TÓM LƯỢC Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức độ đạm trong khẩu phần lên sự tăng trọng và khả năng tiêu hóa dưỡng chất của thỏ lai sau cai sữa được thực hiện tại trại thỏ ở phường Long Hòa,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
MSSV: 3077062 Lớp: CN K33
Cần Thơ, năm 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Ban lãnh đạo khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng Dụng và các thầy cô của bộ môn Chăn Nuôi
Tôi tên: Đoàn Mỹ Hiền, MSSV: 3077062 là sinh viên Chăn Nuôi K33, niên học
2007 - 2011 Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của bản thân Các số liệu kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa có ai nghiên cứu trong những luận văn trước đây
Giáo viên hướng dẫn Người thực hiện
PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ĐÔNG ĐOÀN MỸ HIỀN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian làm đề tài, tôi được sự ủng hộ và giúp đỡ của cha mẹ, thầy cô và bạn bè Có kết quả như ngày hôm nay, tôi luôn ghi nhớ sự dưỡng dục của cha mẹ và tạo điều kiện cho tôi làm tốt đề tài của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn cô PGS.TS Nguyễn Thị Kim Đông đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện môi trường nghiên cứu thuận lợi để tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Tôi xin cảm ơn chân thành đến quí Thầy Cô Bộ môn Chăn Nuôi – Thú Y đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức từ cơ sở đến chuyên môn trong suốt thời gian tôi học, đặc biệt là TS Nguyễn Thị Hồng Nhân, cố vấn học tập của tôi
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đến bạn bè cùng làm việc tại trại và phòng thí nghiệm E205, đặc biệt là Ths Trương Thanh Trung, Đặng Hùng Cường, Nguyễn Trường Giang và các bạn Nguyễn Văn Trường, Trần Thanh Nhàn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 2
2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ Ý NGHĨA CHĂN NUÔI THỎ 2
2.1.1 Sản xuất và tiêu thụ thỏ trên thế giới 2
2.1.2 Tình hình sản xuất thỏ trong nước 2
2.1.3 Ý nghĩa kinh tế của chăn nuôi thỏ 2
2.2 SƠ LƯỢC VỀ THỎ 3
2.3 CÁC GIỐNG THỎ 4
2.3.1 Thỏ Newzealand White 4
2.3.2 Thỏ California 4
2.3.3 Giống thỏ Chinchilla 4
2.3.4 Các giống thỏ được nuôi ở Việt Nam 4
2.4 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 5
2.4.1 Bộ xương 5
2.4.2 Sự đáp ứng của cơ thể với khí hậu 6
2.4.3 Thân nhiệt- nhịp tim- nhịp thở 6
2.4.4 Đặc điểm về khứu giác 6
2.4.5 Đặc điểm về thính và thị giác 7
2.5 ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA CỦA THỎ 7
2.5.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan tiêu hóa 7
2.5.2 Sự phát triển đường tiêu hóa theo lứa tuổi thỏ 8
2.5.3 Đặc điểm tiêu hóa 8
2.6 VÀI NÉT VỀ TIÊU HÓA CỦA THỎ 9
2.6.1 Sự tiêu hóa protein 9
2.6.2 Sự biến dưỡng Nitơ trong manh tràng 9
2.6.3 Phân mềm và sự tiêu hóa protein 10
2.6.4 Xơ và sự biến dưỡng ở manh tràng 10
2.6.5 Sự tiêu hóa tinh bột 11
2.6.6 Sự tiêu hóa chất béo 12
2.7 KHẢ NĂNG SẢN XUẤT 12
2.7.1 Khả năng sinh trưởng 12
2.7.2 Khả năng cho thịt 13
2.8 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA THỎ 13
2.8.1 Nhu cầu protein 13
2.8.2 Xơ và Nhu cầu xơ 14
2.8.3 Nhu cầu năng lượng 15
Trang 62.8.4 Nhu cầu tinh bột 16
2.8.5 Nhu cầu vitamin 17
2.8.6 Nhu cầu nước uống của thỏ 17
2.9 THỨC ĂN CHO THỎ 18
2.9.1 Rau lang 18
2.9.2 Cỏ lông tây 20
2.9.3 Bã đậu nành 21
2.9.4 Đậu nành ly trích 22
2.9.5 Thức ăn hỗn hợp 22
2.10 VỆ SINH VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH Ở THỎ 22
2.10.1 Vệ sinh phòng bệnh 22
2.10.2 Bệnh cầu trùng 22
2.10.3 Bệnh ghẻ 23
2.10.4 Bệnh tụ huyết trùng 23
Chương 3 PHƯƠNG TIỆN & PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 24
3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 24
3.1.1 Địa điểm 24
3.1.2 Thời gian 24
3.2 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 24
3.2.1 Động vật thí nghiệm 24
3.2.2 Chuồng trại 24
3.2.3 Thức ăn thí nghiệm 25
3.2.4 Máy móc, thiết bị 25
3.3 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM 25
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 25
3.3.2 Phương pháp tiến hành 26
3.4 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI 26
3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 27
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36
5.1 Kết luận 36
5.2 Đề nghị 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Phụ lục 40
Trang 7CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADF: xơ axit
ADFD: tỉ lệ tiêu hóa xơ acid
OM: vật chất hữu cơ
ME: năng lượng trao đổi
CPD: tỉ lệ tiêu hóa đạm thô
DCAV: dưỡng chất ăn vào
DCP: dưỡng chất trong phân
DMD: tỉ lệ tiêu hóa vật chất khô
HSCHTA: hệ số chuyển hóa thức ăn
NDF: xơ trung tính
NDFD: tỉ lệ tiêu hóa xơ trung tính
OMD: tỉ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ
Trang 8TÓM LƯỢC
Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức độ đạm trong khẩu phần lên sự tăng trọng và khả năng tiêu hóa dưỡng chất của thỏ lai sau cai sữa được thực hiện tại trại thỏ ở phường Long Hòa, quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ Thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức (17%CP, 19%CP, 21%CP) và 18 lần lặp lại tương ứng với 3 khẩu phần đạm khác nhau bao gồm rau lang, cỏ lông tây, bã đậu nành, đậu nành ly trích và thức ăn hỗn hợp Để xác định hàm lượng đạm tối ưu trong khẩu phần trên tăng trọng và xác định tỉ lệ tiêu hóa dưỡng chất (DM, OM, CP, NDF, ADF) của các khẩu phần thí nghiệm
Kết quả thí nghiệm cho thấy khả năng tăng trọng của thỏ ở nghiệm thức 21%CP là cao hơn khẩu phần 19%CP, và thấp nhất là ở khẩu phần 17%CP (P<0,05), chứng tỏ lượng đạm ăn vào ảnh hưởng đến tăng trọng của thỏ khá rõ rệt Tỉ lệ tiêu hóa CP và các dưỡng chất khác như DM, OM, NDF, ADF, và lượng N tích lũy cao ở khẩu phần 19%CP và 21%CP phù hợp với kết quả đạt được về tăng trọng và trọng lượng cuối của thỏ thí nghiệm
Có thể kết luận rằng thỏ sau cai sữa được nuôi ở khẩu phần 21%CP cho tăng trọng tốt, khả năng tiêu hóa dưỡng chất và tích lũy đạm được cải thiện
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 1 Sự ảnh hưởng của môi trường lên thân nhiệt của thỏ .6
Bảng 2 Khối lượng và thể tích các phần đường tiêu hóa 7
Bảng 3 So sánh tỉ lệ dung tích của các phần đường tiêu hoá của các gia súc (%) 7
