MỤC LỤCChương I: KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN VÀ NHỮNG HIỆP ĐỊNH CHÍNH CỦA CỘNG ĐỒNG ASEAN I Khái quát về cộng đồng kinh tế ASEAN II Những hiệp định chính của cộng đồng ASEAN Ch
Trang 2MỤC LỤC
Chương I: KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
VÀ NHỮNG HIỆP ĐỊNH CHÍNH CỦA CỘNG ĐỒNG ASEAN
I) Khái quát về cộng đồng kinh tế ASEAN
II) Những hiệp định chính của cộng đồng ASEAN
Chương II: HÀNH ĐỘNG CỦA VIỆT NAM VÀ ASEAN ĐỂ THỰC HIỆN HỘI NHẬP AEC
Chương III: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA AEC ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I) Cơ hội của AEC đối với các ngân hàng thương mại Việt
I) Khuyến nghị đối với doanh nghiệp
II) Khuyến nghị đối với nhà nước
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3Lời nói đầu:
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi trình bày về quá trình hình thành và mục tiêu phát triểncủa Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), hành động của Việt Nam và ASEANđang thực hiện trong AEC, tác giả đã phân tích sâu những cơ hội vàthách thức khi Việt Nam gia nhập AEC Xét về cơ hội, Việt Nam có đượcmột thị trường hàng hoá và dịch vụ rộng lớn hơn, Việt Nam cũng sẽ có
cơ hội thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài hơn, đặc biệt là từcác nước có nền kinh tế phát triển cao hơn như Singapore, Indonesia vànâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu của Việt Nam Thêmvào đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có điều kiện giảm chi phí, hạ giáthành hàng xuất khẩu, góp phần gia tăng năng lực cạnh tranh Tuynhiên, bên cạnh những cơ hội là những thách thức không nhỏ do hầuhết các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ nhỏ bé về quy mô mà còn cảcông nghệ Thời điểm cộng đồng ASEAN bắt đầu có hiệu lực vào năm
2015, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh
từ hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu từ ASEAN, đầu tư của các nướcASEAN Một số ngành sẽ phải thu hẹp sản xuất, thậm chí đóng cửa
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của bài tiểu luận là hệ thống những thông tin tổng quát
về hội đồng kinh tế AEC, tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam vànâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam sau khi gia nhậpAEC
3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
Trang 4Thời điểm này, các nước Đông Nam Á đang hoàn tất những việc cuối cùng cho sự ra đời chính thức của cộng đồng kinh tế ASEAN
(AEC) vào ngày 31 tháng 12 năm 2015 Nhân dịp này, báo The Straits Times đã đưa ra cái nhìn toàn cảnh về một khu vực mà sẽ được coi là ngôi nhà chung của hơn 600 triệu người
Theo đánh giá của một chuyên gia tư vấn quản lý toàn cầu,
Singapo đã sẵn sàng trở thành người cung cấp những dịch vụ và những
kĩ năng quan trọng khi AEC có hiệu lực “Singapo đã sẵn sàng trở thành nơi tin cậy đặt trụ sở chính của các doanh nghiệp trong khu vực” như nhận định của Kenvin Sneader, chủ tịch của McKinsey&Company Asia khi được phỏng vấn trên tờ The Straits Times
Cũng trên trang này, AEC được kì vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự tự do trao đổi về hàng hóa, dịch vụ, lao động có chuyên môn, việc làm và vốn đầu tư trong khu vực ASEAN Các phân tích cũng chỉ rarằng các nước có thể gặt hái được nhiều lợi ích từ việc hội nhập nhưng cũng cảnh báo rằng các yếu tố như chủ nghĩa bảo hộ, thiếu các tiêu
chuẩn đồng bộ trong ASEAN ở nhiều ngành và hàng rào pháp lí sẽ là những trở ngại chủ yếu trong tiến trình hội nhập
Qua tìm hiểu, nhận thấy cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) thu hút được rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu từ nhiều tác giả, các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước về AEC ảnh hưởng đến nền kinh
tế và hoạt động của hệ thông NHTM
Có thể thấy, các công trình, bài viết được các nhà nghiên cứu đề cập đến nhiều nội dung phong phú, mới mức độ nông sâu khác nhau Trong tiểu luận này, tôi muốn đề cập một cách khái quát, có hệ thống cácvấn đề liên quan đến cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), đi sâu hơn
Trang 5nghiên cứu các tác động cụ thể của AEC đến hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị, chính sách.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiểu luận tập trung tìm hiểu về AEC và Tác động của cộng đồng kinh tế AEC đến hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được xây dựng theo phương pháp thống kê, tổng hợp kếthợp phân tích, so sánh dựa trên kiến thức sẵn có của bản thân va một số nguồn tư liệu sẵn có
Trang 6Chương I: KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
VÀ NHỮNG HIỆP ĐỊNH CHÍNH CỦA CỘNG ĐỒNG ASEAN
I) Khái quát về cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
1.1) Tổng quan về hội đồng kinh tế ASEAN
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập từ năm
1967, hiện tại bao gồm 10 nước: Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam Hiệp hội ASEAN dựa trên 03 trụ cột chính: an ninh chính trị; kinh tế; văn hóa
xã hội Kinh nghiệm thực tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997/1998, cộng thêm sự nổi lên của các nền kinh tế Trung Quốc và Ấn
Độ đã khiến các nước ASEAN quyết tâm tạo ra một cộng đồng hợp tác kinh tế mạnh mẽ, gắn 2 kết hơn Hội nghị thượng đỉnh Hiệp hội ASEAN năm 1997 tại Kualar Lumpur, Malaysia đã ra Tuyên bố về Tầm nhìn
ASEAN 2020 với ý tưởng biến ASEAN thành một khu vực phát triển ổn định, hội nhập và cạnh tranh, thiết lập một cộng đồng kinh tế khu vực vào năm 2020 Vào năm 2003, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Bali đã quyết đinh đẩy nhanh quá trình hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (Asean Economic Community - AEC), thay vì thời hạn 2020, các nước quyết định hình thành AEC vào cuối năm 2015 Năm 2007 thông qua Kế hoạch AEC 2007 đặt ra các thời hạn rõ ràng cụ thể cho các nước thành viên ASEAN thực hiện để hình thành AEC, với mục đích hợp nhất các quốc gia thành viên thành một cộng đồng kinh tế chung vào ngày
31/12/2015 Không giống như EU, ASEAN không tạo lập các tổ chức quản lý trung ương như Ủy ban Liên minh châu Âu EU hay Ngân hàng Trung ương châu Âu mà sẽ tập trung vào việc xóa bỏ các rào cản kinh doanh, thương mại Kế hoạch AEC bao gồm 04 trụ cột (04 nội dung then
Trang 7chốt): tạo lập một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất; tạo lập một khu vực kinh tế cạnh tranh cao; thúc đẩy sự phát triển kinh tế công bằng; xây dựng một khu vực hội nhập hoàn toàn với nền kinh tế toàn cầu Tóm lại, AEC sẽ biến ASEAN thành một khu vực với sự tự do dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có kỹ năng và tự do dịch chuyển dòng vốn Liên quan đến việc tạo lập một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, các quốc gia thành viên ASEAN đang tập trung thực hiện giảm và tiến tới xóa bỏ các rào cản để đảm bảo dòng chảy hàng hóa, dịch vụ và vốn trở nên tự do giữa các nước ASEAN Đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính, các quốc gia thành viên đã cam kết tự do hóa mạnh mẽ, xóa bỏ các hạn chế trong các ngành ngân hàng, bảo hiểm và các thị trường vốn vào năm 2015 Điều này bao hàm tự do hóa 4
phương thức cung cấp thương mại dịch vụ qua biên giới như được địnhnghĩa trong WTO - là cung cấp thương mại dịch vụ qua biên giới, Tiêu dùng (sử dụng dịch vụ) ở nước ngoài, Hiện diện thương mại và Tự do dịch chuyển cá nhân
Các nguyên tắc nền tảng của Cộng đồng ASEAN như sau:
- Thúc đẩy hình thành một ASEAN hướng về nhân dân nhưng chủ yếu
ở trong đó khuyến khích mọi thành phần xã hội tham gia và hưởng lợi
từ tiến trình liên kết và xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN
- Tôn trọng các quy định thương mại nhiều bên và các quy định của ASEAN dựa trên các chế độ cho sự áp dụng hiệu quả các cam kết kinh tế
và dần dần giảm bớt hướng tới loại bỏ tất cả các rào cản với sự hội nhập kinh tế của khu vực, trong một nền kinh tế định hướng thị trường Chính vì thế ASEAN đã ký kết các thỏa thuận tự do thương mại với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, Tân Tây Lan (New Zealand) và gần đây nhất là Ấn Độ
Xuất phát từ nền tảng cơ bản nói trên, một Cộng đồng kinh tế
ASEAN (ASEAN Economic Community được viết tắt là AEC) sẽ hình
Trang 8thành dự định vào năm 2015 và dần dần lớn mạnh trở thành một khối kinh tế khu vực của các quốc gia thành viên ASEAN Cộng đồng kinh tế ASEAN là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm mục đích thực hiện các mục tiêu đề ra trong tầm nhìn ASEAN 2020 Hai trụ cột còn lại là Cộng đồng An ninh ASEAN và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN.
Mục đích các nước ASEAN thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) nhằm hình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh
vượng và có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu
tư sẽ được chu chuyển tự do và vốn được lưu chuyển tự do hơn, kinh
tế phát triển đồng đều, sự đói nghèo và sự chênh lệch phát triển kinh tếđược giảm bớt dần đến năm 2020 Theo kế hoạch trung hạn 6 năm lần thứ hai của ASEAN (2004-2010) Chương trình hành động Vientiane đã xác định rõ hơn mục đích của AEC là: tăng cường năng lực cạnh tranh thông qua sự hội nhập nhanh hơn nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của ASEAN
Hiện nay, bối cảnh quốc tế mới đầy biến động của thời kỳ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu ngày càng lan rộng trên thế giới Điều này cũng đã và đang tác động nhiều đến sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015.Đặc biệt vùng “Biển Đông mới nổi sống” gần đây đã tác động không nhỏ tới tiến trình hội nhập của khu vực Đông Nam Á
Thực tế, kinh tế thế giới đang có tốc độ tăng trưởng chậm, đặc biệt ở các nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ, Brasil, Trung quốc, … Bối cảnhnày làm cho các nhà đầu tư, các hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạch định lại chính sách phát triển kinh tế, thương mại theo chiềuhướng phát triển bền vững chậm lại, theo lộ trình tăng trưởng mạnh và vững chắc Ngoài ra, tình hình an ninh ở Nga, Ukraine, Syrie, Iraq,
Palestine, Israel, … ngày càng xấu đi do tranh chấp lãnh thổ leo thang, bạo động, nội chiến, … Do đó, các tiến trình hội nhập của ASEAN thiếu
Trang 9liên kết và chậm lại Trong bối cảnh kinh tế như thế, nhiều nhà kinh tế khuyến nghị các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt ở Cộng đồng
ASEAN nên cố gắng tìm cách tái cơ cấu lại nền kinh tế để cân đối các nguồn tăng trưởng nhằm hướng tới phát triển kinh tế bền vững, ưu tiênphát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, nâng cao mức tiêu thụ hàng hóa nội địa để phục vụ dân nghèo ở nông thôn và tầng lớp trung lưu ở
thành thị Đây là hướng phát triển thị trường nội địa trong tư thế chuẩn
bị tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) nhằm mục đích đưa cộng đồng các nước ASEAN trở nên tâm điểm hội nhập khu vực châu Á - Thái Bình Dương
1.2) Lịch sử hình thành, mục tiêu và bản chất của AEC
Lịch sử hình thành AEC:
Năm 1992: khái niệm hội nhập ktiên được đưa ra trong Hiệp định khung về Thúc đẩy Hợp tác Kinh
tế ASEAN ký tại Singapore Hiệp định này nhấn mạnh
tầm quan trọng trong hợp tác trong các lĩnh vực thươngmại, công nghiệp, năng lượng và khoáng sản, tài chính
và ngân hàng, thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp, giao thông và truyền thông
Năm 1992: Hiệp định về Chương trình Ưu đãi Thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) được ký kết,
sau đó được thay thế bởi Hiệp định về Thương mại
Hàng hoá ASEAN 2010
Năm 1995: Hiệp định khung về Dịch vụ
ASEAN được ký kết
Năm 1998: Hiệp định khung về Đầu tư
ASEAN được ký kết, sau đó được thay thế bởi Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN 2012
Năm 2003: Tại Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN 9, các nhà lãnh đạo ASEAN lần đầu tiên tuyên
Trang 10bố mục tiêu hình thành một Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Mục tiêu này cũng phù hợp với Tầm nhìn ASEAN
2020 thông qua vào năm 1997 với mục tiêu phát triển ASEAN thành một Cộng đồng ASEAN
Năm 2006: Tại cuộc họp các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 38, Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) đã được đưa ra với các mục tiêu và
lộ trình cụ thể cho việc thực hiện AEC
Năm 2007: Tại Hội nghị thượng đỉnh
ASEAN lần thứ 12, các nhà lãnh đạo ASEAN đã đồng ý đẩy nhanh việc hình thành AEC vào năm 2015 thay vì
2020 như kế hoạch ban đầu
Ngày 22/11/2015: Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký kết Tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lập AEC
Mục tiêu:
Bốn mục tiêu, cũng là bốn yếu tố cấu thành AEC, bao gồm:
1 Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông qua:
Tự do lưu chuyển hàng hoá
Tự do lưu chuyển dịch vụ
Tự do lưu chuyển đầu tư
Tự do lưu chuyển vốn
Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề
Lĩnh vực hội nhập ưu tiên
Thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp
2 Một khu vực kinh tế cạnh tranh, thông qua:
Các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh
Bảo hộ người tiêu dùng
Quyền sở hữu trí tuệ
Phát triển cơ sở hạ tầng
Thuế quan
Trang 11 Thương mại điện tử
3 Phát triển kinh tế cân bằng, thông qua:
Các kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ(SME)
Sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cáchphát triển trong ASEAN
4 Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, thông qua:
Tham vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác kinh tế
Nâng cao năng lực tham gia vào mạng lưới cungcấp toàn cầu
Bản chất AEC:
- Mặc dù được gọi với cái tên “Cộng đồng kinh tế”, AEC thực chất chưa thể được coi là một cộng đồng kinh tế gắn kết như Cộng đồng Kinh tế châu Âu bởi AEC không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và những cam kết ràng buộc với lộ trình thực hiện cụ thể AEC thực chất là đích hướng tới của các nước ASEAN thông qua việc hiện thực hóa dần dần
04 mục tiêu kể trên (trong đó chỉ mục tiêu 01 là được thực hiện tương đối toàn diện và đầy đủ thông qua các hiệp định và thỏa thuận ràng buộc, các mục tiêu còn lại mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng lộ trình và thực hiện một số sáng kiến khu vực) - AEC là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực chứ không phải là một Thỏa thuận hay Hiệp định với cáccam kết ràng buộc thực chất Tham gia vào các mục tiêu của AEC là hàng loạt các Hiệp định, Thỏa thuận, Tuyên bố… giữa các nước ASEAN
có liên quan tới các mục tiêu này Những văn bản này có thể bao gồm những cam kết có tính ràng buộc thực thi, cũng có những văn bản mangtính tuyên bố, mục tiêu hướng tới không bắt buộc của các nước ASEAN
- Việc hiện thực hóa AEC đã được triển khai trong cả quá trình dài trướcđây (thông qua việc thực hiện các cam kết tại các Hiệp định cụ thể về
Trang 12thương mại đã ký kết giữa các nước ASEAN) và sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới (tiếp tục thực hiện theo lộ trình các Hiệp định, Thỏa thuận đã có và các vấn đề mới, nếu có).
Thực thi từ phía Chính phủ
Theo thông tin từ Bộ Công Thương, trong các đợt rà soát hàng năm
về lộ trình tổng thể cho việc thành lập AEC, Việt Nam thường đạt được kết quả rà soát là đã hoàn thành được 85-90% khối lượng công việc, tỷ
lệ này là cao so với các nước trong khu vực Trong kỳ rà soát tháng
10/2014, Việt Nam và Singapore đạt tỷ lệ hoàn thành 90% các biện pháp, trong khi bình quân chung của các nước ASEAN là 82,1%
II) Những hiệp định chính của cộng đồng kinh tế
ASEAN(AEC)
Dưới đây là tóm tắt một số Hiệp định thương mại được ký kết trong khuôn khổ ASEAN và hướng tới mục tiêu thực hiện AEC
1 Hiệp định Thương mại Hàng hoá ASEAN (ATIGA)
Hiệp định ATIGA 2010 có tiền thân là Hiệp định Ưu đãi thuế quan
có hiệu lực chung (CEPT/AFTA) được thực hiện từ năm 1992
ATIGA là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn
bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết cắt giảm/loại bỏ thuế quan đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng các hiệp định, nghị định thư có liên quan
Nguyên tắc xây dựng cam kết trong ATIGA là các nước ASEAN phải dành cho nhau mức ưu đãi tương đương hoặc thuận lợi hơn mức
Trang 13ưu đãi dành cho các nước đối tác trong các Thỏa thuận thương mại tự
do (FTA) mà ASEAN là một bên của thỏa thuận
Ngoài mục tiêu xóa bỏ hàng rào thuế quan, ATIGA hướng nỗ lực chung của ASEAN để xử lý tối đa các hàng rào phi thuế quan, hợp tác hải quan và vệ sinh, kiểm dịch đồng thời xác lập mục tiêu hài hòa chính sách giữa các thành viên ASEAN trong bối cảnh xây dựng AEC Việt Nam gia nhập ASEAN từ năm 1995 nhưng đến năm 1999 mớibắt đầu thực thi CEPT và sau này là ATIGA
Theo ATIGA, đến năm 2010 các nước ASEAN-6 phải xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 100% dòng thuế thuộc Danh mục thông thường; chỉ giữ lại một số dòng thuế thuộc Danh mục loại trừ chung gồm những sảnphẩm được miễn trừ vĩnh viễn vì lý do an ninh quốc gia, đạo đức và sức khỏe) Các nước nhóm CLMV (gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) có lộ trình dài hơn xóa bỏ thuế cho hàng hóa từ các nước ASEAN muộn hơn, đến năm 2015 mới phải xóa bỏ toàn bộ thuế nhập khẩu trong Danh mục thông thường nhưng được linh hoạt giữ lại thuế suất đối với 7% số dòng thuế đến năm 2018
Như vậy, từ khi thực hiện cắt giảm thuế năm 1999 đến 2015, Việt Nam đã cắt giảm/xóa bỏ thuế nhập khẩu xuống còn 0-5% đối với khoảng 90% dòng thuế, chỉ còn giữ linh hoạt đối với 7% dòng thuế còn lại tính đến năm 2018, 3% số dòng thuế thuộc Danh mục loại trừ không phải xóa bỏ thuế quan nhưng thuế quan phải giảm xuống dưới 5%
Trung tâm WTO - VCCI 4 7% số dòng thuế được linh hoạt giữ tới
2018 này bao gồm các mặt hàng ô tô và linh kiện, sắt thép, linh kiện và phụ tùng xe máy, máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng, xe đạp và phụ tùng, rượu bia, sản phẩm chất dẻo, giấy các loại
Trang 14Từ năm 2018 Việt Nam chỉ còn được duy trì thuế nhập khẩu với mức thuế suất tối đa là 5% đối với khoảng 3% số dòng thuế, bao gồm phần lớn là các mặt hàng nông nghiệp nhạy cảm (gia cầm sống, thịt già, trứng gia cầm, quả có múi, thóc, gạo lứt, thịt chế biến, đường) Hai nhóm mặt hàng có lộ tình cam kết dài và chưa có lộ trình là xăng dầu (đến năm 2024) và thuốc lá (sẽ phải đưa ra lộ trình cắt giảm trong
tương lai gần)
2 Hiệp định Khung về Dịch vụ ASEAN (AFAS)
Hiệp định Khung về Dịch vụ của ASEAN (AFAS) được ký năm
1995 và Nghị định thư sửa đổi AFAS ký năm 2003 nhằm điều chỉnh hoạtđộng cung cấp dịch vụ giữa các nước ASEAN Nội dung của AFAS tương
tự Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ của WTO
Trên cơ sở AFAS, các nước ASEAN đến nay đã hoàn thành 8 Gói cam kết về dịch vụ (cam kết cho 80 phân ngành), và đang đàm phán Gói thứ 9 (cam kết cho 104 phân ngành) và sau đó sẽ đàm phán Gói cuối cùng (cam kết cho 124 phân ngành) nhằm hướng tới mục tiêu tự do hóadịch vụ đến năm 2015
Trong các Gói cam kết trên, các Gói cam kết 1-7 của Việt Nam có mức độ mở cửa dịch vụ chỉ thấp hơn hoặc bằng so với mức độ mở cửa dịch vụ của Việt Nam trong WTO Nhưng bắt đầu từ Gói thứ 8 trở đi, một số cam kết của Việt Nam trong một số phân ngành đã bắt đầu cao hơn mức độ mở cửa trong WTO và bổ sung thêm cam kết cho một số phân ngành mới
Hiệu lực của các Gói cam kết này phụ thuộc vào thông báo hoàn thành thủ tục phê chuẩn nội bộ của các nước thành viên ASEAN Tuy nhiên, hiện không có thông tin chính xác về số lượng các nước ASEAN
Trang 15đã hoàn thành thủ tục phê chuẩn nội địa cho từng Gói cam kết cũng như tình trạng hiệu lực của các Gói cam kết này.
Hiện tại các nước ASEAN đang đàm phán Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA) nhằm nâng cấp Hiệp định AFAS và tổng hợp các cam kết dịch vụ trong các FTA ASEAN với các đối tác bên ngoài ASEAN
3 Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA)
Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA) được ký kết tháng 2/2009 và có hiệu lực từ 29/3/2012 thay thế cho Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư ASEAN (IGA) 1987 và Hiệp định Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) 1998)
ACIA bao gồm 4 nội dung chính: Tự do hóa đầu tư, Bảo hộ đầu
tư, Thuận lợi hóa đầu tư và Xúc tiến đầu tư
Phạm vi điều chỉnh của ACIA bao gồm cả đầu tư trực tiếp và giántiếp
Phạm vi tự do hóa bao gồm các ngành phi dịch vụ (các ngành dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh của AFAS về dịch vụ như giới thiệu ở trên): sản xuất, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khai khoáng và các dịch vụ liên quan đến các ngành trên
Một số đặc điểm nổi bật của ACIA:
- ACIA mở rộng về phạm vi định nghĩa nhà đầu tư (ví dụ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài khối tại một nước ASEAN khi đầu tư sang một nước ASEAN khác được coi là nhà đầu tư ASEAN)
Trang 16- ACIA quy định về các biện pháp/yêu cầu đối với đầu tư bị cấm mà các nước thành viên không được phép sử dụng (ví dụ yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa, cân bằng cán cân thanh toán)
- ACIA quy định cơ chế giải quyết tranh chấp trực tiếp giữa Nhà nước và nhà đầu tư
o Phụ lục 2 về trường hợp tịch biên và bồi thường
- 01 Danh mục bảo lưu: Danh mục này của Việt Nam bao gồm các
trường hợp loại lệ không áp dung nghĩa vụ đối xử quốc gia và nghĩa vụ đối với quản lý cấp cao và ban giám đốc
Tóm lại:
- Về tự do hóa hàng hóa: Trong số các FTA mà Việt Nam đã ký kết, các cam kết về cắt giảm thuế quan trong ASEAN là cao nhất và nhanh nhất
- Về tự do hóa dịch vụ: các cam kết về dịch vụ trong ASEAN đều tương
tự mức cam kết trong WTO, trong một số gói cam kết dịch vụ gần đây của ASEAN, mức độ cam kết đã bắt đầu cao hơn so với WTO nhưng
Trang 17không nhiều và cũng phù hợp với mức độ mở cửa thực tế về dịch vụ của Việt Nam.
- Về tự do hóa đầu tư: các cam kết về đầu tư trong ASEAN toàn diện hơn trong WTO và các FTA đã ký của Việt Nam nhưng cũng phù hợp với các quy định về đầu tư trong pháp luật Việt Nam (việc thực thi các cam kết về đầu tư trong ASEAN không buộc Việt Nam phải sửa đổi pháp luật trong nước)
Chương II: Hành động của Việt Nam & ASEAN để thực hiện hội nhập AEC
Hiện nay, trong khối ASEAN, Việt Nam được đánh giá là một trong bốn thành viên có tỷ lệ hoàn thành tốt nhất các cam kết trong Lộ trình tổng thể thực hiện AEC Việt Nam đã tham gia hợp tác một cách toàn diện với các nước ASEAN từ các lĩnh vực truyền thống như: thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, nông nghiệp, giao thông vận tải, viễn thông, cho đến các lĩnh vực mới như: bảo hộ sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng… Cho tới nay, Việt Nam đã giảm thuế nhập khẩu cho hơn 10 nghìn dòng thuế xuống mức 0 - 5% theo ATIGA, chiếm khoảng 98% số dòng thuế trong biểu thuế
Về thương mại hàng hoá, ASEAN đã sửa đổi, bổ bổ sung các hiệp định kinh tế ASEAN, trong đó Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) được ký kết ngày 26/02/2009 tại Thái Lan Nghị định thư về sửađổi một số Hiệp định kinh tế ASEAN liên quan đến thương mại hàng hóa
đã được ký ngày 08/3/2013 trong dịp Hội nghị AEM Retreat lần thứ 19 tại Hà Nội Các nước cũng đang trong quá trình thảo luận về các vấn đề hàng rào phi thuế quan trong ASEAN và 7 nước thành viên (gồm Brunei,Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam) đã
Trang 18thử nghiệm thành công kết nối cổng ASW trong cơ chế hải quan một cửa ASEAN.
Về thương mại dịch vụ, ASEAN đã có những thỏa thuận giúp các bên sớm hoàn tất các thủ tục cần thiết để Hiệp định ASEAN về di
chuyển thể nhân có hiệu lực, trên cơ 3 sở đó tạo thuận lợi cho việc di chuyển của các cá nhân tham gia vào các hoạt động thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư trong khu vực Bên cạnh đó, việc thực thi Kế hoạch Chiến lược Du lịch ASEAN 2011 - 2015 cũng đang được tích cực triển khai nhằm tạo thuận lợi cho di chuyển của những người làm du lịch thông qua các thỏa thuận công nhận lẫn nhau
Về đầu tư, ASEAN đang trong giai đoạn thực thi Hiệp định ACIA, trong đó quá trình rà soát lẫn nhau đã được triển khai nhằm giám sát việc xóa bỏ các hạn chế/trở ngại hoặc cải thiện các biện pháp theo Kế hoạch tổng thể về xây dựng AEC nhằm thúc đẩy ASEAN thành một khu vực thu hút đầu tư thống nhất
Về quyền sở hữu trí tuệ, việc thực thi kế hoạch làm việc với 28 sáng kiến và 5 mục tiêu chiến lược trong Kế hoạch hành động IPR ASEAN 2012 - 2015 đã giúp nâng cao tính pháp lý và chính sách trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ
Để tránh gặp phải nhiều thách thức khi Việt Nam tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN (viết tắt AEC) sẽ hình thành vào năm 2015, Nhà nước cần tranh thủ các cơ hội để xây dựng và phát triển những ngành hàng xuất khẩu còn yếu kém để xây dựng và phát triển những ngành hàng xuất khẩu còn yếu kém để tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài đối với những ngành hàng chủ lực của nước ta như nông - lâm - ngư nghiệp, khai khoáng, thực phẩm - thức uống - thuốc lá, dệt may - da giày, bán buôn - bán lẻ, nhà hàng - khách sạn
Trang 19Sáng kiến về FTA vốn là Thái Lan Sau đó hiệp định về AFTA được
ký kết vào năm 1992 tại Singapore Lúc đầu chỉ có Brunei Darussalam, Indonesia, the Philippines, Malaysia, Singapore và Thái Lan (gọi chung ASEAN-6) Sau thêm Cambodia, Laos, Myanmar và Việt Nam gọi là
CLMV vào AFTA.Mục đích AFTA là nâng cao năng lực cạnh tranh của ASEAN với tư cách là một cơ sở sản xuất trên thế giới, đồng thời tăng cường tính hấp dẫn đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài
Về sau khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN - Trung Quốc (ASEAN - China Free Trade Area tức ACFTA hay CAFTA là khu vực mậu dịch tự do được ký giữa các nước ASEAN và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
(CHNDTH) và thành lập tháng 1/2010 được nêu ra và ký Nghị Định
khung vào ngày 4/10/2002 tại Thủ đô Phnom Penh của Cambodia Hiệp Định ký kết bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1/1/2010 Đây là khu vực Mậu dịch Tự do lớn nhất thế giới xét về diện tích và dân số (1,9 tỉ người trong
đó Trung Quốc là hơn 1,3 tỉ người) nhưng đứng thứ ba về tổng thu nhập quốc dân sau Khu vực Mậu dịch Tự do của Bắc Mỹ và Khu vực Mậu dịch Tự do của Châu Âu Bước đầu, theo thỏa thuận chung, các quốc gia thành viên (gồm Trung Quốc và 6 nước sáng lập ASEAN là
Brunei 3 Darussalam, Indonesia, Malaysia, the Philippines, Singapore và Thái Lan) sẽ gỡ bỏ 90% hàng rào thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu của nhau kể từ 2010 Những thành viên khác của ASEAN như Việt Nam, Cambodia, Lào và Myanmar sẽ tham gia khu vực này theo một lộ trình kéo dài trong 5 năm (2015)
Tuy nhiên, ngay sau đó Indonesia suy tính lại, và chỉ trong vài ngày sau khi hiệp ước có hiệu lực ngày 5/1/2010, Bộ Thương mại Indonesia
đã đưa ra đề nghị hoãn việc áp dụng chế độ cắt giảm thuế nhập khẩu trong khuôn khổ hiệp định, đồng thời muốn “đàm phán lại” để “hàng hóa nhập khẩu rẻ” không tràn vào làm tràn ngập thị trường mà không
Trang 20thể bị ngăn chặn được Các báo chí và doanh nghiệp trong vùng cũng quan ngại là hiệp định sẽ gây nhiều bất lợi cho họ, và sẽ càng làm tăng chênh lệch mậu dịch trong cán cân thương mại với Trung Quốc và làm mất khả năng công nghiệp hóa của các nước đi sau Đây là một bài học kinh tế - thương mại đầy xương máu mà các quốc gia ASEAN cần rút ra một bài học đáng nhớ mãi về sau này
Cho đến tháng 10/2012, hàng hóa Trung Quốc và ASEAN đang trànngập thị trường Việt Nam.Đây là nỗi lo thật sự của nước ta về hàng hóa ASEAN+1 Để cân bằng hơn, Việt Nam phải đầu tư mạnh mẽ vào sản xuất, cải thiện sức cạnh tranh về chất lượng và giá hàng hóa so với khu vực
Hàng hóa Trung Quốc và ASEAN tràn ngập thị trường Việt Nam và tình hình sẽ nghiêm trọng hơn khi Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc - ASEAN (ASEAN +1) hoàn toàn có hiệu lực vào năm 2015 Trước hết các nhập khẩu ASEAN, Trung Quốc sẽ làm khó các nhà xuất khẩu Việt Nam về giá, hợp đồng, khối lượng hàng hóa.Đặc biệt là thị trường Trung Quốc rất thường xuyên xảy ra rủi ro cho các yếu tố trên.Riêng thị trường Mỹ, EU ít khi xảy ra ép giá hay bỏ hàng Trái lại hàng Việt Nam vào thị trường Mỹ, EU với kim ngạch tăng liên tục Chẳng hạn, Việt Nam xuất siêu vào Mỹ 10 tỉ USD trong 8 tháng đầu năm 2012 và vào Đức 1,1
tỉ USD (theo Tổng cục Hải quan) Đối với thị trường gần như ASEAN và Trung Quốc, Việt Nam phải nhập siêu liên tục.Tất cả các nước này đều
áp dụng kỹ thuật khá chặt chẽ đối với hàng nhập khẩu Chẳng hạn, sản phẩm Casumina phải rất gần 1 năm mới xin được giấy chứng nhận và chi phí cho việc gửi mẫu, việc cán bộ của nước sở tại đến tận công ty lấymẫu … Vì vậy, nhiều doanh nghiệp ta nản chí khi đi tiếp cận thị trường Nói chung, Việt Nam xuất siêu vào Mỹ, Đức, Nhật trái lại nhập siêu rất lớn từ Trung Quốc và một số nước ASEAN, những nền kinh tế sẽ cạnh
Trang 21tranh gay gắt với ta khi Hiệp định ASEAN+1 có hiệu lực hoàn toàn vào năm 2015 Vì vậy, về phía Việt Nam, Nhà nước cần đầu tư trọng điểm một số lĩnh vực, ngành hàng có khả năng cạnh tranh khi Việt Nam gia nhập AEC.Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam phải phấn đấu hạ giá thành trong cuộc cạnh tranh mói đầy gay go và quyết liệt này Tóm lại, nước ta phải nâng cao năng lực cạnh tranh ở cả 3 cấp: nhà nước, doanhnghiệp và sản phẩm Hơn nữa, Việt Nam cần chú trọng đặc biệt đến công tác quản lý nhập khẩu, kiểm soát hàng hóa chặt chẽ hơn, tăng cường hàng rào kỹ thuật nhằm đối phó hàng Trung Quốc, đặc biệt hàng kém chất lượng.
CHƯƠNG III: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA AEC ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I) Cơ hội của AEC đối với các ngân hàng thương mại
Việt Nam
Cơ hội có được một thị trường rộng lớn hơn:
ASEAN có tổng GDP trên 2,7 nghìn tỷ USD, tăng trưởng trung bình 6% hàng năm Dân số trên 600 triệu người, với cơ cấu dân số tương đối trẻ Thu nhập bình quân đầu người trên 4.500 USD/người/năm Thu hútđầu tư nước ngoài năm 2012 đạt 110 tỷ USD Tổng giá trị giao dịch thương mại 2,5 nghìn tỷ USD (*) AEC với việc tự do hóa dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ trong khu vực ASEAN sẽ khuyến khích các hoạt động kinh doanh và đầu tư lớn hơn ở khu vực Đầu tư nước ngoài trực tiếp gia tăng và hoạt động kinh tế ở khu vực đương nhiên sẽ mang lại việc gia tăng nhu cầu bảo hiểm ở Đông Nam Á Các doanh nghiệp Việt Nam