Trứng gia cầm với phương thức chăn nuôi công nghiệp như trước đây dễ đưa đến hàm lượng cholesteron cao, các hóa chất kháng sinh, các kích thích tố tích tụ trong sản phẩm nhiều có hại cho
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THỊ THU SƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ ĐẠM TRONG
KHẨU PHẦN NUÔI ÚM GÀ SAO
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI -THÚ Y
Cần Thơ, 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI -THÚ Y
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ ĐẠM TRONG
KHẨU PHẦN NUÔI ÚM GÀ SAO
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS Nguyễn Thị Tuyết Nhung Nguyễn Thị Thu Sương MSSV: LT09057
Lớp: CNTY K35
Cần Thơ, 2011
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN CHĂN NUÔI -o0o -
Đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ ĐẠM TRONG
KHẨU PHẦN NUÔI ÚM GÀ SAO
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thu Sương, MSSV: LT09057
Thời gian: từ tháng 01/2011 đến tháng 04/2011
Địa điểm: trại chăn nuôi Bà Bộ 474C/18 khu vực Bình An, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ
Cần Thơ, ngày16 tháng 05 năm 2011
Duyệt của Cán bộ hướng dẫn
Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Sương
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Kính thưa quý Thầy cô, Cha mẹ, cùng tất cả các bạn!
Trải qua chương trình đào tạo gần 1,5 năm tại trường Đại Học Cần Thơ, tôi đã tích lũy được nhiều kiến thức cho mình Ngoài sự nổ lực của bản thân còn nhờ vào sự tận tình dìu dắt, giúp đỡ và ủng hộ của rất nhiều người Nhân đây tôi muốn gửi những lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến:
Ông bà, cha mẹ người đã sinh thành, yêu thương và luôn luôn động viên tôi cả về mặt tinh thần lẫn vật chất
Quý thầy cô thuộc Bộ môn Chăn nuôi, cùng tất cả quý thầy cô khác đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt những năm học qua
Cô Nguyễn Thị Kim Đông đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Cô Nguyễn Thị Tuyết Nhung đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi và động viên tôi hoàn thành luận văn này
Các anh, chị và bạn bè tôi làm việc ở trại chăn nuôi Bà Bộ đã đồng hành
và chia sẻ những khó khăn với tôi
Tuy rời trường xa thầy cô và bạn bè, nhưng sẽ còn mãi trong tôi những tình cảm và kỷ niệm tốt đẹp nhất mà quý thầy cô, bạn bè đã dành cho tôi
Xin kính chúc quý thầy cô, người thân và bạn bè của tôi dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công trong công tác cũng như trong đời sống
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viênNguyễn Thị Thu Sương
Trang 6TÓM LƯỢC
Thí nghiệm “Ảnh hưởng của các mức độ đạm trong khẩu phần nuôi úm gà Sao” được thực hiện tại trại chăn nuôi Bà Bộ 474C/18 khu vực Bình An, phường Long Hòa, thành phố Cần Thơ vào đầu năm 2011 Thí nghiệm được thực hiện trên 270
gà Sao giai đoạn từ 1 đến 28 ngày tuổi Gà thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 3 nghiệm thức tương ứng với 3 khẩu phần thí nghiệm là
ba loại thức ăn hỗn hợp có 3 mức độ đạm khác nhau (20% CP, 21%CP, 22%CP) với các mức năng lượng (2850 kcal/kg, 2900 kcal/kg và 2700 kcal/kg) và 3 lần lặp lại Mỗi đơn vị thí nghiệm gồm có 30 gà Sao con ở một ngày tuổi Gà thí nghiệm được nuôi theo phương thức an toàn sinh học để kiểm soát dịch bệnh Gà thí nghiệm được cho ăn tự do.
Kết quả thí nghiệm đạt được về tăng trọng hàng ngày trong các nghiệm thức thí nghiệm: 8,10; 8,96; 9,18 g/con/ngày (P<0,05); tiêu tốn thức ăn ở các nghiệm thức thí nghiệm: 16,4; 14,6; 13,27 g/con/ngày (P>0,05) và hệ số chuyển hóa thức ăn ở các nghiệm thức: 1,8; 1,45; 1,29 (P<0,05) tương ứng cho các nghiệm thức 20, 21, 22% protein Khẩu phần 22% protein có tiêu tốn thức ăn thấp, hệ số chuyển hóa thức ăn thấp và tăng trọng hàng ngày cao hơn các khẩu phần protein còn lại.
Trang 7MỤC LỤC
Trang
TRANG DUYỆT i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM TẠ iii
TÓM LƯỢC iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ x
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 NHỮNG KHÍA CẠNH KINH TẾ, THỊ TRƯỜNG CỦA CHĂN NUÔI GIA CẦM Ở VIỆT NAM 2
2.2 SƠ LƯỢC MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GÀ SAO 3
2.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP NUÔI ÚM 4
2.4 KỸ THUẬT NUÔI ÚM GÀ SAO 5
2.4.1 Chuồng trại 5
2.4.1.1 Lợi ích của chuồng trại 6
2.4.1.2 Thiết kế chuồng nuôi 6
2.4.1.3 Các kiểu chuồng nuôi dưỡng 6
2.4.1.4 Vị trí xây dựng chuồng trại 7
2.4.1.5 Yêu cầu của việc xây dựng chuồng trại 7
2.4.1.6 Hướng chuồng 8
2.4.2 Dụng cụ chăn nuôi 8
2.4.3 Ảnh hưởng của điều kiện tiểu khí hậu 11
2.4.3.1 Nhiệt độ 11
2.4.3.2 Ẩm độ 12
2.4.3.3 Mật độ 13
2.4.3.4 Thông thoáng khí và lượng khí độc trong chuồng nuôi 13
Trang 82.4.3.5 Độ bụi trong chuồng nuôi 15
2.4.4 Ánh sáng và chương trình chiếu sáng 15
2.4.5 Thức ăn và dinh dưỡng 18
2.4.5.1 Vai trò và nhu cầu Protein đối với gà 18
2.4.5.2 Vai trò và nhu cầu năng lượng đối với gà 19
2.4.5.3 Mối tương quan giữa năng lượng và protein 20
2.4.5.4 Vai trò và nhu cầu khoáng đối với gà 20
2.4.5.5 Vai trò và nhu cầu chất béo đối với gà 21
2.4.5.6 Vai trò và nhu cầu vitamin đối với gà 22
2.4.5.7 Vai trò, nhu cầu và kỹ thuật xử lý nước uống đối với gà 23
2.4.6 Cách chọn gà con 25
2.4.7 Phương pháp úm gà 26
2.4.8 Cắt mỏ gà 27
2.4.9 Cắt cánh gà 27
2.4.10 Quy trình phòng bệnh 27
Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 31
3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 31
3.1.1 Thời gian thí nghiệm 31
3.1.2 Địa điểm thí nghiệm 31
3.1.3 Đối tượng thí nghiệm 31
3.1.4 Chuồng trại 31
3.1.5 Dụng cụ thí nghiệm 32
3.1.5.1 Máng ăn 32
3.1.5.2 Máng uống 32
3.1.5.3 Hệ thống đèn úm 32
3.1.5.4 Các dụng cụ khác 32
3.1.5.5 Thức ăn 32
3.1.5.6 Nước uống 33
3.1.5.7 Thuốc thú y 33
Trang 93.2.1 Bố trí thí nghiệm 33
3.2.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà Sao từ 1 ngày tuổi đến 4 tuần tuổi 34
3.2.3 Quy trình phòng bệnh 36
3.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 36
3.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 37
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 38
4.1 TIÊU TỐN THỨC ĂN .38
4.2 LƯỢNG DƯỠNG CHẤT TIÊU THỤ 40
4.3 HỆ SỐ CHUYỂN HÓA THỨC ĂN 41
4.4 TRỌNG LƯỢNG BÌNH QUÂN 42
4.5 TĂNG TRỌNG 44
4.6 TỶ LỆ HAO HỤT 46
Chương 5: KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ 47
5.1 KẾT LUẬN 47
5.2 ĐỀ NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Một số đặc điểm sản xuất của gà Sao 4
Bảng 2.2: Nhu cầu kỹ thuật chuồng nuôi úm gà Sao 10
Bảng 2.3: Nhiệt độ thích hợp cho gà Sao 11
Bảng 2.4: Nhu cầu nhiệt độ thay đổi theo lứa tuổi 17
Bảng 2.5: Tỷ lệ giữa nước uống được và thức ăn tiếp nhận được ở gà 24
Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu chất lượng nước uống 25
Bảng 2.7: Quy trình phòng bệnh bằng vacxin cho gà 30
Bảng 3.1: Thành phần hóa học và dưỡng chất của 3 KP thức ăn thí nghiệm 34
Bảng 4.1: TTTĂ (g/con/ngày) của gà Sao nuôi úm từ 1 đến 4 tuần tuổi 38
Bảng 4.2: Lượng dưỡng chất tiêu thụ (g/con/ngày) của gà thí nghiệm từ 1 đến 4 tuần tuổi 40
Bảng 4.3: Hệ số chuyển hóa thức ăn của gà Sao nuôi úm từ 1 đến 4 tuần tuổi 41
Bảng 4.4: Trọng lượng (g/con) của gà Sao qua các tuần tuổi 42
Bảng 4.5: Tăng trọng (g/con/ngày) của gà Sao nuôi úm từ 1 đến 4 tuần tuổi 44
Bảng 4.6: Tỷ lệ hao hụt của gà thí nghiệm giai đoạn từ 0 – 4 tuần tuổi 46
Trang 12DANH SÁCH HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 2.1: Gà Sao 1 ngày tuổi 3
Hình 2.2: Gà Sao trưởng thành 3
Hình 2.3: Giàn lạnh đặt đầu trại 10
Hình 2.4: Quạt hút đặt cuối trại 10
Hình 3.1: Gà con 1 ngày tuổi đang tập ăn trong thí nghiệm 32
Hình 3.2: Cân thức ăn trước khi cho gà con ăn 35
Hình 4.1: Gà Sao con sinh trưởng lúc 7 ngày tuổi và 14 ngày tuổi 44
Hình 4.2: Gà Sao con sinh trưởng lúc 21 ngày tuổi và 28 ngày tuổi 45
Biểu đồ 4.1: Tiêu tốn thức ăn hàng tuần của gà thí nghiệm 38
Biểu đồ 4.2: Hệ số chuyển hóa thức ăn hàng tuần của gà thí nghiệm 41
Biểu đồ 4.3: Trọng lượng của gà Sao qua các tuần tuổi 43