Bảng 4 Thành phần hóa học của hai loại phân thỏ 9
Bảng 5 Nhu cầu dinh dưỡng của thỏ theo thể trọng 14
Bảng 6 Nhu cầu cơ bản của thỏ 16
Bảng 7 Nhu cầu duy trì của thỏ 16
Bảng 8 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thân lá rau lang 19
Bảng 9 Thành phần hóa học của cỏ lông tây 21
Bảng 10 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của bã đậu nành 21
Bảng 11 Thành phần hóa học của thực liệu thức ăn dùng trong thí nghiệm nuôi dưỡng (%DM) 22
Bảng 12 Lượng thức ăn và dưỡng chất ăn vào của thỏ trong thí nghiệm nuôi dưỡng 22
Bảng 13 Tăng trọng của thỏ trong thí nghiệm nuôi dưỡng 25
Bảng 14 Thành phần hóa học của thức ăn sử dụng trong thí nghiệm tiêu hóa (%DM) 28 Bảng 15 Lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ trong thí nghiệm tiêu hóa 29
Bảng 16 Tỉ lệ tiêu hóa dưỡng chất và nitơ tích lũy của thỏ trong thí nghiệm 30
Bảng 17 Thành phần hóa học của thức ăn sử dụng trong thí nghiệm tiêu hóa (%DM) .32
Bảng 18 Lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ trong thí nghiệm tiêu hóa 33
Bảng 19 Tỉ lệ tiêu hóa dưỡng chất và nitơ tích lũy của thỏ trong thí nghiệm 34
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1 Rau lang 19
Hình 2 Cỏ lông tây 21
Hình 3 Thức ăn hỗn hợp, bã đậu nành và đậu nành ly trích 22
Hình 4 Thỏ sau thí nghiệm 24
Hình 5 Chuồng thỏ trong thí nghiệm nuôi dưỡng và thí nghiệm tiêu hóa 24
Trang 11DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 1 Mối tương quan giữa tổng CP ăn vào và tăng trọng của thỏ 31 Biểu đồ 2 Tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn của thỏ .31 Biểu đồ 3 Mối tương quan giữa N ăn vào và N tích lũy 35
Trang 12
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay kinh tế đang phát triển, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu ăn ngon và ăn các món ăn lạ được người dân ưa thích Trong đó các món ăn từ thỏ được nhiều người chú ý do thịt thỏ thơm ngon, lại ít cholesterol, nhiều đạm (21%CP), ít béo tốt cho tim mạch (Nguyễn Văn Thu, 2009) Tuy nhiên việc chăn nuôi thỏ ở nước ta nói chung và Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng còn chưa phổ biến, do người dân chưa hiểu biết nhiều về thỏ cũng như kỹ thuật nuôi chúng như thế nào để đạt hiệu quả kinh tế
Do thỏ là loài gia súc có nhiều ưu thế: đẻ khỏe, phát triển nhanh, có giá trị tiêu dùng
và xuất khẩu Thỏ nuôi tương đối đơn giản, nguồn thức ăn dễ kiếm hay dễ trồng trong điều kiện hộ gia đình, chi phí cho chuồng trại lại thấp, có thể tận dụng các vật liệu có sẵn hay các vật liệu rẻ tiền, thuốc phòng và trị bệnh không cao, không đòi hỏi nhiều công lao động
Đồng Bằng Sông Cửu Long với điều kiện sông ngòi dày đặc, khí hậu nóng ẩm với hai mùa mưa nắng rõ rệt, nên nguồn thức ăn để nuôi thỏ rất dồi dào, không chỉ ở nông thôn mà đối với những vùng ngoại ô cũng không kém Có nhiều chủng loại, từ thức ăn thô xanh như: cỏ lông tây, cỏ mồm, cỏ sả,…các loại dây lá như các loại đậu hoang, bìm bìm, cho đến các loại rau lang, rau muống,…Bên cạnh những loại thức
ăn sẵn có như trên, còn có các loại phụ phẩm như bã bia, bã đậu nành,…và một số thức ăn bổ sung như lúa, bắp, thức ăn hỗn hợp…Những loại thức ăn này có thể bổ sung lượng đạm cần thiết để thỏ tăng trưởng và phát triển nhanh tùy vào từng mức
độ đạm trong khẩu phần, vì vậy việc xác định lượng đạm cần thiết để thỏ tăng trưởng phát triển nhanh và đạt hiệu quả kinh tế rất cần thiết
Thấy được tầm quan trong của việc xác định hàm lượng đạm trong khẩu phần nuôi
thỏ Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Ảnh hưởng các mức độ đạm trong khẩu phần lên sự tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của thỏ lai sau cai sữa đến 60 ngày tuổi”
Với mục tiêu của đề tài:
- Xác định hàm lượng đạm tối ưu trong khẩu phần nuôi lên tăng trưởng và tiêu hóa của thỏ sau cai sữa
- Xác định tỉ lệ tiêu hóa dưỡng chất (DM, OM, CP, NDF và ADF) của các khẩu phần thí nghiệm
- Khuyến cáo áp dụng kết quả đạt được đến các hộ chăn nuôi thỏ để góp phần phát triển nghề nuôi thỏ trong vùng
Trang 13CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC CHĂN NUÔI THỎ
2.1.1 Sản xuất và tiêu thụ thỏ trên thế giới
Châu Âu đứng đầu thế giới về sản xuất thịt thỏ, trong đó Italia là nước có ngành chăn nuôi thỏ thịt phát triển nhất, nơi mà sản xuất thịt thỏ trở thành truyền thống từ đầu những năm 1970 Năm 1975, việc chăn nuôi thỏ đã được công nghiệp hóa và đến năm 1990 ngành chăn nuôi thỏ công nghiệp đã phát triển bền vững khắp đất nước Italia Do đó, sản lượng thịt thỏ ở nước này đã tăng vọt từ 120.000 tấn (1975) lên 300.000 (1990)
Chăn nuôi thỏ ở Châu Á phát triển không mạnh, tập trung chủ yếu ở các nước như Indonesia, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Trong đó, nghề chăn nuôi thỏ ở Trung Quốc khá phổ biến, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ tại địa phương Hai nước xuất khẩu thịt thỏ lớn nhất trên thế giới là Trung Quốc và Hungary Thịt thỏ từ Trung Quốc được xuất khẩu sang Pháp và một số nước Châu Âu khác chủ yếu dưới dạng thịt đông lạnh, một phần khác được xuất khẩu trực tiếp sang các nước đang phát triển Phần lớn thịt thỏ sản xuất ra ở Hungary được xuất khẩu ra nước ngoài, thị trường trong nước chỉ tiêu thụ khoảng dưới 5% tổng sản lượng thịt thỏ sản xuất hàng năm tại nước này
2.1.2 Tình hình sản xuất thỏ trong nước
Ở Việt Nam, chăn nuôi thỏ đã có từ lâu đời nhưng chưa được quan tâm nhiều, chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ
Từ năm 1995 đến nay, chăn nuôi thỏ ở Việt Nam đang phát triển mạnh theo cơ chế thị trường do nhu cầu tiêu thụ thịt thỏ trong nước liên tục tăng Hiện nay, ước tính
cả nước có trên 350.000 con thỏ, miền Bắc có gần 200.000 con Giá bán thỏ thịt tăng từ 12.000 đ/kg thỏ hơi lên 23.000 đ/kg (2003) Đồng thời việc nhập 3 giống thỏ mới có năng suất cao từ Hungary về nuôi nhân thuần tại Trung tâm nghiên cứu dê thỏ Sơn Tây đem lại hiệu quả tốt, đáp ứng nhu cầu con giống thỏ ngoại cao sản cho sản xuất, nên đã thúc đẩy ngành chăn nuôi thỏ phát triển mạnh trong những năm qua trong phạm vi cả nước
2.1.3 Ý nghĩa kinh tế của chăn nuôi thỏ
Thỏ là một loại gia súc không ăn cạnh tranh lương thực với người và gia súc khác, thỏ có khả năng sử dụng được nhiều thức ăn thô xanh trong khẩu phần, tận dụng được các nguồn phụ phẩm nông nghiệp như rau, lá, cỏ tự nhiên…
