1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của các mức độ đạm và LOẠI THỨC ăn bổ SUNG đạm TRÊN sự tận DỤNG DƯỠNG CHẤT và TĂNG TRƯỞNG của bò TA

35 198 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 553,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể phân chia các loại vi khuẩn ra thành các nhóm sau: Ø Vi khuẩn phân giải carbohydrate: số lượng tăng lên khi trong khẩu phần có nhiều thức ăn hạt, củ, cỏ tươi, … Ø Vi khuẩn lên men

Trang 1

Cần Thơ, 2 - 2007

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN CHĂN NUÔI

=====š&›=====

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ CHĂN NUÔI THÚ Y

ĐỀ TÀI

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ ĐẠM VÀ LOẠI

THỨC ĂN BỔ SUNG ĐẠM TRÊN

SỰ TẬN DỤNG DƯỠNG CHẤT VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA BÒ TA

MSSV: 3022156 Lớp: Chăn nuôi thú y K28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN CHĂN NUÔI

=====š&›=====

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ ĐẠM VÀ LOẠI

THỨC ĂN BỔ SUNG ĐẠM TRÊN

SỰ TẬN DỤNG DƯỠNG CHẤT VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA BÒ TA

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2007 Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2007

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN DUYỆT BỘ MÔN

Nguyễn Văn Thu Trưởng bộ môn

Trang 3

TÓM LƯỢC Thí nghiệm được thực hiện tại Trại chăn nuôi thực nghiệm và phòng thí nghiệm khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hình vuông la tinh với 4 giai đoạn, 4 khẩu phần trên 4 bò địa phương (bò đực) có trọng lượng từ 120 – 150 kg ở đầu thí nghiệm Bò được cho ăn cỏ lông tây ở mức 1% thể trọng (tính trên vật chất khô) và rơm cho ăn tự do Mỗi giai đoạn kéo dài 4 tuần, 2 tuần đầu tập ăn, tuần thứ 3 lấy mẫu và phân tích nước tiểu, tuần cuối cùng phân tích các chỉ tiêu còn lại Các thức ăn sử dụng để bổ sung trong thí nghiệm là so đũa, urê, bánh dầu bông vải

Mức độ bổ sung đạm là 150g và 200g CP, với các khẩu phần:

+ Nghiệm thức 1 (SU-150): so đũa + urê (150g CP/100kg thể trọng/ngày)

+ Nghiệm thức 2 (BV-200): bánh dầu bông vải (200g CP/100kg thể trọng/ngày)

+ Nghiệm thức 3 (BV-150): bánh dầu bông vải (150g CP/100kg thể trọng/ngày)

+ Nghiệm thức 4 (SU-200): so đũa + urê (200g CP/100kg thể trọng/ngày)

Trong phạm vi của thí nghiệm có thể kết luận như sau:

Có thể sử dụng so đũa, urê, bánh dầu bông vải để làm thức ăn bổ sung đạm cho bò, nhất là trong chăn nuôi bò thịt

Mức độ bổ sung là 200g CP/100kg thể trọng/ngày cho tăng trọng có hiệu quả hơn so với mức

độ 150g CP/100kg thể trọng/ngày, và bổ sung bánh dầu bông vải cho tăng trọng và tích lũy nitơ tốt hơn so với so đũa kết hợp với urê

Nồng độ N-NH 3 cao ở nghiệm thức có mức độ đạm cao (200g CP/100kg thể trọng)

Không có sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ tiêu hóa các dưỡng chất ở các nghiệm thức

Đề nghị nên sử dụng so đũa, urê, bánh dầu bông vải để bổ sung đạm trong chăn nuôi bò thịt Tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của các mức độ đạm cao hơn và kết hợp với các loại thức ăn khác nhau

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Trang

Bảng 1: Thức ăn và thành phần hóa học của thức ăn sử dụng

trong thí nghiệm -19

Bảng 2: Lượng thức ăn, dưỡng chất và năng lượng tiêu thụ của bò ở các nghiệm thức -20

