1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đặc thù nền kinh tế mĩ và những nhận định về cơ hội, thách thức đối với DN việt nam

42 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 52,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cấu trúc quản lý truyền thống ở Mỹ dựa trên một chuỗi mệnh lệnh từ trên xuống; quyền lực bắt đầu từ ban lãnh đạo tối cao, những người bảo đảm cho hoạt động kinh doanh được thông suốt và

Trang 1

MỤC LỤC Lời nói đầu

I: Đặc thù nền kinh tế Mĩ và những nhận định về cơ hội, thách thức đối với DN Việt Nam

1: Những nhân tố cấu thành cơ bản của nền kinh tế Mỹ

1.1: Nhân tố cấu thành đầu tiên của một hệ thống kinh tế quốc gia là nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia đó

1.2: Nhân tố cấu thành thứ hai là lao động, yếu tố chuyển hóa các tài nguyên thiên nhiên thành hàng hoá

1.3: Quản lý khoa học

2: Một nền kinh tế hỗn hợp

3: Nền kinh tế thương mại điện tử

4: Nhận định cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam II: Phân tích tiến trình phát triển của nền kinh tế Mỹ thông qua GDP, tỷ

1.2: Phân tích tình hình nền kinh tế Mỹ qua những con số

2: Nền kinh tế Mỹ năm 2010, và những tháng đầu năm 2011

3: Mỹ và những cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong lịch sử

3.1: Suy thoái kinh tế Mỹ bắt đầu vào tháng 12/2007 và kết thúc vào tháng 6/2009, kéo dài 18 tháng

3.2: Suy thoái đầu năm 2000

Trang 2

3.3: Suy thoái cuối thập kỷ 90

3.4: Suy thoái đầu những năm 1980

3.5: Khủng hoảng dầu mỏ những năm 1973

3.6: Suy thoái năm 1958

3.7: Suy thoái năm 1953

3.8: Suy thoái năm 1947

3.9: Đại suy thoái năm 1930

III: Nền kinh tế Mỹ vận hành như thế nào?

1.1 Những nhân tố cấu thành cơ bản của nền kinh tế Mỹ 1.2 Một nền kinh tế hỗn hợp: Vai trò của thị trường 1.3 Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế

Trang 3

I: Đặc thù nền kinh tế Mĩ và những nhận định về cơ hội, thách thức đối với DN Việt Nam

1: Những nhân tố cấu thành cơ bản của nền kinh tế Mỹ

1.1: Nhân tố cấu thành đầu tiên của một hệ thống kinh tế quốc gia là nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia đó Nước Mỹ rất giàu

khoáng sản, đất đai canh tác màu mỡ và được phú cho khí hậu ôn hoà

Nó còn có đường bờ biển trải dài cả hai bên bờ Đại Tây Dương và Thái Bình Dương cũng như trên vịnh Mêhicô Những con sông bắt nguồn từ sâu trong lục địa và hệ thống Hồ Lớn - gồm năm hồ lớn nội địa dọc theo biên giới của Mỹ với Canada -cung cấp thêm mạng lưới giao thông đường thuỷ Những tuyến đường thủy mở rộng này đã giúp nước Mỹ tạo

ra tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm và nối liền 50 bang riêng rẽ thànhmột khối kinh tế thống nhất

1.2: Nhân tố cấu thành thứ hai là lao động, yếu tố chuyển hóa các tài nguyên

thiên nhiên thành hàng hoá

-So với châu Âu, văn hóa doanh nghiệp nước Mỹ có những điểm khác biệt Mặc dù đa số người Mỹ là người Anh và người châu Âu di cư, nhưng khi sang lục địa mới, họ nuôi dưỡng trong mình chí tiến thủ mạnh

mẽ, tinh thần chú trọng thực tế cộng với tinh thần trách nhiệm nghiêm túc Tất cả những điều đó đã tạo nên một bản sắc văn hóa mới – bản sắc văn hóa Mỹ Người Mỹ cho rằng, ai cũng có quyền lợi hưởng cuộc sống hạnh phúc tự do bằng sức lao động chính đáng của họ Bản sắc văn hóa

Mỹ làm cho người ta học được chữ tín trong khế ước và tất cả mọi ngườiđều bình đẳng về cơ hội phát triển: ai nhanh hơn, thức thời hơn, giỏi cạnh tranh hơn thì người đó giành thắng lợi Có thể nói, ý thức suy tôn

tự do, chú trọng hiệu quả thực tế, phóng khoáng, khuyến khích phấn đấu

cá nhân đã trở thành nhịp điệu chung của văn hóa doanh nghiệp nước

Mỹ Đây là những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu cho các nước phát triển trong quá trình tạo dựng văn hóa doanh nghiệp nhằm phát triển đất nước

Trang 4

-Người Mỹ nói chung là những người có khả năng làm việc độc lập rất cao Nếu được giao làm một công việc nào đó theo nhóm, họ họp nhau lại, phân công công việc cụ thể cho từng người, khi dự án hoàn thành, mỗi một cá nhân lại trở về công việc của mình, không hề phụ thuộc vào nhau Trong quan hệ công việc giữa cấp trên và cấp dưới hình thành mộtranh giới rõ ràng Các sếp luôn được ưu ái hơn so với nhân viên dưới quyền ở nhiều điểm: chỗ để xe riêng, phòng ăn riêng, phòng họp riêng, các chế độ đãi ngộ riêng

Và đó có lẽ cũng là nét đặc trưng của xã hội Mỹ: chức vụ càng cao, anh càng khác biệt với những người cấp dưới, và lúc này người có chức vụ cao thường hạn chế đến mức tối đa các mối quan hệ tiếp xúc với người cấp dưới Trong các công ty Mỹ cơ cấu tổ chức rất rõ ràng, mỗi nhân viên đều có một chức vụ, vị trí nhất định, và họ không được quên rằng tất cả mọi vấn đề bàn bạc phải được thống nhất với những người lãnh đạo trực tiếp trước khi được báo cáo lên cho lãnh đạo cao cấp

-Số lượng nhân công sẵn có, và điều quan trọng hơn là năng suất lao động của họ, đã góp phần quyết định tình trạng lành mạnh của nền kinh

tế Xuyên suốt lịch sử của mình, nước Mỹ đã có sự tăng trưởng liên tục

về lực lượng lao động, và chính điều đó lại góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế gần như liên tục Cho đến ngay sau Chiến tranh thế giới thứ nhất,hầu hết số lao động là người nhập cư từ châu Âu, con cái họ, hoặc người

Mỹ gốc Phi, những người mà tổ tiên họ bị mang đến Mỹ làm nô lệ Vào những năm đầu thế kỷ XX, có một số lượng lớn người châu Á nhập cư vào Mỹ, và rất nhiều người nhập cư Mỹ Latinh đến vào những năm sau

đó

Mặc dù nước Mỹ đã trải qua một vài thời kỳ thất nghiệp cao và những thời kỳ khác thiếu cung về lao động, nhưng khi có rất nhiều việc làm thì người nhập cư lại có xu hướng đến đây Họ thường sẵn sàng làm việc với mức lương thấp hơn đôi chút so với lương lao động có văn hoá; và

họ nhìn chung đều phát đạt, kiếm được nhiều tiền hơn rất nhiều so với ở

Trang 5

quê hương Nước Mỹ cũng thịnh vượng làm cho nền kinh tế phát triển nhanh, đủ sức thu hút nhiều người mới đến hơn nữa

-Đối với sự thành công về kinh tế của một đất nước, chất lượng lao độngsẵn có, mọi người sẵn sàng làm việc chăm chỉ như thế nào và tay nghề của họ ra sao - ít nhất cũng quan trọng như số lượng lao động Trong buổi ban đầu của nước Mỹ, cuộc sống tại vùng đất hoang vu rộng lớn này đòi hỏi lao động nặng nhọc, và những gì được xem là nguyên tắc làm việc của người Tin lành đã củng cố thêm nét đặc biệt này Sự chú trọng đặc biệt tới giáo dục, bao gồm cả đào tạo kỹ thuật và dạy nghề, cũng góp phần đưa đến thành công kinh tế cho nước Mỹ, cũng giống như ý chí sẵn sàng thử nghiệm và thay đổi

-Tính lưu động của lao động cũng quan trọng như thế đối với khả năng của nền kinh tế Mỹ để thích nghi với những điều kiện thay đổi Khi người nhập cư tràn ngập thị trường lao động ở bờ biển phía Đông, nhiều người lao động đã di chuyển vào sâu trong nội địa, và thường là đến các vùng đất trang trại đang chờ được canh tác Tương tự như vậy, những cơhội về kinh tế trong các thành phố công nghiệp ở miền Bắc đã thu hút người Mỹ da đen đến từ các trang trại miền Nam vào nửa đầu thế kỷ

XX

-Chất lượng của lực lượng lao động vẫn tiếp tục là một vấn đề quan trọng Ngày nay, người Mỹ coi “vốn nhân lực” là chìa khóa dẫn đến thành công trong nhiều ngành công nghiệp công nghệ cao, hiện đại Do

đó, các nhà lãnh đạo chính phủ và các quan chức quản lý kinh doanh ngày càng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo để phát triển lực lượng lao động có đầu óc nhanh nhạy và kỹ năng thích hợp cần thiết cho các ngành công nghiệp mới như tin học và viễn thông

1.3: Quản lý khoa học

Tuy nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động mới chỉ là một phần của hệ thống kinh tế Các nguồn lực đó cần phải được tổ chức và

Trang 6

quản lý để đạt được hiệu quả tối đa Trong nền kinh tế Mỹ, các nhà quản

lý, người đáp lại các tín hiệu của thị trường, đảm nhận chức năng đó Cấu trúc quản lý truyền thống ở Mỹ dựa trên một chuỗi mệnh lệnh từ trên xuống; quyền lực bắt đầu từ ban lãnh đạo tối cao, những người bảo đảm cho hoạt động kinh doanh được thông suốt và hiệu quả, xuống tới các cấp quản lý thấp hơn khác nhau chịu trách nhiệm điều phối các bộ phận của doanh nghiệp, cho đến người quản đốc tại phân xưởng Rất nhiều nhiệm vụ lại được phân công cho các bộ phận khác nhau và người lao động Ở nước Mỹ vào đầu thế kỷ XX, tính chuyên môn hóa này, hay

sự phân công lao động, được coi là phản ánh cách “quản lý khoa học” dựa trên phân tích hệ thống

Rất nhiều doanh nghiệp vẫn tiếp tục vận hành với cấu trúc truyền thống, nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp khác đã thay đổi quan điểm quản lý Đối mặt với tình trạng cạnh tranh gia tăng trên toàn cầu, các doanh

nghiệp Mỹ đang tìm kiếm những cấu trúc tổ chức linh hoạt hơn, đặc biệttrong các ngành công nghiệp công nghệ cao đòi hỏi tuyển dụng những lao động tinh xảo và phải phát triển, cải tiến sản phẩm và thậm chí đáp ứng thị hiếu khách hàng một cách nhanh chóng Việc phân cấp và phân công lao động quá mức

ngày càng bị coi là ngăn cản sự sáng tạo Do vậy, nhiều công ty đã “san phẳng” cấu trúc tổ chức của họ, giảm số lượng các nhà quản lý và trao quyền nhiều hơn cho các nhóm công nhân thuộc nhiều lĩnh vực

2: Một nền kinh tế hỗn hợp

Nước Mỹ được coi là có một nền kinh tế hỗn hợp, bởi vì cả doanh

nghiệp sở hữu tư nhân và chính phủ đều đóng những vai trò quan trọng Quả thực, một số trong những cuộc tranh luận kéo dài nhất của lịch sử kinh tế Mỹ tập trung vào vai trò tương đối của các khu vực nhà nước và

tư nhân

Hệ thống doanh nghiệp tự do của Mỹ nhấn mạnh đến sở hữu tư nhân Các doanh nghiệp tư nhân tạo ra phần lớn hàng hóa và dịch vụ, và gần hai phần ba tổng sản lượng kinh tế của quốc gia là dành cho tiêu dùng cá

Trang 7

nhân (một phần ba còn lại được mua bởi chính phủ và doanh nghiệp) Trên thực tế, vai trò của người tiêu dùng lớn đến mức quốc gia này thỉnhthoảng được mô tả là có một “nền kinh tế tiêu dùng” Sự nhấn mạnh này đối với sở hữu tư nhân xuất phát một phần từ niềm tin của người Mỹ về

tự do cá nhân Ngay từ thời lập quốc, người Mỹ đã lo sợ quyền lực quá mức của chính phủ, và họ luôn tìm cách hạn chế uy quyền của chính phủđối với cá nhân - bao gồm cả vai trò của chính phủ trong lĩnh vực kinh

tế Hơn nữa, người Mỹ nhìn chung đều

tin rằng một nền kinh tế được đặc trưng bởi sở hữu tư nhân dường như hoạt động hiệu quả hơn so với nền kinh tế đặc trưng bởi sở hữu nhà nước

Tuy vậy, doanh nghiệp tự do cũng có những hạn chế Người Mỹ luôn tinrằng một số dịch vụ do nhà nước đảm nhận sẽ tốt hơn các doanh nghiệp

tư nhân Chẳng hạn, Chính phủ Mỹ chịu trách nhiệm chủ yếu đối với cáchoạt động về tư pháp, giáo dục (mặc dù có rất nhiều trường học và trung tâm đào tạo tư nhân), hệ thống đường giao thông, báo cáo thống kê xã hội và an ninh quốc phòng Hơn nữa, chính phủ cũng thường được yêu cầu can thiệp vào nền kinh tế để điều chỉnh những tình huống mà ở đó

hệ thống giá cả không hoạt động Ví dụ, chính phủ điều tiết các nhà “độcquyền tự nhiên”, và sử dụng luật

chống độc quyền để kiểm soát hoặc ngăn chặn các tổ hợp kinh doanh trởnên quá mạnh đến mức chúng có thể chế ngự các lực lượng thị trường Chính phủ cũng giải quyết những vấn đề nằm ngoài phạm vi của các lực lượng thị trường Nó cung cấp phúc lợi và trợ cấp thất nghiệp cho nhữngngười không có khả năng tự trang trải, do họ gặp rủi ro trong cuộc sống

cá nhân hoặc bị mất việc làm bởi biến động kinh tế đột ngột; nó thanh toán hầu hết chi phí chăm sóc y tế cho người già và những người sống trong cảnh nghèo nàn; chính phủ điều tiết ngành công nghiệp tư nhân nhằm hạn chế sự ô nhiễm không khí và nước; nó cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp cho những người bị thiệt hại do thiên tai; và nó đóng vai trò đầu tàu trong việc khám phá vũ trụ, một ngành có chi phí quá cao đối với bất kỳ doanh nghiệp tư nhân nào

Trang 8

Nền kinh tế hỗn hợp này chính là sự thể hiện rõ nhất nguyên tắc cơ bản trong

các hoạt động kinh tế của Mỹ:

- Thứ nhất, và là điều quan trọng nhất, nước Mỹ vẫn duy trì một “nền kinh tế thị trường” Người Mỹ tiếp tục cho rằng một nền kinh tế nhìn chung vận hành tốt nhất khi các quyết định về sản xuất cái gì và định giáhàng hóa như thế nào được hình thành thông qua hoạt động trao đổi qua lại của hàng triệu người mua và người bán độc lập, chứ không phải bởi chính phủ hay những lợi ích cá nhân có thế lực nào Người Mỹ tin rằng trong một hệ thống thị trường tự do, giá cả gần như phản ánh giá trị thật

đề mà kinh tế tư nhân bỏ qua, từ giáo dục cho đến bảo vệ môi trường

Và mặc dù ủng hộ tích cực các nguyên lý thị trường, nhưng thỉnh thoảng

họ vẫn sử dụng chính phủ để nuôi dưỡng các ngành công nghiệp mới, vàthậm chí để bảo vệ các công ty Mỹ trong cạnh tranh

3: Nền kinh tế thương mại điện tử

Nói đến Mỹ có lẽ không thể không nói đến thương mại điện tử Các giaodịch thương mại trên mạng đang phát triển với tốc độ chóng mặt Đây là

cơ hội nhưng cũng là thách thức cho tất cả các doanh nghiệp và các quốcgia Ở Mỹ hiện nay có thể mua hầu hết mọi thứ trên mạng từ sách vở, DVD, quần áo, thức ăn, máy vi tính và phụ kiện, các tiện nghi trong gia đình (bàn ghế) đến vé máy bay, mua tour du lịch, đặt phòng khách sạn, thuê xe hơi, rồi đến tra bản đồ để tìm đường đi đến địa chỉ cần thiết, các thông tin về tình hình giao thông (kẹt xe) trên các xa lộ Tất cả đều trên

Trang 9

mạng Thời gian đầu khách hàng đều rất ngại mua hàng trên mạng vì những lý do an toàn thông tin và cảm giác không yên tâm khi đối diện với các nhà cung cấp “ảo” Nhưng càng sử dụng họ càng thấy hệ thống rất ổn định và đáng tin cậy Thông thường mua hàng trên mạng giá rẻ hơn và đây là một thị trường trong suốt về giá Nghĩa là khi mua một sảnphẩm khách hàng trên mạng thường tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và nguồn nào cho giá rẻ nhất với dịch vụ tốt nhất thì mua Trong những cái tên lớn, phải kể đến Amazon.com, không chỉ là nhà cung cấp rất nhiều chủng loại sản phẩm trên mạng, Amazon còn là một thị trường tập hợp các nhà cung cấp khác nhau, ai muốn bán sản phẩm thì đăng ký với Amazon và sẽ được đăng trên mạng này Khi bán được sản phẩm nhà cung cấp trích phí cho Amazon Để đảm bảo chất lượng cung ứng, sau khi hoàn tất một giao dịch, khách hàng được yêu cầu đánhgiá chất lượng nhà cung cấp và đây là một thông số quan trọng để các khách hàng chọn nhà cung cấp Mặt khác, với các giao dịch giá trị lớn khách hàng được khuyến cáo mua bảo hiểm để tránh rủi ro Một cái tên lớn khác – E-bay.com lại là một thị trường bán đấu giá, bán đủ thứ trên trời dưới đất Sản phẩm và giá cả rất đa dạng và phản ứng rất theo cung cầu của thị trường Cần thấy rằng khi các giao dịch trên mạng phát triển thì hàng loạt các ngành dịch vụ liên đới như vận chuyển, bưu chính, tính dụng – ngân hàng, bảo hiểm cũng phát triển theo

4: Nhận định cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam

Mỹ là một thị trường mở rộng lớn nhiều tiềm năng cho việc tiêu thụ sản phẩm với mức giá cả cao cho tất cả các doanh nghiệp muốn tham gia vào nó, đây là một cơ hội lớn, doanh nghiệp nào cũng muốn nắm bắt Nhưng cũng chính vì vậy, đây cũng là thách thức lớn với các doanh nghiệp Việt khi hoạt động trong một thị trường tự do canh tranh đầy khốc liệt này, vốn dĩ đã có rất nhiều nhà cung cấp, đa dạng các chủng loại hàng hóa cung cấp Vậy nên, cái khó là chúng ta lựa chọn, DN Việt

sẽ bán gì và như thế nào?

Trang 10

Việt Nam có thế mạnh về các mặt hàng truyền thống, các mặt hàng thủy hải sản tươi sống ngon, giá rẻ và thực tế khách hàng nước ngoài trong đó

có Mỹ rất ưa chuộng mặt hàng mây tre đan cũng như hoa quả, thủy hải sản của ta Đây là một hướng đi cho các doanh nghiệp trong nước

Nhưng trong tương lai, Việt Nam cần tìm hiểu nhiều hơn về thị trường

Mỹ để biết được họ vẫn đang thiếu gì, và ta đang có những lợi thế tươngđối gì để khai thác triệt để Một cách thức xâm nhập thị trường Mỹ mà các DN Việt có thể ứng dụng chính là E-Marketing ( Marketing điện tử )trong một xã hội người dân đã chấp nhận và sử dụng rộng rãi cách thức giao dịch mua hàng qua mạng Chúng ta có thể nghĩ đến các cơ hội xâm nhập thị trường quốc tế cho các doanh nghiệp Việt Nam thông qua việc tham gia là nhà cung cấp trên Amazon, hay E-bay Đây là một con

đường Marketing phù hợp đối với doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào nền kinh tế thương mại điện tử như Mỹ Có nhiều vấn đề, thách thứccần giải quyết như vận chuyển quốc tế, thông quan, ngôn ngữ, độ am hiểu các thủ tục và kỹ thuật giao dịch, giá Tất nhiên là khó nhưng đây là

cơ hội, mà có lẽ sẽ là cơ hội rất quan trọng trong tương lai gần để Việt Nam có thể tiến bước vào thị trường Mỹ, để hàng Việt Nam được tiếp nhận và biết đến nhanh hơn với người dân Mỹ, ngoài con đường giao dịch thương mại truyền thống, vốn dĩ bị chính phủ Mỹ hay gây khó khănđối với Việt Nam Mỹ là một nền kinh tế tự do theo định nghĩa cho các doanh nghiệp nhưng thực tế là một thị trường “khó chơi” và chơi theo luật “cá lớn nuốt cá bé” Và đầy là thách thức rất lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam – chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ Điển hình là vụ cá tra cá basa Việt Nam bị kiện bán phá giá Ngày 17/6/2003 đã thông báo quyết định cuối cùng về vụ kiện cá tra, cá basa Theo đó, DOC cho rằng, DN Việt Nam đã bán phá giá sản phẩm cá tra, cá basa đông lạnh vào thị trường này Sản phẩm trên sẽ phải chịu thuế chống bán phá giá 44,66- 63,88% Đây là mức thuế bất hợp lý, bất bình đẳng trong xu thế giao dịch thương mại toàn cầu đang được tuân theo các chế tài của

WTO

Trang 11

Theo thông tin thu thập được , ngày 6/8, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt NamnVASEP cho biết thêm, ngày 5/8, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã chính thức công bố khoản trợ cấp 34 triệu USD của Chính phủ Mỹ hỗ trợ cho các chủ trại cá nheo Mỹ về các thiệt hại do

"thời tiết không thuận và thiên tai" trong các năm 2001-2002 Như vậy, một mặt trong đơn kiện nộp cho Bộ Thương mại Mỹ (DOC) và Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC), Hiệp hội các chủ trại cá nheo Mỹ (CFA) cố tình che giấu thực tế,

đưa ra các bằng chứng giả, đổ tội cho các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá filet đông lạnh cá tra, cá basa, gây thiệt hại vật chất cho ngành nuôi cá nheo Mỹ, để các cơ quan này kết luận sai, áp thuế chống bán phágiá trừng phạt Việt Nam Mặt khác, CFA lại chứng minh với USDA rằng thiệt hại của họ là do thiên tai để xin được hưởng tiền trợ cấp của Chính phủ Mỹ VASEP cho rằng việc xử lý của các cơ quan chính

quyền Mỹ cũng tỏ ra không thống nhất, thiếu phối hợp, mang nặng tính bảo hộ sản xuất trong nước, trái với

tinh thần tự do thương mại và cạnh tranh bình đẳng

Nhìn rộng ra, mức thuế cao trên không chỉ đe doạ trực tiếp đến người nuôi cá tra, basa, mà các DN đang xuất mặt hàng này có nguy cơ mất thịtrường Mỹ, nơi vẫn tiêu thụ gần 50% lượng cá tra, basa của Việt Nam Việt Nam làm gì để vừa bảo vệ lợi ích của các nhà nuôi catfish Mỹ mà vẫn đưa được cá basa sang thị trường này?

Và qua đây, chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam có thêm những bài học về kinh nghiệm khi tham gia vào nền kinh tế toàn cầu Một thị

trường rộng mở nhưng đầy khó khăn thách thức, không phải cứ mặt hàng xuất khẩu của ta ngon, rẻ đã là một lợi thế Sau sự kiện này, chính phủ Việt Nam, đặc biệt các tham tá thương mại Việt Nam nên cung cấp cho các doanh nghiệp Việt nhiều thông tin hơn về thị trường quốc tế cũng như những pháp định của kinh tế nước ngoài, bên cạnh đó có

những chính sách hỗ trợ bảo trợ giúp đỡ các doanh nghiệp Việt xuât khẩu, để trong những tình huống bất ngờ như vụ kiện cá basa, chúng ta

có thể ứng phó kip thời Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt nói chung cần

Trang 12

có sự kết hợp chặt chẽ với các vùng cung cấp nguyên nhiên liệu để đảm bảo quy trình quản lý tốt, đảm bảo chất lượng và bảo vệ lợi ích người nuôi trồng

II: Phân tích tiến trình phát triển của nền kinh tế Mỹ thông qua GDP, tỷ

và nông nghiệp Do nền kinh tế ngày càng phát triển phức tạp hơn, các

số liệu thống kê cũng

cho thấy một xu thế mang tính dài hạn rõ nét trong thế kỷ qua là chuyển

từ tự hoạt động kinh doanh sang làm việc cho những người khác

Từ một nước nông nghiệp, nước Mỹ ngày nay được đô thị hóa hơn rất nhiều so với cách đây 100 năm, thậm chí chỉ 50 năm Dịch vụ ngày càngtrở nên quan trọng so với ngành công nghiệp truyền thống Trong một sốngành công nghiệp, sản xuất hàng loạt đã nhường chỗ cho sản xuất theo phương thức chuyên môn hóa chú trọng đến tính đa dạng của sản phẩm

và thị hiếu thay đổi của khách hàng

Nước Mỹ bước vào thế kỷ XXI với một nền kinh tế lớn hơn bao giờ hết

và cùng với nhiều số liệu đánh giá là thành công chưa từng có Nó

không những phải kinh qua hai cuộc chiến tranh thế giới và sự suy thoái toàn cầu trong nửa đầu thế kỷ XX, mà còn phải vượt qua những thách thức từ cuộc Chiến tranh Lạnh trong 40 năm với Liên Xô cho đến những

Trang 13

đợt lạm phát sâu sắc, thất nghiệp cao, và thâm hụt ngân sách nặng nề củachính phủ trong nửa cuối thế kỷ XX Nước Mỹ cuối cùng đã có được một giai đoạn ổn định kinh tế vào những năm 1990: giá cả ổn định, thất nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong vòng gần 30 năm qua, chính phủ công bố thặng dư ngân sách, và thị trường chứng khoán tăng vọt chưa từng thấy

Năm 1998, tổng sản phẩm quốc nội của Mỹ - gồm toàn bộ sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong nước - đạt trên 8,5 nghìn tỷ USD Mặc dù chiếm chưa đến 5% dân số thế giới, nhưng nước Mỹ lại chiếm tới hơn 25% sản lượng kinh tế toàn thế giới Nhật Bản, nước có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, cũng chỉ tạo ra gần một nửa sản lượng trên

Trong khi nền kinh tế Nhật Bản và nhiều nền kinh tế khác vật lộn với tăng trưởng chậm và các vấn đề khác vào những năm 1990 thì nền kinh

tế Mỹ lại có được thời kỳ phát triển liên tục và kéo dài nhất trong lịch sửcủa mình

Nhưng, Nền kinh tế này cũng phải đối mặt với những thách thức đang diễn ra liên tục trong dài hạn Mặc dù nhiều người Mỹ có sự bảo đảm về kinh tế và một số người tích lũy được rất nhiều của cải, nhưng còn một

số lượng đáng kể - đặc biệt là các bà mẹ không chồng cùng con cái họ - tiếp tục sống trong cảnh nghèo khó Chênh lệch về của cải, tuy không cao như một số nước khác, nhưng cũng lớn hơn so với rất nhiều nước

Sự hội nhập kinh tế toàn cầu mang đến những bất ổn nhất định bên cạnh các lợi thế Đặc biệt, các ngành công nghiệp chế tạo truyền thống sa sút, quốc gia bị thâm hụt thương mại lớn và dường như không thể đảo ngượcđược trong buôn bán với các nước khác

1.2: Phân tích tình hình nền kinh tế Mỹ qua những con số

Những số liệu chỉ giúp đánh giá tình trạng lành mạnh của nền kinh tế, nhưng chúng không đo được hết mọi phương diện của phúc lợi quốc gia.GDP cho biết giá trị thị trường của hàng hóa và dịch vụ mà một nền kinh

tế tạo ra, nhưng nó không đo được chất lượng cuộc sống của một quốc gia và một vài biến số quan trọng - ví dụ như sự bình an và hạnh phúc cá

Trang 14

nhân, hoặc môi trường trong sạch hay sức khỏe tốt - hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của nó.

-Tốc độ tăng trưởng Hoa Kỳ GDP:

Các Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở Hoa Kỳ mở rộng 3,2 phần trăm trong quý IV năm 2010 so với quý trước đó Từ năm 1947 đến năm 2010trung bình của Hoa Kỳ tăng trưởng GDP hàng quý đã được 3,30 phần trăm đạt mức cao lịch sử 17,20 phần trăm trong tháng ba năm 1950 và

kỷ lục ở mức thấp -10,40 phần trăm trong tháng ba năm 1958 Nền kinh

tế của Hoa Kỳ là lớn nhất trên thế giới Hoa Kỳ là một nền kinh tế thị trường theo định hướng mà các cá nhân và công ty kinh doanh làm cho hầu hết các quyết định của chính phủ liên bang và tiểu bang cần thiết mua hàng hoá và dịch vụ chủ yếu trong thị trường tư nhân

-Tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ

Tỷ lệ thất nghiệp ở Hoa Kỳ theo báo cáo trong tháng Giêng năm 2011 đạt 9 % Từ năm 1948 đến năm 2010 Tỷ lệ thất nghiệp của Hoa Kỳ trung bình là 5,70 % đạt mức cao lịch sử 10,80 % trong tháng mười năm

1982 và ghi lại mức thấp 2,50 % trong tháng Năm của năm 1953 Các lực lượng lao động được định nghĩa là số lượng người làm việc cộng vớiviệc số người thất nghiệp nhưng đang tìm kiếm Các lực lượng không thuộc lực lượng lao động bao gồm những người không tìm kiếm việc làm, những người được thể chế hoá và những người phục vụ trong quân đội

-Ngoài tỷ lệ thất nghiệp, ta đề cập thêm Tỷ lệ người sống dưới mức nghèo để hiểu thêm về chất lượng cuộc sống của người dân Mỹ Tỷ lệ này giảm từ 22,4% năm 1959 xuống còn 11,4% năm 1978 Từ đó đến nay nó dao động trong phạm vi tương đối hẹp Năm 1998, nó ở mức 12,7% Nhưng thực tế các số liệu tổng quan còn che giấu tình trạng nghèo đói nghiêm trọng hơn rất nhiều Năm 1998, hơn một phần tư số người Mỹ gốc Phi (26,1%) sống trong nghèo đói; mặc dù cao một cách đáng lo ngại, nhưng số liệu này đã cho thấy một bước cải thiện từ năm

1979, khi có tới 31% người da đen chính thức được coi là nghèo, và đây

Trang 15

là tỷ lệ nghèo đói thấp nhất của nhóm người này kể từ năm 1959 Các gia đình do các bà mẹ độc thân làm chủ hộ đặc biệt dễ lâm vào cảnh nghèo túng Một phần do hiện tượng này mà năm 1997, gần một phần năm trẻ em (18,9%) thuộc diện nghèo Tỷ lệ nghèo của trẻ em Mỹ gốc Phi là 36,7%, của trẻ em gốc Tây Ban Nha là 34,4%

-Dù trong trường hợp nào, một điều rất rõ rang ta nhận ra là thực tế hệ thống kinh tế của Mỹ không phân phối công bằng của cải làm ra Theo Viện chính sách kinh tế, một tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại

Washington, năm 1997, một phần năm số gia đình Mỹ giàu nhất chiếm tới 47,2% thu nhập quốc dân Ngược lại, một phần năm số gia đình

nghèo nhất chỉ chiếm 4,2% thu nhập quốc dân, và 40% dân số nghèo nhất chỉ chiếm 14%

thu nhập quốc dân

-Mặc dù nền kinh tế Mỹ nhìn chung là thịnh vượng, nhưng những lo lắng về tình trạng bất bình đẳng vẫn tiếp tục kéo dài Cạnh tranh toàn cầu tăng lên đe dọa các công nhân trong nhiều ngành sản xuất công nghiệp truyền thống, và đồng lương của họ bị o ép

Cùng lúc đó, chính phủ liên bang lại nới lỏng các chính sách thuế, nhữngchính sách tìm cách hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp bằng chi phí của các gia đình giàu, và nó cũng cắt giảm chi tiêu cho nhiều chương trình xã hội trong nước trợ giúp người có hoàn cảnh khó khăn

2: Nền kinh tế Mỹ năm 2010, và những tháng đầu năm 2011

-Theo NBER - Cục Nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ (NBER), một tổ chức phi lợi luận của các nhà kinh tế hàng đầu đến từ các hãng nghiên cứu, trường đại học và một số cơ quan khác Cơ quan này luôn chịu trách nhiệm tính ngày bắt đầu và kết thúc của mỗi cuộc suy thoái kinh

tế, chính thức công bố kinh tế Mỹ bước vào suy thoái kể từ tháng

12/2007 đến tháng 6/2009 đã chấm dứt Theo một số ý kiến kết luận rằng từ đó đến nay mọi chuyện đã cải thiện và rằng nền kinh tế đã tăng trưởng lại ở tốc độ bình thường, nếu kinh tế Mỹ trong tương lai có đi

Trang 16

xuống sẽ là một đợt suy thoái mới chứ không phải tiếp diễn suy thoái đã bắt đầu vào tháng 12/2007

-Nhưng có một số ý kiến khác, như Ông Robert Hall, giáo sư kinh tế đại học

Stnadford kiêm chuyên gia cao cấp tại NBER, cho rằng: “Kinh tế Mỹ vẫn đang tăng trưởng, nhưng ở tốc độ thấp đáng thất vọng Hiện còn quásớm để tính toán toàn bộ thiệt hại liên quan đến thời kỳ kinh tế đi xuống vừa qua bởi chúng ta chưa thoát ra khỏi những ảnh hưởng xấu Rõ ràng, kinh tế trong khoảng thời gian trên đi xuống chưa từng có tính từ Đại Khủng hoảng 1930.”

Ông Bruce Kasman, chuyên gia kinh tế trưởng tại JP Morgan Chase, nhận xét: “Kinh tế Mỹ vẫn phục hồi mong manh và rủi ro đối với kinh tếtoàn cầu không nhỏ Chúng ta thấy kinh tế vẫn đang tăng trưởng nhưng rất yếu Sau 1 năm nữa, tỷ lệ thất nghiệp vẫn sẽ không mấy thay đổi so với hiện nay.”

Ông Kasman dự báo khả năng kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái lần 2 là khoảng 25%

-Nói chung, nền kinh tế Mỹ sau suy thoái kinh tế bắt đầu từ năm 2007 đãbước đầu ổn định, dù tốc độ hồi phục chậm

Tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ trong quý thứ 4 năm 2010, theo Cục Phân tích kinh tế: tổng sản phẩm quốc nội thức tế tăng ở mức hàng năm

là 3,2% trong quý 4 năm 2010, (có nghĩa là, từ quý III đến quý IV), theo

"trước" dự toán phát hành của Cục phân tích kinh tế Trong quý 3, GDP thực tăng 2,6%

Việc tăng GDP thực tế trong quý 4 chủ yếu phản ánh đóng góp tích cực

từ các khoản chi tiêu dùng cá nhân (PCE), xuất khẩu; phản ánh sự suy giảm mạnh nhập khẩu, tăng tốc trong PCE, và xu hướng tăng một trong các khoản đầu tư cố định ở phần được bù đắp bởi suy giảm trong đầu tư

tư nhân và chi tiêu chính phủ liên bang và giảm tốc độ một trong các đầu

tư cố định nơi ít dân cư sinh sống Trước đó, Theo Bộ Thương mại Mỹ, tăng trưởng kinh tế Mỹ quý 2/2010 chỉ còn 1,6% từ mức 3,7% của quý

Trang 17

1/2010 và 5% trong quý 4/2009 Kinh tế Mỹ đã hồi phục được 70% so với mức trước khủng hoảng

Lakshman Achuthan, giám đốc điều hành tại Viện nghiên cứu chu kỳ kinh tế (ECRI) và là chuyên gia về suy thoái kinh tế, nhận xét kinh tế

Mỹ hiện đã hồi phục được 70% so với trước khủng hoảng

Tuy nhiên ông cũng thừa nhận đà phục hồi lần này không giống những lần phục hồi trước đây Hiện kinh tế Mỹ mới chỉ lấy lại được 9% số lượng việc làm đã mất trong thời kỳ suy thoái kinh tế

Khả năng kinh tế rơi vào suy thoái lần 2 khá hiếm Lần gần nhất kinh tế

Mỹ suy thoái lần 2 là vào năm 1981 – 1982 sau khi kinh tế suy thoái vàonăm 1980 Chỉ số giá cho việc mua bán chung trong nước tăng 2,1% trong quý thứ tư, so với mức tăng từ 0,7% trong quý ba Chi tiêu dùng cánhân tăng 4,4% trong quý thứ tư, so với mức tăng 2,4 % trong quý ba

Dù Lạm phát Mỹ tăng 1,5% trong tháng mười hai, năm 2010, nhưng Tỷ

lệ thất nghiệp vẫn đã giảm 0,4 % trong tháng mười hai, và việc làm phi nông nghiệp tăng lương 103.000 (Cục Thống kê Lao động Mỹ báo cáo) Việc làm tăng trong giải trí và khách sạn và trong chăm sóc sức khỏe, nhưng rất ít thay đổi trong ngành công nghiệp lớn khác Cũng tình trạng tương tự cuối năm 2010, Theo tính toán của Cục thống kê Lao động của

Mỹ, Lạm phát Mỹ tăng 1,6% trong tháng Giêng, năm 2011, nhưng Tỷ lệthất nghiệp Mỹ giảm đến 9% trong tháng Giêng 2011

3: Mỹ và những cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong lịch sử

Dù là cường quốc kinh tế số một hiện nay trên thế giới, nhưng nền kinh

tế Mỹ cũng đã phải trải qua những cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong lịch

sử nước Mỹ Cường quốc kinh tế số một thế giới không lạ lẫm với cụm

từ suy thoái vì từ sau thế chiến thứ nhất tới nay, đã 8 lần người dân nướcnày sống trong tình cảnh này So sánh những lần kinh tế Mỹ suy thoái tính từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai

3.1: Suy thoái kinh tế Mỹ bắt đầu vào tháng 12/2007 và kết thúc vào tháng

Trang 18

6/2009, kéo dài 18 tháng Suy thoái kinh tế Mỹ tồi tệ nhất trong 70 năm, bắt đầu từ tháng 12/2007 đã kết thúc vào tháng 6/2009 Từ quý 4/2007 cho đến quý 2/2009, kinh tế Mỹ tăng trưởng âm 4,1%, mức đi xuống tồi

tệ nhất tính từ thập niên 1930 Chi tiêu của các hộ gia đình trong năm

2009 giảm 1,2% và như vậy có mức giảm sâu nhất tính từ năm 1942 Năm 2007, đánh dấu bởi sự sụp đổ của hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn trên thị trường nhà đất, sự đi xuống của thị trường tài chính, suy thoái kinh tế Mỹ lần vừa qua kéo dài 18 tháng, dài hơn thời kỳ kinh tế

Mỹ đi xuống sau thời kỳ Đại Khủng hoảng 1929

– 1933 Hơn 8 triệu người Mỹ đã mất việc trong thời gian 18 tháng kinh

tế Mỹ suy thoái vừa qua, hậu quả sẽ mất nhiều năm mới có thể khắc phục được

Nước Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới vì vậy sự suy sụp của nó dẫn đến sự suy thoái nền kinh tế cả thế giới Và đến nay thế giới vẫn đang gồng mình để tìm lại những con số tăng trưởng GDP cao như trước đây

và hơn thế

Nền kinh tế suy thoái, chi tiêu người dân thắt chặt, họ thực dụng hơn trong mua hàng – chính là bất lợi lớn đối với tất cả các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, rất nhiều doanh nghiệp

đã và đang phá sản, và khó khăn này các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ cũng phải gánh chịu nặng nề

3.2: Suy thoái đầu năm 2000

Được châm ngòi bởi sự đổ vỡ của "khủng hoảng chấm com", vụ tấn công khủng bố 11/9, và scandal kiểm toán, cuộc suy thoái kinh tế tại Mỹtrong 3 năm từ 2001 tới 2003 không chỉ ảnh hưởng lớn đến kinh tế Mỹ,

mà còn tới nhiều quốc gia châu Âu Mọi chuyện được châm ngòi bởi sự

đổ vỡ hàng loạt của các công ty trong cuộc "khủng hoảng chấm com", tạo ra một làn sóng phá sản của các công ty công nghệ và tin học Kinh

tế Mỹ tiếp tục bị giáng mộtđòn mạnh khi vụ khủng bố 11/9/2001 nổ ra,

từ đó khiến chỉ số công nghiệp Dow Jones và các chỉ báo chính của thị

Trang 19

trường chứng khoán trải qua

tuần tồi tệ nhất trong lích sử

3.3: Suy thoái cuối thập kỷ 90

Ngày thứ hai đen tối, tháng 9/1987, đà sụt giảm chưa từng có 22,6% trênchỉ số Dow Jones là phát súng báo hiệu thời kỳ suy thoái tồi tệ nước Mỹ.Chỉ trong ba năm, sự sụp đổ của thị trường tín dụng, và cho vay đã đe dọa tiền tiết kiệm của hàng triệu người dân Một loạt cường quốc chịu nhiều ảnh hưởng của Mỹ như Canada, Australia, Nhật, hay Anh cũng bị cuốn theo vòng xoáy suy thoái Dù thị trường chứng khoán hồi phục khánhanh nhưng thị trường bất động sản, lao động, giá năng lượng, cán cân thương mại và GDP của Mỹ và một số quốc gia khác vẫn đi xuống cho tới 2 năm sau khủng hoảng

3.4: Suy thoái đầu những năm 1980

Cuộc cách mạng tại Iran đã đẩy giá dầu thế giới tăng với tốc độ chóng mặt trong thập niêm 70 Đây chính là tiền đề cho cuộc khủng hoảng kéo dàn 30 tháng tại Mỹ và được coi là lần suy thoái tồi tệ nhất kể từ đại khủng hoảng 1930 Giá năng lượng đi lên kéo theo lạm phát gia tăng, đạtđỉnh 13,5% trong năm 1980, đã buộc Cục Dự trữ Liên bang

(FED) phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ

Không chỉ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng một cách đáng lo ngại với từ mức 5,6% của tháng 5/1979 lên 7,5% một năm sau đó Bất kể kinh tế bắt đầu hồi phục trong năm 1981, tỷ lệ thất nghiệp vẫn được duy trì ở mức cao kỷ lục 7,5% và đạt mức lịch sử 10,8% trong năm 1982 Hậu quả của suy thoái lên ngành công nghiệp xe hơi, nhà đất, và sản xuất thép tồi tệ đến nỗi các ngành trên liên tục sụt giảm trong 10 năm sau, cho tới tận khi cuộc khủng hoảng tiếp theo kết thúc

3.5: Khủng hoảng dầu mỏ những năm 1973

Bắt đầu vào ngày 15/9/1975, khủng hoảng dầu mỏ là hậu quả của việc các thành viên OAPEC, gồm tổ chức xuất khẩu dầu mỏ OPEC và hai nước Ai Cập và Syria, thực hiện cấm vận dầu mỏ với Mỹ và các quốc

Trang 20

gia ủng hộ Israel trong cuộc chiến với Ai Cập và Syria Trước đó vào năm 1971, việc Mỹ rút khỏi Chế độ tiền tệ Bretton Woods, hệ thống quyđịnh chung giữa các cường quốc, trong đó giá vàng chỉ được neo giữ duy nhất vào đôla với giá 35 đôla một ounce, và tiến hành thả nổi đồng đôla là tiền đề cho cuộc khủng

hoảng Lý do là hệ thống Bretton Woods đã giới hạn hoạt động chi tiêu của Mỹ và thế giới do lượng vàng của là có hạn trong khi nhu cầu sử dụng tiền lại lớn hơn rất nhiều Việc Mỹ in tiền phục vụ cho việc tài trợ cho Chiến tranh Việt Nam hoặc viện trợ cho các nước khác đã khiến đôla mất giá, và tăng lạm phát Hậu quả của việc cấm vận dầu lửa là giá dầu tại thị trường thế giới đã bị đội lên gấp 5 lần từ dưới 20 đôla một thùng vào 1971 lên 100 đôla một thùng vào 1979, giá xăng trung bình tại

Mỹ cũng tăng 86% chỉ trong 1 năm từ 1973-1974 Cuộc khủng hoảng đồng thời

tác động xấu đến thị trường tài chính, chứng khoán toàn cầu, vốn đã chịunhiều áp lực sau sự sụp đổ của Chế độ Bretton Woods Thị trường chứngkhoán Mỹ bốc hơi 97 tỷ đôla, số tiền khổng lồ vào thời điểm đó, chỉ sau một tháng rưỡi Suy thoái và làm phát diễn ra tràn lan gây ảnh hưởng tới kinh tế Mỹ và nhiều quốc gia khác cho tới tận thập niên 80

3.6: Suy thoái năm 1958

Trong 2 năm trước khi khủng hoảng diễn ra, chính sách thắt chặt tiền tệ

và cắt giảm đầu tư tại Mỹ khiến tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Tại Detroit, trái tim của ngành công nghiệp xe hơi, tỷ lệ thất nghiệp đạt mức 20% trong tháng 4/1958 Doanh số bán xe giảm tới 31% trong năm 1957, và biến năm 1958 thành năm tồi tệ nhất cho các nhà sản xuất xe kể từ sau

kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần II Nhu cầu nhập khẩu tại Mỹ vẫn caotrong khi châu Âu lại giảm nhập khẩu từ Mỹ khiến thâm hụt thương mại leo thang Tệ hơn nữa, thay vì mặt bằng giá giảm, điều thường xảy ra khisuy thoái, giá cả trong giai đoạn 1957 đến 1959 lại leo thang Thực tại trên đã gây không ít hoang mang cho các nhà kinh tế trong quãng thời gian này

Trang 21

3.7: Suy thoái năm 1953

Dù chỉ kéo dài trong 10 tháng, bắt đầu từ quý II /1953 tới quý I/1954, cuộc suy thoái năm 1953 vẫn gây thiệt hại ước tính lên tới 56 tỷ đôla chonước Mỹ Nguyên nhân suy thoái bắt đầu từ một số biến động chính trị, kinh tế những năm đầu thập niên 50 Trong đó, lạm phát leo thang bắt đầu từ 1951, sau chiến tranh Triều Tiên, khiến lãnh đạo FED dự đoán năm 1952 lạm phát sẽ còn cao hơn Trước tình hình đó, FED đã áp dụng chính sách tài khóa thắt chặt, thể hiện ở việc cắt giảm chi tiêu Chính phủ, tăng thuế, lãi suất, và tích lũy dự trữ Chính các biện pháp mạnh taytrên đã tạo ra sự bi quan trong người dân, dẫn đến việc giảm chi tiêu tăng tiết kiệm, gây suy giảm tổng cầu của nền kinh tế

3.8: Suy thoái năm 1947

Lần suy thoái này của nước Mỹ bắt nguồn từ những bước tiền thần tốc của giai đoạn hồi phục kinh tế sau chíến tranh thế giới Tính tới đầu năm

1947, nước Mỹ chiếm tới 50% tổng sản lượng nông nghiệp toàn thế giới,trước chiến tranh thế giới con số này chỉ là 30%, tỷ lệ thất nghiệp của nước Mỹ cũng ở mức thấp kỷ lục khi gần như 100% người lao động có việc làm Năm 1947 chính là giai đoạn kinh tế Mỹ đạt đỉnh của chu kỳ tăng trưởng sau chiến tranh Cũng từ thời điểm này, ngoại trừ lương thực, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa nói chung của nước Mỹ đã trở nên bão hòa do hàng hóa được sản xuất nhiều tới mức thừa mứa Dù Tổng thống Truman cũng như nội các của ông đã dự đoán được rủi ro từ lạm phát cũng như những bất ổn kinh tế, nhưng lãnh đạo nước Mỹ lại không tính tới lạm phát gia tăng tại phần còn lại của thế giới Dù hậu quả của cuộc suy thoái 1947 là không quá tồi tệ nhưng nó cũng đủ gây trì trệ kinh tế, khiến nhiều doanh nghiệp phá sản cũng như tỷ lệ thất nghiệp leo thang.3.9: Đại suy thoái năm 1930

Cuộc đại suy thoái hay còn gọi là đại khủng hoảng diễn ra cách đây đã gần 8 thập kỷ nhưng vẫn ghi dấu ấn là giai đoạn suy sụp kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại Bắt đầu vào năm 1929 và kết thúc vào thởi

Ngày đăng: 11/04/2018, 22:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w