Chăn nuôi thỏ có vốn đầu tư ban đầu thấp, có thể tận dụng các vật liệu sẵn có để làm chuồng trại cho thỏ Chi phí mua con giống ban đầu ít so với các gia súc khác
Trang 14Thỏ mắn đẻ, vòng đời sản xuất của thỏ ngắn (nuôi 3-3.5 tháng là giết thịt, 5-6 tháng bắt đầu sinh sản) nên thu hồi vốn nhanh, phù hợp với khả năng của nhiều gia đình Thịt thỏ cân đối và giàu chất dinh dưỡng hơn các loại thịt các gia súc khác, hàm lượng cholesterol rất thấp nên thịt thỏ là loại thực phẩm điều dưỡng được bệnh tim mạch, đặc biệt không có bệnh truyền nhiễm nào của thỏ lây sang người
Thỏ là một gia súc rất mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh nên nó được dùng làm động vật thí nghiệm, động vật kiểm nghiệm thuốc và chế vaccin trong y học và thú
y (Đinh Văn Bình và Ngô Tiến Dũng, 2004)
2.2 SƠ LƯỢC VỀ THỎ
Theo phân loại động vật thỏ thuộc lớp động vật có vú (Mammalia), bộ gậm nhấm (Rodentia), họ Leporidae Thỏ rừng có nhiều loại khác nhau, hiện nay chỉ có loài Oryctolagus Cuniculus được thuần hóa thành thỏ nhà Có nhiều giống thỏ khác
nhau đã được phát triển từ thế kỷ XVIII, thỏ được sử dụng cho sản xuất thịt, lông, động vật thí nghiệm và được coi như là một loại thú cưng
Thỏ được phân loại dựa theo kích thước, trọng lượng và bộ lông Theo trọng lượng
cơ thể, giống thỏ nhỏ con có trọng lượng lúc trưởng thành từ 2-3kg, giống thỏ tầm trung có trọng lượng từ 4-6kg và giống thỏ lớn con có trọng lượng từ 6-9kg Hai giống thỏ phổ biến để sản xuất thịt là thỏ New Zealand and the California vì chúng được kết hợp bởi 2 yếu tố là lông trắng và tăng trưởng tốt, hai giống phổ biến để sản xuất lông là thỏ Rex và thỏ Chinchilla của Mỹ
Quần thể thỏ ở Việt Nam được du nhập từ Pháp khoảng 70-80 năm trước đây Chúng đã bị lai tạp nhiều giữa các giống khác nhau nên cũng có những biến hóa khác nhau về ngoại hình, những thỏ nuôi này không có bộ lông thuần nhất về màu sắc, có con màu trắng tuyền, có con đen hoặc pha giữa hai màu đó, có con màu xám tro nhạt hoặc sẫm, phần ngực bụng và đuôi màu sáng hơn hoặc trắng, lại có màu vàng hoặc đốm trắng Cũng như màu lông, màu mắt thỏ cũng không đồng nhất: có con mắt đỏ, đen hoặc xám Khi cho giao phối hai thỏ cùng màu lông và màu mắt ta được đàn con với nhiều màu lông và màu mắt khác nhau, thể hiện rõ sự phân ly và tính pha tạp về giống Nhìn chung những giống thỏ đang nuôi ở Việt Nam đầu to vừa phải, tai thẳng hơi chữ V, thân hình chắc chắn nhưng cổ không vạm vỡ, lưng hơi cong hay tròn, bụng to, nuôi con khéo, trong lượng 2.5 – 3.5kg Khả năng sinh sản tốt, một năm đẻ 5 – 6 lứa, một lứa 6 con, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện khí hậu và nuôi dưỡng ở nước ta Tuy có nhiều ưu điểm nhưng do bị pha tạp nhiều, thỏ nuôi ở người dân không được chọn lọc, nên giống đang bị thoái hóa dần
2.3 CÁC GIỐNG THỎ
Một số giống thỏ được nuôi phổ biến trên thế giới và Việt Nam
Trang 15(Chu Thị Thơm et al., 2006), Giống thỏ này thích ứng tốt với điều kiện chăn nuôi gia đình ở việt nam
2.3.2 Thỏ California
Nguồn gốc từ California (Mỹ), được tạo thành do lai giữa thỏ Chinchilla, thỏ Nga
và thỏ Newzealand, nhập vào Việt Nam từ Hungari năm 1978 và năm 2000 Là giống thỏ cho thịt, khối lượng trung bình 4-4.5kg, tỉ lệ thịt xẻ 55-60% Thân ngắn hơn thỏ New Zealand, lông trắng, mắt hồng nhưng tai, mũi, bốn chân và đuôi có điểm màu đen, vào mùa đông lớp lông đen sậm hơn và nhạt dần vào màu hè Khả năng sinh sản tương tự như thỏ Newzealand, giống này cũng được nuôi nhiều ở Việt
Nam (Chu Thị Thơm et al., 2006)
2.3.3 Giống thỏ Chinchilla
Lần đầu được trình diễn ở Pháp năm 1913 bởi Dybowki Được tạo ra từ thỏ rừng và hai giống thỏ Blue Beverens và Hymalyans Chinchilla được xem là giống thỏ cho len, nuôi nhiều ở một số nước Châu Âu Giống thỏ này có hai dòng, một có trọng lượng 4.5-5kg (Chinchilla giganta) và dòng kia đạt 2-2.5kg lúc trưởng thành (Nguyễn Ngọc Nam, 2002) Trung bình mỗi lứa đẻ từ 6-8 con, khả năng thích nghi với điều kiện chăn nuôi khác nhau Thỏ có lông màu xanh, lông đuôi trắng pha lẫn xanh đen, bụng màu trắng xám
2.3.4 Các giống thỏ được nuôi ở Việt Nam
Từ năm 1978, nước ta đã tiến hành nhập một số giống thỏ ngoại và xây dựng một Trung tâm nghiên cứu về chăn nuôi thỏ tại Sơn Tây – Hà Nội Sau 10 năm nghiên cứu lai tạo, hiện nay tại Trung tâm giống thỏ Sơn Tây – Viện Chăn nuôi – Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã có 3 giống thỏ phát triển ra sản xuất
- Giống thỏ trắng Tây Lan Việt Nam ( Newzealand white – Việt Nam)
Được nhập từ Hungari năm 1978, đến nay sau 10 năm nuôi dưỡng và chọn lọc đàn thỏ đã thích nghi tốt với điều kiện nuôi dưỡng và khí hậu ở Việt Nam Thỏ màu lông trắng tuyền, mắt đỏ, trọng lượng trưởng thành 4 – 4.5kg; một năm đẻ 5 – 6 lứa, mỗi lứa 5 – 6 con, trọng lượng sơ sinh 55 - 60g, thỏ con cai sữa 550 – 600g, trọng lượng thỏ lúc 3 tháng nặng 1.8 – 2kg, tỉ lệ thịt xẻ 54 - 56% Đây là giống thỏ kiêm
Trang 16dụng cho thịt và lông da Hiện nay giống thỏ này ngoài việc nuôi thuần chủng còn dùng để lai kinh tế với thỏ nội và tạo giống mới có hiệu quả tốt trong sản xuất
(Nguyễn Chu Chương, 2003)
- Giống thỏ đen Việt Nam
Được gây tạo ra từ Trung tâm giống thỏ Sơn Tây – Hà Nội Giống thỏ này có màu lông đen tuyền, mắt đen, đầu nhỏ, mõm nhỏ, cổ không vạm vỡ nhưng thân hình chắc chắn, thịt ngon Trọng lượng trưởng thành 3 – 3.5kg, thỏ mắn đẻ, một năm đẻ
7 lứa, một lứa 6 – 7 con Đặc điểm nổi bật của thỏ này là sức chống đỡ với bệnh tật tốt hơn thỏ xám, thích nghi tốt với điều kiện nuôi dưỡng thấp và khí hậu ở nước ta
- Giống thỏ xám Việt Nam
Được gây tạo tại Trung tâm giống thỏ thịt Sơn Tây – Hà Nội, bằng phương pháp lai phân tích và chọn lọc qua nhiều thế hệ Giống thỏ này màu lông xám tro hoặc xám ghi, riêng phần dưới ngực, bụng và đuôi màu trắng nhờ, mắt đen, đầu to vừa phải, lưng hơi cong, trọng lượng trưởng thành 3 – 3.5kg Thỏ đẻ khỏe, một năm đẻ 6 – 7 lứa, một lứa 6 – 7 con Thỏ có khả năng chịu đựng với điều kiện nuôi dưỡng thấp và
thích nghi tốt với điều kiện khí hậu ở nước ta
Hai giống thỏ này phù hợp với việc chăn nuôi gia đình và dùng để lai kinh tế với