Bảng 3: Lượng nước uống, nước tiểu, phân thải ra, nitơ ăn vào, nitơ tích lũy và tăng trọng của bò qua các nghiệm thức -21

Bảng 4: Nồng độ N-NH 3 dịch dạ cỏ (mg/100ml) và tỷ lệ tiêu hoá dưỡng chất trong ở các nghiệm thức thí nghiệm -22

Biểu đồ 1: Sự tăng trọng của bò trong thí nghiệm -21

Biểu đồ 2: Nồng độ N-NH 3 ở 0 giờ và 3 giờ giữa các nghiệm thức -23

Hình 1: Bò được nuôi trên chuồng sàn và đeo túi hứng nước tiểu trong tuần lấy mẫu -26

Hình 2: Tổng quan chuồng trại, mỗi bò được nuôi trên chuồng sàn cá thể -26

Hình 3: Lấy dịch dạ cỏ ở bò thông qua miệng -27

Hình 4: Sử dụng ống chích 50ml để hút dịch dạ cỏ -27

Hình 5: Bò được cho ăn thức ăn bổ sung là so đũa và urê -28

Hình 6: Bò được cho ăn thức ăn bổ sung là bánh dầu bông vải -28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ - 7

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN - 8

2.1 Sơ lượt về sinh lý tiêu hóa ở bò - 8

2.1.1 Hệ vi sinh vật dạ cỏ - 8

2.1.2 Tiêu hóa ở dạ cỏ -10

2.1.3 Sự hấp thu ở dạ cỏ -12

2.2 Sơ lượt về tỷ lệ tiêu hóa (TLTH) trên gia súc nhai lại -15

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM -16

3.1 Phương tiện thí nghiệm -16

3.2 Vật liệu thí nghiệm -16

3.3 Phương pháp thí nghiệm -16

3.3.1 Bố trí thí nghiệm -16

3.3.2 Phương pháp tiến hành -17

3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi và thu thu thập số liệu -17

3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu -18

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ & THẢO LUẬN -19

4.1 Sơ lượt về thức ăn trong thí nghiệm -19

4.2 Lượng thức ăn, dưỡng chất và năng lượng tiêu thụ của bò trong thí nghiệm -20

4.3 Lượng nước uống, nước tiểu, phân thải ra, nitơ ăn vào, nitơ tích lũy và tăng trọng của bò trong thí nghiệm -21

4.4 Hàm lượng N-NH3 dịch dạ cỏ và tỷ lệ tiêu hóa các dưỡng chất của bò Trong thí nghiệm -22

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN & ĐỀ NGHỊ -25

TÀI LIỆU THAM KHẢO -29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây được sự khuyến khích của nhà nước ngành chăn nuôi bò được chú trọng phát triển mạnh Tổng đàn bò nước ta hiện nay khoảng 3,2 triệu con, trong khi cả nước có khoảng 3,2 ngàn ha diện tích đất dùng để trồng cỏ tự nhiên (Thành, 2001) Tuy nhiên do nhu cầu đất đai trong sản xuất lương thực ngày càng cao nên đã làm giới hạn lại diện tích đồng cỏ và bãi chăn thả cho trâu, bò Hơn nữa năng suất cỏ tự nhiên của chúng ta không cao, khoảng 7 – 8 tấn chất khô/ha/năm (Thu, 2003) Nhưng nước ta có một nguồn sinh khối lớn phụ phẩm nông nghiệp như rơm, ngọn mía, thân bắp,… có thể sử dụng làm thức ăn thô cơ bản cho gia súc nhai lại Phụ phẩm tạo ra hàng năm ở nước ta khoảng 18 triệu tấn vật chất khô (Chinh và Ly 2001)

