1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CỦA TRẺ EM 5 - 6 TUỔI TRƢỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC

63 210 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG Số bảng biểu Bảng 1.1 Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trường mầm non trong những năm gần đây 6 Bảng 1.2 Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

ĐỖ THỊ THU HẰNG

ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CỦA TRẺ EM 5 - 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục thể chất

Người hướng dẫn khoa học

TS LÊ TRƯỜNG SƠN CHẤN HẢI

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Đỗ Thị Thu Hằng

Sinh viên: Lớp K36B - Khoa Giáo dục Tiểu học

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu, số liệu được trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung thực và độc lập với kết quả của tác giả khác

Hà Nội, ngày 23 tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Đỗ Thị Thu Hằng

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐHSP : Đại học Sư phạm GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số bảng

biểu

Bảng 1.1 Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trường

mầm non trong những năm gần đây

6

Bảng 1.2 Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trẻ

trong những năm gần đây

7

Bảng 1.3 Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số GVMN

trong những năm gần đây

7

Bảng 1.6 Nội dung tập luyện các kỹ năng vận động cơ bản và phát

triển các tố chất trong vận động cho trẻ 5 - 6 tuổi

Bảng 3.3 Kế hoạch giảng dạy TCVĐ nhằm nâng cao năng lực phát

triển thể chất cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Hoa Hồng

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài 4

1.1.1 Vị trí, vai trò của GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân 4

1.1.2 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về GDMN 4

1.1.3 Hệ thống GDMN 6

1.2 Đặc điểm GDMN 8

1.2.1 Giáo dục các kỹ xảo và thói quen vệ sinh 8

1.2.2 Tổ chức cho trẻ ăn 9

1.2.3 Tổ chức cho trẻ ngủ 10

1.2.4 Sự phát triển vận động cho trẻ 11

1.2.5 Tổ chức chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mẫu giáo 13

1.3 GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non 14

1.3.1 Chương trình GDTC cho trẻ mầm non 14

1.3.2 Tổ chức GDTC cho trẻ em 5 - 6 tuổi trường mầm non trên địa bàn Thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc 22

1.4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu đề tài 26

Chương 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP, TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 27

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 27

2.2 Các phương pháp nghiên cứu 27

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 27

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 27

2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 28

2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 28

2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 30

Trang 6

2.2.6 Phương pháp toán học thống kê 30

2.3 Tổ chức nghiên cứu 32

2.3.1 Thời gian nghiên cứu 32

2.3.2 Đối tượng nghiên cứu 32

2.3.3 Địa điểm nghiên cứu 32

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đánh giá thực trạng năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 - 6 tuổi trường mầm non Hoa Hồng Phúc Yên - Vĩnh Phúc 33

3.1.1 Thực trạng tổ chức hoạt động GDTC của trường mầm non Hoa Hồng Phúc Yên - Vĩnh Phúc 33

3.1.2 Đánh giá năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 - 6 tuổi trường mầm non Hoa Hồng Phúc Yên - Vĩnh Phúc 38

3.2 Đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực phát triển thể chất cho trẻ em 5 - 6 tuổi trường mầm non Hoa Hồng Phúc Yên - Vĩnh Phúc 39

3.2.1 Cơ sở lựa chọn một số TCVĐ nhằm nâng cao năng lực phát triển thể chất cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Hoa Hồng 39

3.2.2 Kế hoạch tổ chức TN một số TCVĐ nhằm nâng cao năng lực phát triển thể chất cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Hoa Hồng 43

3.2.3 Tổ chức TN 44

3.2.4 Đánh giá kết quả TN 45

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Một quốc gia có nền giáo dục phát triển là một quốc gia có nền kinh tế phát triển hết sức hùng mạnh Vì vậy, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển, đảm bảo xây dựng một thế hệ kế tiếp có đầy đủ những phẩm chất

về tri thức, năng lực, trình độ để phục vụ cho đất nước Tại đại hội Đảng khóa

IX đã xác định: “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển Giáo dục - Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người”

[9] Vì vậy hiện nay giáo dục đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội đặc biệt là GDMN

GDMN không chỉ chiếm một vị trí vô cùng quan trọng mà nó còn là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân là bậc học đặt nền móng cho

sự phát triển nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chăm sóc giáo dục trẻ em ngay từ những tháng năm đầu tiên của cuộc sống là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm

lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người chủ nhân tương lai của đất nước Nếu ví rằng giáo dục con người là cuộc chạy đua việt dã đầy khó khăn gian khổ thì GDMN chính là giai đoạn khởi động, nếu khởi động tốt chắc chắn vận động viên sẽ đạt được thành tích tốt Việt Nam đang có một bước chuyển mình thay đổi hết sức mạnh mẽ trên con đường đi lên xây dựng cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc

Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai, trẻ em là công dân của xã hội, là thế hệ tương lai của đất nước nên ngay từ thủa lọt lòng chúng ta cần chăm sóc giáo dục trẻ thật chu đáo để trở thành hành trang vững chắc mà mỗi con người cần phải có để bước vào cuộc sống xã hội Và một yếu tố vô cùng quan trọng không thể thiếu trong hành trang ấy là nhiệm vụ GDTC cho trẻ Đặc biệt,

Trang 8

GDTC cho trẻ càng có ý nghĩa quan trọng hơn bởi trong Nghị quyết số 46 - NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe

nhân dân trong tình hình mới có ghi rõ: “Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp” [11] Do đó, GDTC cho trẻ em ở nước ta cần được tiến

hành một cách mạnh mẽ, toàn diện, cần được sự quan tâm của toàn xã hội, tạo điều kiện cho trẻ được phát triển tốt nhất

Đối với trẻ mầm non, khả năng tự nhận thức của trẻ còn hạn chế, do đó cần hình thành ở trẻ những nhu cầu, thói quen đến việc thực hiện bài tập thể chất hàng ngày, giáo dục lòng yêu thích rèn luyện thể dục sự hứng thú đến việc luyện tập Điều này sẽ giải quyết được những nhiệm vụ giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ và lao động cho trẻ mầm non sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động của hệ thần kinh, cơ xương, giúp cho các quá trình tâm lý như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy như quan sát, so sánh, tổng hợp, khái quát Ngoài ra còn củng cố ở trẻ những kiến thức không chỉ liên quan đến GDTC, mà còn thu nhận được những kiến thức về sự vật, hiện tượng xung quanh, những hiện tượng thiên nhiên và xã hội

Cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc, mất cân đối nên trẻ rất

dễ bị ảnh hưởng bởi những tác động của môi trường sống nếu không được chăm sóc giáo dục đúng đắn và có kế hoạch cụ thể sẽ rất dễ dẫn đến những thiếu sót trong sự phát triển cơ thể trẻ mà không thể khắc phục được Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây đã đặc biệt chú trọng đến công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, tình hình sức khỏe của trẻ còn nhiều

Trang 9

vấn đề đáng lo ngại Nhiều trẻ mắc bệnh còi xương, suy dinh dưỡng, các bệnh đường hô hấp, các bệnh đường ruột…các điều kiện đảm bảo và chăm sóc sức khỏe của trẻ còn nhiều thiếu thốn Cơ sở vật chất ở các trường và gia đình còn quá chật hẹp, chưa đảm bảo vệ sinh môi trường cho trẻ, ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt Vì vậy, GDTC cho trẻ em ở nước ta cần được tiến hành một cách mạnh mẽ toàn diện và cần được sự quan tâm ủng hộ của toàn xã hội, tạo điều kiện cho trẻ được phát triển một cách tốt nhất

Vì thế, là một GVMN tương lai, tôi rất quan tâm tới vấn đề phát triển

thể chất cho trẻ nên tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 - 6 tuổi trường mầm non trên địa bàn thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc”

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài

1.1.1 Vị trí, vai trò của GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.1.1.3 Chương trình GDMN

Chương trình GDMN thể hiện mục tiêu GDMN; cụ thể hóa các yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từng độ tuổi; quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hướng dẫn cách thức đánh giá sự phát triển của trẻ em ở tuổi mầm non

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành chương trình GDMN trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình GDMN

1.1.2 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về GDMN

Phát triển GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn nhân lực con người Đây là trách nhiệm của toàn

Trang 11

Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng [8]

Nhận thức được điều đó GDMN trong những năm gần đây luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, định hướng xác định mục tiêu, nhiệm

vụ giáo dục học sinh lứa tuổi mầm non Trong các Nghị quyết của Trung ương Đảng 2011 - 2014 về nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục và đào tạo đã nêu rõ: “…Kiên quyết giảm hợp lí nội dung chương trình học cho phù hợp với tâm sinh lí của học sinh bậc học mầm non và bậc học phổ thông…” [8]

Tư tưởng của Đảng và của Nhà nước về GDMN cũng được thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đó là “… Đổi mới mạnh

mẽ GDMN và giáo dục phổ thông Khẩn trương điều chỉnh, khắc phục tình trạng quá tải và thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông bảo đảm tính khoa học, cơ bản, phù hợp tâm lý lứa tuổi và điều kiện

cụ thể của Việt Nam…”, “… Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học Phát triển giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và hệ thống hướng nghiệp, dạy nghề…” [10]

Quan điểm chiến lược về GD&ĐT đến 2020 là thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định: Ở mọi bậc học, cấp học, ngành học nhất thiết không thể coi nhẹ việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho học sinh, tạo mọi điều kiện cho các em được rèn luyện thông qua các hoạt động, đặc biệt là hoạt động TDTT, để bản thân các em luôn có trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội [3]

Nhà nước coi GDMN là một bậc học cần thiết và bắt buộc phải có trong

hệ thống giáo dục Từ chỉ thị 53/CP của Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 12 tháng 8 năm 1966 đã xác định mục tiêu của GDMN “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt” Trong Nghị quyết số 14 NQ/TW ngày 11/1/1997 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ: “… kết hợp các biện pháp thể

Trang 12

dục, khoa học và những biện pháp y học hiện đại để bảo vệ sức khỏe và rèn luyện các cháu, làm cho thể chất của các cháu ngay từ bé đã được nuôi dưỡng

và phát triển tốt”

1.1.3 Hệ thống GDMN

- Trong những năm gần đây việc đầu tư cho cơ sở vật chất cho GDMN

đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm Đặc biệt hệ thống các trường lớp mầm non đang được xây dựng, sửa chữa và xây dựng mới Các trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc giáo dục trẻ cũng đang từng bước được bổ sung và hiện đại hóa cho phù hợp với yêu cầu giáo dục

- Theo số liệu của tổng cục thống kê từ năm 2007 - 2013 số trường

mầm non, số học sinh mầm non và số lượng GVMN tính đến hàng năm, được thể hiện ở các bảng 1.1, 1.2, 1.3

Bảng 1.1: Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trường mầm non trong những năm gần đây (Nguồn tổng cục thống kê)

Trang 13

được xây dựng và sửa chữa Các trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc giáo dục trẻ cũng đang từng bước được bổ sung và hiện đại hóa cho phù hợp với yêu cầu giáo dục

Bảng 1.2: Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trẻ trong những năm gần đây (Nguồn tổng cục thống kê)

Năm 2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011 2011-2012 2012-2013

Trẻ em

(cả nước) 3.195.731 3.305.391 3.409.823 3.599.663 3.873.445 4.148.356 Nhà trẻ 508.694 494.766 508.190 528.869 553.117 597.274 Mẫu giáo 2.687.037 2.810.625 2.901.633 3.070.794 3.320.328 3.551.082

Quy mô của GDMN ngày càng tăng thu hút hầu hết các cháu trong độ tuổi mầm non đến trường Theo số liệu thống kê ở bảng 1.2 cho thấy số trẻ mầm non trong cả nước tăng dần theo từng năm, năm học 2007 - 2008 ở nhà trẻ cả nước có 508.694 trẻ đến năm học 2012 - 2013 cả nước đã có 597.274 trẻ Đối với trẻ mẫu giáo năm học 2007 - 2008 cả nước có 2.687.037 trẻ đến năm học 2012 - 2013 cả nước đã có 3.551.082 trẻ

Bảng 1.3: Bảng số liệu “Giáo giáo dục mầm non” thống kê về số GVMN trong những năm gần đây (Nguồn tổng cục thống kê)

Năm 2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011 2011-2012 2012-2013

Giáo viên

(cả nước) 172.978 183.443 195.852 211.225 229.724 244.478 Nhà trẻ 44.140 45.385 49.256 52.244 55.715 56.302 Mẫu giáo 128.838 138.058 146.596 158.981 174.009 188.176

Trang 14

Hệ thống các trường khoa sư phạm mầm non trong những năm gần đây đang từng bước được kiện toàn cho phù hợp với yêu cầu của nền giáo dục hội nhập Các chính sách chế độ cho GVMN cũng đang có sự quan tâm thích đáng của Đảng và Nhà nước Theo số liệu thống kê ở bảng 1.3 cho thấy số GVMN cả nước tăng dần theo từng năm học, 2007 - 2008 ở nhà trẻ cả nước

có 44.140 GV đến năm học 2012 - 2013 cả nước đã có 56.302 GV, ở mẫu giáo năm học 2007 - 2008 cả nước có 128.838 GV đến năm học 2012 - 2013

cả nước đã có 188.176 GV

1.2 Đặc điểm GDMN

1.2.1 Giáo dục các kỹ năng và thói quen vệ sinh

Giáo dục các kỹ năng và thói quen vệ sinh là một nội dung không thể thiếu được trong việc GDTC và hình thành nhân cách cho trẻ Trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày, trẻ cần đến nhiều loại thói quen khác nhau Đối với trẻ mầm non, cần giáo dục một số loại kỹ xảo và thói quen vệ sinh sau:

- Vệ sinh thân thể: Có thói quen tắm rửa và gìn giữ sạch sẽ thân thể (mặt, mũi, đầu, tóc, chân, tay…) Không cho tay, đồ chơi hoặc bất kỳ một vật

lạ nào vào mồm, biết rửa tay, lau mặt, xúc miệng, biết dùng mùi xoa,…

- Vệ sinh quần áo: Giữ gìn quần áo sạch sẽ, không quỳ, ngồi lê la nơi sàn đất bẩn (chẳng hạn lúc chơi hay đi dạo ngoài trời),…

- Vệ sinh ăn uống: Rửa tay trước khi ăn, không đánh rơi vãi thức ăn trong khi ăn, không nói chuyện khi ăn,…

- Vệ sinh môi trường: Đi vệ sinh đúng nơi quy định, không vứt rác bừa bãi, không làm bẩn môi trường…

Ở lứa tuổi này, hệ thần kinh trung ương có tính linh hoạt cao nhất với phản ứng của toàn bộ các tế bào giúp hình thành tốt những phản xạ có điều kiện, và do sự lặp lại thường xuyên hàng ngày mà hình thành được kỹ xảo và thói quen Để hình thành tốt kỹ xảo và thói quen văn hóa - vệ sinh cần phải:

Trang 15

- Sắp xếp các thao tác tạo nên hành động theo một thứ tự nhất định, hợp lý

- Lập kế hoạch thứ tự các hành động

- Từng bước giúp trẻ nhận thức được ý nghĩa và sự hợp lý của các thao tác, các hành động văn hóa - vệ sinh từ đó hình thành nhu cầu về thói quen văn hóa - vệ sinh

- Người lớn phải thực hiện mẫu mực tất cả những yêu cầu văn hóa - vệ sinh trước trẻ và nhắc nhở trẻ làm như người lớn

- Phối hợp với gia đình để tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được vận dụng, củng cố những kỹ năng đó ở gia đình để nhanh chóng hình thành nhu cầu thói quen văn hóa - vệ sinh

1.2.2 Tổ chức cho trẻ ăn

Ăn uống là một nhu cầu không thể thiếu được đối với mỗi con người

Để giúp cơ thể phát triển tốt, đảm bảo sự phát triển bình thường của các cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể cần tổ chức chế độ ăn uống hợp lý cho trẻ Hàng ngày, cần cho trẻ ăn đủ chất, đủ lượng và đặc biệt phải đảm bảo vệ sinh

an toàn thực phẩm cho trẻ

Chế độ ăn uống hợp lí được xây dựng trên cơ sở mức năng lượng cần thiết ở độ tuổi (quy ra calo), sự kết hợp các thành phần thức ăn theo cấu tạo các thành phần hóa học (protit, lipit, glucid, muối khoáng và vitamin) sự đa dạng của các loại thức ăn và cách nấu nướng

Để tổ chức bữa ăn cho trẻ tốt cần thực hiện đầy đủ các yêu cầu sau:

- Phòng ăn sạch sẽ, thoáng mát Bàn ghế sắp xếp thuận tiện cho trẻ ngồi xuống và đứng lên

- Bàn ăn, bát đĩa phù hợp với lứa tuổi và được xếp đặt có thẩm mỹ

- Trước khi ăn khoảng nửa giờ, cần kết thúc các buổi dạo chơi, các trò chơi kích thích Thời gian này cần các trò chơi, các giờ học yên tĩnh Tránh gây ra những kích thích thần kinh tạo ra nhiều ấn tượng

Trang 16

- Cho trẻ rửa tay, rửa mặt trước khi ăn Khi ngồi vào bàn được ăn ngay không phải chờ đợi lâu

Hình thành cho trẻ các kỹ năng ăn có văn hóa: không ăn vội vàng, nhai

kĩ Lấy thức ăn từng ít một Cầm thìa, bát, đũa đúng động tác, nhai nhỏ nhẹ, ngậm miệng không phát ra tiếng Với trẻ lớn cần phải có các kỹ năng sử dụng các đồ dùng nhà bếp, có kỹ năng tự phục vụ

Quá trình tổ chức cho trẻ ăn GV cần quan sát và phát hiện nguyên nhân trẻ ăn không ngon và đưa ra biện pháp khắc phục:

- Bình thường, với bữa ăn tổ chức đúng đắn trẻ ăn uống tự giác, vui vẻ

và ngon lành Song có nhiều trường hợp trẻ ghê sợ bữa ăn, có thái độ chống đối hay ăn uống uể oải Khi ấy, nếu dùng phương pháp ép buộc, thậm chí dỗ dành, khen ngợi đều là không đúng và gây tác hại, gây ra tâm lí tiêu cực với bữa ăn

- Cần tìm hiểu nguyên nhân làm cho trẻ ăn không ngon miệng, thậm chí ghê sợ bữa ăn để từ đó đưa ra cách khắc phục hợp lí có thể là:

+ Do thức ăn khô, khó nuốt

+ Do tình trạng sức khỏe không bình thường

+ Do thức ăn lạ với trẻ, không thích hợp với trẻ vì gia đình chưa bao giờ cho ăn

+ Do trẻ được nuông chiều ở nhà, khi ăn bao giờ cũng quen dỗ dành

Từ các nguyên nhân trên mà các nhà giáo dục đưa ra biện pháp khắc phục tích cực nhất cho trẻ

1.2.3 Tổ chức cho trẻ ngủ

Giấc ngủ của trẻ có ý nghĩa to lớn trong việc phục hồi khả năng làm việc của các tế bào thần kinh Một giấc ngủ sâu, đủ độ dài là phương tiện cơ bản để ngăn ngừa tình trạng quá mệt mỏi của hệ thần kinh và cơ thể Trẻ nhỏ thường ngủ nhiều hơn người lớn bởi hệ thần kinh của trẻ còn yếu, dễ mệt mỏi Chính

Trang 17

vì vậy, chúng ta cần tổ chức cho trẻ ngủ thật tốt để giúp trẻ khôi phục lại trạng thái bình thường của các tế bào thần kinh nhằm củng cố và tăng cường sức khoẻ cho trẻ

Một phương tiện cơ bản để tạo ra nhu cầu cần ngủ ở trẻ một cách đúng đắn là việc tạo ra một chế độ ngày - đêm thích hợp với lứa tuổi và những đặc điểm cá nhân trẻ Muốn vậy cần tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho trẻ ngủ nhanh, ngủ sâu vào những giờ giấc đã quy định cho giấc ngủ Cụ thể:

- Cần tạo ra trạng thái yên tĩnh cần thiết trước giờ ngủ, không có những hoạt động kích thích mạnh hưng phấn cho trẻ, không làm ồn, không để ánh sáng chói chiếu vào phòng ngủ, phòng ngủ không khí phải thoáng

- Cho trẻ ngủ đúng giờ tạo ra phản xạ có điều kiện thuận lợi cho việc rèn luyện thói quen ngủ nhanh, ngủ ngon giấc

- Không nên có những hình thức giao tiếp gây xúc cảm tiêu cực cho trẻ

và tạo ra hưng phấn cao ở vùng vỏ đại não

- Chăm sóc giấc ngủ cho trẻ: cho trẻ ngủ với thái độ ân cần, nằm đúng

tư thế, giúp đỡ riêng cho các trẻ yếu

- Gắn những công việc chuẩn bị đi ngủ với việc phát triển tính độc lập ngày càng cao ở các độ tuổi

- Cho trẻ ngủ và thức dậy theo nhóm mà không nên cho trẻ dậy đồng loạt Tốt nhất là rèn luyện cho trẻ tự mình thức dậy trong vòng 30 - 45 phút

- Cần có sự phối hợp giữa trường mẫu giáo và gia đình để tổ chức cho trẻ ngủ buổi tối ở gia đình tốt

1.2.4 Sự phát triển vận động cho trẻ

Vận động là nhu cầu tự nhiên của cơ thể, đặc biệt có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo Vận động làm cho các cơ bắp và toàn bộ cơ thể hoạt động, làm tăng cường sự hoạt động của hệ

Trang 18

hô hấp, tuần hoàn, tăng cường sự trao đổi chất và sức khoẻ cho trẻ Sự phát triển vận động được thực hiện thông qua nhiều hình thức phong phú phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo như: TCVĐ, thể dục buổi sáng, các tiết học thể dục, dạo chơi, lao động

Trong các TCVĐ, trong các tiết học thể dục, vận động khi đi dạo trẻ được giáo dục nhiều phẩm chất quý giá: sự định hướng trong không gian, nhanh nhẹn chính xác, vận động khéo léo, mở rộng quan hệ trong tập thể

Sự phát triển vận động gắn chặt với sự phát triển toàn bộ cơ thể và tâm

lí của trẻ Bởi vậy khi lập chương trình GDTC nhằm phát triển vận động cần dựa trên những cơ sở sau:

- Ưu tiên lựa chọn các bài tập, trò chơi hoạt động lao động có tác dụng chung đến cơ thể và động viên nhiều cơ bắp tham gia

- Chọn các bài tập, trò chơi gây hứng thú và đồng thời đặt ra trước trẻ một nhiệm vụ vừa sức

- Tăng cường các nhóm cơ bắp còn non yếu về mặt sinh lí và giáo dục

tư thế đúng

- Giáo dục kĩ năng vận động và vận động trong tập thể

Các TCVĐ, trò chơi thể thao là hình thức hoạt động hấp dẫn trẻ em và các tác động giáo dục nhiều vận động cơ bản và sự phối hợp các vận động ấy Các TCVĐ rất phong phú và đa dạng được lựa chọn trong chương trình phù hợp với từng độ tuổi Với trẻ nhỏ trò chơi bao gồm các vận động đơn giản với các luật chơi đơn giản Với các trẻ lớn thì nội dung vận động và luật chơi phức tạp hơn đòi hỏi các em phải hiểu điều kiện chơi, vận động chính xác và đúng luật chơi

Bài tập thể dục có tác dụng tốt đến hoạt động sinh lí cơ thể Cơ bắp được vận động thích hợp sẽ tăng cường quá trình trao đổi chất, tăng cường sự làm việc các cơ quan bên trong hoạt động của hệ tim mạch, hô hấp Đặc biệt

Trang 19

sự làm việc toàn vẹn của các tế bào thần kinh của não được tăng cường sẽ có tác động trở lại đối với toàn bộ vận động và hoạt động của các cơ quan

1.2.5 Tổ chức chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mẫu giáo

Chế độ sinh hoạt là điều kiện quan trọng để GDTC cho trẻ có kết quả Chế độ sinh hoạt là sự luân phiên rõ ràng và hợp lý các dạng hoạt động và nghỉ ngơi của trẻ trong một ngày, nhằm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu về ăn, ngủ,

vệ sinh cá nhân, hoạt động và nghỉ ngơi của trẻ theo lứa tuổi, đảm bảo trạng

thái cân bằng của hệ thần kinh, giúp cơ thể phát triển tốt

Chế độ sinh hoạt có ý nghĩa giáo dục đối với trẻ Do sự lặp lại thường xuyên các thao tác, các hoạt động trong thời gian nhất định và theo một trình

tự nhất định làm cho trẻ nắm được những sinh hoạt hợp lí, những kỹ năng văn hóa vệ sinh và hoạt động

- Chế độ sinh hoạt ở trường mẫu giáo được xây dựng trên cơ sở những đặc điểm sinh lí, tâm lí của trẻ, trên cơ sở những nhiệm vụ giáo dục và điều kiện sinh hoạt quyết định Cụ thể:

+ Chế độ sinh hoạt phải phù hợp lứa tuổi Đây là yêu cầu cơ bản của việc xây dựng chế độ sinh hoạt cần căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi của hoạt động thần kinh cao cấp, giới hạn làm việc của tế bào thần kinh vỏ não để định thời gian hoạt động, ngủ cho trẻ ở các nhiệm vụ giáo dục

+ Chế độ sinh hoạt phải được cố định Khi chế độ sinh hoạt đã được xác lập một cách khoa học thì cần phải thực hiện một cách cố định

Để đảm bảo chế độ sinh hoạt đúng ở trường mầm non cần phải chia trẻ thành các nhóm khác nhau theo lứa tuổi Mỗi nhóm tuổi là một lớp và có chế độ sinh hoạt riêng, nhằm đảm bảo cho việc giáo dục diễn ra trong ngày của trẻ là ăn ngủ, vui chơi, dạo chơi, lao động…Các hoạt động này được phân định rõ ràng trong chế độ sinh hoạt theo trình tự và thời gian khác nhau theo lứa tuổi chế độ sinh hoạt của trẻ được chương trình chăm sóc giáo dục do Bộ GD&ĐT ban hành được trình bày tại bảng 1.4

Trang 20

Bảng 1.4: Bảng chế độ sinh hoạt của trẻ

1 Đón trẻ, chơi tự do, thể dục sáng, điểm danh 1h15 1h15 1h

7 Vệ sinh, vận động nhẹ, ăn quà chiều 50ph 40ph 30ph

8 Sinh hoạt chiều (nêu gương bé ngoan

chiều thứ 7)

9 Hoạt động tự chọn, vệ sinh trả trẻ 1h20 1h20 1h20

Việc thực hiện chế độ sinh hoạt không nên quá cứng nhắc, với mỗi trẻ cần

có sự linh hoạt thích đáng Có thể xê dịch thời gian biểu ở mức độ cần thiết Chẳng hạn, khi trẻ đang quá ham chơi và mệt mỏi, thì có thể kéo dài giờ chơi chút ít, một trẻ cần ngủ sớm hay dậy sớm cũng được khi chúng có yêu cầu

1.3 GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non

1.3.1 Chương trình GDTC cho trẻ mầm non

1.3.1.1 Ý nghĩa của GDTC

Sức khỏe là cái vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để đảm bảo cho sự tăng trưởng của xã hội mai sau, việc phát triển nhân tố con người, nguồn nhân lực con người phải tiến hành không ngừng ngay từ khi trẻ mới sinh, thậm chí ngay từ khi trẻ còn là bào thai trong bụng mẹ Vì vậy, công tác

Trang 21

chăm sóc giáo dục trẻ đặc biệt là GDTC có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trẻ nói riêng và nguồn nhân lực nói chung

GDTC là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện Đó

là quá trình tác động chủ yếu vào cơ thể trẻ thông qua việc rèn luyện cơ thể và hình thành phát triển các kỹ năng vận động, tổ chức sinh hoạt và giữ gìn vệ sinh nhằm làm cơ thể phát triển hài hòa cân đối, sức khỏe được tăng cường làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện nhân cách

Sức khỏe là vốn quý giá nhất có ý nghĩa sống còn đối với con người, đặc biệt là trẻ dưới 6 tuổi Ở lứa tuổi này quá trình tăng trưởng của trẻ diễn ra rất nhanh chóng, nhưng cơ thể của trẻ lại quá non nớt, trẻ dễ chịu ảnh hưởng của những tác động bên ngoài, sức đề kháng của trẻ kém cho nên trẻ dễ mắc các loại bệnh nguy hiểm đến tính mạng Do vậy, trẻ chỉ có thể phát triển thể lực tốt nếu như người lớn chú ý đến việc chăm sóc giữ gìn sức khỏe, bảo vệ

hệ thần kinh khỏe mạnh cho trẻ Khi đứa trẻ khỏe mạnh, hiển nhiên sẽ có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển chung của trẻ

GDTC có mối quan hệ mật thiết tới việc giáo dục đức, trí, thẩm mỹ và lao động cho trẻ Bởi sự thành công của bất cứ hoạt động nào của trẻ đều phụ thuộc vào trạng thái sức khỏe của nó Nếu cơ thể khỏe mạnh sẽ làm cho trẻ yêu đời hơn, tri giác cái đẹp sâu sắc, tinh tế hơn và trẻ có khả năng tạo ra cái đẹp trong mọi hoạt động và đời sống GDTC còn có mối liên hệ chặt chẽ với giáo dục lao động Thể dục giúp trẻ có sức khỏe dẻo dai, vận động nhanh nhẹn, chính xác hơn, trẻ có cảm giác về nhịp điệu và sự định hướng không gian tốt hơn

1.3.1.2 Mục tiêu GDTC cho trẻ mẫu giáo

Căn cứ quyết định số 55 của Bộ GD&ĐT quy định mục tiêu kế hoạch đào tạo: GDMN “Hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN Việt Nam”:

Trang 22

- Khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa cân đối

- Giàu lòng thương, biết quan tâm, nhường nhịn giúp đỡ mọi người, gần gũi (Bố, mẹ, bạn bè, cô giáo), thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên

- Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp xung quanh

- Thông minh, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá, có một số kỹ năng sơ đẳng (quan sát, phân tích, tổng hợp, suy luận…) cần thiết để vào trường phổ thông, thích đi học [12]

Thực hiện mục tiêu GDMN là chuẩn bị tiền đề quan trọng đảm bảo những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục sau

1.3.1.3 Chương trình GDTC cho trẻ mầm non

* Phát triển vận động

- Tập động tác phát triển các nhóm cơ và hô hấp

- Tập các vận động cơ bản và phát triển tố chất vận động ban đầu

- Tập các cử động bàn tay, ngón tay

* Giáo dục dinh dưỡng - sức khỏe

- Tập luyện nền nếp, thói quen tốt trong sinh hoạt

- Làm quen với một số việc tự phục vụ, giữ gìn sức khỏe

- Nhận biết và tránh một số nguy cơ không an toàn

Nội dung chương trình GDTC mầm non theo lứa tuổi được trình bày tại bảng 1.5

Trang 23

Bảng 1.5: Nội dung GDTC theo độ tuổi (Ban hành kèm theo thông tư số: 17/2009/TT - BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ GD& ĐT)

Tập thụ động:

- Tay: giơ cao, đưa phía trước, đưa sang ngang

- Tập lẫy

- Tập trườn

- Chân: co duỗi chân, nâng 2 chân duỗi thẳng

- Tập trườn, xoay người theo các hướng

- Tập bò

- Chân: dang sang 2 bên, nhấc cao từng chân, 2 chân

- Lưng, bụng, lườn Cúi về phía trước, Nghiêng người sang

2 bên

- Tập trườn, bò qua vật cản

- Chân: dang sang 2 bên, ngồi xuống, đứng lên

(dưới dây/ gậy kê cao)

- Chân: ngồi xuống, đứng lên, co duỗi từng chân

- Lưng, bụng, lườn: cúi

về phía trước, nghiêng người sang 2 bên, vặn người sang 2 bên

- Tập bò, trườn:

+ Bò thẳng hướng và có vật trên lưng

+ Bò chui qua cổng + Bò, trườn qua vật cản

Trang 24

+ Đi theo hướng thẳng

+ Đi trong đường hẹp

+ Đi bước qua vật cản - Tập bước lên, xuống bậc thang

- Tập tung, ném:

+ Ngồi lăn bóng + Đứng ném, tung bóng

+ Ném bóng về phía trước

+ Ném bóng vào đích

- Xòe và nắm bàn tay

- Vẫy tay, cử động các ngón

- Xoay bàn tay và

cử động các ngón tay

- Co, duỗi ngón tay, đan ngón tay

- Xoa tay, chạm các đầu ngón tay với nhau, rót, nhào, khuấy, đảo, vò xé

Trang 25

1.3.1.4 Kế hoạch giáo dục phát triển thể chất cho trẻ 5 - 6 tuổi

Con người sinh ra và lớn lên ai cũng mong muốn được khỏe mạnh cơ thể phát triển cân đối hài hòa Song để đạt được điều đó họ cần giáo dục và tổ chức tập luyện thể dục một cách có hệ thống nhằm hoàn thiện dần về cơ thể ngay từ những năm tháng đầu tiên

* Mục tiêu GDTC cần đạt cuối độ tuổi

- Khỏe mạnh, cân nặng, chiều cao phát triển bình thường theo độ tuổi

- Giữ được thăng bằng khi đi trên ghế thể dục

- Có khả năng kiểm soát vận động thay đổi hướng chạy đúng theo mệnh lệnh

- Phối hợp chính xác khi tung/ném/đập - bắt bóng; có thể cắt lượng theo khuôn hình tự xâu dây giầy, cài, cởi séc mơ tuya

- Nhanh nhẹn, khéo léo trong chạy nhanh, bò theo đường rích rắc

- Thực hiện được 1 số việc đơn giản trong sinh hoạt hàng ngày

- Có một số thói quen, hành vi tốt trong ăn uống và vệ sinh phòng bệnh

- Biết tránh 1 số vật dụng nguy hiểm khi không an toàn

Nội dung kế hoạch phát triển thể chất cho trẻ 5 - 6 tuổi được thể hiện ở bảng 1.6

Bảng 1.6: Nội dung tập luyện các kỹ năng vận động cơ bản và phát triển các tố chất trong vận động cho trẻ 5 - 6 tuổi

- Đi bằng mép ngoài bàn chân

- Đi trên dây (dây đặt trên đất)

- Đi trên ván kẻ dốc

- Đi nối bàn chân tiến, lùi

- Đi thay đổi tốc độ theo hiệu lệnh

Trang 26

- Đi thay đổi hướng (rích rắc theo hiệu lệnh)

- Chạy thay đổi tốc độ theo hiệu lệnh

- Chạy đổi hướng theo hiệu lệnh

- Chạy 18m trong khoảng 10 giây

- Chuyền bắt bóng qua đầu, qua chân

4 Bò trườn trèo - Bò bằng bàn tay và bàn chân

- Bò theo đường rích rắc

- Bò chui qua ống dài

- Trườn xấp kết hợp trèo qua ghế

- Trèo lên xuống thang

Trang 27

1.3.1.5 Đặc điểm phát triển vận động của trẻ 5 - 6 tuổi

Vận động là nhu cầu tự nhiên của cơ thể, đặc biệt có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo Vận động làm cho các cơ bắp và toàn bộ cơ thể hoạt động, làm tăng cường sự hoạt động của hệ

hô hấp, tuần hoàn, tăng cường sự trao đổi chất và sức khỏe cho trẻ Sự phát triển vận động được thực hiện thông qua nhiều hình thức phong phú phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo: TCVĐ, thể dục buổi sáng, các tiết học thể dục, dạo chơi, lao động

* Phát triển vận động của trẻ 5 tuổi:

Giai đoạn này trẻ trở nên cứng cáp hơn, biết tự lực, rất hiếu động và không biết mệt mỏi, các mệt mỏi của trẻ dần đi đến hoàn thiện Vì vậy, sự vận động của trẻ cần được người lớn theo dõi, kiểm tra Khả năng chú ý của trẻ tăng, trẻ hiểu được nhiệm vụ của mình trẻ có thể thực hiện được những động tác quen thuộc bằng nhiều cách, trong một thời gian dài hơn, với lượng vận động lớn hơn Các vận động của trẻ đạt tới mức độ chính xác, nhịp nhàng, biết phối hợp vận động của mình với các bạn: trẻ có khả năng quan sát hình ảnh động tác mẫu của GV ghi nhớ để thực hiện lại Do đó, phải tăng dần yêu cầu đối với trẻ để giúp trẻ hoàn thiện vận động, sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau giúp trẻ thực hiện động tác một cách có ý thức và đạt hiệu quả cao hơn Chú ý thường xuyên theo dõi, kiểm tra đánh giá quá trình vận động của trẻ Lứa tuổi này sự phát triển vận động của trẻ diễn ra trên cơ sở những vận động đi, chạy và phát triển cảm giác thăng bằng, vận động nhảy, vận động ném, trườn, trèo

* Phát triển vận động của trẻ 6 tuổi

Tốc độ trưởng thành của trẻ tăng rất nhanh, tỷ lệ cơ thể đã cân đối, tạo

ra tư thế vững chắc, cảm giác thăng bằng được hoàn thiện, sự vận động tốt hơn Hệ thần kinh của trẻ phát triển tốt, trẻ có khả năng chú ý cao trong quá

Trang 28

trình tập luyện bài tập vận động Các vận động cơ bản được thực hiện tương đối chính xác, mềm dẻo, thể hiện sự khéo léo trong vận động, lực cơ bắp được tăng lên Sự phát triển vận động của trẻ diễn ra trên cơ sở những vận động đi, vận động nhảy, vận động chạy, bò, ném

Như vậy, dựa vào đặc điểm phát triển thể chất và vận động của trẻ ở từng độ tuổi mầm non, ta sẽ lựa chọn những nội dung và phương pháp hướng dẫn vận động phù hợp với trẻ để có thể đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình tập luyện

1.3.2 Tổ chức GDTC cho trẻ em 5 - 6 tuổi trường mầm non trên địa bàn Thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc

Trường mầm non Hoa Hồng và trường mầm non Phúc Thắng là hai trường mầm non đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia ở khu vực Thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc Trong các nội dung giáo dục thì GDTC là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành GDMN và có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ nên được các trường đặc biệt quan tâm, lưu ý Và để tìm hiểu rõ hơn về hoạt động tổ chức GDTC cho trẻ em 5 - 6 tuổi trong các trường mầm non tôi đã sử dụng phương pháp quan sát về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo GV

và tổ chức GDTC trong hai trường: trường mầm non Hoa Hồng và trường mầm non Phúc Thắng thuộc khu vực Thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc

1.3.2.1 Cơ sở vật chất trường mầm non Hoa Hồng và trường mầm non Phúc Thắng Phúc Yên - Vĩnh Phúc

* Cơ sở vật chất trường mầm non Hoa Hồng

- Trường mầm non Hoa Hồng có tổng diện tích là: 10.000m2 đạt 12m2

/ cháu Trong đó diện tích sân vườn trường là 5000m2, còn lại là diện tích xây dựng cơ bản Các công trình đều được xây dựng kiên cố, phòng sinh hoạt chung được trang bị đầy đủ bàn ghế, đồ dùng, đồ chơi sắp xếp theo chủ đề giáo dục, có tranh, ảnh, hoa, cây cảnh trang trí đẹp, phù hợp với đặc điểm sinh

Trang 29

lí trẻ ở từng độ tuổi Tất cả các thiết bị đều đảm bảo theo đúng quy cách của thông tư 02 của Bộ GD&ĐT quy định Trường đã được trang bị hệ thống máy tính phục vụ cho chương trình học Kisdmart gồm 22 máy tính, 4 máy chiếu cho trẻ và GV, giúp các bé tiếp cận với công nghệ thông tin và kích thích phát triển trí thông minh sáng tạo của trẻ

* Cơ sở vật chất trường mầm non Phúc Thắng

- Trường mầm non Phúc Thắng với tổng diện tích sử dụng hơn 1.500m2

với 7 phòng học và 3 phòng chức năng, các phòng học đều có điều hòa nhiệt

độ 2 chiều, sàn gỗ, ti vi… được thiết kế theo nguyên lý lấy học sinh làm trung tâm Sân chơi với nhiều đồ chơi thú vị Các phòng học được thiết kế thông thoáng, ánh sáng tự nhiên, tạo cảm giác thoải mái khi trẻ học tập và vui chơi giúp trẻ học tập tốt, vui chơi phát triển trí tuệ, năng khiếu…

Trang 30

* Đội ngũ GV trường mầm non Hoa Hồng

- Tổng số GV trong toàn trường mầm non Hoa Hồng là 25 GV

- Trình độ đào tạo:

+ Trung cấp: 5 GV

+ Cao đẳng: 12 GV

+ Đại học: 8 GV

- Độ tuổi: Trường mầm non Hoa Hồng có 2 GV ở độ tuổi trên 50 đã

nhiều năm công tác tại trường và có nhiều kinh nghiệm, 5 GV ở độ tuổi nhỏ hơn 30 và còn lại là 18 GV ở độ tuổi 30 - 50 tuổi

* Đội ngũ GV trường mầm non Phúc Thắng

- Tổng số GV trong toàn trường mầm non Phúc Thắng là: 23 GV

- Trình độ đào tạo:

+ Trung cấp: 8 GV

+ Cao đẳng: 4 GV

+ Đại học: 11 GV

- Độ tuổi: Nhà trường có 1 GV ở độ tuổi trên 50 đã nhiều năm công tác tại

trường, 3 GV ở độ tuổi nhỏ hơn 30 và còn lại là 19 GV ở độ tuổi 30 - 50 tuổi

1.3.2.3 Tổ chức GDTC cho trẻ trường mầm non Hoa Hồng và trường mầm non Phúc Thắng

* Đối với giờ học chính khóa: Giờ học chính khóa là giờ học được tiến hành ngay trên lớp trẻ tập luyện theo sự hướng dẫn và yêu cầu của GV giảng dạy

Trang 31

- Giờ học chính khóa GDTC ở trường mầm non Hoa Hồng được bắt đầu từ 8h30 phút và được thực hiện vào thứ 3 hàng tuần

- Giờ học chính khóa GDTC ở trường mầm non Phúc Thắng được bắt đầu từ 9h và được thực hiện vào thứ 5 hàng tuần

Kết quả điều tra cho thấy mật độ giờ học chính khóa GDTC của cả 2 trường đều diễn ra rất ít Thời gian cho trẻ vận động diễn ra chủ yếu vào giờ học thể dục sáng Còn các giờ học chính thì tất cả các lớp đều rất ít khi tiến hành Hơn nữa theo như nội dung chương trình mỗi tiết GDTC đều có 3 nội dung: Khởi động chung và ôn tập bài cũ, học bài mới, trò chơi củng cố Nhưng hầu hết tiến trình dạy các cô lại không đi theo nội dung chương trình quy định mà các cô thường đi tắt, rút ngắn thời gian dẫn đến sự phân bố thời gian trong tiết học chưa hợp lí Hơn nữa trong khi dạy tiết học GDTC các cô còn nặng về hình thành kĩ năng động tác mới và chủ yếu đi vào dạy bài mới

mà chưa có sự quan tâm tới nhu cầu vui chơi của trẻ dẫn đến tiết học mệt mỏi, không gây hứng thú cho trẻ

* Đối với giờ học ngoại khóa: Giờ học ngoại khóa là hoạt động được tiến hành vào những thời gian rảnh rỗi của học sinh và được tập luyện theo nhu cầu yêu thích các môn học của trẻ Hoạt động này góp phần nâng cao chất lượng của giờ học GDTC cũng như đạt hiệu quả cao hơn trong công tác

- Giờ học ngoại khóa trường mầm non Hoa Hồng thường diễn ra vào 2 buổi/1 tuần vào sáng thứ 4 và chiều thứ 6 Về nội dung các buổi ngoại khóa

Ngày đăng: 11/04/2018, 15:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w