thỏ ngoại để nâng cao được năng suất lấy thịt và lông da (Chu Thị Thơm et al.,
2.4.2 Sự đáp ứng của cơ thể với khí hậu
Trang 17Đối với thỏ cần bảo đảm nhiệt độ không khí từ 20-25oC, nếu cao hơn 35oC thì thỏ
dễ bị cảm nóng Thỏ có ít tuyến mồ hôi dưới da, thải nhiệt chủ yếu qua đường hô hấp, do đó trời nóng quá thì thỏ thở nhanh nếu nhiệt độ lên 45oC thì thỏ chết trong vòng 1 giờ Ẩm độ trong không khí từ 70- 80% là thích hợp đối với thỏ Nếu ẩm độ quá cao và kéo dài thì thỏ dễ bị cảm lạnh và viêm mũi, tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển và gây bệnh Thỏ rất thích điều kiện thông thoáng nhưng tốc
độ gió lưu chuyển trong không khí khoảng 0.3m/giây là thích hợp nhất, thỏ rất sợ gió to lùa thẳng vào cơ thể thỏ làm cho nó dễ bị viêm mũi và cảm lạnh
Bảng 1 Sự ảnh hưởng của môi trường lên thân nhiệt của thỏ
Nhiệt độ môi trường ( 0 C) Thân nhiệt ( 0 C) Nhiệt độ tai ( 0 C)
Nguồn: (Chu Thị Thơm et al., 2006)
2.4.3 Thân nhiệt- nhịp tim- nhịp thở
Nhiệt độ cơ thể của thỏ thay đổi theo nhiệt độ môi trường không khí từ 38-41oC trung bình là 39.5oC Nhịp tim của thỏ rất nhanh từ 120 đến 160 lần phút, tần số hô hấp bình thường là 60-90 lần/phút Thỏ thở nhẹ nhàng khi không có tiếng động Nếu thỏ mất bình tỉnh hoặc trời nóng, không khí ngột ngạt thì các chỉ tiêu sinh lý trên đều tăng bình thường
2.4.4 Đặc điểm về khứu giác
Mũi thỏ rất phát triển nó ngửi mùi mà phân biệt được con của nó hay con của con khác Trong thực tế chăn nuôi nếu là thỏ con cùng lứa tuổi đưa từ ổ khác để sau một giờ nhốt chung mà thỏ mẹ không phân biệt được thì coi như ổn, thỏ mẹ không cắn con Xoang mũi thỏ có nhiều vách ngăn chi chít có thể lọc được các tạp chất lẫn trong không khí, bụi từ không khí hoặc từ thức ăn hút vào thức ăn đọng lại đây kích thích gây viêm mũi tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển gây bệnh đường hô hấp
Do đó thức ăn của thỏ cần được sạch sẽ nếu là thức ăn hỗn hợp thì cần phải trộn ẩm hoặc đóng thành viên, còn không khí phải trong sạch, lồng chuồng không chứa nhiều bụi cát
2.4.5 Đặc điểm về thính và thị giác
Trang 18Tai và mắt thỏ rất tốt, trong đêm tối tai thỏ vẫn nghe đưọc tiếng động nhỏ và mắt vẫn nhìn thấy mọi vật, do vậy thỏ vẫn có thể ăn uống bình thường vào ban đêm (Nguyễn Văn Thu và Nguyễn Thị Kim Đông, 2009)
2.5 ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA CỦA THỎ
2.5.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan tiêu hóa
Đặc điểm cấu tạo đường tiêu hóa ở thỏ là: dạ dày đơn, co giãn tốt nhưng co bóp rất yếu, đường ruột dài 4-6m, manh tràng lớn hơn dạ dày có khả năng tiêu hóa chất xơ nhờ hệ vi sinh vật; kết tràng được chia thành 2 phần: phần trên có nhiều lớp vân cuộn sóng, phần dưới nhẫn trơn
So sánh một số đoạn đường tiêu hóa của thỏ
Bảng 2 Khối lượng và thể tích các phần đường tiêu hóa
Tên bộ phận Trọng lượng (g) Chất chứa (g) % so với cơ thể
Bảng 3 So sánh tỉ lệ dung tích của các phần đường tiêu hoá của các gia súc (%)
Nguồn: (Nguyễn Quang Sức và Đinh Văn Bình, 2000)
Độ pH của các phần đường tiêu hoá ở thỏ cũng khác nhau: dạ dày rất chua, pH trung bình là 2.2 Vật chất khô của chất chứa dạ dày phụ thuộc vào dạng thức ăn, trung bình 17% Chất chứa ruột non có pH = 7.2-7.9 Manh tràng có pH = 6, vật chất khô là 23% Kết tràng có pH = 6.6 Dịch mật và tuyến tụy có tác dụng cân bằng
độ pH của ruột non Tổng số vi khuẩn trong manh tràng là cao nhất Hoạt động lên men của vi khuẩn trong môi trường hơi chua sẽ tạo nên được nhiều axit béo bay hơi
từ chất cellulose
Trang 192.5.2 Sự phát triển đường tiêu hóa theo lứa tuổi thỏ
Cơ thể thỏ sinh trưởng đều đặn cho đến tuần tuổi thứ 11-12 Nhưng đường tiêu hóa (trừ gan) thì dừng phát triển ở tuần tuổi thứ 9 Từ tuần 3-9 khối lượng của từng đoạn ruột cũng thay đổi khác nhau Vào tuần thứ 3 ruột non nặng gấp đôi ruột già (manh tràng, kết tràng) Đến tuần thứ 9 thì khối lượng hai phần ruột đó đã tương đương nhau Sự phát triển đoạn ruột già chỉ hoàn chỉnh khi có sự lên men vi khuẩn, khi thỏ chuyển sang ăn thức ăn cứng
Phát triển về độ dài của các đoạn ruột thỏ cũng tương tự như phát triển khối lượng
Độ dài của các đoạn ruột thỏ trưởng thành như sau: ruột non 327cm, manh tràng 38cm, đầu giun ruột thừa 13cm, kết tràng 128cm
2.5.3 Đặc điểm tiêu hóa
Động vật ăn cỏ chỉ có thể tiêu hóa chất xơ từ thức ăn thực vật bằng quá trình lên men vi khuẩn Quá trình này ở động vật nhai lại xảy ra ở dạ dày và phần đầu ruột non Ở thỏ và ngựa thì xảy ra ở manh tràng và ruột già Trong các trường hợp trên,
sự tiêu hoá tinh bột tạo thành axit béo và hấp thụ vào đường máu thì đều giống nhau Nhưng riêng sự hấp thụ axit amin thì có khác nhau: ở động vật nhai lại axit amin phân hủy và hấp thụ ngay ở dạ múi khế và ruột non Đến phần ruột già, từ manh tràng axit amin không có khả năng hấp thụ được Thỏ đã bổ sung sự khiếm khuyết đó bằng hiện tượng sinh lý ăn phân mềm (Caecotrophia)
Trong đường ruột của thỏ tạo thành hai loại phân: loại phân bình thường viên tròn, cứng, thỏ không ăn thì gọi là phân cứng Còn một loại phân mềm, nhiều viên nhỏ, mịn, dính kết vào nhau, khi thải ra đến hậu môn thì thường được thỏ cúi xuống ăn ngay, nuốt dửng vào dạ dày và trộn lẫn với chất chứa dạ dày, đẩy dần vào ruột non
và được hấp thu các chất dinh dưỡng ở đó, đặc biệt là vitamin B, trường hợp này gọi là thỏ ăn phân lại
Phân cứng có vật chất khô cao hơn, nhưng hàm lượng protein lại nhỏ hơn phân mềm Thỏ con còn bú mẹ không có hiện tượng ăn phân, hiện tượng này chỉ bắt đầu hình thành khi thỏ đến 3 tuần tuổi Phân cứng còn gọi là phân ban ngày, phân mềm còn gọi là phân ban đêm Như vậy thỏ ăn phân mềm trong môi trường yên tĩnh
Trang 20Bảng 4 Thành phần hóa học của hai loại phân thỏ
Thành phần hoá học Phân cứng Phân mềm
Nguồn: (Nguyễn Văn Thu và Nguyên Thị Kim Đông, 2009)
2.6 VÀI NÉT VỀ TIÊU HÓA CỦA THỎ
2.6.1 Sự tiêu hóa protein
Theo Henschell (1973) những enzyme phân giải protein của thỏ được hoàn thiện vào khoảng 4 tuần tuổi và sự phát triển của nó lệ thuộc chủ yếu vào sự phát triển của tuyến nội tiết và ít nhiều cũng bị ảnh hưởng của khẩu phần
Tỉ lệ tiêu hóa của thỏ trưởng thành có mối liên hệ với nguồn protein (Maertens and
De Groote, 1984) Theo cách này protein đến từ thức ăn hỗn hợp và hạt ngũ cốc thì tiêu hóa tốt (cao hơn 70%), trong khi đó protein ít nhiều có liên kết với xơ thì có giá trị thấp hơn (55-70%) nhưng cao hơn những loài dạ dày đơn khác (tỉ lệ tiêu hóa protein của cỏ linh lăng và bột cỏ ở heo và gia cầm lần lượt là 30 và 50% (Just and Jorgensen, 1985; Green, 1987)
2.6.2 Sự biến dưỡng Nitơ trong manh tràng
NH3 là sản phẩm chính cuối cùng của sự biến đổi Nitơ trong manh tràng, như là một nguồn Nitơ chính cho sự tổng hợp protein của vi sinh vật Giống như những động vật nhai lại, NH3 trong manh tràng đến từ sự biến dưỡng của urê máu (khoảng 25%
NH3 trong manh tràng, Forsythe and Parker, 1985) và đến sự phân hủy thức ăn của khẩu phần Ngoài ra Nitơ còn có nguồn gốc từ sự nội sinh của những vi sinh vật manh tràng, làm gia tăng sự hoạt động phân giải protein (Makkar and Singh,1987) Nồng độ NH3 trong manh tràng từ 6-8.5mg/100ml chất chứa manh tràng trong khẩu
phần thực tế (Carabano et al., 1988), lượng này dường như đủ cho sự tổng hợp
protein của vi sinh vật khi so sánh với động vật nhai lại và có ý kiến cho rằng năng lượng thì giới hạn hơn cho sự tăng trưởng tối ưu của vi sinh vật trong manh tràng (Just, 1983) Trong các trường hợp này mặc dù NH3 trong manh tràng có thể là yếu
tố giới hạn cho sự tăng trưởng của vi sinh vật thì nguồn urê cung cấp không đáp ứng được nhu cầu (King, 1971) bởi vì urê được thủy phân và hấp thu như NH3 trước khi
Trang 21trong manh tràng làm pH cao hơn mức tối ưu vì thế làm tăng nhanh sự xáo trộn tiêu hóa
2.6.3 Phân mềm và sự tiêu hóa protein
Sự đóng góp chủ yếu của sự ăn phân mềm như là một nguồn dưỡng chất cung cấp quan trọng như protein Thỏ ăn phân mềm 1 lần một ngày, phân mềm được giữ lại trong bao tử từ 6-8 giờ phụ thuộc vào màng bao bảo vệ chúng thoát khỏi sự phá vỡ của quá trình tiêu hóa Trong khi đó thì vi sinh vật tiếp tục quá trình lên men của chúng sản xuất ra một lượng lớn acid lactic Cuối cùng màng bao bị hủy đi và phân mềm đi vào sự tiêu hóa bình thường (Griff and Davies, 1963)
Protein cung cấp từ phân mềm thay đổi từ 10% (Spreadbury, 1978) đến 55% (Haresigs, 1989) của tổng protein ăn vào tùy thuộc vào thực liệu thức ăn được sử dụng Trong khẩu phần thực tế nguồn protein cung cấp từ phân mềm khoảng 18% trong tổng protein ăn vào Một trong những thuận lợi chính của hiện tượng ăn phân
là ảnh hưởng tích cực đến sự tiêu hóa trong khẩu phần Theo Stephens (1977) tỉ lệ tiêu hóa protein tăng từ 5-20% là kết quả của hiện tượng ăn phân, sự gia tăng đến giá trị cao nhất khi protein trong thức ăn hỗn hợp thấp
Mặc dù có một vài số liệu về thành phần của axit amin và sự đóng góp của phân mềm, nó rõ ràng là một nguồn tốt về lysine và methionin là những axit amin thường giới hạn trong khẩu phần thỏ Phân mềm cũng là một nguồn quan trọng cung cấp vitamin B, K… và có thể tận dụng một số khoáng chất như sắt Mặc dù vitamin B cung cấp có thể đủ cho sự sản xuất của thỏ theo cách nuôi truyền thống nhưng cần cung cấp thêm vitamin tổng hợp và khoáng cho thỏ nuôi tập trung (Harris et al., 1983)
2.6.4 Xơ và sự biến dưỡng ở manh tràng
Nguồn năng lượng cung cấp từ xơ thường thấp trong khẩu phần (ít hơn 5% tổng năng lượng tiêu hóa của khẩu phần) Nơi đây xơ trung bình tiêu hóa khoảng 17%
(De Blas et al., 1986)
Tuy nhiên, loại xơ đặc biệt và hòa tan trong manh tràng được lên men chủ yếu bằng
vi sinh vật tạo ra axit béo bay hơi (VFA) Theo Carabano (1988) thì năng lượng là một yếu tố giới hạn cho sự tăng trưởng của vi sinh vật manh tràng Axit propionic được sản xuất thì rất thấp (8% trong tổng số) Với axit acetic chiếm số lượng lớn (73%) và cao hơn mức độ của axit butyric (17%) Thành phần của VFA trong manh tràng thay đổi rất lớn từ 34.5 µmol/gam DM đến 351 µmol/gam DM Tuy nhiên, cũng có thể kết luận rằng các yếu tố được đề cập ở trên thích hợp làm gia tăng thời gian lưu giữ thức ăn trong ruột cũng làm gia tăng thành phần của VFA trong manh tràng, đặc biệt là acid acetic khi tiêu hóa nhiều xơ, và axit butyric khi tiêu hóa
Trang 22nguồn xơ ít trong khẩu phần (nhỏ hơn 14% CF/DM) làm pH trong manh tràng giảm
Một vài tác giả khác (Borriello and Carman, 1983; Rolfe, 1984; Toofanian and Hammen, 1986) cũng chỉ ra sự biến đổi trong manh tràng và sự tăng trưởng của những vi sinh vật gây bệnh khác tạo cơ hội cho sự xáo trộn tiêu hóa Tuy nhiên, những nghiên cứu khác rất cần thiết để hiểu được ảnh hưởng của khẩu phần về sự biến dưỡng của năng lượng trong manh tràng Thành phần hóa học của những thức
ăn tiêu hóa nhiều hơn xơ có thể đóng vai trò quan trọng trong sự sản xuất VFA Từ những đạt được đầu tiên chỉ ra rằng có một vài sự khác nhau giữa nguồn năng lượng được cung cấp từ xơ (khoảng 5% năng lượng của khẩu phần) và năng lượng cung cấp từ VFA thì khoảng 12-40% của nhu cầu năng lượng cho nhu cầu duy trì ở thỏ trưởng thành (Hoover and Heitmann, 1972; Marty and Vernay, 1984)
2.6.5 Sự tiêu hóa tinh bột
Do nguyên nhân của việc nuôi tập trung, thỏ được cho ăn với dinh dưỡng cao và vì thế nó bao gồm mức độ cao của hạt ngũ cốc và tinh bột hơn cách nuôi truyền thống Những điều này được chứng minh bởi Cheek and Patton (1980) là việc tăng sự thủy phân nguồn tinh bột trong khẩu phần cùng với khả năng di chuyển nhanh của sự tiêu hóa thức ăn có thể là nguồn cung cấp tinh bột quan trọng cho vi sinh vật manh tràng, gây nên hiện tượng lên men làm tăng nhanh sự xáo trộn tiêu hóa
Wolter et al (1980) chỉ ra rằng khoảng 70% tinh bột khẩu phần đến ruột non không qua sự phân rã Điều này chỉ ra rằng pH của dạ dày thấp làm cho enzym không ổn định Ngoài ra có khoảng 85% tinh bột được tiêu hóa trước manh tràng với khẩu phần gồm 35% hạt ngũ cốc Thỏ cai sữa dường như nhạy cảm với tinh bột thoát qua ruột sau bởi vì hệ thống enzym tuyến tụy vẫn còn non nớt và chỉ phát triển nhanh lúc thỏ 3-4 tuần tuổi Theo cách này De Blas (1986) đã chỉ ra rằng ở thỏ 28 ngày tuổi thì tinh bột ở hồi tràng khoảng 4% với khẩu phần gồm 30% tinh bột Trong khi
đó ở thỏ trưởng thành, giá trị này thấp hơn 0,5% Sự quan sát này là một thức tế quan trọng để hiểu về xáo trộn tiêu hóa trong suốt tuần lễ đầu sau cai sữa (28-40 ngày tuổi)
Lee et al (1985) đã chỉ ra rằng tỉ lệ tiêu hóa của tinh bột lệ thuộc vào nguồn của nó cũng như cách nuôi dưỡng Tuy nhiên, Santoma et al (1987) không thấy về sự khác
nhau giữa tỉ lệ chết, tăngtrọng, tỉ lệ chuyển hóa thức ăn, tỉ lệ tiêu hóa vật chất khô, vật chất hữu cơ và tiêu hóa protein khi sử dụng khẩu phần lớn hơn 33% của những hạt ngũ cốc khác nhau (lúa mì, ngô, lúa mạch)
Trang 232.6.6 Sự tiêu hóa chất béo
Khẩu phần của thỏ bình thường có chứa xơ, chất béo thì thiết yếu cho sự gia tăng nguồn năng lượng Có rất ít số liệu về sự tiêu hóa chất béo ở thỏ Nhưng kết quả của
sự tiêu hóa cũng xác định rằng thỏ cũng giống như những động vật dạ dày đơn
khác Theo cách này Maertens and De Groote (1984) và Santoma et al (1987) đã
tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa mức độ của axit béo chưa bão hòa Và tỉ lệ tiêu hóa của chúng cũng giống như ở heo và gia cầm Những tác giả này cũng chỉ ra rằng có sự đối lập giữa mức độ chất béo của khẩu phần và tỉ lệ tiêu hóa chất béo bão hòa
Santoma (1987) đã phát hiện hiệu quả đặc biệt của chất béo, điều này giống như ở gia cầm (Mateos and Sell, 1981) và điều này được giải thích là tỉ lệ tiêu hóa của những thành phần không phải là béo tăng 5.8% khi chất béo được thêm vào trên 3%
2.7 KHẢ NĂNG SẢN XUẤT
2.7.1 Khả năng sinh trưởng
- Sinh trưởng và phát triển trong thời kỳ bú mẹ
Tác động ảnh hưởng đến sinh trưởng của thỏ bú mẹ bắt đầu ngay từ khi còn ở tử cung Chăm sóc thỏ chửa là yếu tố quan trọng đến sự phát triển của thai và chất lượng của thai ảnh hưởng đến sinh trưởng của thỏ con sau này Nếu thỏ cái có chửa
mà không được cung cấp dinh dưỡng tốt, con mẹ phải sử dụng dinh dưỡng của bản thân nuôi thai, làm suy nhược cơ thể mẹ và sức sống đàn con cũng giảm sút vì sữa
mẹ kém
Thỏ con theo mẹ rất nhạy cảm với môi trường bên ngoài, đặc biệt là nhiệt độ Nếu nhiệt độ cao hoặc thấp hơn so với nhu cầu (25-280C), thỏ con ít hoạt động, không muốn bú mẹ, da nhăn nheo, biến màu, tỉ lệ chết cao
Thỏ sơ sinh nặng 45-55g, đỏ hỏn, không có lông, nhắm mắt Sau một tuần bộ lông mịn, mỏng đã phủ hết mình Thỏ con mở mắt vào 9-12 ngày tuổi Thỏ đẻ nhiều con thì thỏ con đã đạt 200-300g và ra khỏi ổ đẻ, tập ăn thức ăn của mẹ
- Sinh trưởng và phát triển của thỏ sau cai sữa
Thỏ sau cai sữa vài ngày thích ứng ngay với môi trường mới Những cá thể tốt, khỏe mạnh thì lớn nhanh Phụ thuộc vào giống và chế độ nuôi dưỡng, mà tốc độ sinh trưởng và thời gian đạt tới khối lượng xuất thịt có khác nhau Lúc 10-12 tuần tuổi, thỏ đạt khối lượng 1.8-2.2kg Sau tuần tuổi 12-14, tốc độ tăng trọng của thỏ giảm dần
Trang 24Khả năng tăng trọng của cá thể độc lập với hệ số di truyền ở giai đoạn 7-11 tuần tuổi Ở giai đoạn này, thỏ con cũng ít bị tác động của môi trường sau cai sữa Từ 12 tuần tuổi, thỏ tăng trọng bắt đầu giảm, cơ thể lúc này đã bắt đầu phát dục Cho nên, việc xác định khả năng tăng trọng cá thể giai đoạn 7-11 tuần tuổi làm cơ sở chọn giống về tính sinh trưởng là phù hợp và quan trọng nhất
2.7.2 Khả năng cho thịt
Thỏ đẻ nhanh, nếu nuôi dưỡng tốt mỗi thỏ cái mỗi năm đẻ 6-7 lứa, mỗi lứa 6-7 con, sau 3 tháng nuôi khối lượng giết thịt 1.7-2kg, như vậy một thỏ mẹ có thể sản xuất 70-80kg thịt thỏ/năm
Thỏ cho tỉ lệ thịt xẻ 46-49%, tỉ lệ thịt lọc/thịt xẻ là 85-86% Thịt thỏ giàu và cân đối
chất dinh dưỡng: tỉ lệ đạm 21%, mỡ 10%, khoáng 1.2% Ngoài những khả năng sản xuất trên, thỏ còn có khả năng cung cấp lông da để sản xuất quần áo, mũ lông Thỏ còn được dùng làm động vật thể vàng, động vật kiểm nghiệm thuốc và chế vaccin trong y học
2.8 NHU CẦU DINH DƯỠNG
2.8.1 Nhu cầu protein
Tất cả những đặc tính: lông, sinh trưởng, sản xuất và cho sữa của thỏ đều đòi hỏi hàm lượng cao của protein chất lượng tốt
Khả năng tăng trọng của thỏ đang sinh trưởng phụ thuộc rất nhiều vào protein Vì vậy việc đáp ứng nhu cầu protein cho thỏ sinh trưởng là rất quan trọng Thỏ nuôi thâm canh tăng trọng cần 4-5g protein/kg thể trọng/ngày Nhu cầu protein tiêu hóa của thỏ 6-7 tuần tuổi là 7-9.5g/kg thể trọng Sau 8 tuần tuổi giảm xuống còn 4.5-7g/kg thể trọng/ngày
Chất đạm đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và sinh trưởng của cơ thể Nếu thỏ mẹ trong thời kì có chửa và nuôi con mà thiếu đạm thì thỏ con sơ sinh nhỏ, sức đề kháng kém Sữa mẹ ít dẫn đến tỉ lệ nuôi sống đàn con thấp Sau cai sữa
cơ thể thỏ chưa phát triển hoàn hảo, nếu thiếu đạm thì thỏ con sẽ còi cọc, dễ sinh bệnh tật trong giai đoạn vỗ béo (Nguyễn Quang Sức và Đinh Văn Bình, 1999)
Trang 25Bảng 5 Nhu cầu dinh dưỡng của thỏ theo thể trọng
Nguồn: (Nguyễn Quang Sức và Đinh Văn Bình, 2000)
2.8.2 Xơ và nhu cầu xơ
Xơ là một thuật ngữ rộng, xung quanh thành phần cấu trúc mô thực vật Thành phần hóa học của nó thay đổi theo cấu trúc chuyên biệt của cây trồng Xơ của cỏ bao gồm phần lớn là cellulose, hemicellulose và lignin, chúng tạo nên thành vách tế bào của
mô thực vật Lignin là một hợp chất phenol không tiêu hóa được tìm thấy trong sự liên kết với cellulose Hai hợp chất này thường liên kết với nhau tạo thành lignocellulose, tạo nên khung của mô thực vật và gia tăng khi cây trưởng thành Khi cây tăng trưởng, phần trăm của lignin gia tăng (sự hóa gỗ hay sự lignin hóa), kết quả làm giảm khả năng tiêu hóa xơ Rơm có giá trị thức ăn thấp bởi vì sự lignin hóa cao
Trong một vài năm, phương pháp chính để phân tích xơ là để xác định xơ thô Phần
xơ thô được phân tích ở phòng thí nghiệm không phản ánh hết tất cả xơ của thực vật, và có chứa thành phần không phải xơ Vì lý do này nên những phương pháp phân tích khác được phát triển Hầu hết được áp dụng rộng rãi, đặc biệt để phân tích
cỏ, thì sơ đồ phân tích xơ được phát triển bởi Van Soest của đại học Cornell Phương pháp này đo lượng ADF và NDF
NDF (neutral dertergent fiber) là thành phần còn lại sau khi thủy phân trong dung dịch thuốc tẩy trung tính, sodium lauril sulphate và ethylenediaminetetraacetic (EDTA), bao gồm lignin, cellulose, hemicellulose và có thể dùng đo lượng thành phần của vách tế bào thực vật NDF được xem như là xơ tổng số của thức ăn
ADF (acid dertergent fiber) là thành phần còn lại sau khi mẫu thức ăn thủy phân với acid sulphuric 0.5M và cetiltrimethylammonium bromide, thành phần đại diện chủ yếu của ADF là cellulose và lignin, các thành phần của cellulose trong thực vật và bao gồm cả silica Hemicellulose được đánh giá khác nhau giữa ADF và NDF
Trang 26Việc xác định mức độ xơ tối ưu trong khẩu phần thỏ là một trong những mục tiêu chính của việc nghiên cứu về dinh dưỡng thỏ Thỏ được cho ăn khẩu phần xơ thấp thì có những biểu hiện xáo trộn trong hệ thống tiêu hóa với những biểu hiện như tiêu chảy kèm với tỉ lệ chết cao Điều này có thể giải thích là do khẩu phần có mức
độ xơ thấp sẽ kéo dài thời gian lưu giữ của thức ăn trong hệ thống tiêu hóa (Hoover and Heitmann, 1972) Hơn thế nữa, ở khẩu phần xơ thấp hơn 12% sự thay thế chất chứa trong manh tràng sẽ thấp hơn Tình trạng này dẫn đến hai trường hợp: sự lên men không mong muốn trong manh tràng và sự gia tăng của những vi sinh vật gây
bệnh (Carabano et al., 1988)
Từ đặc điểm sinh lí tiêu hóa của thỏ ta thấy thức ăn xơ thô vừa là chất chứa đầy dạ dày và manh tràng vừa có tác dụng chống đói đảm bảo sinh lí tiêu hóa bình thường Chất xơ như là nguồn cung cấp năng lượng, tác động tốt đến quá trình lên men của
vi khuẩn manh tràng Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy: nếu cho thỏ ăn thức ăn nghèo xơ (dưới 8%) thì thỏ sẽ bị tiêu chảy Nhu cầu tối thiểu về xơ thô là 12% trong khẩu phần ăn của thỏ Hàm lượng xơ phù hợp nhất là 13-15% Thức ăn này sẽ kích thích sự hoạt động của đường tiêu hóa và nhu động ruột bình thường Nhưng nếu tăng tỉ lệ xơ thô trên 16% thì sẽ gây cản trở tăng trọng và khả năng sử dụng thức ăn của thỏ Riêng thỏ giống trưởng thành có thể sử dụng được khẩu phần ăn chứa thành phần xơ thô cao hơn (16-18%) Cung cấp xơ thô có thể theo dạng cỏ, lá xanh, khô hoặc dạng bột nghiền nhỏ 2-5mm trộn vào thức ăn hỗn hợp để đóng viên hoặc dạng bột (Nguyễn Quang Sức và Đinh Văn Bình, 2000)
2.8.3 Nhu cầu năng lượng
Qua nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu năng lượng cần thiết cho 1kg tăng trọng thay đổi từ 16-40MJ Lúc 3 tuần tuổi là 16MJ, 20 tuần tuổi cần 40MJ Nhu cầu năng lượng của 1kg thỏ hậu bị là 600-700KJ (140-170Kcal) tương đương với 25-35g tinh bột (Nguyễn Quang Sức và Đinh Văn Bình, 2000)
Nhu cầu năng lượng cho tăng trọng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: khí hậu, tỉ lệ dinh dưỡng (năng lượng, protein, axit min), xơ, trạng thái sức khỏe…Chất bột đường có nhiều trong thức ăn hạt ngũ cốc, khoai, sắn…Những chất này trong quá trình tiêu hóa sẽ được phân giải thành đường cung cấp năng lượng cho cơ thể Đối với thỏ con sau cai sữa trong thời kì vỗ béo thì cần tăng dần lượng tinh bột Đối với thỏ hậu bị (4-6 tháng tuổi) và con cái giống không sinh đẻ thì phải khống chế lượng tinh bột để tránh sự vô sinh do quá béo Đến khi thỏ đẻ và nuôi con trong vòng 20 ngày đầu thì phải tăng lượng tinh bột gấp 2-3 lần so khi có chửa bởi vì con
mẹ vừa phải phục hồi sức khỏe, vừa phải sản xuất sữa nuôi con Đến khi sức tiết sữa giảm (sau khi đẻ 20 ngày) thì nhu cầu tinh bột cũng cần ít hơn (Nguyễn Quang Sức
và Đinh Văn Bình, 2000)
Trang 27Theo Robert (2001) thì thỏ có khả năng điều chỉnh mức ăn vào cho phù hợp với nhu cầu năng lượng nhưng cũng đáp ứng đủ nhu cầu protein của chúng Nếu protein dư thừa quá mức thì thỏ giảm hoạt động ăn vào trong giai đoạn này
Nhu cầu năng lượng gồm có 3 phần:
- Nhu cầu cơ bản
Nhu cầu này có thể xác định trong tình trạng thỏ không sản xuất và hoạt động trong
24 giờ theo nghiên cứu của (Nguyễn Văn Thu, 2004) ở các loại thỏ có trọng lượng khác nhau
Bảng 6 Nhu cầu cơ bản của thỏ
Thể trọng (kg) Nhu cầu cơ bản (Kcal) Thể trọng (kg) Nhu cầu cơ bản
(Kcal)
Nguồn: (Nguyễn Văn Thu, 2004)
- Nhu cầu duy trì
Được xác định là nhu cầu cơ bản và cộng thêm với một số năng lượng cần thiết như
ăn uống, tiêu hóa và những hoạt động sinh lý khác nhưng không sản xuất Nhu cầu này có thể tính bằng cách nhân đôi nhu cầu cơ bản, nên kết quả như sau:
Bảng 7 Nhu cầu duy trì của thỏ
Nhu cầu cơ bản (Kcal)
Nguồn: (Nguyễn Văn Thu, 2004)
2.8.4 Nhu cầu về tinh bột
Tinh bột có nhiều trong thức ăn ngũ cốc, khoai, sắn…những chất này trong quá trình tiêu hóa sẽ được phân giải thành đường, cung cấp năng lượng cho cơ thể Đối với thỏ sau cai sữa trong thời kì vỗ béo thì cần tăng dần lượng timh bột Đối với thỏ hậu bị (4-6 tháng tuổi) và cái giống không sinh sản thì phải khống chế lượng tinh bột để tránh sự vô sinh do quá béo Đến khi thỏ đẻ và nuôi con trong
20 ngày đầu thì phải tăng lượng tinh bột gấp 2-3 lần so với khi có chữa, bởi vì con
Trang 28mẹ vừa phải phục hồi sức khỏe, vừa phải sản xuất sữa nuôi con Đến khi sức tiết sữa giảm (sau 20 ngày) thì nhu cầu tinh bột cũng cần ít đi
2.8.5 Nhu cầu vitamin
Trong chăn nuôi thỏ rất cần thiết phải cung cấp vitamin đặc biệt là thỏ nuôi nhốt
và có năng suất cao Đối với thỏ sinh sản cần thiết phải cung cấp vitamin A và E, nếu đầy đủ thì tỷ lệ đẻ có thể đạt từ 70-80%, nếu thiếu tỷ lệ này có thể là 40-50%
và tỷ lệ nuôi sống là từ 30-40% Thỏ có thể tự tổng hợp được vitamin nhóm B trong hệ tiêu hóa Người ta cũng cung cấp vitamin dạng bột cho thỏ trong thức ăn hỗn hợp
2.8.6 Nhu cầu nước uống của thỏ
Tỉ lệ thành phần hóa học lớn nhất trong cơ thể thỏ là nước: 85-92% ở bào thai, 79%
ở thỏ sơ sinh, 65-71% ở thỏ hậu bị 6-8 tháng tuổi, 50-58% ở thỏ trưởng thành Thỏ chửa có 8-10 con cần lượng nước rất lớn để tăng trưởng thai Thời kì tiết sữa thỏ sử dụng 70-75% nước để sản xuất sữa Đối với thỏ hậu bị 58-68% tổng tăng trọng là nước tạo thành Các số liệu đó thể hiện tầm quan trọng của việc cung cấp nước cho thỏ (Nguyễn Quang Sức và Đinh Văn Bình, 2000)
Cơ thể thỏ thải nước qua đường nước tiểu, phân, hô hấp và sản phẩm như sữa Lượng nước lớn nhất trong cơ thể được lọc qua thận và thải ra ngoài theo đường nước tiểu Phụ thuộc vào tuổi, nhiệt độ môi trường, thời kì sản xuất mà lượng nước tiểu thải ra từ 50-100ml/ngày Hàm lượng nước trong phân là 68-72% trong tổng số phân thải ra từ 65-75g/kg thể trọng/ngày (Nguyễn Quang Sức và Đinh Văn Bình, 2000)
Thỏ không có tuyến mồ hôi, nên việc thoát hơi nước qua da không đáng kể Khi nhiệt độ môi trường lên cao sự thải nhiệt qua đường hô hấp dễ thoát được hơi nước với lượng 2-6g/kg thể trọng/giờ Thỏ được cung cấp nước trong quá trình trao đổi chất, nước thực vật và nước uống Nước trao đổi chất trong quá trình phân giải đáp ứng 5-15% nhu cầu Khi cho ăn có thể cung cấp được 5-10g/kg thể trọng/ngày Nước thực vật phụ thuộc vào loại thức ăn Có thể cung cấp được 30-80% nhu cầu Hai loại nước trên không thể thay thế cho nước uống được (Nguyễn Quang Sức và Đinh Văn Bình, 2000)
Lượng nước uống hàng ngày cũng phụ thuộc vào loại thức ăn cho ăn và nhiệt độ môi trường Thông thường thỏ cần lượng nước uống gấp 1.5-2 lần lượng vật chất khô ăn được Mùa nóng cần 2.5-3.5 lần lượng nước bình thường Thiếu nước còn nguy hiểm hơn thiếu thức ăn Thỏ khát nước đến ngày thứ hai sẽ bỏ ăn và sẽ chết sau 10-12 ngày
Trang 29Nhu cầu nước uống còn phụ thuộc vào thời kì sản xuất Thỏ vỗ béo và hậu bị cần 0.2-0.5 lít/ngày, thỏ chửa cần 0.4-0.6 lít/ngày, thỏ cho con bú cần 0.6-0.8 lít/ngày (thời kì tiết sữa cao nhất cần tới 0.8-1.5 lít/ngày Thỏ sẽ bị tiêu chảy, chướng hơi khi không cho uống đều đặn, cho thỏ uống nước nhiều sau thời gian nhịn khát, cho uống nước nhiễm bẩn (Nguyễn Quang Sức và Đinh Văn Bình, 2000)
2.9 THỨC ĂN CHO THỎ
2.9.1 Rau lang (Ipomoea batatas)
Khoai lang là loài cây thân thảo dạng dây leo sống lâu năm, có các lá mọc so le hình tim hay xẻ thùy chân vịt, các hoa có tràng hợp và kích thước trung bình Rễ củ ăn được có hình dáng thuôn dài và thon, lớp vỏ nhẵn nhụi có màu từ đỏ, tím, nâu hay trắng Lớp cùi thịt có màu từ trắng, vàng, cam hay tím
Khoai lang là một loài cây nông nghiệp với các rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt, được gọi là củ khoai lang Các lá non và thân non cũng được sử dụng như một loại rau Khoai lang có quan hệ họ hàng xa với khoai tây (Solanum tuberosum) có
nguồn gốc Nam Mỹ và quan hệ họ hàng rất xa với khoai mỡ (một số loài trong chi
Dioscorea) là các loài có nguồn gốc từ châu Phi và châu Á
Khoai lang không chịu được sương giá Nó phát triển tốt nhất ở nhiệt độ trung bình khoảng 24°C Phụ thuộc vào giống cây trồng và các điều kiện khác, các rễ củ sẽ phát triển đầy đủ trong vòng từ 2 đến 9 tháng Với sự chăm sóc cẩn thận, các giống ngắn ngày có thể trồng như cây một năm để cho thu hoạch vào mùa hè tại các khu vực có khí hậu ôn đới, như miền bắc Hoa Kỳ Khoai lang ít khi ra hoa nếu khoảng thời gian ban ngày vượt quá 11 giờ Chúng được nhân giống chủ yếu bằng các đoạn thân (dây khoai lang) hay rễ hoặc bằng các rễ bất định mọc ra từ các rễ củ trong khi lưu giữ bảo quản Các hạt hầu như chỉ dành cho mục đích gây giống mà thôi
Khoai lang phát triển tốt trong nhiều điều kiện về đất, nước và phân bón Nó cũng
có rất ít kẻ thù tự nhiên nên thuốc trừ dịch hại là ít khi phải dùng tới Do nó được nhân giống bằng các đoạn thân nên khoai lang là tương đối dễ trồng Do thân phát triển nhanh che lấp và kìm hãm sự phát triển của cỏ dại nên việc diệt trừ cỏ cũng tiêu tốn ít thời gian hơn Trong khu vực nhiệt đới, khoai lang có thể để ở ngoài đồng
và thu hoạch khi cần thiết còn tại khu vực ôn đới thì nó thường được thu hoạch trước khi sương giá bắt đầu
Trên thế giới khoai lang được trồng ở 111 nước khác nhau Trong đó có 101 nước là các nước đang phát triển Về vị trí kinh tế và giá trị sử dụng của khoai lang các tác giả đều đánh giá khoai lang là cây lương thực quan trọng của nhiều nước Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh Ngoài ra khoai lang còn được dùng làm nguyên liệu chế biến ra một số mặt hàng thực phẩm công nghiệp, đã làm tăng giá trị kinh tế của
Trang 30khoai lang Ở Việt Nam hiện nay, khoai lang làm lương thực cho người giảm dần Chủ yếu làm thức ăn chăn nuôi hoặc được sử dụng làm rau xanh giáp vụ hay rau sạch cho nhân dân (Mai Thạch Hoành và Nguyễn Công Vinh, 2003)
Theo nhiều nghiên cứu dây lá rau lang là nguồn thức ăn tốt sử dụng nuôi thỏ, thỏ rất thích ăn dây lá khoai lang Dây lá rau lang cung cấp nguồn protein cần thiết cho sự tăng trưởng của thỏ Chúng ta có thể sử dụng dây lá rau lang để nuôi thỏ vì cho tăng trọng nhanh Khoai lang có đặc tính dễ trồng, sinh trưởng quanh năm, nhân giống
dễ Có hai cách nhân giống : bằng dây và bằng củ Trong 100g phần ăn được của lá rau lang cho 22Kcal, 245g vitamin A, 11mg vitamin C và vitamin B1…(Tục và Kính, 2002)
Hình 1 Rau lang
Bảng 8: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thân lá rau lang
Thành phần hóa học ( % DM ) Khoai lang
Trang 312.9.2 Cỏ lông tây
Đặc điểm
Cỏ lông tây (Brachiaria mutica) là loại cỏ có rễ nhiều, thân dài 0.6-2.0m, phân
nhánh, mềm, bò trên mặt đất, mọc rể và đâm chồi ở các đốt sau đó vương thẳng lên cao có thể tới 2.5m Nó thuộc giống cỏ đa niên, dễ trồng chịu được ẩm ướt Trồng dùng làm đồng cỏ chăn thả rất tốt vì chịu được sức dặm của gia súc ăn cỏ, mọc bò dưới đất nên có đặc tính lấn áp cỏ dại cao, ngày nay phân bố khắp các vùng nhiệt đới trên thế giới
Nguồn gốc
Cỏ lông tây (Brachiaria mutica) là loại cỏ có nguồn gốc ở Nam Mỹ (Brazil), Châu
Phi và có nhiều ở các nước nhiệt đới Ở Việt Nam cỏ lông tây được đưa vào Nam
Bộ năm 1875, Trung Bộ năm 1930 rồi sau đó ra miền Bắc Bộ và ngày nay nó trở thành loại cỏ hoang dại rất phổ biến ở nước ta
Đặc điểm sinh học
Thân có cọng lớn, dài từ 1-1.5m mọc bò trên mặt đất đầu ngóc đứng nghiêng Cỏ mọc chen chúc nhau thành từng thảm cỏ cao từ 1.5-2.5m Lá nhọn đầu hình mũi giáo, dài từ 10-20cm, ngang 1-1.5cm, hai bên rìa lá rất nhám, lá rất mềm Bẹ lá mọc phủ trên thân cây, có nhiều lông tơ màu trắng, nơi mắt bẹ có nhiều lông tơ và dài hơn, bẹ lá dài từ 4-5cm Rể mọc thành chùm, sâu khoảng 0.5m nơi những mắt có rể phụ mọc bám sát mặt đất Trổ hoa vào tháng 7-8, hoa có từ 10-20 gié, gié dài khoảng 5cm Lá và thân mềm nên gia súc ăn cả thân
Cỏ lông tây rất thích hợp khí hậu nóng ẩm ở nước ta sinh trưởng tốt ở những vùng thấp Nhiệt độ tối thiểu để có thể sống được là 80C nếu rét hơn cỏ sẽ chết lụi dần
Cỏ phát triển rất nhanh ở những nơi ẩm ướt tạo thành những thảm dày cao và không chịu được khô hạn
Cỏ lông tây có khả năng chịu được ngập nước ngắn ngày, chịu mặn và chịu được phèn nhẹ Là loại cỏ sống lâu năm khoảng 3-4 năm Có thể trồng bằng hạt, bằng cành, bằng nhánh nhưng do hạt có tỉ lệ nảy mầm thấp (10-15%) nên người ta chủ yếu trồng bằng cành Ở miền Bắc có thể trồng cỏ lông tây ngay cả trong mùa đông nhưng tốt nhất là trồng vào đầu mùa xuân, đến tháng 11, 12 thì cỏ ra hoa kết hạt
Từ đồng bằng Bắc Bộ trở vào phía Nam cỏ lông tây mọc xanh tốt quanh năm
Có thể sử dụng cỏ lông tây cho gia súc ăn dưới dạng cỏ tươi, ủ xanh hoặc phơi khô Tuy nhiên, do ủ xanh hoặc phơi khô đều dể bị ẩm mốc nên chủ yếu là cho ăn cỏ tươi