Do vậy Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để phát triển chăn nuôi bò bền vững Tuy nhiên một trong những hạn chế lớn trên các thức ăn của loài nhai lại ở nước ta là có dưỡng chất thấp Vì thế vấn đề tất yếu là phải bổ sung thêm nguồn dưỡng chất (nhất là đạm thô) từ các loại thức ăn khác như cây họ đậu, các loại bánh dầu, urê,… Làm thế nào để kết hợp thức ăn bổ sung và thức ăn cơ bản vào khẩu phần hàng ngày của bò cho có hiệu quả? Muốn trả lời câu hỏi đó cần phải có không ít các nghiên cứu, thử nghiệm các khẩu phần khác nhau Để đóng góp vào công cuộc nghiên cứu trên chúng tôi tiến

hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của các mức độ đạm và thức ăn bổ sung đạm

trên sự tận dụng dưỡng chất và tăng trưởng của bò ta”

Qua đề tài chúng ta sẽ có thể tìm ra được một khẩu phần với mức độ đạm hợp lý cho mức tăng trọng phù hợp trong chăn nuôi bò và biết cách tận dụng một phần phụ phẩm trồng trọt để làm thức ăn cho gia súc

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Sơ lượt về sinh lý tiêu hóa ở bò

Bò thuộc loài nhai lại hay còn gọi là loài đa vị, trong tiêu hóa có sự khác biệt cơ bản với các loài vật nuôi khác Thức ăn chủ yếu của chúng là thức ăn thô như cỏ, rơm,… Nhờ bộ máy tiêu hóa đặc biệt mà chúng có thể tiêu hóa hầu hết các loại thức ăn ăn vào

để biến thành dưỡng chất cung cấp cho cơ thể Bộ máy tiêu hóa của bò đặc biệt ở chổ

là dạ dày có bốn túi (gồm: dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách, dạ múi khế, trong đó tiêu hóa ở

dạ cỏ rất quan trọng) và có hiện tượng nhai lại

2.1.1 Hệ vi sinh vật dạ cỏ

Có rất nhiều loại vi sinh vật khác nhau trong dạ cỏ Nhờ sự hoạt động tích cực của chúng mà thức ăn được phân giải và tổng hợp thành các dưỡng chất cần thiết cho vật chủ sử dụng Với điều kiện thích hợp của dạ cỏ, các vi sinh vật ở đây phát triển rất mạnh mẽ về số lượng và đa dạng về thành phần Có thể phân thành ba nhóm chính là

vi khuẩn, protozoa và nấm

Nấm

Số lượng chiếm ít nhất trong 3 nhóm, tuy nhiên nấm là thành phần đầu tiên xâm nhập

và tiêu hóa cấu trúc tế bào thực vật tạo điều kiện cho vi khuẩn tiếp tục phân hủy Chính vì thế nấm có vai trò hết sức quan trọng trong việc công phá lên men các nguyên liệu không hòa tan của màng tế bào và góp phần gia tăng quá trình tiêu hóa chất xơ

Protozoa

Gồm 2 loại chính là Entodincomorphs và Holotrich Trong 1ml dịch dạ cỏ chứa 105

-106 protozoa, có vai trò chủ yếu trong tiêu hóa các chất bột đường Protozoa phân hủy tinh bột và đường rồi dự trữ trong cơ thể dưới dạng poli-dextrain, do đó protozoa có khả năng đệm cho pH của dạ cỏ Nhiều nghiên cứu cho thấy protozoa không thể xây dựng protein cho bản thân từ các acid amin được Khi mật độ protozoa trong dạ cỏ tăng cao thì một lượng lớn vi khuẩn bị protozoa thực bào Mỗi protozoa có thể thực bào 600-700 vi khuẩn trong một giờ ở mật độ vi khuẩn là 109/ml dạ cỏ Do có hiện tượng này mà protozoa đã làm giảm hiệu quả sử dụng protein nói chung (Trạch, 2003)

Vi khuẩn

Chiếm số lượng lớn nhất trong dạ cỏ, khoảng 109-1010 tế bào vi khuẩn/1ml dịch dạ cỏ

Vi khuẩn ở dạng tự do chiếm 30% trong dạ cỏ, 70% bám vào các mẫu thức ăn, các nếp gấp biểu mô và protozoa Chúng có vai trò chính trong việc phân giải các protein,

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

các hợp chất của protein, thức ăn xơ và các chất bột đường Ngoài ra vi khuẩn còn có khả năng tổng hợp nên các acid béo bay hơi và các vitamin trong quá trình tiêu hóa cung cấp cho cơ thể vật chủ Có thể phân chia các loại vi khuẩn ra thành các nhóm sau:

Ø Vi khuẩn phân giải carbohydrate: số lượng tăng lên khi trong khẩu phần có nhiều thức ăn hạt, củ, cỏ tươi, …

Ø Vi khuẩn lên men lactic: có tác dụng lên men đường, chúng phát triển nhanh

khi trong dạ cỏ có chứa ít Streptococcus, vi khuẩn lactic chiếm ưu thế khi khẩu phần

ăn giàu cỏ khô hoặc thức ăn tinh

Ø Vi khuẩn phân giải xơ: đây là loại vi khuẩn quan trọng trong dạ cỏ, chúng phân giải được cellulose, hemicellulose và pectin, rất có ý nghĩa đối với sự lên men xơ ở loài nhai lại

Ø Vi khuẩn phân giải protein: Trong số những loài vi khuẩn phân giải protein và

sinh amoniac thì Peptostreptococcus và Clostridium có khả năng cao nhất Sự phân

giải protein và acid amin đều sản sinh ra amoniac trong dạ cỏ, có ý nghĩa quan trọng đặc biệt cả về phương diện tiết kiệm nitơ cũng như nguy cơ dư thừa amoniac Amoniac cần cho các loài vi khuẩn dạ cỏ để tổng hợp nên sinh khối protein của bản thân chúng (Trạch, 2003)

Ø Ngoài ra còn có các vi khuẩn có thể phân giải đường, sử dụng các acid hữu cơ, tạo khí metan, tổng hợp vitamin,…

♦ Tác động tương hỗ của vi sinh vật dạ cỏ

Vi sinh vật dạ cỏ, cả trong thức ăn và trong biểu mô dạ cỏ kết hợp với nhau trong quá trình tiêu hóa thức ăn, chúng cùng nhau tiêu hóa các loại thức ăn chứ không hoạt động riêng lẻ, một mình, loài này phát triển trên sản phẩm của loài kia

Trong điều kiện bình thường giữa vi khuẩn và protozoa cũng có sự cộng sinh, đặc biệt

là trong tiêu hóa xơ Tiêu hóa xơ mạnh nhất khi có mặt cả vi khuẩn và protozoa Protozoa nuốt và tích trữ tinh bột, hạn chế tốc độ sinh acid lactic, hạn chế giảm pH đột ngột nên có lợi cho vi khuẩn phân giải xơ

Tuy nhiên giữa các nhóm vi khuẩn khác nhau cũng có sự cạnh tranh sinh tồn với nhau Khi gia súc ăn khẩu phần giàu tinh bột nhưng nghèo protein thì số lượng vi khuẩn phân giải cellulose giảm làm cho tỷ lệ tiêu hóa xơ thấp Mặt khác, khi protozoa ăn và tiêu hóa vi khuẩn sẽ làm giảm tốc độ và hiệu quả chuyển hóa protein trong dạ cỏ Loại

bỏ protozoa sẽ làm tăng số lượng vi khuẩn trong dạ cỏ (Preston và leng,1987)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 10

2.1.2 Tiêu hóa ở dạ cỏ

Sự tiêu hóa ở dạ cỏ chiếm một vị trí rất quan trọng trong quá trình tiêu hóa của loài nhai lại nói chung Mặc dù bản thân dạ cỏ không tiết ra được men tiêu hóa nhưng cường độ tiêu hóa, đặc biệt là tiêu hóa chất xơ xảy ra rất mạnh, phù hợp với đặc điểm thức ăn phần lớn gồm cỏ và rơm Trong dạ cỏ có một số lượng rất lớn các vi sinh vật hữu ích, chúng giúp cơ thể vật chủ tiêu hóa các loại thức ăn nhờ các men tiêu hóa do chúng tiết ra Vai trò của các vi sinh vật hữu ích trong tiêu hóa thức ăn như sau:

