1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của các mức độ PHÂN bón vô cơ và hữu cơ lên sự SINH TRƯỞNG và TÍNH NĂNG sản XUẤT của cây đậu BIẾC được TRỒNG tại THÀNH PHỐ cần THƠ

71 237 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 518,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG PHẠM ĐĂNG SƠN ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ PHÂN BÓN VÔ CƠ VÀ HỮU CƠ LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ TÍNH NĂNG SẢN XUẤT CỦA CÂY ĐẬU BIẾC

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

PHẠM ĐĂNG SƠN

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ PHÂN BÓN VÔ CƠ

VÀ HỮU CƠ LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ TÍNH NĂNG

SẢN XUẤT CỦA CÂY ĐẬU BIẾC (Clitoria ternatea )

ĐƯỢC TRỒNG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI THÚ Y

Cần Thơ, 2009

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI THÚ Y

Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ PHÂN BÓN VÔ CƠ

VÀ HỮU CƠ LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ TÍNH NĂNG

SẢN XUẤT CỦA CÂY ĐẬU BIẾC (Clitoria ternatea )

ĐƯỢC TRỒNG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viện thực hiện:

TS Nguyễn Thị Hồng Nhân Phạm Đăng Sơn MSSV: 3052452

Lớp: CN0512A1

Cần Thơ, 2009

Trang 3

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2009

Duyệt Của Giáo Viên Hướng Dẫn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN CHĂN NUÔI

-o0o -

ĐỀ TÀI ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ PHÂN BÓN VÔ CƠ VÀ HỮU CƠ LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ TÍNH NĂNG SẢN XUẤT

CỦA CÂY ĐẬU BIẾC (Clitoria ternatea) ĐƯỢC TRỒNG TẠI

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu trong đề tài luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn đúng với số liệu thực nghiệm

Cần Thơ, ngày 04, tháng 05, năm 2009

Phạm Đăng Sơn

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Con xin gởi tình yêu thương đến ba, mẹ vì đã đem lại cho con những điều tốt đẹp nhất

Em xin gởi những lời tri ân đến cô Nguyễn Thị Hồng Nhân và thầy Nguyễn Văn Hớn

vì đã tận tình hướng dẩn, giúp đở chúng em thực hiện đề tài này Em xin cảm ơn thầy Trương Chí Sơn đã luôn động viên, giúp đở em trong suốt thời gian qua Xin cảm ơn các thầy cô trong bộ môn chăn nuôi và bộ môn thú y vì tấm lòng tận tụy và những kiến thức quý báo các thầy cô đã đem lại Xin gởi lòng biết ơn đến anh Nguyễn Thiết với vai trò là người anh cả đã tận tình giúp đở, luôn bên cạnh chúng em những lúc khó khăn Cảm ơn gia đình bác Nguyễn Bữu Châu, các cô trong thư viện Khoa Nông nghiệp & Sinh học ứng dụng đã giúp đở em thực hiện đề tài này Xin giử mãi những kỷ niệm đẹp và tình cảm thân thương với các bạn Phạm Công Thịnh, Nguyễn Đức Toàn

và Lâm Thị Thanh Thư đã cùng sát cánh, chia sẻ vui buồn trong thời gian qua

Cần Thơ, ngày 4, tháng 05, năm 2009

Phạm Đăng Sơn

Trang 6

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH SÁCH BẢNG

DANH SÁCH HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

i

ii iii iv

2.1.4 Chất độc và chất khoáng dưỡng trong cây họ Đậu 5

2.1.6 Sử dụng cây họ Đậu làm thức ăn cho gia súc 6

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 14

3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi và cách thu thập số liệu 16

Trang 7

4.2 CÁC ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG 19

4.2.5 Chiều dài thân chính tại thời điểm thu hoạch 21

4.2.5.1 Ảnh hưởng của phân vô cơ đến chiều dài thân chính của cây tại thời điểm thu hoạch

4.2.6 Số lá trên thân chính tại thời điểm thu hoạch 25

4.2.6.1 Ảnh hưởng của phân vô cơ đến số lá trên thân chính tại thời điểm thu hoạch

4.2.7.1 Ảnh hưởng của phân vô cơ đến số nhánh bậc 1 của cây tại thời điểm thu hoạch

4.2.9.1 Ảnh hưởng của phân vô cơ đến độ che phủ của cây tại thời điểm thu hoạch

Trang 8

4.2.10 Số nốt rể tại thời điểm thu hoạch 36

4.2.10.1 Ảnh hưởng của phân vô cơ đến số nốt rễ của cây tại thời điểm thu hoạch

4.3.1 Ảnh hưởng của phân bón vô cơ đến năng suất của cây 39

4.3.2 Ảnh hưởng phân bón hữu cơ đến năng suất của cây 45

4.3.3 Ảnh hưởng của phân vô cơ và hữu cơ đối với năng suất của cây 49

4.4.1 Ảnh hưởng phân bón vô cơ đến thành phần DM, CP của cây 53 4.4.2 Ảnh hưởng phân bón hữu cơ đến thành phần DM, CP của cây 54 4.4.3 Ảnh hưởng của phân vô cơ và hữu cơ đến thành phần DM, CP của cây 55

Trang 9

ba mức độ phân hữu cơ: 10 tấn/ha/năm; 20 tấn/ha/năm; 30 tấn/ha/năm Bước đầu chúng tôi theo dõi khả năng thích nghi, năng suất và chất lượng của cây nhằm tìm ra một mức độ phân bón tối ưu có thể áp dụng rộng rãi trong sản suất

Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 8/2008 đến tháng 4/2009, bố trí theo thể thức thừa

số hai nhân tố, ba mức độ bón hữu cơ và hai mức độ phân vô cơ với 6 nghiệm thức và

ba lần lập lại Mỗi lô trồng cỏ thí nghiệm có diện tích 30m 2 tương ứng:

Nghiệm thức 1: HC1+VC1 Nghiệm thức 2: HC1+VC2 Nghiệm thức 3: HC2+VC1 Nghiệm thức 4: HC2+VC2 Nghiệm thức 5: HC3+VC1 Nghiệm thức 6: HC3+VC2 Tiến hành thu hoạch, thu thập các chỉ tiêu về sinh trưởng và năng suất vào thời điểm

120 ngày sau khi gieo ở lứa cắt 1 Các lứa 2 và 3 thu thập các số liệu sinh trưởng và năng suất vào các thời điểm 60 ngày sau khi cắt Kết quả cho thấy các mức độ phân bón hoá học chỉ ảnh hưởng phần lớn lên đặc tính sinh trưởng và năng suất của cây nhưng lại không có tác dụng thay đổi thành phần hoá học của cây

Năng suất chất xanh khi áp dụng phân vô cơ mức độ 2 trung bình từ 7,22 – 9,22 tấn/ha, năng suất chất khô là 1,76 – 2,11 tấn/ha, năng suất protein là 0,41 – 0,49 tấn/ha

Để giúp tối ưu hoá năng suất cây Đậu biếc (Clitoria ternatea) thì việc áp dụng phân bón vô cơ mức độ 2 với số lượng 75kgN -750kgP -300kgK/ha/năm kết hợp với việc bón lót phân hữu cơ mức độ 2 với số lượng 20 tấn/ha/năm là tốt nhất.