Biểu đồ 4.4: Tăng trọng hàng tuần của gà thí nghiệm 44
Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ hao hụt của gà thí nghiệm giai đoạn từ 1 – 4 tuần tuổi 46
Trang 13Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm của nước ta không ngừng phát triển, với nhiều mô hình chăn nuôi trên những giống gà khác nhau, đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi gà Sao
Gà Sao có sức đề kháng cao, dễ nuôi, thích hợp với nhiều vùng sinh thái, có thể nuôi nhốt hoặc thả vườn, thịt thơm ngon (Phùng Đức Tiến, 2006) Mặt khác giá cả trên thị trường của gà Sao hàng năm thay đổi không nhiều và chênh lệch khá cao
so với các loại gia cầm thông thường khác
Tuy nhiên, hiện nay ở Đồng bằng sông Cửu Long chăn nuôi gà Sao chỉ mới bắt đầu chăn nuôi gia đình với quy mô nhỏ và một số ít trại ở Tiền Giang Bên cạnh
đó, mặc dù gà Sao là loài gia cầm có nhiều ưu điểm như đã nêu trên nhưng trong chăn nuôi tập trung thì gà Sao vẫn còn giữ lại một số bản năng hoang dã (Phùng Đức Tiến, 2006), một trong số đó là tập tính nuôi con không giỏi của gà Sao mái
Gà Sao con không được chăm sóc chu đáo nên tỷ lệ hao hụt trong chăn nuôi của
gà Sao con vẫn còn khá cao, đây là một trong những vấn đề góp phần làm cho hiệu quả chăn nuôi gà Sao bị hạn chế, đồng thời không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ sản phẩm ngày một cao của thị trường
Để góp phần nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi gà Sao bằng cách nuôi úm tách
mẹ ngay từ khi mới nở và áp dụng cách úm gà theo phương pháp chăn nuôi tập trung, được sự đồng ý của Bộ môn Chăn nuôi – Khoa Nông nghiệp và Sinh học
Ứng dụng trường Đại học Cần Thơ, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh
hưởng của các mức độ đạm trong khẩu phần nuôi úm gà Sao” tại phường Long
Hòa, thành phố Cần Thơ
Mục tiêu của đề tài là nhằm tìm ra mức protein khẩu phần thích hợp cho giai đoạn nuôi úm gà Sao để từ đó khuyến cáo và từng bước áp dụng biện pháp chuyển đổi sang chăn nuôi gà Sao tập trung với số lượng lớn và được kiểm soát, đảm bảo sản xuất thực phẩm an toàn cho người tiêu dùng
Trang 14Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 NHỮNG KHÍA CẠNH KINH TẾ, THỊ TRƯỜNG CỦA CHĂN NUÔI GIA CẦM Ở VIỆT NAM
Sự cân đối giữa số lượng và chất lượng các sản phẩm gia cầm Thông thường những giống gà có năng suất cao thì chất lượng thịt kém hơn các giống có năng suất kém Song điều đó không phải luôn đúng, vì nó còn phụ thuộc theo thiên hướng chọn lọc của con người, phụ thuộc vào kiểu chế biến và tiêu thụ sản phẩm gia cầm (Dương Thanh Liêm, 2003)
Sự phát triển đa dạng các giống gia cầm: giữa các giống gia cầm thì giống công nghiệp năng suất rất cao, sức đề kháng bệnh rất kém và ngược lại thì giống gia cầm nội địa năng suất tuy thấp nhưng sức đề kháng bệnh tật lại rất cao thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên của nước ta, dễ nuôi trong các mô hình chăn nuôi ở nông
hộ (Dương Thanh Liêm, 2003)
Sự cân đối giữa quy mô chăn nuôi vừa và nhỏ với quy mô chăn nuôi lớn, áp dụng
cơ khí hóa tự động hóa cao độ Chăn nuôi quy mô nhỏ, đàn gà bị phân tán ít bị ô nhiễm, ngược lại quy mô chăn nuôi lớn rất dễ bị ô nhiễm môi trường do chất thải của gia cầm (Dương Thanh Liêm, 2003)
Nên có sự cân đối giữa sản phẩm protein thịt trứng gia cầm với các loại protein khác Xu hướng của thế giới trong tiêu thụ protein, người ta chuyển dần sang loại thực phẩm an toàn có tác dụng phòng chống bệnh tật Trứng gia cầm với phương thức chăn nuôi công nghiệp như trước đây dễ đưa đến hàm lượng cholesteron cao, các hóa chất kháng sinh, các kích thích tố tích tụ trong sản phẩm nhiều có hại cho sức khỏe con người, do đó họ giảm bớt tiêu thụ chuyển sang tiêu thụ protein của
cá tốt hơn (Dương Thanh Liêm, 2003)
Chăn nuôi gia cầm là một bộ phận trong hệ thống sản xuất nông nghiệp của Việt Nam Nó làm tăng hiệu quả kinh tế của hệ thống sản xuất, nếu chúng ta biết kết hợp tố giữa chăn nuôi, trồng trọt và nuôi trồng thủy sản một cách khéo léo (Dương Thanh Liêm, 2003)
Có bốn định hướng phát triển cho chăn nuôi gà ở Việt Nam (Dương Thanh Liêm, 2003)
Nuôi thâm canh công nghiệp trong chuồng giành để nuôi các giống gà công nghiệp như: Giống gà chuyên trứng: gà Logo, gà Hisex Brown, gà ISA Brown, gà Goldline – 54,…Gà thịt: gà Cornish, gà AA, gà Hybro, gà Ross (Bùi Xuân Mến, 2007)
Trang 15Nuôi bán công nghiệp có vườn chăn thả với các giống: gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà Ai Cập… (Bùi Xuân Mến, 2007).
Nuôi thả vườn quảng canh, chủ yếu là các giống gà nội địa năng suất thấp: gà ta,
gà Tàu Vàng (Bùi Xuân Mến, 2007)
Nuôi theo yêu cầu khách hàng như: gà Ác, gà Tre, gà Chọi, gà Sao… (Bùi Xuân Mến, 2007)
2.2 SƠ LƯỢC MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GÀ SAO
Gà Sao (Guinea Fowl) có tên khoa học là Numida melagis là động vật hoang dã có
tiềm năng phát triển trong điều kiện thức ăn có nhiều xơ, có phẩm chất thịt, trứng đặc biệt thơm ngon, thịt săn chắc, ích tích lũy mỡ và có hương vị giống như thịt các loài chim (Phùng Đức Tiến et al, 2006) Gà Sao có nhiều tên gọi như: gà Nhật,
gà Phi, gà Lôi, chim Trĩ Châu Phi Gà Sao có đặc điểm ngoại hình có bộ lông xám đen, trên phiến lông điểm nhiều những chấm trắng tròn
Hình 2.1: Gà Sao 1 ngày tuổi Hình 2.2: Gà Sao trưởng thành
(Nguồn: http://www.google.com.vn )
Gà Sao có nhiều ưu điểm như: sức đề kháng cao, dễ nuôi, thích nghi với nhiều vùng sinh thái, có thể nuôi nhốt hoặc thả vườn Đặc biệt gà Sao không mắc các bệnh như: Marek, Gumboro, Leucois, do vậy mà gà Sao không phải tiêm Marek hay Gumboro và hiếm khi phải dùng kháng sinh Những bệnh mà trong giai đoạn sinh sản những giống gà khác hay mắc như: Mycoplasma, Salmonella thì ở gà Sao chưa thấy
Gà Sao có tỉ lệ nuôi sống cao 96,6 – 100% Năng suất trứng/mái/23 tuần đẻ: 85,73 – 113,9 trứng Khả năng cho thịt đến 12 tuần tuổi 1415 – 1891g Gà Sao có phẩm chất thịt trứng đặc biệt thơm ngon, giá bán thường cao hơn các loại gia cầm khác
(Phùng Đức Tiến et al, 2006).
Trang 16Bảng 2.1: Một số đặc điểm sản xuất của gà Sao
(Nguồn: Fani et al (2004))
2.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP NUÔI ÚM
Nuôi thâm canh trên lớp độn chuồng: yêu cầu gà con phải cùng lứa tuổi vì nuôi gà
có những lứa tuổi khác nhau dễ sinh bệnh, đặc biệt là các bệnh về đường hô hấp
và tiêu hóa Nuôi theo phương pháp này gà con hoàn toàn không được thả ra ngoài Phương pháp này có những ưu điểm như: có khả năng cơ giới hóa các quá trình làm việc làm giảm nhiều sức lao động, quan sát đàn gà dễ dàng hơn, nó cho phép tìm ra những con bệnh một cách nhanh chóng và áp dụng các phương pháp phòng ngừa bệnh tật một cách có hiệu quả, gà con ít chết, lớn đồng đều, ít gặp sự rủi ro (Lã Thị Thu Minh, 2000)
Những nguyên liệu được dùng làm chất độn chuồng phải thỏa mãn các yêu cầu sau: rẻ và nhẹ khi vận chuyển khô và không bị nấm mốc, có khả năng hút ẩm, có khả năng cách nhiệt tốt, không tỏa thành bụi Chất độn chuồng có nhiều loại có thể
sử dụng được như: dâm bào, mùn cưa, rơm rạ, vỏ trấu Mỗi loại chất độn này có khả năng hút ẩm khác nhau, tùy điều kiện nguyên liệu sẵn có ở từng nơi mà chúng
ta chọn chất độn chuồng Người ta có thể nuôi gà con trên lớp độn chuồng thay đổi hoặc lớp độn chuồng không thay đổi (Lã Thị Thu Minh, 2000)
Lớp độn chuồng thay đổi dày 5 cm Trong thời gian nuôi có thể thay đổi vài lần hay thay đổi hàng tuần Sự thay đổi như tuy có sạch sẽ, tránh được bệnh tật nhưng cũng có nhược điểm: sự cách nhiệt của nền chuồng không được đảm bảo, tốn nguyên liệu độn chuồng, tốn nhiều sức lao động (Lã Thị Thu Minh, 2000)
Lớp độn chuồng không thay đổi: gà con được nuôi trên lớp độn chuồng không thay đổi lần nào trong suốt quá trình nuôi như vậy tiết kiệm được sức lao động Lớp độn dày 20 – 30 cm, bảo đảm cách nhiệt tốt Trong thời gian nuôi thường xuyên xới lật chất độn để phân trộn lẫn với chất độn chuồng mà không vón thành
Trang 17cục lớn, nhờ vậy mà lớp độn chuồng vẫn khô và ký sinh trùng không nảy nở được (Lã Thị Thu Minh, 2000).