Tiêu hóa cellulose

Khoảng 80% cellulose và hemicellulose được phá vỡ bởi protozoa Protozoa phá vỡ màng cellulose ngoài việc tạo điều kiện cho vi khuẩn lên men cellulose còn tạo diều kiện để lộ ra các thành phần dưỡng chất bên trong tế bào thực vật như tinh bột, đường, protein,…

Một phần cellulose được protozoa ăn để tạo năng lượng sống cho bản thân chúng Protozoa cũng có thể tiêu hóa được một phần cellulose

Chủ yếu cellulose và hemicellulose được lên men bởi vi khuẩn để tạo ra các acid béo bay hơi cung cấp cho vật chủ

Tiêu hóa tinh bột và đường

Vi khuẩn và protozoa phân giải tinh bột thành polysaccharide, glycogen, apilopectin,… các sản phẩm này được lên men tạo thành acid béo bay hơi

Đường (disaccharide, monosaccharide,…) một phần sẵn có ở thức ăn, một phần được tạo thành từ sự lên men phân giải cellulose và hemicellulose,… Các sản phẩm đường cũng được lên men tạo thành acid béo bay hơi và một ít acid lactic

s Nếu lượng acid lactic nhiều sẽ làm giảm pH dạ cỏ, ức chế hoạt động của vi sinh vật, gây nhiễm độc acid lactic

ð Sản phẩm cuối cùng do vi sinh vật lên men cellulose, hemicellulose, tinh bột và đường là acid béo bay hơi và một ít béo có mạch carbon dài như acid valeric, acid caproic,… và các khí thể (CO2, H2, N2, O2,…) Cường độ hình thành acid béo bay hơi mạnh (có thể đạt 4 lít/ngày)

Các acid béo bay hơi được hấp thu, một phần đến gan oxy hóa tạo thành năng lượng cho cơ thể, một phần đến các mô bào (nhất là mô tuyến sữa)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

Tiêu hóa protein

Protein cũng do các vi sinh vật phân giải Dưới tác dụng của men protease và peptidase, protein bị phân giải thành peptid và acid amin, các sản phẩm này được hấp thu nhanh qua thành tế bào vi khuẩn Một số loại protein như lục lạp được protozoa ngậm trực tiếp và phân giải từ từ

Quá trình lên men phụ thuộc vào cấu trúc và tính chất vật lý của thức ăn

Thức ăn loài nhai lại chủ yếu là thực vật nên ít protein và ít acid amin không thay thế Tuy nhiên vi sinh vật dạ cỏ có thể tiêu hóa và chuyển hóa thành protein động vật có giá trị dinh dưỡng cao trong cơ thể của chúng, vi sinh vật còn có thể biến những chất chứa nitơ phi protein thành protein động vật Khi theo thức ăn xuống dạ muối khế và ruột non, do điều kiện không thích hợp chúng chết đi và sẽ để lại lượng lớn protein động vật cho cơ thể vật chủ (60 – 80% protein thức ăn biến thành protein vi sinh vật, phần còn lại phân giải ở dạ múi khế và ruột non)

« Phân giải urê

urease urê NH3 + CO2 urease: CO(NH2)2 + H2O

Nhóm – NH2 từ urease có thể tách ra để tạo thành acid amin dưới tác dụng của vi sinh vật

Chu trình nitơ

vi sinh vật vi sinh vật

NH 3 protein dạ cỏ

phần thừa

máu tuyến nước bọt

tổng hợp

gan urea máu

Lợi dụng chu trình nitơ khép kín trên, có thể bổ sung urê vào khẩu phần, nhưng cần bổ sung từ từ để cho vi sinh vật có thời gian sử dụng được hết, nếu không sẽ dẫn đến ngộ độc urê nếu thừa quá nhiều NH3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

NH3 từ dạ cỏ bị mất đi theo các đường sau:

+ Kết hợp vào tế bào vi sinh vật sau đó vi sinh vật chuyển xuống khỏi dạ cỏ + Hấp thu qua thành dạ cỏ