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 10

CP Protein thô

Trang 12

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1 Một số đặc tính sinh học và nông học của cây họ Đậu 9 Bảng 2.2 Thành phần acid amine của cây Đậu biếc 10

Bảng 2.3 Một số đặc tính của cây lai giửa C ternatea x C Purpurea 11

Bảng 2.4 Đặc tính hình thái và sinh hoá của cây lai (C ternatea x C

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của phân bón vô cơ đến chiều dài thân chính của cây tại thời điểm thu hoạch

Trang 13

Bảng 4.18 Ảnh hưởng của phân vô cơ đến số nốt rễ của cây tại thời điểm thu hoạch

64

Trang 14

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo số liệu của tổng cục thống kê năm 2007, tổng giá trị sản xuất nghành chăn nuôi ở nước ta là 29.201,0 tỷ đồng; cả nước có 16.757 trang trại chăn nuôi với tổng số lượng trâu là 2.996.400 con (2.6% so với năm 2006); bò có 6.724.700 nghìn con (3.3% so với năm 2006); ngựa có 103.500 con; dê cừu có 1.777.600 con Ngoài ra, số lượng các loài vật nuôi ăn cỏ khác như hươu, nai, nhím, thỏ cũng tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên tổng lượng cỏ, cây thức ăn chăn nuôi mới chỉ đáp ứng được 6,32% nhu cầu thức ăn thô xanh của tổng đàn gia súc lớn Tổng lượng thức ăn thô xanh mới chỉ đáp ứng được 53.47% tổng nhu cầu thức ăn thô xanh của đàn gia súc ăn cỏ Có thể nói, thiếu thức ăn thô xanh cho chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia súc nhai lại đang là một hiện trạng bức xúc và là một trong những nguyên nhân làm cho chăn nuôi chưa phát triển tương ứng với tiềm năng của ngành

Song, giải quyết nhu cầu thức ăn thô xanh cho gia súc ăn cỏ ở nước ta hiện nay đang có

ba thử thách lớn Thứ nhất là sự mất cân đối thức ăn thô xanh giữa các mùa, dư thừa thức ăn thô xanh vào mùa mưa, phụ phẩm lúc thời vụ và thiếu thức ăn lúc giáp vụ và mùa khô Thứ hai là chất lượng nguồn thức ăn thô xanh cho vật nuôi ăn cỏ còn rất thấp (giống cỏ trồng hầu hết là cỏ hoà thảo, còn lại chỉ là cỏ tự nhiên hổn hợp ở bải chăn thả tận dụng) dể dẩn đến mất cân đối dinh dưỡng trong khẩu phần Thứ ba là tình trạng ít tận thu nguồn lợi lớn từ phụ phẩm nông, công nghiệp làm thức ăn chăn nuôi

Một trong những giải pháp đã được thực hiện để giải quyết những khó khăn trên là phát triển lớn mạnh diện tích đồng cỏ chăn nuôi cùng bằng cách áp dụng những giống

cỏ mới Bên cạnh những giống Hòa thảo mới được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, những giống cỏ họ Đậu cũng đang được nghiên cứu để đưa vào sử dụng Góp phần làm cho nguồn thức ăn xanh ngày càng phong phú, chúng tôi thực hiện đề tài "Ảnh hưởng của các mức độ phân bón vô cơ và hữu cơ lên sự sinh trưởng và tính năng sản xuất của

cây Đậu biếc (Clitoria ternatea) được trồng tại thành phố Cần Thơ” với mục tiêu:

- Đánh giá khả năng thích nghi của cây Đậu biếc tại thành phố Cần Thơ để đưa vào sử dụng

- Khảo sát đặc tính sinh trưởng cũng như năng suất của cây

- Chọn ra được một mức độ phân vô cơ và hữu cơ hợp lý và cho hiệu quả tối ưu nhất

Trang 15

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ CÂU HỌ ĐẬU

Theo Nguyễn Thị Hồng Nhân năm 2005 Họ Đậu là một họ thực vật rất quan trọng gồm 3 họ phụ:

- Họ phụ Muồng: gồm khoảng 2.800 loài, mà quan trọng là các cây gỗ ở rừng nhiệt đới

và các trảng cỏ nhiệt đới

- Họ phụ Trinh nữ: gồm khoảng 2.800 loài, cây nhỏ, cây bụi, trong đó đáng chú ý là loài cây keo (Acacia)

- Họ phụ Đậu: gồm khoảng 12.000 loài, chủ yếu là các lọai cây thân cỏ và dây leo, phổ

biến rộng rãi trên thế giới, cung cấp các loại thực phẩm từ thức ăn gia súc giàu đạm cho con người và động vật nuôi

Cây họ Đậu ngoài việc cung cấp một nguồn thực phẩm quan trọng cho người, còn có một vài công dụng phong phú khác như:

- Làm thức ăn gia súc: thân lá tươi và khô, bột lá và bột hạt dùng để chế biến thức ăn gia súc, gia cầm

- Phủ đất, chống bốc hơi đất trồng, giữ ẩm chống xói mòn

- Cải tạo và bồi dưỡng đất

- Trồng rừng lấy gỗ dùng trong công nghiệp bột giấy, để làm xanh đồi trọc

- Luân canh, xen canh rất tốt

- Cho bóng mát, điều tiết ánh sáng cho các cây trồng khác

- Dùng làm cảnh vì màu sắc sặc sỡ của bông hay tán lá đẹp (Dương Hữu Thời, 1982) Cây họ Đậu phân bố khắp thế giới nhưng chủ yếu là ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Phần lớn ở cây họ Đậu thân cỏ đều nhanh chóng thích nghi với môi trường mới, khác nhau về cường độ, ẩm độ, đất đai, chiều cao trên mặt biển và chịu đựng được các biến đổi lớn của các yếu tố đó Người ta gọi đó là biên độ sinh thái rộng Mặc dù có sự thích nghi rộng của các cây họ đậu nhưng các giống có năng suất, phẩm chất tốt đã được

Trang 16

chọn lọc vẫn đòi hỏi những điều kiện môi trường tốt để gia tăng phẩm chất và chống sự thoái hoá Vì vây, có một giống cây tốt mà không tìm hiểu và đáp ứng yêu cầu sinh thái,

kỹ thuật trồng ở địa phương mình là một điều thiếu sót lớn

2.1.1 Đặc tính thực vật của cây họ Đậu

Các cây họ Đậu có các đặc tính tổng quát :