Nuôi trong lồng: nuôi gà con trên lồng thì sau đó khi kết thúc quá trình nuôi úm gà vẫn nên tiếp tục nuôi lồng vì nếu chuyển sang phương thức nuôi khác sẽ dễ gây ra cho gà những thay đổi đột ngột như vậy tỉ lệ hao hụt sẽ cao hơn Nếu so sánh với cách nuôi thâm canh trên nền chúng ta thấy nó có một vài ưu điểm như sau: cho phép lợi dụng diện tích chuồng một cách cao nhất nên nuôi lồng tầng, lấy phân ra thường xuyên làm giảm bệnh truyền nhiễm, có thể nuôi gà có những lứa tuổi khác nhau, có khả năng theo dõi tốt hơn, nếu gà có bệnh loại thải kịp thời, ít gặp rủi ro trong chăn nuôi hơn Tuy vậy, nó cũng có những nhược điểm sau: phải đầu tư nhiều tiền, phải sưởi ấm và thông khí đầy đủ, gặp nhiều khó khăn trong điều khiển
kỹ thuật (Lã Thị Thu Minh, 2000)
Nuôi kết hợp: nuôi kết hợp giữa nuôi trong lồng với nuôi trên nền chuồng nhằm mục đích lợi dụng các ưu điểm của hai phương pháp nuôi trên Thường gà con trong lồng cho đến 3 tuần tuổi Tuần tuổi thứ 4 chuyển sang phương pháp nuôi trên nền chuồng vì lúc này dễ thích nghi hơn (Lã Thị Thu Minh, 2000)
Tuy nhiên, khi chọn bất kỳ phương pháp nào nuôi ta cũng phải quan tâm đến những vấn đề sau:
Tình hình trang thiết bị của cơ sở
Vốn đầu tư của cơ sở
Điều kiện khí hậu của địa phương (Đào Đức Long, Trần Long, 1995)
2.4 KỸ THUẬT NUÔI ÚM GÀ SAO
2.4.1 Chuồng trại
Khí hậu thời tiết nước ta, nắng nóng vào mùa hè, gió rét vào mùa đông Ngoài ra
do đặc tính sinh lý của gà không chịu được nhiệt độ quá nóng hay quá lạnh, mặc
dù một số giống địa phương rất thích nghi với điều kiện chăn thả tự nhiên, nhưng thiếu chuồng trại hợp quy cách thì chăn nuôi gà không đạt năng suất cao Vì vậy, xây dựng chuồng trại cho gia cầm là điều rất cần thiết và không thể thiếu trong chăn nuôi gia cầm (Lê Minh Hoàng, 2002)
Chuồng trại không những chỉ nhốt gà, cho gà ăn uống, mà còn phân đàn gà theo lứa tuổi, nuôi giống và nuôi giết thịt riêng, theo dõi nâng cao chất lượng giống Chuồng là nhà của đàn gà nên cần đảm bảo các yếu tố sinh thái về thông thoáng khí, nhiệt độ, ẩm độ…cho gà sinh sống khỏe mạnh, mau lớn, đẻ nhiều (Lê Minh Hoàng, 2002)
Trang 18Chuồng trại đóng một vai trò quan trọng, vì nó ảnh hưởng nhiều đến năng suất nuôi, chuồng trại được xây dựng đúng kỹ thuật sẽ giúp gà mau lớn, ít bệnh tật, tỷ
lệ tiêu tốn thức ăn giảm, quản lý được đầu con, do đó chuồng trại rất ích lợi cho việc chăn nuôi (Nguyễn Huy Hoàng, 1999)
2.4.1.1 Lợi ích của chuồng trại
Khi úm gà con, tạo điều kiện tiểu khí hậu trong chuồng nuôi ấm áp, không khí thông thoáng, giúp cho gà sinh trưởng tốt và có sức chống đỡ bệnh tật từ môi trường
Đối với gà thịt đang sinh trưởng, chuồng giúp hạn chế sự vận động và tiêu hóa năng lượng của gà, giúp chúng tăng trọng nhanh và giảm tiêu tốn thức ăn
Hạn chế sự tiếp xúc của gà với nơi dơ bẩn, tránh bị nhiễm vi sinh vật gây hại và các loại kí sinh trùng
Chuồng trại thiết kế đúng tiêu chuẩn giúp gà đẻ có sản lượng trứng cao, tỷ lệ sống cao và tỷ lệ trứng đạt tiêu chuẩn cao (Dương Thanh Liêm, 2003)
2.4.1.2 Thiết kế chuồng nuôi
Khi nói về kiểu chuồng nuôi gà thì có rất nhiều kiểu chuồng làm bằng nhiều loại nguyên liệu khác nhau sẵn có ở mỗi địa phương (Lê Thanh Hải và ctv, 1995).Lồng úm nuôi 100 con có chiều dài 2 m, rộng 1 m, cao 0,5 m Lồng úm để đứng trên chân cao 0,4 m hoặc cách nền 0,1 m, đáy lót bằng lưới ô vuông có kích thước
cỡ 1 cm2, xung quanh lồng úm đóng nẹp tre, gỗ, lưới mắt cáo Mật độ úm từ 1 ngày tuổi đến 1 tuần tuổi là 100 con/m2, từ 1 – 2 tuần tuổi là 50 con/m2, từ 3 – 5 tuần tuổi là 25 con/m2 (Theo KHKT Nông nghiệp – Ngày 24/5/ 2006)
Phòng úm: nên chọn phòng kín úm, không có gió lùa, được vệ sinh sát trùng sạch sẽ
Quây úm: thường làm bằng cót ép, quây có hình tròn, chiều cao quây 40 – 50 cm, mỗi quây có đường kính 3 m úm được 500 con Chú ý: về mùa đông quây úm được che kín bằng bạt, có chỗ thoát khí Nền chuồng: rải trấu sạch, khô Mùa hè
độ dày của trấu là 5 – 7 cm, mùa đông là 10 – 15cm
(TTKNQG, http://www.cucchannuoi.gov.vn)
2.4.1.3 Các kiểu chuồng nuôi dưỡng
Kiểu chuồng kín: xây dựng bằng vật liệu cách nhiệt, hoàn toàn dùng ánh sáng điện, thông gió bằng quạt máy
Trang 19Kiểu chuồng nửa kín nửa hở: vừa có hệ thống quạt thông gió, vừa có cửa thông gió tự nhiên, dùng ánh sáng điện là chủ yếu.
Kiểu chuồng hở hoàn toàn: thông gió tự nhiên và dùng ánh sáng tự nhiên hoàn toàn
Kiểu chuồng nhỏ, thô sơ nuôi ở các gia đình: nếu chuồng thông thường làm cách mặt đất khoảng 0,5 m cho phân lọt xuống dưới, có thể cầu đậu, máng ăn treo bên ngoài cho gà thò đầu ra ngoài ăn (Lã Thị Thu Minh, 2000)
2.4.1.4 Vị trí xây dựng chuồng trại
Chuồng trại nên tránh xa trục lộ giao thông, khu vực đông dân cư để tránh lây lan dịch bệnh cho gà, tránh khu vực có nhiều tiếng ồn để giữ yên tĩnh cho đàn gà Mặt khác, tránh được sự ô nhiễm cho khu vực dân cư do chất thải của gia cầm gây nên.Nền chuồng nên chọn vị trí cao và luôn khô ráo để tránh ẩm ướt bầu không khí trong chuồng nuôi trong trường hợp nuôi thả dưới nền Trong trường hợp nuôi chuồng trên mặt ao kết hợp giữa nuôi gà và thả cá thì nên làm sạp nuôi gà cách mặt ao tối thiểu từ 1,5 m trở lên để tránh hơi ẩm tích tụ trong chuồng Trong trường hợp làm chuồng sàn trên mặt đất thì mặt sàn cách mặt đất tối thiểu là 1 m trở lên (Dương Thanh Liêm, 2003)
2.4.1.5 Yêu cầu của việc xây dựng chuồng trại
Do đặc tính sinh học của gà, chuồng trại và khu vực nuôi phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Trước lúc xây dựng chuồng trại cần phải đảm bảo chắc chắn rằng đất đai, nguồn nước ở địa điểm xây dựng không bị nhiễm khuẩn, hóa chất Vị trí chuồng nuôi nên chọn nơi cao ráo, thoáng mát, cách các trại nuôi gia cầm khác càng xa càng tốt nhằm hạn chế tối thiểu mức rủi ro, do lây nhiễm bệnh tật chồng chéo Trại cũng cần phải cách xa các đường vận chuyển gia cầm khác với khoảng cách nhất định Trại cần phải được bao quanh bằng tường, rào để tránh sự xâm nhập của người lạ
Trang 20Chuồng trại phải đảm bảo nhiệt độ không quá nóng và không quá lạnh, phải thông thoáng không ẩm ướt và quá dơ bẩn
Nhiệt độ trong chuồng nuôi không được biến động lớn như tăng lên hoặc giảm xuống đột ngột
Chuồng trại phải thiết kế đúng kỹ thuật, đảm bảo độ thông thoáng để thoát nhanh khí độc (Bùi Đức Lũng, 2003)
Tiện lợi cho việc chăm sóc, quản lý đàn gà, bố trí hợp lý mọi thiết bị để đạt hiệu quả cao nhất (Lâm Minh Thuận, 2005)
2.4.1.6 Hướng chuồng
Việc chọn hướng chuồng trong chăn nuôi là công việc rất quan trọng, nếu chúng
ta chọn không đúng hướng không những làm xấu cảnh quan chuồng trại, việc vận chuyển thức ăn mà còn ảnh hưởng tới tiểu khí hậu trong chuồng nuôi như: thiếu ánh nắng vào chuồng, ánh nắng quá mạnh vào chuồng hoặc bị mưa tạt, gió lùa khi gặp thời tiết bất lợi
Hướng trục chuồng thích hợp nhất là Đông Bắc – Tây Nam, có mặt chuồng quay hướng Đông Nam (Võ Văn Ninh, 2001)
2.4.2 Dụng cụ chăn nuôi
Máng ăn: thường là máng có hình chữ nhật, đối với gà con ở giữa có một trục trái khế để gà không leo vào thức ăn, không đi phân dơ bẩn vào và cũng không làm thức ăn rơi rớt ra ngoài Nếu máng tròn tự động thì phải dễ dàng điều chỉnh cao thấp, gờ máng phải trơn nhẵn khi gà ăn tránh được xây xát (Bùi Quang Toàn, Đào Đức Long, Nguyễn Chí Bảo, 1980)
Theo Phùng Đức Tiến (2006) thì trong 2 – 3 tuần đầu sử dụng khay ăn bằng tôn hoặc nhựa, với kích thước 2 x 60 x 80 cm cho 100 gà con
Đối với gà lớn dùng máng ăn theo nhiều vị thế trong chuồng nuôi, nhưng phải điều chỉnh độ cao thích hợp để gà dễ dàng đứng ăn (Nguyễn Huy Hoàng, 1999).Đảm bảo đầy đủ máng ăn để gà không chen lấn và được ăn đều
Cần cho ăn nhiều lần trong ngày Lượng thức ăn mỗi lần cân đối đủ theo nhu cầu
để thức ăn luôn được mới, sạch sẽ, kích thích tính thèm ăn của gà Mỗi lần cho ăn cần loại bỏ chất độn chuồng và phân lẫn trong máng để tận dụng cám cũ Sau 3 tuần nên thay khay ăn bằng máng dài và phải gắn chắc chắn vì gà Sao rất nghịch ngợm Máng treo không phù hợp với gà Sao thì khi bay nhảy sẽ làm nghiêng máng nên hay bị đổ thức ăn
Trang 21Giai đoạn gà giò lưu ý khoảng cách giữa 2 lần cho ăn Kinh nghiệm cho thấy nên
đổ thức ăn khoảng 2/3 máng vào đầu buổi sáng và cuối ngày, giữ máng ăn rỗng thức ăn vào giữa ngày Việc cung cấp thức ăn vào cuối ngày là cần thiết, vừa để cho gà không bị đói bụng vào ban đêm, lại còn kích thích sự thèm ăn và tính ngon miệng vào ban ngày (Phùng Đức Tiến et al, 2006)