+ Theo dịch dạ cỏ trôi xuống phần dưới

“Kho” NH3 trong dạ cỏ tương đối nhỏ và chuyển biến rất nhanh Lượng NH3 trong

‘kho” này biến đổi rất nhiều phụ thuộc vào khối lượng và khả năng phân giải protein trong khẩu phần và số lượng, cách thức bổ sung urê Người ta muốn sao cho nồng độ

NH3 trong “kho” này luôn biến đổi thậm chí cả khi con vật ăn liên tục

Tiêu hóa lipid

Từ thức ăn, lipid bị thủy phân thành glycerin và acid béo Glycerin được vi sinh vật lên men thành acid propionic

Quá trình phân giải phospholipid cũng tương tự như phân giải lipid

Tổng hợp vitamin

Thông thường gia súc trưởng thành có thể tự tổng hợp vitamin nhờ vi sinh vật nên không thiếu vitamin nhóm B và một số nhóm khác (vitamin K), nhưng có thể thiếu vitamin B12 do thiếu yếu tố cấu thành nó là Co (Coban) trong khẩu phẩn Do đó cần chú ý bổ sung Co vào khẩu phần hay sử dụng đá liếm

Đối với gia súc non cần bổ sung đầy đủ vitamin nhất là vitamin nhóm B

2.1.3 Sự hấp thu ở dạ cỏ

Hấp thu các acid béo bay hơi

Các acid béo bay hơi được hấp thu bằng cách khuếch tán qua thành dạ cỏ Khoảng 25% được hấp thu ở phần sau dạ cỏ và lượng này rời khỏi dạ cỏ cùng với thức ăn (Hill, 1961)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

Qua biểu mô thành vách dạ cỏ chúng được hấp thu vào máu đến gan, một phần được giữ ở gan để oxy hóa cung cấp năng lượng cho bò hoạt động, phần khác được chuyển đến mô bào, nhất là mô mỡ và tuyến sữa để góp phần tạo thành các dưỡng chất trong sữa và mỡ dự trữ cho cơ thể

Các acid béo bay hơi chủ yếu được sản xuất trong dạ cỏ là acid acetic (yếu tố tạo mỡ sữa), acid propionic (yếu tố tạo casein trong sữa), acid butyric (yếu tố tạo đường lactose) Ngoài ra trong dạ cỏ còn có thể tạo ra một số loại acid béo bay hơi khác ở dạng tự do trong dạ cỏ và chúng cũng được hấp thu với cơ chế khuếch tán qua thành vách dạ cỏ

Hấp thu urê

Trong điều kiện nuôi dưỡng bình thường, dạ cỏ không thấy hoặc chỉ thấy một ít urê, nhưng khi cho con vật ăn urê thì ở 20 – 48 phút đầu trong dạ cỏ có nhiều urê chưa phân giải, sau đó urê giảm dần, sau 75 – 80 phút thường chỉ còn thấy dấu vết hoặc một lượng không quá vài mg trong 100ml dịch dạ cỏ (N C Makartsev, 1968)

Lý do mà hàm lượng urê ít trong dạ cỏ là do urê từ thức ăn hay từ máu chuyển vào qua vách dạ cỏ bị phân giải nhanh chóng bởi urease của vi khuẩn tạo thành amoniac

và khí CO2 cho nên nồng độ urê trong dạ cỏ thường giảm rất nhanh

Hấp thu acid amin

Acid amin có thể được hấp thu vào máu qua vách dạ cỏ Đồng thời những acid amin cũng có thể từ máu đi ngược vào dạ cỏ Sự hấp thu acid amin phụ thuộc vào hàm lượng của chúng trong dạ cỏ Chủ yếu trong dạ cỏ, các vi sinh vật tổng hợp các acid amin thành các protein cho bản thân chúng sử dụng, sau đó một phần chết đi và một phần theo thức ăn xuống ruột, ở đây chúng mới giải phóng thành các protein động vật

và được hấp thu

Hấp thu các ion và vitamin

Tính ổn định tương đối của các thành phần ion trong dạ cỏ được duy trì nhờ sự hấp thu nhanh của các ion vô cơ và sự chuyển nước từ máu vào dạ cỏ khi áp suất thẩm thấu trong dạ cỏ ở mức ổn định Khi áp suất thẩm thấu của dịch dạ cỏ lại thấp hơn mức ổn định thì quá trình ngược lại sẽ xảy ra (Parthassarathy và Phyllipson, 1953) Các vitamin trong dạ cỏ chủ yếu là thành phần của cơ thể vi sinh vật, chúng không ở dạng tự do Vì thế các nhà khoa học cho rằng trong điều kiện nuôi dưỡng bình thường hầu như ít thấy sự hấp thu vitamin, nhất là vitamin nhóm B là vitamin do bản thân vi sinh vật có thể tự tổng hợp

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

Hấp thu glucose

Lên men trong dạ cỏ là lên men các đường hòa tan và tinh bột trong khẩu phần, nhưng lượng glucose hấp thu được chỉ bằng một phần nhỏ so với lượng glucose có trong thức

ăn Tinh bột của ngô, thóc và cao lương có khả năng đề kháng với sự lên men ở dạ cỏ

và phần tinh bột còn lại sẽ được chuyển xuống tiêu hóa ở phần dưới bộ máy tiêu hóa

và được hấp thu tại đó (Waldo, 1973)

Hấp thu amoniac

Amoniac được giải phóng từ nguồn nitơ protein và nitơ phi protein bởi các vi sinh vật

dạ cỏ, một phần được bản thân chúng sử dụng để biến thành protein vi sinh vật, một phần sẽ được hấp thu ngay tại dạ cỏ vào máu đến gan Từ gan, một phần ít NH3 sẽ được bài tiết ra ngoài qua nước tiểu dưới dạng urê, một phần lớn đi vào tuyến nước bọt và được nuốt xuống dạ cỏ trở thành nguồn cung cấp nitơ cho vi sinh vật

Sự hấp thu amoniac phụ thuộc vào pH của môi trường dạ cỏ Ở môi trường kiềm sự hấp thu diễn ra nhanh hơn môi trường acid

Protein thoát tiêu (by-pass protein)

Thức ăn không bị lên men ở dạ cỏ còn được gọi là protein thoát tiêu Protein thoát tiêu được định nghĩa là bất kỳ phần nào đi qua dạ cỏ mà còn nguyên vẹn đến tiêu hóa ở ruột Theo Waldo, 1973, động vật nhai lại cho ăn các loại hạt thì lượng tinh bột không

bị lên men trong dạ cỏ tùy thuộc loài động vật, loại hạt và hình thức chế biến

Trong nhiều nguồn thức ăn được dùng ở các nước nhiệt đới, giá trị của thức ăn protein thoát tiêu là ở chổ làm tăng hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng được cơ thể hấp thu, tăng lượng thức ăn ăn vào một cách chủ động Điều đó, bổ sung thêm vai trò của nó đối với protein vi khuẩn Protein bị phân giải chậm có thể cung cấp acid amin và

peptid cho vi khuẩn sinh trưởng và cung cấp protein thoát tiêu (Ly và ctv, 1991)

Bánh dầu bông vải

Gossypol bông vải là một tuyến sắc chất có mặt ở thực vật, là một hợp chất phenaolic, độc tính của nó thường kết hợp với các phản ứng của hợp chất phenol với acid amin

và chất khoáng Các sườn carbon và sự oxy hoá carbonyl để phản ứng với quinone để bao protein (Dung,1999)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

So đũa

So đũa là cây họ đậu thân gỗ

Cây bộ đậu có hàm lượng protein cao, cung cấp protein lên men và protein thoát tiêu Ngoài ra nó còn chứa chất dinh dưỡng giới hạn khác và một số hợp chất thực vật tăng cường hoạt động của hệ sinh thái dạ cỏ vì tăng sinh trưởng của vi khuẩn, tăng tỷ lệ tiêu hóa xơ, tăng sản phẩm propionate và sự thoát khỏi lên men của protein trong dạ

cỏ (như lượng tanin) (Ly và ctv, 1991)

2.2 Sơ lược về tỷ lệ tiêu hóa (TLTH) trên gia súc nhai lại

Mức tiêu hóa được biểu thị ở trạng thái khô hoàn toàn của các dưỡng chất và theo một

tỷ lệ bách phân (%), gọi là tỷ lệ tiêu hóa (TLTH)

Để đánh giá tỷ lệ tiêu hóa các dưỡng chất chủ con vật ta có thể sử dụng phương pháp đơn giản (hay còn gọi là phương pháp trực tiếp) là phân tích thành phần dưỡng chất trước khi cho con vật ăn, thu thập toàn bộ lượng phân thải ra của con vật trong thí nghiệm và phân tích các thành phần dưỡng chất trong phân Ta có thể tính TLTH bằng cách lấy lượng dưỡng chất ăn vào trừ cho lượng dưỡng chất thải ra trong phân Đây là

phương pháp đánh giá TLTH in vivo Việc xác định TLTH theo phương pháp này đòi

hỏi phải thu nhận phân hằng ngày, xác định lượng thức ăn tiêu thụ hằng ngày cùng với lượng phân thải ra, phân tích thành phần dưỡng chất của thức ăn tiêu thụ và phân thải

ra Phương pháp này cho mức tiêu hóa biểu kiến chính khá xác, dễ dàng thực hiện và được áp dụng rộng rãi, ít tốn chi phí

Ngoài ra còn có thể áp dụng phương pháp trực tiếp để xác định TLTH bằng cách sử dụng các chất chỉ thị màu như: Cr2O3, Fe2O3, Carmin,…Hay có thể áp dụng phương

pháp in vitro ở phòng thí nghiệm, phương pháp in sacco thông qua lổ dò dạ cỏ để xác

định TLTH

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

3.1 Phương tiện thí nghiệm

Địa điểm thí nghiệm: thí nghiệm được thực hiện tại trại chăn nuôi thực nghiệm và phòng thí nghiệm Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ

Thời gian thí nghiệm: từ tháng 9/2006 đến tháng 1/2007

Cỏ tự nhiên với mức 1% thể trọng (tính trên vật chất khô)

Rơm cho ăn tự do

Thức ăn bổ sung ở 2 mức độ CP là 150g và 200g/100kg thể trọng/ngày

3.3 Phương pháp thí nghiệm

3.3.1 Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí theo hình vuông la tinh với 4 giai đoạn,

4 bò và 4 nghiệm thức là thức ăn bổ sung gồm có:

+ Nghiệm thức 1 (SU-150): so đũa + urê (150g CP/100kg thể trọng/ngày)

+ Nghiệm thức 2 (BV-200): bánh dầu bông vải (200g CP/100kg thể trọng/ngày)

+ Nghiệm thức 3 (BV-150): bánh dầu bông vải (150g CP/100kg thể trọng/ngày)

+ Nghiệm thức 4 (SU-200): so đũa + urê (200g CP/100kg thể trọng/ngày)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

3.3.2 Phương pháp tiến hành: thí nghiệm qua 4 giai đoạn Mỗi giai đoạn kéo dài 4

tuần, 2 tuần đầu tập ăn, tuần thứ 3 lấy mẫu Cuối mỗi giai đoạn cân trọng lượng

So đũa được lấy phần cọng và lá sau đó chặt ngắn khoảng 3cm

Bánh dầu bông vải được đánh rời ra sau khi mua về và cân cho ăn

Urê trộn chung với so đũa

3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi và thu thu thập số liệu

Thành phần hoá học của thực liệu bao gồm: vật chất khô (DM), vật chất hữu cơ (OM), đạm thô (CP), xơ trung tính (NDF), xơ acid (ADF), lignin (LIG), khoáng tổng số (Ash) theo phương pháp của AOAC (1990)

Lượng thức ăn, nước uống phân và nước tiểu thải ra mỗi ngày của bò trong thí nghiệm

Khả năng tăng trọng ở mỗi khẩu phần trong thí nghiệm: được cân bằng cân đại gia súc trước và sau mỗi đợt thí nghiệm, cân 2 ngày liên tiếp và tính trung bình giữa 2 ngày cân

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 11/04/2018, 22:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w