- Lá mọc xen kẽ thường kép với ba lá phụ, hoặc kép hình lông chim, có lá bẹ

- Phát hoa có thể là hoa dầu hoặc hoa chùm Hoa ít khi đều, như hoa họ phụ đậu cánh lớn nhất ở giữa gọi là cờ, 2 cánh bên nhỏ hơn gọi là hông, và 2 cánh ở trong dính nhau làm thành một cái lườn bao quanh vòi nhụy và chỉ mang bao phấn

- Trấu là một quả đậu nở ra bằng 2 lằn dọc với nhiều ngăn mang một hạt, hoặc không

nở ra với một hạt duy nhất (Stylo)

- Rễ cái đuôi chuột với nhiều rễ con Ở gần rễ và chung quanh rễ con có mang những

nốt sần do sự cộng sinh của Rhizobium có khả năng cố định đạm, nhờ vậy hạt và thân

lá cây họ Đậu thường giàu Protein hơn các loại cây khác, nhất là so với họ Hòa thảo (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2005)

2.1.2 Đặc điểm sinh thái của cây họ Đậu

Cây họ Đậu có nhu cầu canxi, kali, photpho cao

Canxi

Ở cây họ Đậu Canxi đáp ứng hai yêu cầu:

- Cải tạo đất chua để kéo pH lên cho phù hợp với sự họat động của Rhizobium cộng sinh (pH gần trung bình) Nếu pH giảm thì đất không giữ được kali Nếu tỉ lệ Ca:P cao (1,3 – 2) thì lân tiêu hóa dễ dàng

- Đáp ứng nhu cầu sinh trưởng và phát triển của lá và trái Thể hiện bằng thành phần canxi trong tro lá cao, hơn 40%, còn trong trái thì ít hơn Điều này làm cho các nhà chăn nuôi chú ý lấy lá đậu làm bột chăn nuôi giàu canxi, ngoài tiêu chuẩn chủ yếu là hàm lượng protein cao với số lượng axit amin thiết yếu của chúng

Kali

Trang 17

Lượng Kali trong tro lá đậu thường cao nhất so với các khoáng khác vì nó đóng nhiều vai trò quan trọng:

- Tạo điều kiện cho quang hợp tiến hành mạnh

- Làm đậu cứng cây nhờ tăng bó mạch và sợi gỗ trong thân

- Tăng cường sự trao đổi chất nhờ sự kích thích của men

- Giúp cho đạm hòa tan tạo thành axit amin và tổng hợp ra nhiều protein

Ánh sáng, nhiệt độ và chu kỳ sống

Ánh sáng có ảnh hưởng chủ yếu đến quang hợp, đến giai đoạn phát dục (phát triển) của cây

Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây

Cây đậu trồng thường là cây ưa sáng và đã được thuần hóa, thích nghi với khí hậu, đất đai, khác với nguồn gốc xuất xứ của nó

Sự thay đổi vùng khí hậu (ánh sáng, nhiệt độ, mưa,…) từ Bắc tới xích đạo, chu kì sống của cây trồng giảm (Dương Hữu Thời, 1982)

2.1.3 Gía trị dinh dưỡng của cây họ Đậu

Các cây họ Đậu được chú trọng nhiều vì chất và lượng protein chứa trong toàn bộ cây: thân, lá, trái, hạt, củ Lượng protêin ở họ Đậu có vào khoảng 20 - 40% ở trạng thái khô, thậm chí một số giống có từ 40 – 60% tùy thuộc cách chọn lọc và kỹ thuật canh tác chuyên biệt

Trang 18

Cây họ Đậu giàu vitamin, caroten, đường bột, chất khoáng, đặc biệt là canxi, photpho

và các khoáng vi lượng

Một số cây họ Đậu giàu protein có thể dùng hạt để chế biến sữa đậu hay sữa bột Quan trọng nhất là đậu nành, đậu phộng sau khi tách dầu ra bánh dầu còn lại chứa rất nhiều protein Ngoài ra trong chăn nuôi, người ta cũng lợi dụng các phần khác của cây đậu và phế phẩm của nó cũng chứa nhiều protein, chất khoáng, caroten, vitamin cần thiết cho

sự sinh trưởng và phát dục của gia súc, gia cầm

2.1.4 Chất độc và chất khoáng dưỡng trong cây họ Đậu

Họ Đậu có nhược điểm là có chứa nhiều chất độc hơn các họ khác Các chất độc thuộc loại flavonit, glucosit, xyanua, axit amin dị thường (mimosin)

Ngoài ra, cũng có một số chất tuy không độc nhưng chúng chống tiêu hóa, chống sự hấp thu chất dinh dưỡng tức là chống sinh trưởng như chất kháng men tiêu hóa trypsin trong hạt đậu nành

Một số chất kháng dưỡng có trong cây đậu: mimosin (lá bình linh), canavalin, concanavalin A và B, canavanin, glucosit xyanua (đậu ngự), …

Mặc dù trong cây họ Đậu có nhiều chất độc nhưng những những chất này rất dễ loại bỏ bằng các cách như xay đậu với nước, nấu chín vài lần, cho tác dụng của axit, bazơ, bicarbonat Na, …

2.1.5 Vai trò của phân bón đối với cây họ Đậu

Đạm ( N ) hoá học

Đối với cây họ Đậu lấy lá làm thức ăn tươi, bột lá, lấy hột làm bột chăn nuôi có tỷ lệ protein tiêu hoá và chất khoáng cao, ý nghĩa của đạm sinh học, đạm khoáng trong đất, photpho và kali càng có giá trị đặc biệt (Dương Hữu Thời, 1982)

Kali (K)

Lượng Kali (K) trong tro lá đậu thường cao nhất so với các khoáng khác vì nó đóng nhiều vai trò quan trọng:

- Tạo điều kiện cho quang hợp tiến hành mạnh

- Làm đậu cứng cây nhờ tăng bó mạch và sợi gỗ trong thân

Trang 19

- Tăng cường sự trao đổi chất như sự kích thích của men

- Giúp cho đạm hoà tan tạo thành axit amin và tổng hợp ra nhiều protein

Photpho ( P)

Photpho là một chất khoáng quan trọng nó góp phần vào sự sinh trưởng của hệ thống rễ, đưa năng suất lá và hạt lên cao

Phân hữu cơ và mùn

Đây là nguồn cung cấp thức ăn cho cây và vi sinh vật, chứa lượng lớn các chất dinh dưỡng như: N, P, Ca, Mg, K, S và các nguyên tố vi lượng Các nguyên tố dinh dưỡng

sẽ được giải phóng từ từ cho cây trồng và vi sinh vật sử dụng Ngoài ra phân hữu cơ và mùn là hệ đệm cho đất, cây trồng và vi sinh vật hoạt động các phản ứng sinh, lý, hoá

