấn/ha trong 5 lần cắt (Nguyễn Thiện, 2003) Chúng ta có thể trồng cỏ lông tây ở đất bùn lầy, đất ruộng, đất bãi, bờ đê, ven hồ ao,
bờ sông suối Có thể sử dụng cỏ lông tây cho gia súc ăn dưới dạng cỏ tươi hoặc phơi khô (Nguyễn Thiện, 2003)
Bảng 6: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ lông tây (%)
Loại thức ăn DM CP Giá trị dinh dưỡng, % DM EE NDF ADF Ash
Nguồn: Nguyen Thi Kim Dong et al (2008), DM: vật chất khô, CP: đạm thô, EE: chất béo, NDF: xơ trung