Máng uống: máng uống cho gà con thường sử dụng máng úp ngược, tránh được bụi bặm rơi vào làm dơ nước uống (Nguyễn Huy Hoàng, 1999), ở tuần đầu có thể
sử dụng máng tròn loại 1 lít, 2 lít, hoặc 4 lít… loại 4 lít mỗi ngày dùng cho 50 con
gà Trong chăn nuôi quy mô lớn, thường dùng loại máng uống tự động, máng uống phải được bố trí đều trong chuồng sao cho gà không phải đi tìm xa quá 3 m
Từ tuần thứ 2 trở đi có thể sử dụng máy uống dài tự động, cứ tính cho mỗi con gà
là 1,3 cm chiều dài (Bùi Quang Toàn, Đào Đức Long, Nguyễn Chí Bảo, 1980) Đối với gà giò, gà đẻ thường dùng máng uống ghép bằng nhôm dài thành hộp, có
2 loại máng uống, máng uống cố định và máng uống tự động chảy (Nguyễn Huy Hoàng, 1999)
Chụp sưởi: chụp sưởi cho gà có nhiều loại khác nhau, có loại có bóng đèn sưởi nhiệt bằng dây tóc vừa để sưởi ấm vừa để thắp sáng Loại này có nhược điểm là ánh sáng có cường khá mạnh mà sức nóng yếu, mỗi đèn 40W sưởi cho 50 gà con
là vừa Còn nếu dùng bóng đèn hồng ngoại có công suất 200 – 300W là loại phát sáng yếu, nhưng tỏa nhiệt rất mạnh Mỗi đèn hồng ngoại úm được 100 con gà con mới nở
Ngoài ra ta có thể chụp sưởi bằng tia bức xạ (Phạm Tấn Nhã, 2010)
Ở những nơi không có điện có thể dùng lò ủ trấu (Phùng Đức Tiến, 2006), đèn bão, đèn tỏa đăng hay bếp than củi, nhưng phải đề phòng cháy và tránh không cho khói tỏa vào chuồng (Đào Đức Long, Trần Long, 1995)
Thiết bị chống nóng: biện pháp chống vô cùng quan trọng ở những vùng khí hậu khắc nghiệt Mái và tường của hệ thống chuồng phải có độ cách nhiệt lớn để cản bức xạ nhiệt của ánh sáng mặt trời Hệ thống quạt có tác dụng làm mát rất tốt khi quạt ở độ cao trên gà khoảng 40 – 50 cm (Lâm Minh Thuận, 2005) Không nên đặt quạt thổi từ trên trần xuống hoặc không để thổi trực tiếp vào gà vì tốc độ gió cao làm gà dễ bị choáng do cơ thể mất nhiệt quá nhanh Quạt đặt theo chiều gió và lắp nối tiếp dọc theo chuồng Khi nhiệt độ ngoài trời quá cao hệ thống phun nước trên mái cũng có tác dụng chống nóng tốt, vì nước trên mái bốc hơi sẽ làm mát chuồng nuôi Hệ thống phun sương trong chuồng là hệ thống chống nóng hiện đại sử dụng nhiều ở vùng nhiệt đới, nước được phun thành những hạt rất nhỏ vào chuồng nuôi Phương pháp này làm tăng ẩm độ chuồng nuôi nên phải kết hợp với thông thoáng
Trang 22tốt và nên sử dụng khi thời tiết quá nóng Quạt đẩy và quạt hút không khí qua giàn lạnh áp dụng cho hệ thống chuồng kín Giàn lạnh là một giàn lưới có nước tràn qua làm mát không khí trước khi thổi vào chuồng hoặc nước phun sương ở một đầu chuồng và ở đầu chuồng đối diện thì lắp quạt hút Không khí hút vào chuồng được sương làm mát trước khi đưa vào chuồng với rèm che kín hai bên cạnh Hai
hệ thống đạt hiệu quả chống nóng tốt, dễ lắp đặt nhưng giá cao nên chỉ áp dụng nuôi gà đẻ năng suất cao hoặc gà giống hướng thịt
Hình 2.3: Giàn lạnh đặt đầu trại Hình 2.4: Quạt hút đặt cuối trại
Mành che: với kiểu chuồng thông thoáng khí tự nhiên cần có mành che để che nắng, che mưa tạt hoặc gió lùa khi cần thiết Mành che có thể làm bằng nguyên liệu rẻ tiền thiết kế linh hoạt dễ dàng kéo lên, thả xuống khi khí hậu bất thường xảy ra, đặc biệt lưu ý khi gà dưới 1 tuần tuổi (Dương Thanh Liêm, 2003)
Những dụng cụ khác: khi úm gà cần có đủ dụng cụ nuôi để dùng riêng cho gà con, không dùng chung với gà lớn Những dụng cụ như: thau, xô, kim, chổi,…(Đào Đức Long, Trần Long, 1995)
Bảng 2.2: Nhu cầu kỹ thuật chuồng nuôi úm gà Sao
Trang 232.4.3 Ảnh hưởng của điều kiện tiểu khí hậu
2.4.3.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố của môi trường Nó luôn gắn liền với đời sống gà từ khi chúng còn là những phôi trứng trong máy ấp cho đến khi nở ra, trưởng thành và tái sản xuất Gà không chịu được nóng và lạnh, nhất là
gà con rất dễ nhạy cảm với diễn biến của nhiệt độ của môi trường, mỗi sự thay đổi nhiệt độ môi trường dễ ảnh hưởng đến sinh lý của gà
Nếu sự thay đổi ít, diễn biến từ từ, thường không gây tác hại mà có tác dụng như kích thích có lợi Trường hợp biến đổi đột ngột, biên độ dao động lớn, vượt xa giới hạn bình thường sẽ gây tác hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến gà (Võ Bá Thọ, 1996)
Trường hợp nhiệt độ bất thường quá thấp hay quá cao thì gia cầm con yếu ớt, sức tăng trưởng kém, khả năng tiêu tốn cao, tỷ lệ nuôi sống thấp Nếu nhiệt độ thay đổi ít so với bình thường (khoảng 2oC) thì nói chung không ảnh hưởng đến sự phát dục của chúng (Bùi Quang Toàn, Đào Đức Long, Nguyễn Chí Bảo, 1980)
Yêu cầu về nhiệt độ:
Sưởi ấm: dùng 1 bóng đèn 75W (hay đèn dầu lớn) cho 1 m2 chuồng úm trong suốt tuần đầu và che xung quanh chuồng úm Giai đoạn úm gà nhiệt độ là quan trọng nhất (KHKT Nông nghiệp – Ngày 24/5/2006)
Gà con rất cần ấm vì nó không tự điều chỉnh thân nhiệt trong 2 tuần đầu Do vậy việc giữ ấm theo nhu cầu cơ thể gà trong các tuần tuổi đầu mới xuống chuồng rất cần thiết Nếu không đảm bảo được nhiệt độ, tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trưởng sẽ bị ảnh hưởng, các bệnh đường hô hấp, tiêu hóa dễ phát sinh
Bảng 2.3: Nhiệt độ thích hợp cho gà Sao
Ngày tuổi Nhiệt độ trong quây (oC) Nhiệt độ trong chuồng (oC)
Trang 24Theo Dương Thanh Liêm (2003) thì để kiểm tra nhiệt độ có thích hợp cho gà con hay không, ngoài căn cứ vào nhiệt kế, người ta còn kiểm tra bằng biểu hiện sinh lý trên hành vi của gà con.
Trong quá trình nuôi, quan sát phản ứng của đàn gà đối với nhiệt độ:
Nếu đàn gà tập trung gần nguồn nhiệt, chen lấn, chồng đống lên nhau là chuồng nuôi không đủ nhiệt độ, gà bị lạnh
Nếu đàn gà tản xa nguồn nhiệt, nháo nhác, khát nước, há mỏ để thở là bị quá nóng, cần điều chỉnh giảm nhiệt độ
Nếu gà con tụm lại một phía là bị gió lùa, rất nguy hiểm, cần phải che kín hướng gió thổi
Khi nhiệt độ trong quây thích hợp gà vận động, ăn uống bình thường ngủ nghỉ tản đều (Phùng Đức Tiến, 2006)
2.4.3.2 Ẩm độ
Sau yếu tố nhiệt độ thì ẩm độ chuồng nuôi cũng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả chăn nuôi bởi vì ẩm độ ảnh hưởng rất lớn đến sự bốc hơi nước trong chuồng nuôi,
mà bốc hơi nước lại có mối liên quan mật thiết với sự cân bằng nhiệt của gia cầm
và tình trạng vệ sinh trong chuồng nuôi Khi nhiệt độ cao mà ẩm độ cũng cao thì
gà thải nhiệt ra ngoài rất khó khăn, vì sự bốc hơi nước khó thực hiện được Ngược lại, khi nhiệt độ trong chuồng nuôi thấp mà ẩm độ cao làm gia cầm chịu lạnh kém hơn, chuồng trại luôn ẩm ướt Gia cầm luôn tiêu phân xuống nền chuồng, nếu ẩm
độ cao thì chuồng trại sẽ không bao giờ khô ráo tạo môi trường thuận lợi cho vi trùng, các loại vi khuẩn khác cũng như các loại nấm mốc và nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh cho gà (Dương Thanh Liêm, 2003) Đặc biệt gà Sao con mới nở tuyệt đối không để gà bị ướt vì giai đoạn này chúng rất mẫn cảm với nước (Phùng Đức Tiến, 2006)
Nước ta thường có ẩm độ không khí rất cao, trên 75%, vì vậy dùng biện pháp giảm ẩm độ bằng hệ thống thông gió và giữ khô lớp độn chuồng là cách tốt nhất Bên cạnh đó, thực hiện tốt công tác vệ sinh như khai thông cống rãnh, phát quang bụi rậm và giảm mật độ nuôi cũng là cách hạn chế phát sinh ẩm độ trong trại (Bùi Xuân Mến, 2007) Ẩm độ tương đối là 50 – 60% là phù hợp với gà con Không bao giờ cho phép ẩm độ trên 80% Để đảm bảo giảm ẩm độ trong chuồng, cần sử dụng hệ thống thông hơi là rất cần thiết, nhưng không được để tạo thành luồng gió mạnh trong chuồng gà (Phạm Tấn Nhã, 2010)
Trang 252.4.3.3 Mật độ
Giai đoạn úm gà tùy theo phương thức nuôi, kiểu chuồng, tiểu khí hậu hoặc hệ thống điều hoà trong chuồng nuôi và tuổi của gà mà bố trí thích hợp (Bùi Xuân Mến, 2007)
Nuôi nền, sử dụng độn chuồng: 1 – 7 tuần tuổi mật độ 10 – 15 con/m2
Nuôi trên sàn lưới: 1 – 3 tuần tuổi mật độ 40 – 50 con/m2, 4 – 12 tuần tuổi mật độ
10 – 12 con/m2 (Phùng Đức Tiến, 2006)
2.4.3.4 Thông thoáng khí và lượng khí độc trong chuồng nuôi
Độ thông thoáng của chuồng nuôi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó có quan hệ đến ẩm độ, nhiệt độ và mức khí độc trong chuồng nuôi (Dương Thanh Liêm, Võ
Chuồng trại xây dựng không đúng cách
Điều kiện thông gió thấp
Sự hô hấp của gia cầm
Sự phân hủy của các chất do gia cầm bài tiết
Sưởi ấm và thiết bị chiếu sáng
Vệ sinh và điều kiện làm việc không tốt
Theo một số tài liệu, thì thành phần không khí trong chuồng nuôi được quy định như sau:
CO2 tối đa: 0,01 mg/lít
Trang 26NH3 tối đa: 0,02 mg/lít.
H2S tối đa: 0,01 mg/lít
(Bùi Quang Toàn, Đào Đức Long, Nguyễn Chí Bảo, 1980)
Theo Lã Thị Thu Minh (2000) giới hạn lượng khí độc trong chuồng nuôi là:
Trên thực tế, bất kỳ sự thay đổi bất thường nào về sự bốc hơi cũng tác động đến gia cầm con, cũng làm chúng kém ăn, lớn chậm và dễ mắc bệnh Sự biến đổi đó là
do ảnh hưởng của sự biến đổi của nhiệt độ gió tăng, thì sự bốc hơi cũng tăng Ngược lại, độ ẩm tăng cũng hạn chế bốc hơi
Để khác phục tình trạng bốc hơi không hợp lý Cần chú ý điều chỉnh hệ thống thông hơi cho tốt đồng thời với chuồng nóng và bảo đảm luôn luôn có đủ lượng nước uống cho gia cầm con (Bùi Quang Toàn, Đào Đức Long, Nguyễn Chí Bảo, 1980)
Gió và sự thông hơi: gió vừa phải tạo lên sự thông hơi tốt, chi phối độ nhiệt, đưa không khí nóng ẩm, bẩn ra ngoài, duy trì một tiểu khí hậu thích hợp trong chuồng nuôi gia cầm Không có gió hoặc tốc độ gió quá chậm sẽ làm tăng độ ẩm của không khí trong chuồng: hàm lượng khí độc (CO2, H2S…) sẽ tăng lên và gây ra hiện tượng ngộ độc Nhiệt độ tăng thì gây rối loạn sinh lý, bốc hơi tăng thì gây khát nước, lượng Oxi bị giảm gây ngột ngạt, những vi thể trong không khí như vi trùng, bụi bặm, nấm mốc tăng, sẽ làm ô nhiễm không khí và gây ra bệnh cho gia cầm con Ngược lại nếu gió nhiều quá, tốc độ gió nhanh quá sẽ gây ra tình trạng bốc hơi quá đáng, tăng độ ẩm tuyệt đối, hạ độ nhiệt Gió lùa dễ gây cảm lạnh, viêm phổi đối với gia cầm con
Trang 27Ở Bungari tốc độ gió trong chuồng gà được quy định là 0,3 m/s ở 14 – 15oC, 0,6 –0,8 m/s ở 20 – 25oC đối với loại chuồng kín.
Ở Cuba đối với chuồng hở, tốc độ gió được quy định là 0,25 m/s trên dưới 25oC.Một điều cần chú ý là kín hay hở, nhất thiết không để có gió lùa trong chuồng nuôi gia cầm con (Bùi Quang Toàn, Đào Đức Long, Nguyễn Chí Bảo, 1980)
Gà con cần thông thoáng khí, vì vậy khi sưởi ấm hoặc thông thoáng cho gà không nên bịt kín chuồng, lồng dễ gây độc do các khí độc từ cơ thể và phân gà tạo ra Đó
là các khí CO2, NH3, H2S (Đào Đức Long, Trần Long, 1995)
2.4.3.5 Độ bụi trong chuồng nuôi
Bụi bậm sinh ra trong chuồng nuôi là do chất độn chuồng có trong chuồng có nhiều bụi, từ phân gà khô lại thành bụi, do thức ăn dạng bột rơi đổ ra ngoài Khi
gà bới xới, quạt cánh trong điều kiện không khí quá khô thì hình thành tầng bụi lơ lửng trong chuồng nuôi Trong các hạt bụi nhỏ li ti có mang theo mầm bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng Khi gà hít các hạt bụi này vào cơ thể sẽ sinh ra bệnh tật
Để khắc phục những hạt bụi nhỏ này và làm cho tiểu khí hậu chuồng nuôi luôn sạch sẽ người ta sẽ tiến hành hệ thống thông gió kết hợp với hút bụi Mặt khác, người ta không sử dụng chất độn chuồng có nhiều bụi như mùn cưa mà sử dụng trấu sạch hoặc rơm rạ và tránh làm rơi thức ăn xuống nền chuồng Mạng nhện bám xung quanh lưới quây ngăn chuồng phải được quét và hút bụi thường xuyên Ở các trại chăn nuôi hiện đại người ta có trang thiết bị hệ thống hút và lọc không khí trước khi vào chuồng nuôi, nhưng giá thành thiết bị này rất đắt nên nó chỉ thích hợp ở trại chăn nuôi có quy mô lớn (Dương Thanh Liêm, 2003)
2.4.4 Ánh sáng và chương trình chiếu sáng
Ánh sáng mặt trời có ảnh hưởng lớn đến gia cầm con, với tác dụng gây hưng phấn
hệ thống thần kinh, tăng cường sự trao đổi vật chất của cơ thể, làm cho gia cầm con ăn được nhiều, từ đó tăng lên số lượng hồng huyết cầu và hồng huyết tố trong máu và nâng cao thể trọng của chúng Mặt khác, dưới tác dụng của ánh sáng trong
cơ thể con vật sẽ hình thành vitamin D, xúc tiến khớp xương phát triển bình thường Ánh sáng mặt trời còn có tác dụng tiêu diệt vi trùng nâng cao khả năng miễn dịch cho gia cầm con Thông thường ánh sáng trực xạ có hiệu lực hơn là ánh sáng tán xạ Chúng ta phải tận dụng tới mức tối đa nguồn năng lượng sẵn có đó bằng cách cho gia cầm con tắm nắng hàng ngày (tối thiểu trong 2 giờ) để đáp ứng các nhu cầu của chúng về ánh sáng, nhiệt độ và vitamin D Ngoài ra, chuồng trại, lớp độn chuồng, dụng cụ thiết bị chăn nuôi phải được phơi nắng hàng ngày để tiêu
Trang 28diệt các loại vi trùng gây bệnh cho gia cầm con (Bùi Quang Toàn, Đào Đức Long, Nguyễn Chí Bảo, 1980).
Ánh sáng đối với gà con rất quan trọng vì chúng hay hoảng sợ trước những bất lợi của môi trường Gà con rất cần chiếu sáng 24/24 giờ từ một đến 3 tuần đầu, từ 4 đến 6 tuần tuổi giảm dần còn 16 giờ
Giai đoạn gà dò ban ngày dùng ánh sáng tự nhiên, ban đêm có thể dùng bóng đèn công suất 25 – 45W/100m2 nền chuồng giúp cho gà có thể nhìn thấy được, đồng thời đỡ bị ảnh hưởng đến khả năng phát dục của gà
Từ 24 tuần tuổi (trước khi gà đẻ 1 tháng), thay bằng bóng đèn có công suất 75 –100W Cường độ ánh sáng: 3 – 4W/m2 nền chuồng Chú ý lượng ánh sáng phải được phân bố khắp chuồng (Phùng Đức Tiến, 2006)
Chương trình chiếu sáng chiếm một ví trí quan trọng, nếu kéo dài thời gian chiếu sáng sẽ làm tăng đòi hỏi về thức ăn và kích thích cho cơ thể phát triển nhưng làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn
Ngược lại nếu giảm thời gian chiếu sáng sẽ làm giảm nhu cầu về thức ăn, giảm tăng trọng nhưng lại tăng hiệu quả sử dụng thức ăn Nhưng người ta đánh giá lợi nhuận dựa trên sức tăng trọng, hệ số chuyển hóa thức ăn (Lã Thị Thu Minh, 2000) Nếu chiếu sáng dài thì hệ số chuyển hóa thức ăn bao giờ cũng thấp hơn so với chiếu sáng ngắn Tuy nhiên, nếu ánh sáng quá mạnh gà sẽ chạy nhảy mổ nhau nhiều, ăn chậm lớn, chỉ để đủ ánh sáng để gà nhận đủ thức ăn, nước uống là được (Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1995) Sử dụng cường độ chiếu sáng 3W/m2 diện tích nền chuồng đã có thể cung cấp đủ ánh sáng giúp gà tiêu thụ thức ăn một cách bình thường (Lã Thị Thu Minh, 2000)
Chương trình chiếu sáng: giai đoạn 2 tuần đầu duy trì chiếu sáng tối đa 24/24 để
gà sinh trưởng nhanh với cường độ chiếu sáng 20 – 30 lux hoặc tính theo công xuất của bóng đèn nóng sáng 3 – 4W/m2 Thường thì dùng bóng đèn tròn nóng sáng hoặc đèn ống huỳnh quang có chụp treo cách nền 3 m Trong giai đoạn gà con, để đảm bảo sự phát triển ban đầu, thường thì gà được phép ăn tự do thức ăn
gà con, tuy nhiên có một vài giống được ăn theo định mức (Bùi Xuân Mến, 2007).Cần xác định trước số lượng gà sẽ úm để chuẩn bị đủ diện tích chuồng, đủ máng
ăn, máng uống Trong trường hợp sưởi nhân tạo thì phải làm vòng quây gà con có đường kính 3 – 4 m, cao 0,5 m Nếu dùng chụp sưởi bằng tia bức xạ thì đường kính vòng quây phải rộng 5 – 6 m Phải điều chỉnh thiết bị sưởi sao cho nhiệt độ ổ
gà đạt 29 – 30oC Mùa đông có thể sưởi ấm chuồng 48 giờ, mùa hè 24 giờ trước khi đàn gà đến Cần kiểm tra hệ thống van nước uống trong chuồng, có sử lý bằng
Trang 29Clo Trước khi đàn gà đến cần đổ nước uống có nhiệt độ 25oC vào máng uống Khi đặt gà vào chuồng cho gà uống nước và sau 1 – 2 giờ mới bắt đầu cho ăn, không được làm đàn gà xáo trộn, đè bẹp lẫn nhau, phải làm cho chúng quen với môi trường mới và phát hiện thấy máng ăn, uống Trong 10 ngày đầu, cần đảm bảo mỗi khay máng ăn nhựa cho 100 con gà con Trong vòng 1 – 2 giờ sau khi chuyển gà vào chuồng Khi đàn gà được 8 – 10 tuần tuổi, cần lắp đặt cầu cho gà đậu ở trong chuồng Mỗi cái cầu dài 1 m dành cho 15 con đậu (Nguyễn Văn Bắc, 2008).
Ngày đầu sau khi đưa gà đến, cần đảm bảo nhiệt độ trong vòng quây gà úm là
38oC, trong chuồng là 28oC Nhu cầu nhiệt độ thay đổi theo lứa tuổi của gà Số lượng gà con đặt dưới chụp sưởi truyền thống tối đa là 500 con, nếu dùng chụp sưởi tia bức xạ thì nhốt được 1.000 con Cứ 4 ngày một lần giảm nhiệt độ thấp xuống 2oC Giai đoạn 14 – 21 ngày tuổi, gà con bắt đầu phân tán khắp chuồng, cho nên việc quan tâm điều chỉnh đều nhiệt độ điều chỉnh trong chuồng là rất cần thiết, có thể bỏ dần số chụp sưởi đi Trong những ngày đầu, nếu không đủ nhiệt,
gà con bị ỉa chảy, yếu, chậm lớn và dễ bị chết vì lạnh Nếu đủ nhiệt, gà con nằm tản đều dưới vùng sưởi ấm Nếu quá nóng, gà nằm xoài úp bụng trên nền chuồng,
cố nghển cổ, thò đầu ra hoặc chúng cố tìm chỗ mát hơn như dọc tường để nằm Gà kém ăn, chậm lớn, còi cọc, chết nhiều (Nguyễn Văn Bắc, 2008)
Bảng 2.4: Nhu cầu nhiệt độ thay đổi theo lứa tuổi
Ngày tuổi Trong vòng quây
Trang 302.4.5 Thức ăn và dinh dưỡng
Trong chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi gà nói riêng, thức ăn chiếm một tỷ
lệ lớn nhất Tùy theo điều kiện từng nơi, tùy theo giống gia cầm khác nhau, tùy theo đầu tư trang thiết bị kỹ thuật chuồng trại khác nhau mà chi phí thức ăn chiếm
tỷ lệ từ 55 đến 75% trong chi phí chăn nuôi (Dương Thanh Liêm, 2003) Muốn gà mau lớn, đẻ nhiều, chỉ số tiêu tốn thức ăn thấp thì phải cho gà ăn đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng có trong thức ăn (Lê Quang Phiệt, 1999)
Khi đã chọn được giống tốt thì thức ăn phải đủ số lượng và chất lượng, cân đối dinh dưỡng cho khẩu phần từng loại gà theo lứa tuổi, theo năng suất thịt, trứng mới có hiệu quả nuôi công nghiệp (nuôi nhốt) và nuôi thả vườn Thường là thức
ăn chiếm 70% giá thành sản phẩm chăn nuôi, yếu tố quan trọng quyết định sự lỗ lãi (Dương Thanh Liêm, 2003)
Chất dinh dưỡng được lấy vào cơ thể thông qua thức ăn hàng ngày theo nhu cầu của cơ thể, nhu cầu đó một phần cho duy trì và phần lớn cho sự tái tạo sản phẩm thịt và trứng (Lâm Minh Thuận, 2005)
Thức ăn bao gồm các loại nguyên liệu từ động vật, thực vật, khoáng chất, tổng hợp vi sinh vật, hóa học và các chất bổ sung khác ở dạng đơn chất hay hỗn hợp chưa hoàn chỉnh, hoàn chỉnh được chế biến theo nhu cầu dinh dưỡng của từng loại
gà (Lê Hồng Mận, 2004)
2.4.5.1 Vai trò và nhu cầu Protein đối với gà
Protein là chất hữu cơ quan trọng nhất không một dưỡng chất dinh dưỡng nào thay thế vai trò của nó trong tế bào sống, bởi vì khác với mỡ và bột đường, cấu tạo của hai chất này chỉ có Carbon (C), Oxi (O) và Hydro (H), còn phân tử protein ngoài
C, H, O còn có Nitơ (N), lưu huỳnh và phospho (Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1995)
Nhìn chung khả năng sử dụng protein trong thức ăn hoàn toàn phụ thuộc vào giống, tuổi và tính năng sản xuất, ở gà con protein có ý nghĩa hơn nhiều so với gà trưởng thành Điều này cũng có ý nghĩa là đối với gà con thì yêu cầu về số lượng protein và chất lượng protein cao hơn gà trưởng thành (Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1995)
Mức protein thô (CP) trong khẩu phần đối với gà Sao nuôi thịt giai đoạn 0 – 4 tuần tuổi là 22%, giai đoạn 5 – 8 tuần tuổi là 20%, giai đoạn 9 – 12 tuần tuổi là
16% (Mandal et al 1999) Theo Moreki (2005) mức CP trong khẩu phần đối với
gà Sao nuôi thịt giai đoạn 0 – 4 tuần tuổi là 24%, giai đoạn 5 – 8 tuần tuổi là 20%, giai đoạn 9 tuần tuổi đến xuất chuồng (14 – 16 tuần tuổi) là 16% Theo đề nghị
Trang 31của Nahashon et al (2006) mức CP đối với gà Sao nuôi thịt từ 0 – 8 tuần tuổi là 24%, giai đoạn 9 – 16 tuần tuổi là 17% Theo Phùng Đức Tiến et al (2006) mức
CP đối với gà Sao nuôi thịt từ 0 – 4 tuần tuổi là 22%, giai đoạn 5 – 9 tuần tuổi là 20%, giai đoạn 9 tuần – giết thịt là 18% Theo Leeson và Summer (1997) thì nhu cầu CP trong khẩu phần gà thịt là 16 – 23%, tuy nhiên còn phải tùy thuộc vào mức năng lượng (ME) của khẩu phần
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu và sử dụng protein
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2001) thì việc xác định nhu cầu protein đều dựa trên số liệu thí nghiệm nhưng trong thực tế sản xuất nhu cầu này rất biến động Vì vậy, cần phải hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng để có thể tác động kịp thời nhằm đạt được mức độ tối ưu trong sản xuất Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu
và sử dụng prtein gồm các yếu tố sau:
Yếu tố cơ thể (bao gồm giống, lứa tuổi, tính biệt)
Yếu tố năng lượng
Yếu tố môi trường
2.4.5.2 Vai trò và nhu cầu năng lượng đối với gà
Năng lượng cần thiết cho tất cả các hoạt động sống của cơ thể: tiêu hóa, tiêu hóa,
hô hấp, hoạt động sinh sản, bài tiết và các quá trình trao đổi chất
Trong thức ăn, các thành phần hữu cơ bao gồm: protein, lipid và hydratcarbon, trong đó thì hydratcarbon chiếm tỷ lệ lớn nhất 40 – 60% Như vậy trong cơ thể gà chất lượng bột đường có vai trò cung cấp phần lớn năng lượng cần thiết cho mọi nhu cầu hoạt động sống duy trì thân nhiệt cho cơ thể, tích lũy năng lượng dưới dạng glycogen trong gan, trong cơ và mỡ (Võ Bá Thọ, 1996) Vì năng lượng dư thừa không thải ra ngoài, đây là đặc điểm đặc biệt của vật chất chứa năng lượng
mà vật chất khác không có (Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1995)
Theo đề nghị của Nahashon et al (2006) mức năng lượng trao đổi đối với gà Sao
nuôi thịt từ 0 – 5 tuần tuổi là 3.000 kcal/kg thức ăn, giai đoạn 5 – 16 tuần tuổi là
3.100 kcal/kg thức ăn Theo Phùng Đức Tiến et al (2006) mức năng lượng trao
đổi đối với gà Sao nuôi thịt từ 0 – 4 tuần tuổi là 3.000 kcal/kg thức ăn, giai đoạn 5 – 9 tuần tuổi là 3.100 kcal/kg thức ăn, giai đoạn 9 tuần đến giết thịt là 3.200 kcal/kg thức ăn
Ở gà con và gà thịt nhất là gà con ở giai đoạn thúc mập cần năng lượng rất cao (Võ Bá Thọ, 1996)
Trang 322.4.5.3 Mối tương quan giữa năng lượng và protein
Thông thường, protein không được cho rằng là nguồn cung cấp năng lượng trong khẩu phần nhưng nó đóng góp đáng kể vào nhu cầu năng lượng của gia cầm Khi lượng lipid và carbohydrate cung cấp không đủ, protein sẽ được sử dụng như nguồn cung cấp năng lượng chính cho gia cầm (Tôn Thất Thịnh, 2010)
Sự quan hệ chặt chẽ giữa năng lượng trao đổi với protein theo một hằng số nhất định trong khẩu phần thức ăn cho từng giai đoạn phát triển và sản xuất của gia cầm Hằng số đó được tính bằng hằng số kcal ME/CP trong thức ăn
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2001) gợi ý hằng số ME/CP trong thức ăn cho các lứa tuổi gà như 0 – 3 tuần tuổi (gà thịt) là 127 – 130; 4 – 6 tuần tuổi là 145 – 150; 7 tuần tuổi đến kết thúc: 160 – 165 Theo Lã Thị Thu Minh (2000) thì đối với gà thịt tỉ lệ năng lượng trao đổi và protein là 90 – 110
2.4.5.4 Vai trò và nhu cầu chất khoáng đối với gà
Các chất khoáng có trong cơ thể sống, ở những trạng thái khác nhau, sự chuyển hóa của chúng phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ của chúng trong cơ thể và trong thức
ăn, đặc biệt tỷ lệ giữa Canxi (Ca), Phosphor (P), Natri (Na), Kali (K), Clo (Cl) có
ý nghĩa rất lớn
Người ta chia chất khoáng làm 2 nhóm:
Khoáng đa lượng: C, P, K, Na, Mg, Cl, S,…
Khoáng vi lượng: Fe, Cu, Zn, Co, I,…
Khoáng đa lượng:
Natri, Kali, Clo: các chất khoáng Na, K có nhiều và đóng vai trò quan trọng trong
cơ thể và chúng tồn tại dưới dạng hóa hợp Cloruabicarbonat,…
Còn Clo trong cơ thể nó kết hợp với Na (NaCl) và là thành phần cấu tạo nên HCl, làm tăng độ toan ở dịch dạ dày, giúp tăng cường tiêu hóa protid
Nếu ăn quá nhiều muối NaCl sẽ làm tăng cường trao đổi chất và sinh sốt vì thoát nhiệt ra nhiều, ăn quá nhiều muối gây uống nước quá nhiều, gà kém ăn Nếu thiếu
Na+, Cl+ làm con vật ăn không ngon, gia cầm cắn lông lẫn nhau, chậm lớn và khả năng tiêu hóa thức ăn giảm
Đối với gà con lượng muối trong khẩu phần thức ăn không quá 0,4%, gà lớn và gà lớn và gà đẻ không quá 0,5% (Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1995)
Trang 33Canxi, Phospho:
Canxi có vai trò lớn nhất trong việc kiến tạo và phát triển bộ xương cần thiết cho
sự đông máu, ảnh hưởng đến sự co bóp tim Canxi tích lũy ở xương khi cần thiết
cơ thể sẽ huy động lấy ra từ xương Trong khẩu phần thức ăn của gà con yêu cầu
Ca khoảng từ 1 – 1,2%, gà giò 0,9 – 1% (Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1995).Yêu cầu Ca của gia cầm phụ thuộc vào lứa tuổi, tính năng sản xuất, hàm lượng của Phospho
Tỷ lệ Ca/P thích hợp là 1,6/1 (Lã Thị Thu Minh, 2000)
Phospho: chức năng quan trọng của P là kiến tạo bộ xương, cân bằng kiềm, tham gia trong việc trao đổi hydratcarbon, chất béo, acid amin
Đối với gà con yêu cầu khoảng 0,5% P trong khẩu phần thức ăn (Bùi Đức Lũng,
Đồng: tham gia vào thành phần của máu nhưng với số lượng nhỏ
Coban: trực tiếp tạo vitamin B12 kích thích tạo hồng cầu
Kẽm: ảnh hưởng đến quá trình trao đổi không khí trong phổi, cần cho cơ thể chống bệnh Perosis (trẹo chân) Thiếu kẽm, lông phát triển kém
Iod: cần cho hoạt động của tuyến giáp trạng tạo Thyroxin điều hòa trao đổi năng lượng
Thiếu Fe, Cu, Co, gà sẽ thiếu máu (Võ Bá Thọ, 1996)
2.4.5.5 Vai trò và nhu cầu chất béo đối với gà
Chất béo là dung môi để hòa tan các vitamin và sắc tố tan trong chất béo giúp cơ thể hấp thu dễ dàng Nếu thiếu chất béo thì sự hấp thu carotene, vitamin A, D, E,
K sẽ giảm Chất béo làm tăng khẩu vị ăn cho gia cầm, làm giảm độ bụi của thức
ăn Ngoài ra chất béo còn có tác dụng bôi trơn khi gia cầm nuốt thức ăn Chất béo
Trang 34cung cấp một số acid béo thiết yếu, cần cho cơ thể động vật như acid linoleic, acid linolenic và acid arachidonic.
Tuy chất béo chứa nhiều năng lượng, nhưng nhiệt lượng tỏa nhiệt khi chuyển hóa chất béo ít hơn chuyển hóa chất bột đường và chất đạm Nên trong mùa hè giải quyết năng lượng cho gà bằng chất béo tốt hơn, giúp gà chống lại stress nhiệt tốt hơn
Chất béo trong thức ăn cũng có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, nếu thức ăn
có nhiều acid béo chưa no thì mỡ động vật sẽ nhão, ngược lại nếu thiếu acid béo chưa no thì mỡ sẽ cứng Từ chất béo có thể chuyển hóa thành các chất khác và cũng tham gia tạo nên sản phẩm động vật (Dương Thanh Liêm và ctv, 2002).Nhu cầu chất béo trong cơ thể gia cầm rất ít: gà con cần dưới 4% (nếu cao hơn sẽ dẫn đến tiêu chảy), gà hậu bị và gà đẻ cần dưới 5% (nếu cao hơn sẽ làm gà mập
mỡ khó đẻ), đối với gà nuôi thả có thể cung cấp chất béo nhiều hơn (Phòng Kỹ thuật công ty Nhân Lộc -ngày 01/05/2011).
2.4.5.6 Vai trò và nhu cầu vitamin đối với gà
Không giống như những chất dinh dưỡng khác, vitamin như một nhóm có ít những đặc tính chung cho tất cả các vitamin Vitamin là những hợp chất hữu cơ, thường không được tổng hợp bởi mô cơ thể và có nhu cầu với những lượng rất nhỏ trong khẩu phần (Bùi Xuân Mến, 2007)
Vitamin là một nhóm thức ăn được trong khẩu phần gà con Gà nuôi thả chúng có thể kiếm được thức ăn xanh có trong tự nhiên đó là nguồn cung cấp vitamin rất tốt Đối với gà nuôi nhốt việc bổ sung thêm vitamin là một điều cần thiết Thiếu vitamin sẽ dẫn đến rối loạn hoạt động sinh lý của cơ thể, gây ra bệnh tật Bệnh thiếu vitamin không những gây thiệt hại trực tiếp cho gà con mà còn để lại hậu quả nghiêm trọng cho cả đời gà như những bệnh di truyền (Lã Thị Thu Minh, 2000)
Một số vitamin thường gặp có vai trò chủ yếu như sau:
Vitamin A kích thích tế bào non và tế bào sinh dục Thiếu vitamin mắt gà kém, gà con mù mắt nhiều, gà mái đẻ kém, tinh trùng gà trống biến dạng, chết phôi cao vào ngày 18 – 21 của thời kỳ ấp
Vitamin D tham gia chuyển hóa canxi và phospho tạo xương, thiếu khoáng gà còi cọc, giảm đẻ, trứng có vỏ mỏng hoặc thiếu vỏ
Vitamin E cần cho hoạt động sinh dục Thiếu vitamin E thì cơ quan sinh dục bị teo, gà giảm đẻ (Lê Hồng Mận, Đoàn Xuân Trúc, 2004)
Trang 35Vitamin K là yếu tố của sự đông máu và chống chảy máu Ở gà con bị thiếu vitamin K có thể bị chảy máu ở mô liên kết dưới da (Võ Bá Thọ, 1989)
Vitamin B1 cần cho trao đổi gluxit và hoạt động hệ thần kinh Thiếu vitamin B1dây thần kinh bị viêm, gà dể bị liệt
Vitamin B2 tham gia vào quá trình sinh trưởng và đẻ trứng Thiếu vitamin B2 phôi chết nhiều, phát triển không đầy đủ, gà con chậm lớn (Lê Hồng Mận, Đoàn Xuân Trúc, 2004)
Vitamin B6 tham gia vào quá trình trao đổi chất đạm trong sự tạo máu, cũng như góp phần vào sự biến đổi các acid béo chưa bão hòa Nếu thiếu vitamin B6 gia cầm giảm ăn, chậm lớn, giảm sức sản xuất và có biểu hiện thần kinh
Vitamin B12 có vai trò khá quan trọng trong sự tạo máu, tổng hợp các protein tế bào, thúc đẩy sự sinh trưởng bình thường của cơ thể (Võ Bá Thọ, 1989)
Vitamin C tham gia vào quá trình hấp thu sắt (Fe) tạo hồng cầu, giúp cơ thể chống nóng Thiếu vitamin C gà con sinh trưởng chậm, sức đề kháng kém và dễ nhiễm bệnh
Các vitamin có rất nhiều trong thức ăn, nhất là từ hoa quả, rau xanh, ngũ cốc Hiện nay trong chăn nuôi tập trung thường sử dụng các loại vitamin tổng hợp trộn sẵn ở dạng premix cho từng loại gia cầm, hiện nay có bán nhiều trên thị trường và rất thuận lợi khi sử dụng (Lê Hồng Mận, Đoàn Xuân Trúc, 2004)
Theo Bùi Quang Toàn và ctv (1980) thì nhu cầu từng loại vitamin như sau:
Vitamin A: 500 – 800 UI/100g thức ăn
2.4.5.7 Vai trò, nhu cầu và kỹ thuật xử lý nước uống đối với gà
Nước thường không được xếp loại như là một dưỡng chất mặc dù nước chiếm 1/2 đối với cơ thể con vật trưởng thành có khi chiếm 90% trọng lượng sơ sinh Tuy nhiên, nước đóng vai trò rất quan trọng, nó là thành phần chủ yếu trong việc
Trang 361/3-trao đổi của cơ thể và là yếu tố chính trong việc điều hòa thân nhiệt của cơ thể (Võ Văn Sơn, 1996).
Trong chăn nuôi gà công nghiệp, nước uống là vấn đề lớn cần được chú ý khi mới bắt đầu chọn địa điểm xây dựng chuồng trại Để đảm bảo nước uống cho gà cần chú ý các điểm sau: lượng nước, phẩm chất nước, nguồn nước và vệ sinh nước (Bùi Quang Toàn, Đào Đức Long, Nguyễn Chí Bảo, 1980)
Phương pháp cung cấp nước tốt nhất cho gà là cho chúng tiếp xúc trực tiếp với nguồn nước và được uống thỏa thích (Vũ Duy Giảng, 1997) Nước uống hạn chế
sẽ làm giảm khả năng hấp thụ thức ăn và sinh trưởng của chúng Nếu trời nóng, không đủ nước uống gà có thể bị chết Cần khử trùng nước uống bằng Clo hoặc Iốt Cần sử dụng đồng hồ đo nước uống hàng ngày của đàn gà để xác định khả năng tiêu thụ nước của chúng Việc điều chỉnh độ cao của van nước uống là cực
kỳ quan trọng Trong 2 ngày đầu, máng nước để cao ngay tầm mắt của gà, đến ngày thứ 3 nâng van nước lên để gà ngẩng lên uống nước với góc 45o Đến ngày thứ 4 gà phải nghển cổ lên mới uống được Đến ngày thứ 7 cần sử dụng van nước
tự động và đặt ở tầm cao ngang lưng Sau đó điều chỉnh van nước cao lên, đảm bảo gà hạn chế không làm bắn nước ra ngoài Máng nước hở phải có mực nước cao tối đa 2 cm hàng ngày cần tháo nước rửa mạch (Phạm Tấn Nhã, 2010)
Bảng 2.5: Tỷ lệ giữa nước uống được và thức ăn tiếp nhận được ở gà
(Nguồn: Đào Minh Dương (2008))
Bên cạnh đó, cần chú ý đảm bảo những chỉ tiêu về vệ sinh nước uống, nồng độ chất hòa tan không quá 15g/lít (nước tốt chứa 2,5g chất hòa tan/lít nước) Cụ thể là NaCl không quá 10g/lít, muối sulphat không quá 1g/lít, muối nitrat tối đa 50 –100ppm Cũng không cho vật nuôi uống nước bị nhiễm tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng hoặc hóa chất độc (Vũ Duy Giảng, 1997)
Trang 37Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu chất lượng nước uống
nhiễm bẩn Tổng số vi
đó chúng ta có thể dự đoán nên năng suất của gà trong tương lai
Nên nhận gà càng sớm càng tốt sau khi nở Nếu để lâu gà dễ bị lạnh, mất nước, da chân khô, tỷ lệ chết cao (Lê Quang Phiệt, 1999)
Gà Sao con của dòng nhỏ có khối lượng sơ sinh 29,1g, dòng trung khối lượng sơ sinh 29,5g, dòng lớn khối lượng sơ sinh 30,8g và chọn những gà con nhanh nhẹn, mắt sáng, bong lông, bụng gọn, chân mập Tránh chọn nuôi những gà con khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông (Phùng Đức Tiến, 2006)
Trang 382.4.7 Phương pháp úm gà
Trước khi nhận gà về phải chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị và tiến hành làm quây úm theo yêu cầu đã trình bày ở trên Quây úm phải bật điện sưởi trước 2 giờ sau đó mới thả gà vào Đồng thời cho gà uống nước có pha thuốc bổ: đường Glucoza 50g + vitamin C 1g + Bcomplex 1g/1 lít nước Sau khi cho gà uống đủ nước 1 – 2 giờ sau mới cho gà ăn cám để tránh hiện tượng bội thực cho gà (Theo KHKT Nông nghiệp – Ngày 24/5/2006)
Theo một số tài liệu thì gà 1 ngày tuổi không cần cho ăn, cho uống kháng sinh đa giá + Bcomplex + đường Glucoza + chất điện giải (liều lượng xem hướng dẫn trên bao bì gói thuốc) trong 3 ngày liền Ngày thứ 2 cho gà tập ăn gạo lức (gạo xay) hoặc ngô tốt nghiền nhỏ rắc trên mẹt bằng tre Ngày thứ 3 trở đi cho gà ăn thức ăn tổng hợp chế biến sẵn của các hãng thức ăn lớn có uy tín như: Proconco, CP Group Chuyên dùng cho gà từ 1 đến 22 ngày tuổi Ngày thứ 4 trở đi cho gà uống nước sạch không hạn chế Ngày thứ 8 trở đi cho gà ăn, uống bằng máng tròn nhựa hay tôn chuyên dùng (TTKNQG, http://www.cucchannuoi.gov.vn)
Để gà con mau biết ăn, trong 2 tuần đầu nên cho gà ăn trên khay vuông, hoặc trên giấy carton, giấy báo Cho ăn nhiều lần trong ngày, mỗi lần rải thức ăn thật ít, mỏng đều để cho gà leo vào ăn, có thể gọi gà vào ăn bằng cách gõ nhẹ đầu ngón tay vào khay Cần phải bảo đảm ánh sáng rọi vào khay vừa phải để gà thấy đường
ăn Khi gà ăn người chăn nuôi cần quan sát xem con nào rù, đít bết phân cần phải bắt khỏi đàn hoặc nuôi cách ly hoặc diệt bỏ, vì những gà bệnh đó đi tiêu phân nhiễm trùng vào thức ăn có thể gây bệnh cho gà khỏe Số lần cho ăn tối thiểu 5 – 6 lần trong ngày (Dương Thanh Liêm, 2003)
Bên cạnh việc cho ăn tốt, sạch, ta cũng cần chú ý cho gà uống nước thật sạch, đầy
đủ để phòng bệnh truyền nhiễm mãn tính và tăng cường thể chất Cho gà con, người ta thường cho kháng sinh và vitamin vào trong nước uống cho gà uống trong 3 – 5 ngày đầu sau khi từ trạm ấp về chuồng nuôi (Dương Thanh Liêm, 2003)
Cuối tuần thứ 2 ta trộn thuốc ngừa cầu trùng vào thức ăn, mỗi loại thuốc ngừa cầu trùng có chỉ dẫn liều trộn, cần phải tuân thủ theo chỉ dẫn đó (Dương Thanh Liêm, 2003)
Hết 3, 4 tuần tuổi gà đã lớn, ta chuyển qua cho gà ăn cám hỗn hợp gà giò (Việt Nam gọi thực phẩm số 5) Loại thực phẩm này có hàm lượng đạm thấp hơn, có mức năng lượng cao Tùy theo sức lớn của gà ta tiến hành thay đổi kích thước máng ăn và độ cao của máng ăn để gà ăn được nhiều thức ăn mà không rơi đổ ra ngoài (Dương Thanh Liêm, 2003)
Trang 392.4.8 Cắt mỏ gà
Trong chăn nuôi tập trung phải cắt mỏ gà, vì bản chất của gà thường mổ lông và
ăn thịt lẫn nhau khi bị các stress tác động, như thiếu chất dinh dưỡng, nhiệt độ cao, ánh sáng gắt Mặt khác, gà thường dùng mỏ bới tìm thức ăn gây rơi vãi khoảng 5% nên ta cần cắt mỏ gà Thời điểm cắt mỏ thích hợp thường ở giai đoạn 6 – 10 ngày tuổi, vì lúc này gà đã phát triển khá, có đủ sức đề kháng với stress khi cắt, hơn nữa lúc này gà còn nhỏ dễ thực hiện các thao tác cắt mỏ (Bùi Xuân Mến, 2007) Cắt mỏ gà con bằng máy cắt chuyên dùng hoặc bằng cách cắt thủ công như
sử dụng dao nung đỏ để cắt để tránh cho gà bị chảy máu chỗ vết cắt
2.4.9 Cắt cánh
Sau khi nở, cần cắt cánh gà Sao lúc 1 ngày tuổi Dùng một sợi dây đồng hoặc kim loại nung đỏ để cắt và chỉ cần cắt một cánh tại khớp xương thứ nhất Chú ý thao tác cắt cánh phải thật chính xác và làm nguội chỗ cắt (Phùng Đức Tiến, 2006).Trong điều kiện chăn nuôi lớn, người ta cắt cánh bằng một loại máy đặc biệt Trong máy có một sợi dây bằng đồng, khi nung đỏ nó sẽ “cắt” cánh và làm cho vết thương mau lành (Phạm Tấn Nhã, 2010)
Trong điều kiện nuôi thả vườn thì có thể không cần cắt cánh Tuy nhiên chuồng trại phải có lưới phủ trên, nếu không khi lớn nó sẽ bay ra (Phùng Đức Tiến, 2006)
2.4.10 Quy trình phòng bệnh
Biện pháp vệ sinh trống chuồng: ta cần tạo môi trường thoải mái cho đàn gà 1 ngày tuổi bằng cách chuẩn bị chuồng nuôi thích hợp sao cho không phải gánh chịu các độc tố có nguồn gốc từ các đàn gà trước hoặc từ môi trường xung quanh Sau khi chuyển đàn gà đi chuồng khác, phải thực hiện các công việc sau đây để đảm bảo môi trường phù hợp cho đàn gà mới:
Phải phun sát trùng ngay lớp độn chuồng bằng thuốc sát trùng phổ rộng Nếu thấy các loại ký sinh trùng thì phải trộn thêm thuốc diệt côn trùng
Phải đưa tất cả các loại dụng cụ đã được dùng (máng ăn, máng uống ) ra bể ngâm
có chứa thuốc sát trùng để cọ rửa
Đưa toàn bộ lớp độn và phân đến vị trí quy định để xử lý, sau đó quét dọn sạch toàn bộ nền chuồng
Rửa sạch trần, nền và tường chuồng bằng máy phun cao áp
Sát trùng chuồng: phun thuốc sát trùng phổ rộng
Quét vôi toàn bộ nền, tường chuồng
Trang 40Quét dọn khu vực xung quanh chuồng gà và phun thuốc sát trùng
Đặt thuốc diệt loài gặm nhấm vào nơi chúng hay xuất hiện trong khu vực nuôi gà.Sau khi làm xong các bước trên, để trống chuồng 2 – 3 tuần (Phùng Đức Tiến, 2006) Đây là nguyên tắc hết sức quan trọng vì mầm bệnh không thể tồn tại lâu dài
và xâm nhập vào gà để gây bệnh (Châu Bá Lộc, 1997) Trong thời gian trống chuồng, cần đóng kín các cửa để các loài động vật, côn trùng không xâm nhập vào được, đồng thời bảo dưỡng chuồng trại và sửa chữa trang thiết bị (Phùng Đức Tiến, 2006) Không nuôi gà nhiều lứa tuổi khác nhau trong cùng một chuồng và bắt đầu một lứa khác cần phải sát trùng một lần nữa (Lã Thị Thu Minh, 2000).Khi chuồng đã được sát trùng xong, gà đã được thả vào nuôi, ta thực hiện tiếp khâu thứ hai là giữ cho chuồng nuôi được cách ly, không cho mầm bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào, muốn vậy ta phải hạn chế tối đa việc để cho người, thú vật vào chuồng vì đây là những phương tiện mang mầm bệnh đến cho chuồng Nên có dép riêng và y phục sát trùng cho người vào trại, có kế hoạch diệt ruồi vì chúng cũng mang mầm bệnh đến cho trại (Châu Bá Lộc, 1997)
Vệ sinh thức ăn, nước uống: Kiểm tra thức ăn luôn là khâu đặc biệt quan trọng trong chăn nuôi gia cầm Do điều kiện khí hậu nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới, có ẩm độ rất cao nên việc tồn trữ thức ăn gặp nhiều khó khăn Trong môi trường ẩm độ cao và nhiệt độ cao làm cho thức ăn dễ bị lên mốc phát sinh độc tố, gây nhiễm độc cho gia cầm hoặc làm giảm năng suất vật nuôi, dẫn đến thiệt hại kinh tế Vì vậy, khi mua, tồn trữ, bảo quản và chế biến thức ăn cho gia cầm cần chú ý các chỉ tiêu kỹ thuật như độ ẩm thức ăn để đảm bảo tồn trữ, không lẫn tạp chất trong thức ăn và đảm bảo sự đồng nhất về chất lượng Kho chứa thức ăn phải thoáng mát, có nhiệt độ và ẩm độ thích hợp trong thời gian tồn trữ thức ăn Thức
ăn phải được để theo chủng loại có gắn nhãn mác và hạn sử dụng rõ ràng Loại trừ các vật gây hại tiếp xúc với thức ăn từ các loại côn trùng như kiến, gián, mọt và vật hại khác như chuột, chó, chim hoang
Nước cũng là khâu rất quan trọng cần phải kiểm tra thường xuyên và nghiêm ngặt,
vì mỗi loại bệnh dịch thường lây lan qua nước uống của gia cầm Nước uống sử dụng cho gia cầm cần phải được xử lý, đảm bảo đúng tiêu chuẩn về nồng độ các chất khoáng, vi sinh vật dưới mức cho phép, tuyệt đối không chứa hóa chất độc hại và mầm bệnh Máng đựng nước uống cần phải thiết kế phù hợp, vị trí sắp đặt thuận lợi, nhiệt độ nước cung cấp tốt nhất là nước mát, không lạnh, không nóng Nguồn cung cấp nước phải đầy đủ và thường xuyên cho gia cầm Máng uống phải luôn sạch sẽ để không làm nhiễm bẩn nước uống (Bùi Xuân Mến, 2007) Nếu có