2.1.6 Sử dụng cây họ Đậu làm thức ăn cho gia súc

Ở các nước nhiệt đới, cây họ Đậu có vai trò quan trọng đặc biệt Chúng có thể làm cây che chắn (như ở các đồn điền cà phê) và làm hàng rào sống, củi đốt, phân xanh Chúng thường là cây lâu năm và một số có thể thu cắt dễ dàng Ở các nước đang phát triển, việc tranh giành đất trồng trọt và đồng cỏ diễn ra khá mạnh Diện tích đất trồng cây họ đậu luôn chiếm tỉ lệ thấp so với tổng diện tích Điều đó hạn chế khả năng sản xuất của gia súc, vì cây họ đậu làm tăng hiệu quả chuyển hóa khẩu phần cơ sở (thông thường chủ yếu là phụ phẩm cây trồng) với mức bổ sung thấp (dưới 20%) và làm “chất kích thích” (Preston, 1987) Cây họ đậu có hàm lượng protein cao, cung cấp protein lên men

và protein by pass cao Ngoài ra, nó còn chứa các chất dinh dưỡng giới hạn khác (như lipid, khoáng, vitamin) và một số hợp chất thực vật tăng cường hoạt động của hệ sinh thái dạ cỏ vì tăng sinh trưởng của vi khuẩn, tăng tỉ lệ tiêu hóa xơ, tăng sản phẩm propionat và sự thoát khỏi lên men của protein trong dạ cỏ như lượng tanin (Preston, 1987)

Cây họ đậu chứa nhiều tanin, sẽ làm nguồn protein by pass tốt hơn cây chứa ít tanin Kết hợp với protein thức ăn làm hạn chế vi sinh vật dạ cỏ phân giải protein thực vật

Ở Costa Rica, dê sữa được nuôi bằng khẩu phần cơ sở là cỏ Vua (Pennisetum

purpureum) được bổ sung thêm bằng hỗn hợp quả chuối xanh và số lượng gia tăng lá

cây họ đậu Erythrina poeppigiana Tổng số vật chất khô ăn vào và sản lượng sữa đã

tăng tuyến tính với lượng cây họ đậu bổ sung Chỉ có một sự thay đổi tối thiểu cỏ Vua

(Pennisetum purpureum) trong khẩu phần (khả năng ăn vào giảm từ 690g còn 600g vật chất khô/ngày) Trong nghiên cứu ở Colombia, chồi lá cây keo tai tượng (Gliricidia

sepium), đã được sử dụng như thức ăn bổ sung cho bò thịt sau cai sữa trên khẩu phần

cơ bản là cỏ Vua (Pennisetum purpureum) cắt tươi trong mùa khô Tốc độ tăng trọng

Trang 20

có điểm uốn tương quan với việc tăng lá cây họ đậu Hàm lượng cây họ đậu tối thích trong khẩu phần là khoảng 30% Kết quả tương tự cũng đã được ghi nhận trên dê lùn

Tây Phi ở Nigeria được nuôi bằng hỗn hợp cỏ Ghine (Panicum maximun) và cây keo tai tượng (Gliricidia sepium) (Preston, 1987)

Bổ sung lá keo tai tượng vào khẩu phần cơ bản là cỏ lông para (Brachiaria mutica) cắt

tươi ở cừu sinh trưởng đã thấy có sự tương quan rõ rệt giữa tăng trọng và tốc độ mọc lông khi cây họ đậu được phối hợp đến 28% của khẩu phần

Thường các cây họ đậu có khả năng cố định đạm, chúng hấp thu nitrogen từ không khí, thông qua hệ thống vi khuẩn ký sinh ở các nốt sần hấp thu nitơ và biến đổi thành hợp chất hữu cơ để cung cấp đạm thỏa mãn nhu cầu cho cây Trước tiên, nitrogen liên kết tạo ra những sản phẩm alkaloide hoặc những acid amin bất thường, tích lũy lại trong cơ thể thực vật dưới dạng sản phẩm trao đổi thứ cấp Những acid amin này có cấu trúc gần giống với những acid amin thiết yếu, nhưng nó không thể thực hiện chức năng sinh học như nhưng acid amin thiết yếu, vì vậy nó trở thành yếu tố đối kháng với acid amin gần giống với nó (Dương Thanh Liêm, 2003)

Nghiên cứu về cấu trúc và phân bố của chất minosine trong một số cây họ đậu nhiệt đới, đặc biệt là cây bình linh Nhiều tác giảtham gia nghiên cứu và phân tích xác định hàm lượng mimosine trong cây bình linh Cơ chế tác động gây hại cũng được làm sáng

tỏ Cơ chế tác động gây độc: chất mimosine có cấu tạo gần giống như Thyrosin và DOPA (3,4 Dihydroxyphenylalanine), chất chuyển hóa của thyrosine trong cơ thể, vì vậy nó cũng ức chế trao đổi thyrosin trong cơ thể, nó không tạo thành Iodo-thyrosin (MIT, DIT), chất ban đầu để tuyến giáp tổng hợp ra thyrosin (T3 và T4) Vì lẽ đó, khi

thú ăn nhiều lá cây họ đậu thuộc họ mimosa, đặc biệt là cây bình linh sẽ có khuynh

hướng gây ra bướu cổ, do mimosine có thêm một vị trí bị oxy hóa và N thay thế C trong vòng phenol nên nó có ái lực hút iod rất mạnh, vì vậy nó cướp iod không cho quá trình iodhóa thyrosine (Dương Thanh Liêm, 2003)

2.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY ĐẬU BIẾC

Đậu biếc (Clitoria ternatea) là loại thực vật đa dụng Ngoài tác dụng cung cấp hợp chất

bioactive dùng trong dược phẩm, đậu biếc còn được trồng làm cảnh dọc theo hàng rào Cây có khả năng thích ứng trong khoảng nhiệt độ rộng, khi mưa kéo dài và nhiệt độ cao Ngoài ra cây còn chụi đựng được sương giá, mật độ chăn thả dầy và thời tiết khô hạn, thích hợp cho việc cải tạo đất hoang

2.2.1 Nguồn gốc và sự phân bố

Nhiều ý kiến cho rằng đậu biếc có nguồn gốc từ các vùng nhiệt đới châu Á, tuy nhiên

do quá trình nhập canh và quảng canh nên khó xác định nguồn gốc chính xác của cây đậu biếc Cây đậu biếc phân bố rộng khắc các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, ở những

Trang 21

nơi có điều kiện phù hợp cho cây phát triển như vùng nam và trung Mỹ, Trung Quốc,

Ấn Độ Khu vực phân bố của cây đậu biếc nhanh chóng mở rộng do mang lại nhiều lợi ích như tạo màu, dùng làm thực phẩm (Phạm Hoàng Hộ, 1999)

2.2.2 Mô tả thực vật

Đậu biếc (C ternatea) thuộc họ Fabaceae, họ phụ Papilionaceae, Cây có nhiều tên gọi

khác nhau Cây đậu biếc cao từ 90-160 cm Là cây thảo leo Thân và cành mảnh có lông Lá kép lông chim lẻ, có 5-7 lá chét hình trái xoan, mõng, 2-6 x 1.5-4 cm, nhọn hay tù ở gốc, tròn hay nhọn ở đầu, có lông rải rác ở mặt dưới, gân bên có 6 đôi, cuống

lá dài 1-3 cm; lá kèm hình ngọn giáo, 5-10 mm Hoa có màu xanh đậm, dài từ 6-12 cm (Kalamani, 2003) Bộ rể dài, phát triển theo chiều rộng, có thể dài đến 2 m Thân cây

có màu lam tía, dẻo dai Lá kép gồm ba lá đơn Hoa thụ phấn chéo bằng sâu bọ hay tự thụ phấn Hoa ở nách đơn độc hay xếp thành từng đôi Hoa màu xanh lơ hoặc trắng, có cuống cở 4 mm, dài 5 cm, lá bắc hình ngọn giáo, lá bắc con tròn hay xoan tù Cuốn hoa

cở 6 mm, đài hình ống, có 5 thùy nhọn, mõng, mềm, có gân hình mạng; cánh cờ có viền giữa màu da cam, xoan ngược thon lại ở gốc; cánh bên thon có móng dài; cánh thìa có móng ngắn hơn cánh bên; nhị 10, xếp 2 bó (1+9); bầu có lông nhung Một số

loại C ternatea hoa có màu trắng kem, hoa trổ riêng lẻ, có hình dạng rất lôi cuốn Quả

đậu có lông mềm, kích thước 10 x 1cm, hình dải, có từ 5-10 hạt dẹp, hình thận, lúc chín hạt có màu nâu hay gần như đen (Phạm Văn Kim, 2000) Trái đậu khi khô chứa từ 6-8 hạt có màu xanh hoặc nâu (Kalamani, 2003)

Loài của châu Á, châu Phi, châu Mỹ nhiệt đới, ở châu Á phổ biến từ Ấn Độ đến Australia trải qua Mianma, Trung Quốc, Thái lan, Campuchia, Lào và Việt Nam Được trồng từ lâu đời nên không còn rỏ khu phân bố tự nhiên của loài này

Ở nước ta, đậu biếc có ở Quảng Ninh, Ninh Bình, Hếu, Đà Nẳng, Khánh Hòa, Bình Thuận và khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Cây thường mọc trong các bãi cỏ, các savan hay được trồng trong vườn gia đình, ruộng trồng Cây được trồng làm cảnh và để lấy quả

Ở Lào, hạt được dùng làm thực phẩm Rễ cây dùng để giải nhiệt, chửa bệnh tiêu chảy ở trẻ em Ở Indonesia, cây đậu biếc được dùng để trị bệnh lao phổi, đau ngực, ho và viêm

lở ngoài da, hạt dùng làm thuốc khai vị Ở Philipin người ta nghiền hạt và trộn với bitatrate kalium liều gấp đôi sẽ gây xổ có hiệu quả nhanh và đảm bảo vô hại Lá dùng

để đấp vết thương, chổ rò, mụn mủ, bướu Dịch lá dùng chửa viêm mắt Ở Ấn Độ, cây được dùng để trị nọc độc rắn cắn Ở Trung Quốc, rễ và lá được dùng giả đấp mụn nhọt (Phạm Văn Kim, 2000)

2.10.3 Đặc tính nông học

Dậu biếc (C ternatea) có thân mãnh Khi bộ rễ phát triển, và khi cây đã có 5 lá thật

đầu tiên, cây có xu hướng leo lên cao và bắt đầu trổ hoa màu xanh thẩm Cây có khả

Trang 22

năng thích ứng với nhiều loại đất có độ pH từ 5.5 - 8.9, có khả năng sống sót trong mùa mưa và mùa khô hạn kéo dài, khả năng kép tán mạnh khi được trồng chung với các loại thực vật khác hay trồng bằng giàn leo, khả năng tái sinh nhanh sau khi thu hoạch Đậu biếc cho ra lượng hạt giống lớn Vào thời điểm bắt dầu cho đến giữa mùa mưa, trái đậu khô bắt đầu quá trình tự khai Nhờ vậy, đồng cỏ luôn trong tình trạng tự cải tạo Đối với đồng cỏ độc canh nên sử dụng các loại thuốc diệt cỏ hậu nảy mầm (Spinnaker 200-

400 ml/ha) từ 2 đến 8 tuần trước khi gieo để kiểm soát tốt cỏ dạy và cần sớm loại bỏ cỏ

dại bằng tay sau khi gieo (Conway et al., 2001)

Đậu biếc có tính thích nghi cao, khả năng chụi được mật độ chăn thả liên tục, giử được tình trạng tốt khi chăn thả nhẹ vào mùa mưa Đậu biếc có khả năng kết hợp tốt với

nhiều loại cỏ khác như Cenchrus ciliaris, Digitaria decumbns và những loại cỏ mọc tự

nhiên, và nhờ đó dễ hình thành một đồng hổn hợp (Humphreys, 1995)

Bảng 2.1 Một số đặc tính sinh học và nông học của cây họ Đậu

Độ màu mỡ của đất Từ trung bình đến thấp

Độ cao so với mặt nước biển 0-1600 m (0-5.249 ft) Mật độ gieo trồng Độ canh: 20-25 kg/ha, Trồng xen với

Không gian phát triển 2-4 kg/ha đối với đồng cỏ ổn định, 6

kg/ha đối với đồng cỏ trong ngắn hạn

Độ sâu khi trồng trên nền đất ẩm 2,5-6,5 cm

2.2.4 Năng suất và thành phần hoá học

Trong điều kiện canh tác thuận lợi, năng suất chất khô có thể đạt 30 tấn/ha/năm Hạt đậu biếc có hàm lượng protein cao (15-25%) Sau 2 năm canh tác trên đồng cỏ bạc màu, cây đậu biếc phục hồi nguyên trạng độ màu mở của đất Cỏ trồng xung quang khu vực trồng cây đậu biếc cũng có hàm lượng protein cao nhờ quá trình hấp thu hàm lượng N

Trang 23

sản sinh trông đất Lá cây đậu biếc chứa 21,55% CP và 21,5-29% CF (Kalamani, 2001) Lượng protein tổng số có thể đạt từ 14 - 20% Thành phần của hạt bao gồm 25–38% protein, 5% đường tổng số, 10% béo Nitrogent tập trung ở phần ngọn có hàm lượng từ 1,7–4.0% Nhiệt độ cao ở những vùng nhiệt đới làm giảm hàm lượng protein hoà tan, làm tăng hàm lượng xơ thô, giảm tỷ lệ tiêu hoá (Agange, 2003) Thành phần các acid amine được trình bày trong bảng

Bảng 2.2 Thành phần acid amine của cây Đậu biếc

Acid amine Arg Cys Gly Hys Iis Leu Lys Met Phe Thr Try Tyr Val

% 7,4 2,5 4,1 2,4 4,2 7,4 6,1 1,0 3,6 2,2 1,2 3,3 4,4

(Nguồn: Barro (1983))

Tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô ở gia súc nhai lại biến động từ 60 -75 % Một nghiên cứu tại miền Nam Brazil cho thấy ở trạng thái khô, hàm lượng vật chất khô, ash, ether extra, protein thô và carotenoid tổng số lần lượt là 89,04 %; 8,92 %; 4,24 %; 34,84 % và 587,28 mg/kg sau 42 ngày, tăng lên 91,1%; 7,24%; 3,46; 32,34%; hàm lượng carotenoid ở thời điểm 84 ngày là 399,93 mg/kg Hàm lượng CF tăng từ 28,94 lên đến 38,25 trong thời gian này Khi dự trử trong vòng 6 tháng, hàm lượng carotenoid đậu biếc là 400 - 587 mg/kg (Barro, 1983) Phân lập từ lá cây đậu biếc thu được 55% protein (N × 6.25), tương ứng 1,43kg/100kg trọng lượng tươi

Thu hoạch tại thời điểm 45 ngày, năng suất trồng có thể đạt được tối đa 35 tấn/ha, tương ứng 3 kg protein

2.2.5 Công tác cải tiến giống

Trong quần thể lai giữa C purpurea x C ternatea, sự khác biệt lớn về kiểu hình và

kiểu gen có tác động cộng gọp đối với những tính trạng như trọng lượng hạt, CP, CF, kích thước lá, số lá, số trái trên cây, (Kalamani, 2001) Rõ ràng, để có một đồng cỏ có chất lượng tốt cần tạo đểu kiện thuận lợi cho quá trình chọn lọc tự nhiên Lai tạo gen, chọn lọc cây lai, lai giống có khả năng cải tiến năng suất và chất lượng đồng cỏ thông qua các tác động lên những tính trạng có hiệu quả kinh tế

Bảng 2.3 Một số đặc tính của cây lai giửa C ternatea x C Purpurea

Chiều cao cây (cm) 90 – 160 14,3 13,9 94,48 27,9

Trang 24

Chiều rộng hạt phấn (mm)

cứu cho thấy, C ternatea làm tăng hàm lượng acetyl choline, tăng hoạt tính enzyme

hoạt hoá acetyl choline trên nảo chuột và có tác động tương tự như pyritinol ( Theo Taranalli, 2003) Ngoài tác dụng bổ não, cây đậu biếc có tác dụng đối với những bệnh nhiễm trùng mắt, cổ hộng, các bệnh về da, rối loạn bài tiết, lở loét, giải độc cơ thể (Malabodi, 2001) Bên cạnh những dược tính trên, đậu biếc còn được dùng để đấp lên

bề mặt do chứa chất có tính kháng protein của nấm ký sinh, có cấu trúc tương tự như ct-AMP1 (The vissen et al 2000)

Trang 25

2.2.7 Quản lý đồng cỏ

Tại Queensland Người ta trồng đậu biếc để cải thiện độ màu mở của đất, làm tăng hàm lượng N, góp phần cải thiện sản phẩm chăn nuôi bằng cách trồng mới hoặc trồng xen vào những đồng cỏ đang sử dụng Nhờ sự phối hợp giửa người nông dân, sử dụng giống mới và áp dụng những nghiên cứu khoa học, diện tích trồng cây đậu biếc đả tăng lên trên 12,000 ha trong 3 năm đầu và ước tính diện tích này tăng thêm 5,000 ha mỗi năm trong những năm tiếp theo Tuy nhiên, diên tích trồng đậu biếc vẩn chưa ổn định

do phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nhu cầu thị trường đối với các loại súc sản

Sau 6 năm trồng thử nghiệm, các chuyên gia, những nhà khoa học, và người dân tại Queensland dưa ra những khuyến cáo quan trọng trong việc quản lý đồng cỏ như sau:

- Nên sử dụng 2 – 4 kg hạt giống/ha đối với đồng cỏ ổn định và 6 kg hạt giống/ha đối với đồng cỏ sử dụng trong thới gian ngắn để đạt được mật độ gieo trồng tối ưu từ 5 đến

10 cây/m2

- Nên gieo trồng trên đất ẩm ở độ sâu từ 2.5 - 6.5 cm

- Khoảng cách gieo giữa hai hàng là (15 – 30 cm)

- Sử dụng thuốc diệt cỏ 2 - 8 tuần trước khi gieo trồng ( Sử dụng Spinnaker từ 200 –

400 mL/ha)

- Hạn chế chăn thả trong thời gian hạt phát tán để giúp khôi phục, tăng mật độ từ đó làm tăng khả năng chăn thả của đồng cỏ

2.2.8 Những ưu điểm khác

- Cây đậu biếc dể dàng loại bỏ để trồng mới

- Là loại cây lâu năm không cần phải trồng lại

- Chi phí trồng thấp

- Nguy cơ tổn thấp thấp, khả năng cạnh tranh và tồn tại cao hơn so với các loại đồng cỏ cùng loại

- Có thể luân canh với các loại cây khác, chi phí loại bỏ thấp

- Thời gian thiết lập ngắn, có thể sử dụng chăn thả hoặc cắt trong thời gian ngắn

- Cây có thể trồng trên vùng đất sét nặng

- Khả năng tự cải tạo, tự nhân số lượng, mật độ

Trang 26

- Phục hồi những đồng cỏ chăn thả quá mức

- Tăng độ màu mỡ cho đất

- Là cây thức ăn gia súc có chất lượng cao

Trang 27

Chương 3:PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM

3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm

Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 8/2008 đến tháng 4/2009 trên khu đất thuộc nông

hộ ông Nguyễn Bửu Châu, số 676/11, khư vực Bình Yên A, Phường Long Hòa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ

Trước khi thí nghiệm, đất được làm sạch cỏ, phân lô, đánh rãnh và đào hốc

Đất trồng được bón lót bằng phân chuồng hoai mục và bón với tỉ lệ khác nhau ở từng

lô thí nghiệm

3.1.2 Các cơ sở vật chất cần thiết Giống

Thí nghiệm được tiến hành trên một giống cây họ đậu thuần cơ bản Clitoria ternatea

Phân bón

Sử dụng phân hữu cơ trùng quế và phân vô cơ N, P, K

Dụng cụ sử dụng ngoài đồng

Bao gồm các vật dụng như dao, cuốc, cân, thước dây, sổ ghi chép, thùng tưới,

Dụng cụ phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm

Bao gồm tủ sấy, cân phân tích, tủ nung, bộ công phá và chưng cất đạm và các dụng cụ thí nghiệm khác

3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 3.2.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức thừa số hai nhân tố với hai mức độ phân bón vô

cơ, ba mức độ phân hữu cơ và ba lần lặp lại Mỗi lô trồng cỏ thí nghiệm có diện tích 30m2 (6.5x4,6 m) Tương ứng với 6 nghiệm thức:

Trang 28

Nghiệm thức 1: HC1+VC1 Nghiệm thức 2: HC1+VC2 Nghiệm thức 3: HC2+VC1 Nghiệm thức 4: HC2+VC2 Nghiệm thức 5: HC3+VC1 Nghiệm thức 6: HC3+VC2 Trong đó:

- Phân bón vô cơ mức độ 1 có tỉ lệ (1N-10P-4K) và bón với số lượng: 50kg Urê-500kg Super Lân -200kg Kali/ha/năm

- Phân bón vô cơ mức độ 2 có tỉ lệ (1N-10P-4K) và bón với số lượng: 75kg Urê-750kg Super Lân -300kg Kali /ha/năm

- Phân bón hữu cơ được bón một lần khi chuẩn bị đất với lượng bón như sau: mức độ hữu cơ 1: 10 tấn/ha/năm, mức độ hữu cơ 2: 20 tấn/ha/năm, mức độ hữu cơ 3: 30 tấn/ha/năm

3.2.2 Kỹ thuật canh tác Gieo hạt

Sau khi phân lô, hạt được gieo theo hàng với khoảng cách 50 x 50cm bằng cách dùng chày tia xôm lổ Mỗi hốc bỏ từ 3-4 hạt sau đó dùng tro trấu lấp hốc lại

Dâm hạt và tỉa cây

Để đảm bảo mật độ đồng điều ở mỗi lô thí nghiệm, 7 ngày SKG, xem hốc nào chưa nảy mầm thì tiến hành dậm hạt lại vị trí ngay cạnh 10 ngày sau khi gieo thì tiến hành tỉa cây, chỉ để lại 2 cây mỗi hốc

Chăm sóc

Để đảm bảo hạt nảy mầm đều và cây con phát triển tốt, tiến hành tưới thùng 2 lần/ ngày trong giai đoạn nảy mầm đến 20 ngày sau khi gieo Sau đó áp dụng tưới tràn

Làm cỏ

Trang 29

Làm cỏ xung quanh lô thí nghiệm và làm sạch cỏ tạp sau khi thu hoạch

Lấy mẫu

Lấy mẫu phân tích bằng cách lấy ngẫu nhiên khoảng 1 kg cỏ trên mỗi lô cho vào túi nylon và cột kín miệng, đánh dấu, đem về phòng thí nghiệm Cỏ được cắt nhỏ, lấy ngẩu nhiên theo phương pháp đường chéo, cân 300g cỏ cắt nhỏ, đem sấy khô ở 650C đến khi khô giòn, nghiền nhuyễn, sau đó phân tích thành phần DM, CP

3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi và cách thu thập số liệu

3.2.3.1 Các chỉ tiêu về đặc tính sinh trưởng

- Tỷ lệ nảy mầm (%): Đếm số hạt nảy mầm trên toàn bộ số hạt đã gieo

- Thời gian nảy mầm (ngày): Ghi nhận khi 50% số hạt đã nảy mầm

- Thời gian ra lá thật đầu tiên (ngày): Ghi nhận khi 50% số cây theo dõi có lá thật đầu tiên

- Chiều cao cây con (cm): Đo từ mặt đất đến đỉnh ngọn cho đền khi cây có lá thật đầu tiên, lấy trung bình

- Chiều dài thân chính lúc thu hoạch (cm): Đo dài thân của cây tại thời điểm thu hoạch

- Số lá trên thân chính tại thời điểm thu hoạch

- Số nhánh bậc 1 trên thân chính tại thời điểm thu hoạch

- Độ che phủ (%): Ghi nhận cảm quan trước khi thu hoạch

Trang 30

- Độ cao thảm (cm): Lấy độ cao trung bình 5 điểm ngẩu nhiên theo phương pháp đường chéo trên mỗi lô

- Khả năng tạo nốt rễ: Đào ngẫu nhiên trước khi thu hoạch 2 cây mỗi lô ở hàng bìa, đếm số nốt rễ lớn, vừa và nhỏ

- Khả năng chống chụi sâu bệnh: Quan sát theo dõi tình hình sâu bệnh trong suốt thời gian thí nghiệm

- Khả năng cạnh tranh cỏ dại: Khảo sát phần cỏ dại

3.2.3.2 Các chỉ tiêu về tính năng sản xuất

- Năng suất chất xanh (tấn/ha): Thu hoạch hàng giữa, để lại mỗi đầu hàng 1 cây, cắt phần lá non và cân tươi

- Thành phần hóa học (%): Chọn ngẩu nhiên mỗi lô 300g, phân tích theo phương pháp Weende

- Năng suất chất khô (tấn/ha): Từ năng suất chất xanh và tỷ lệ nước qui ra năng suất chất khô

- Năng suất protein (tấn/ha): Từ năng suất chất xanh và tỷ lệ protein qui ra năng suất protein

3.2.4 Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học, phân tích phương sai theo mô hình tuyến tính tổng quát bằng phần mềm Minitab version 13.2

Trang 31

Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT 4.1.1 Tình hình thời tiết khí hậu

Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 4 năm 2009 Trong thời gian này tác động của yếu tố thời tiết khí hậu là khác nhau trên mỗi lứa cắt Cụ thể, ở lứa cắt 1 có lượng mưa cao (146.6 – 254.5 mm), nhiệt độ mát mẻ (26.5 – 27.3oc) và ẩm

độ cao (84 – 88 %) thích hợp thích hợp cho việc gieo trồng Nhưng do mưa kéo dài nên

số giờ nắng trong giai đoạn này là khá thấp (51 – 203 h/tháng) Giai đoạn đầu của lứa cắt 2 chụi ảnh hưởng của lượng mưa trái mùa vào thời điểm cận tết Nguyên Đán So với lứa cắt 1, lượng mưa đã giảm đột ngột từ 146.6 mm ở tháng 11 giảm xuống còn 61.3 mm ở tháng 12, thời gian mưa không còn kéo dài như trước Chính nguyên nhân trên đã làm cho ẩm độ giảm hơn so với lứa cắt 1 đồng thời số giờ nắng tăng lên Các chỉ tiêu nhiệt độ, độ ẩm trong giai đoạn này là hoàn toàn thích hợp cho sự phát triển của cây Đậu biếc (Humphreys, 1995) Lượng mưa giảm đột ngột vào thời điểm cận thu hoạch lứa cắt 2 đã ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển, tái sinh ở lứa cắt 3 Do lượng mưa khá thấp và hầu như không đáng kể nên nguồn nước cung cấp chủ yếu cho cây trong giai đoạn này là tưới thủ công Thêm vào đó, nhiệt độ cao làm giảm khả năng giữ nước của đất Cây có xung hướng rụng nhiều lá để chống lại tác động của nhiệt độ cao,

độ dài thời gian chiếu sáng lớn và ẩm độ thấp ở lứa cắt 3

Bảng 4.1 mô tả cụ thể tình hình thời tiết khí hậu trong thời gian thực hiện thí nghiệm được thu thập từ Trạm khí tượng thủy văn thành phố Cần Thơ

Bảng 4.1 Tình hình thời tiết, khí hậu ghi nhận tại đài khí tượng thuỷ văn Tp Cần Thơ từ tháng 8/2008 đến

Trang 32

Cỏ dại là nhân tố chính làm giảm năng suất của cây do sự cạnh tranh dưỡng chất, nước, ánh sáng Mặt khác, cỏ dại còn là nơi trú ẩn của sâu và mầm bệnh Do có mưa thường xuyên trong giai đoạn nảy mầm nên cỏ dại xuất hiện rất sớm Mặc dù đã dọn sạch cỏ nhưng sau đó cỏ mọc tự nhiên giửa các hàng là khá nhiều Trong các lô thí nghiệm, một số loài cỏ dại thường xuất hiện là:

- Cỏ Chỉ (Cynodon dactylon)

- Rau Muống (Impomoea aquatica)

- Rau Trai (Commelina dissfusa)

- Cỏ Chân gà (Dactyloctenium aegumtium)

Biện pháp diệt cỏ được áp dụng là làm bằng tay Thường xuyên tiến hành làm cỏ ở mỗi lứa cắt kết hợp với bón phân vô cơ, đặc biệt trong thời gian sau khi thu hoạch giúp cây đậu biếc tăng khả năng cạnh tranh cỏ dại do cây có thời gian kép tán càng nhanh tính cạnh tranh cỏ dại của cây càng mạnh

4.2 CÁC ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG 4.2.1 Tỷ lệ nẩy mầm

Chúng tôi tiến hành đếm số lượng hạt giống trước khi gieo trồng Tỷ lệ nẩy mầm là tỷ

số giửa số hạt đã gieo và số cây con xét khi tỷ lệ sống của cây đã ổn định Kết quả cho thấy tỷ lệ nẩy mầm của cây đậu biếc là 76%, cao hơn so với tỷ lệ nẩy mầm khảo sát

trên đậu Dolichos Lablab cv Rongai (33,30%), Đậu ma (20%), Stylosanthes hamata

(16%) (Nguyễn Văn Hớn, 1985), do trong thí nghiệm của Nguyễn Văn Hớn hạt giống không được bảo quản và tồn trử tốt Ngoài ra điều kiện thời tiết khí hậu, tính miên trạng của hạt giống và cách xử lý hạt trước khi gieo cũng ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nẩy mầm (Trịnh Văn Thịnh, 1974)

4.2.2 Thời gian nẩy mầm

Đây là chỉ tiêu phụ thuộc rất nhiều vào sức sống của hạt giống, cách xử lý hạt trước khi gieo, đất canh tác, ẩm độ đất Nhìn chung do chuẩn bị giống tốt và ẩm độ trong đất lúc gieo còn cao nên hầu hết các nghiệm thức đều có cây nẩy mầm vào ngày thứ 4 SKG (tỷ

lệ nẩy mầm: 2 – 3,2%) Thời gian nẩy mầm tập trung cao nhất vào giai đoạn 6 - 9 ngày SKG Đến ngày thứ 9 SKG chúng tôi nhận thấy có trên 50% số cây nẩy mầm So với kết quả của Nguyễn Thị Trong năm 1979 thực hiện trên cây Kudzu nhiệt đới có thời

Trang 33

gian nẩy mầm là 13 ngày SKG thí nghiệm của chúng tôi có thời gian nẩy mầm thấp hơn

4.2.3 Thời gian ra lá thật đầu tiên

Thời gian ra lá thật đầu tiên được ghi nhận khi 50% số cây ở các nghiệm thức có lá thật

Do nhiệt độ, ẩm độ tại thời điểm gieo trồng thích hợp cho sự nẩy mầm và phát triển của cây con (Humphreys, 1995), nên bên cạnh tác động làm tăng tỷ lệ nẩy mầm, rút ngằn thời gian nẩy mầm, điều kiện tự nhiên còn có tác dụng tốt đối với sự phát triển của cây non Tại thời điểm 10 ngày SKG, 50% số cây khào sát có lá thật đầu tiên

4.2.4 Chiều cao cây con

Bảng 4.2 Chiều cao cây con (cm)

Trong giai đoạn nảy mầm đến khi có lá thật đầu tiên, ảnh hưởng của phân bón chưa thể hiện rõ vì cây còn quá nhỏ, rễ ít nên khả năng hấp thu dưỡng chất là rất thấp (Nguyễn Thị Trong, 1979)

Trang 34

0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

Ngày SKG

Chiều cao cây con (cm)

Chiều cao cây con (cm)

Biểu đồ 4.1 Chiều cao cây con trong giai đoạn từ 1 – 10 ngày SKG

4.2.5 Chiều dài thân chính tại thời điểm thu hoạch

Chiều cao cây là đặc tính di truyền của giống nhưng chụi tác động rất lớn của điều kiện môi trường và kỹ thuật canh tác Chỉ tiêu này còn là tiêu chí đánh giá sự sinh trưởng, phát triển và tính năng sản xuất của cây (Trịnh Văn Thịnh, 1974)

4.2.5.1 Ảnh hưởng của phân vô cơ đến chiều dài thân chính của cây tại thời điểm thu hoạch

Mưa kéo dài trong suốt thời gian canh tác lứa cắt 1 làm giảm khả năng hấp thu dưỡng chất ở cây trồng Nước mưa đóng vai trò là dung môi hòa tan phân bón Nhưng khi mưa liên tục, phân vô cơ rất dễ bị rữa trôi (Nguyễn Xuân Trường, 2000) Đây chính là nguyên nhân tạo nên tác động khác nhau của hai mức độ phân vô cơ lên lứa cắt 1 so với hai lứa cắt 2 và 3 Ở lứa cắt 1, phân vô cơ hầu như không có tác dụng do phân nhanh chóng bị rữa trôi Sang hai lứa cắt 2 và 3, ảnh hưởng của các mức độ phân bón

vô cơ đối với chiều dài thân chính khi thu hoạch là khác nhau có ý nghĩa và phân bón

vô cơ mức độ 2 có kết quả cao hơn mức độ 1 Ở lứa 2, nghiệm thức VC2 có chiều dài

Trang 35

thân chính là 86,16 cm, cao hơn so với nghiệm thức VC1 có chiều dài thân chính là 62,95 cm Cùng các mức độ phân vô cơ này ở lứa cắt 3 lần lượt là 84,74 cm và 60,56

cm Trong ba lứa cắt, lứa cắt 1 có chiều dài thân chính cao nhất, biến động từ 92,26 – 98,60 cm Đây là lứa cắt có thời gian thu hoạch 120 ngày, lớn hơn so với hai lứa cắt còn lại có thời gian thu hoạch là 60 ngày

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của phân vô cơ đến chiều dài thân chính của cây tại thời điểm thu hoạch (cm)

NGHIỆM THỨC Lứa cắt

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến chiều dài thân chính của cây tại thời điểm thu hoạch (cm)

NGHIỆM THỨC Lứa cắt

Ngày đăng: 11/04/2018, 22:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm