1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Hình dạng, kích thước răng, cung răng và khuôn mặt ở một nhóm sinh viên trường Đại học Y Hà Nội tuổi từ 18 đến 25 có khớp cắn bình thường

93 564 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 26,76 MB
File đính kèm RHM.rar (23 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam hiện nay, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội thì nhu cầu làm đẹp của cộng đồng dân cư ngày càng đa dạng phong phú. Trong đó, hàm răng là một trong những vấn đề được ưu ái hàng đầu vì tầm quan trọng của nó. Nhưng không phải ai cũng có hàm răng đều và đẹp, mà rất nhiều người hàm răng lại chưa được đẹp, do có các vấn đề như: răng vẩu, răng lệch lạc, răng cắn ngược... Vì thế, chỉnh hình răng mặt là một trong những nhu cầu tất yếu của xã hội và là một hướng phát triển đầy triển vọng của ngành Răng Hàm Mặt. Trong điều trị chỉnh hình răng hàm mặt, các bác sỹ chuyên khoa thường phải dựa vào những chuẩn mốc (hay các chỉ số) của những người được coi là bình thường để so sánh với bệnh nhân phải điều trị. Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hình dạng và kích thước cung răng 1, 2, 3, 4, 5… nhưng tại Việt Nam những công trình nghiên cứu về hình dạng và các chỉ số cung răng còn rất ít, chưa đáp ứng nhu cầu ứng dụng trong điều trị. Vì vậy, các bác sỹ chỉnh hình răng mặt Việt Nam trong lâm sàng thường phải căn cứ vào các chỉ số và số đo của các công trình nghiên cứu thống kê của nước ngoài. Một người được coi là bình thường về răng hàm mặt phải là người có sự cân bằng về hình thái, chức năng và thẩm mỹ của hàm mặt và răng. Tuy sự cân bằng về chức năng là giống nhau, song về hình thái và thẩm mỹ mỗi dân tộc, chủng tộc có những đặc điểm và quan niệm khác nhau. Những kết luận được xem là “chuẩn mực” có thể đúng và phổ biến cho một địa phương, một dân tộc thậm chí một chủng tộc, nhưng cũng không thể đem ứng dụng hoàn toàn cho những chủng tộc khác. Bởi vậy, việc xác định, hình dạng và các chỉ số cung răng của người Việt và mối liên hệ giữa cung răng với các thành phần giải phẫu khác của mặt cũng đang là một yêu cầu bức thiết. Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Hình dạng, kích thước răng, cung răng và khuôn mặt ở một nhóm sinh viên trường Đại học Y Hà Nội tuổi từ 18 đến 25 có khớp cắn bình thường” với mục tiêu sau: 1. Mô tả hình dạng, kích thước răng, cung răng và khuôn mặt ở nhóm sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội tuổi từ 18 đến 25 có khớp cắn bình thường năm 20142015. 2. Xác định tỷ lệ tương quan giữa hình dạng cung răng với hình thể răng cửa giữa hàm trên và với hình dạng khuôn mặt ở nhóm sinh viên trên

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở Việt Nam hiện nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội thì nhu cầulàm đẹp của cộng đồng dân cư ngày càng đa dạng phong phú Trong đó, hàmrăng là một trong những vấn đề được ưu ái hàng đầu vì tầm quan trọng của

nó Nhưng không phải ai cũng có hàm răng đều và đẹp, mà rất nhiều ngườihàm răng lại chưa được đẹp, do có các vấn đề như: răng vẩu, răng lệch lạc,răng cắn ngược Vì thế, chỉnh hình răng mặt là một trong những nhu cầu tấtyếu của xã hội và là một hướng phát triển đầy triển vọng của ngành RăngHàm Mặt

Trong điều trị chỉnh hình răng hàm mặt, các bác sỹ chuyên khoa thườngphải dựa vào những chuẩn mốc (hay các chỉ số) của những người được coi làbình thường để so sánh với bệnh nhân phải điều trị

Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hình dạng và kíchthước cung răng [1], [2], [3], [4], [5]… nhưng tại Việt Nam những công trìnhnghiên cứu về hình dạng và các chỉ số cung răng còn rất ít, chưa đáp ứng nhucầu ứng dụng trong điều trị

Vì vậy, các bác sỹ chỉnh hình răng mặt Việt Nam trong lâm sàngthường phải căn cứ vào các chỉ số và số đo của các công trình nghiên cứuthống kê của nước ngoài Một người được coi là bình thường về răng hàmmặt phải là người có sự cân bằng về hình thái, chức năng và thẩm mỹ củahàm mặt và răng Tuy sự cân bằng về chức năng là giống nhau, song về hìnhthái và thẩm mỹ mỗi dân tộc, chủng tộc có những đặc điểm và quan niệmkhác nhau Những kết luận được xem là “chuẩn mực” có thể đúng và phổ biếncho một địa phương, một dân tộc thậm chí một chủng tộc, nhưng cũng khôngthể đem ứng dụng hoàn toàn cho những chủng tộc khác Bởi vậy, việc xác

Trang 2

định, hình dạng và các chỉ số cung răng của người Việt và mối liên hệ giữacung răng với các thành phần giải phẫu khác của mặt cũng đang là một yêucầu bức thiết

Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Hình dạng, kích thước răng, cung răng và khuôn mặt ở một nhóm sinh viên trường Đại học Y Hà Nội tuổi từ 18 đến 25 có khớp cắn bình thường” với mục

tiêu sau:

1 Mô tả hình dạng, kích thước răng, cung răng và khuôn mặt ở nhóm

sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội tuổi từ 18 đến 25 có khớp cắn bình thường năm 2014-2015.

2 Xác định tỷ lệ tương quan giữa hình dạng cung răng với hình thể răng

cửa giữa hàm trên và với hình dạng khuôn mặt ở nhóm sinh viên trên.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Khi hàm trên và hàm dưới cắn khớp, mỗi răng trên hai hàm sẽ khớp vớihai răng ở hàm đối diện Ngoại trừ răng cửa giữa hàm dưới và răng hàm lớnthứ ba hàm trên chỉ khớp với một răng ở hàm đối diện

Mối tương quan một răng ăn khớp với hai răng giúp phân tán lực nhailên nhiều răng và duy trì sự cắn khớp giữa hai hàm

Hàm trên

Hàm dưới

Trang 4

Khi xác định được vị trí của các răng hàm, sẽ xác định được tương quancắn khớp cũng như tương quan giữa hai cung răng

1.1.2 Quan niệm khớp cắn bình thường của Andrew

Nghiên cứu của Lawrence F Andrews [7] từ 1960-1964 dựa trên việcquan sát 120 mẫu hàm có khớp cắn bình thường Các mẫu hàm được lựa chọntheo tiêu chuẩn:

(1) Chưa qua điều trị chỉnh hình

(2) Các răng mọc đều đặn và thẩm mỹ

(3) Khớp cắn có vẻ đúng

(4) Có thể không cần đến điều trị chỉnh hình sau này

Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các mẫu hàm này đều có chung sáuđặc tính khớp cắn

*Đặc tính I: Tương quan ở vùng răng hàm

- Gờ bên xa của múi ngoài xa của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàmtrên tiếp xúc với gờ bên gần của múi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễnthứ hai hàm dưới

- Múi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp vớirãnh ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới

- Múi trong gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp vớitrũng giữa của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới

* Đặc tính II: Độ nghiêng gần xa của thân răng

- Độ nghiêng gần xa của thân răng là góc tạo bởi đường thẳng vuông gócvới mặt phẳng nhai và trục thân răng Góc độ (+) khi phần nướu của trục răng

ở về phía xa so với phần bờ cắn hay mặt nhai Ngược lại là góc độ (-)

- Bình thường, các răng có góc độ (+) và độ nghiêng này thay đổi theotừng răng

* Đặc tính III: Độ nghiêng trong ngoài của thân răng

Trang 5

- Độ nghiêng trong ngoài của thân răng là góc tạo bởi đường thẳngvuông góc với mặt phẳng nhai và đường tiếp tuyến với điểm giữa mặt ngoàithân răng Góc độ (+) khi phần phía nướu của đường tiếp tuyến (hay của thânrăng) ở về phía trong so với phần bờ cắn hay mặt nhai Ngược lại là góc độ (-).

Độ nghiêng ngoài trong của thân răng cửa trên và dưới tương quan nhau

và ảnh hưởng đáng kể đến độ cắn phủ và khớp cắn của các răng sau Các răngsau hàm trên (từ răng nanh đến răng hàm lớn thứ hai) có phần bờ cắn hay mặtnhai ở về phía trong so với phần nướu của thân răng Ở hàm trên, góc độ (-)không thay đổi từ răng nanh đến răng cối nhỏ thứ hai và tăng nhẹ ở răng hàmlớn thứ nhất và thứ hai Đối với răng hàm dưới, góc độ (-) tăng dần từ răngnanh đến răng hàm lớn thứ hai

* Đặc tính IV: Không có răng xoay

Không có răng xoay hiện diện trên cung răng Vì nếu có, chúng sẽ chiếmchỗ nhiều hoặc ít hơn răng bình thường

* Đặc tính V: Không có khe hở giữa các răng

Các răng phải tiếp xúc chặt chẽ với nhau ở phìa gần và xa ở mỗi răng,trừ các răng hàm lớn thứ ba chỉ tiếp xúc ở phía gần

Khe hở trên cung răng thường do bất hài hòa kích thước răng-hàm

* Đặc tính VI: Đường cong Spee phẳng hay cong ít

- Khớp cắn bình thường có đường cong Spee không sâu quá 1,5mm.Đường cong Spee sâu quá sẽ gây thiếu chỗ cho răng hàm trên

1.1.3 Phân loại lệch lạc khớp cắn

1.1.3.1 Phân loại theo Angle

Vào thập niên 1900, Edward H Angle (1855-1930) đã đưa ra phân loạikhớp cắn [6] Đây là một cách phân loại đầu tiên và rất hữu dụng quan trọngcho đến ngày nay Ông dựa vào răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất (răng số 6) và

sự sắp xếp của các răng theo đường cắn để phân loại khớp cắn thành 4 loại

Trang 6

- Sai khớp cắn loại I

Hình 1.3 Sai khớp cắn loại I [5]

Núm ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp vớirãnh ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới, nhưng đường cắnkhớp không đúng do các răng trước mọc sai chỗ, răng xoay hoặc do nhữngnguyên nhân khác

- Sai khớp cắn loại II

Hình 1.4 Sai khớp cắn loại II [5]

Trang 7

Múi ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên tiến về phíagần so với rãnh ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới (một bênhoặc 2 bên) Quan hệ với các răng khác là đường cắn không đúng.

Loại này có 2 tiểu loại:

Tiểu loại 1: Cung răng hàm trên hẹp, hình chữ V, nhô ra trước với răngcửa trên nghiêng về phía môi (hô), độ cắn chìa tăng, môi dưới thường chạmmặt trong răng cửa trên

Tiểu loại 2: Các răng cửa giữa hàm trên nghiêng vào trong nhiều trongkhi các răng cửa bên hàm trên nghiêng ra phía ngoài khỏi răng cửa giữa, độcắn phủ tăng, cung răng hàm trên ở răng nanh thường rộng hơn bình thường

- Sai khớp cắn loại III

Hình 1.5 Sai khớp cắn loại III [5]

Múi ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp về phía xa so vớirãnh ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới, cắn ngược vùng răng cửa(một bên hoặc hai bên) Quan hệ với các răng khác là đường cắn không đúng

Ưu nhược điểm của cách phân loại này:

Ưu điểm:

- Phân loại của Angle là một bước tiến quan trọng Ông không chỉ phânloại một cách có trật tự các loại khớp cắn sai mà ông còn là người đầu tiênđịnh nghĩa một khớp cắn bình thường và bằng cách này đã phân biệt đượcmột khớp cắn bình thường với sai khớp cắn

Trang 8

Nhược điểm:

- Răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất mọc sai vị trí, thiếu hay đã nhổ thìkhông phân loại được

- Cách phân loại này chỉ quan tâm quan hệ răng theo chiều trước sau

1.1.3.2 Những phân loại bổ sung khác cho phân loại Angle

+ Calvin Case (1847 - 1923) ghi nhận rằng: Phân loại khớp cắn củaAngle không thấy sự nhô của răng cửa, mặc dù điều này có thể ảnh hưởngthẩm mỹ cho bệnh nhân Phân loại Angle đã hàm ý quan hệ xương hàm theomặt phẳng trước sau bởi vì quan hệ răng hàm liên quan đến quan hệ xươnghàm nhưng nó không bao hàm các thông tin hàm sai lệch (Angle giả định nóluôn là hàm dưới, hàm dưới bị ảnh hưởng sai nếu tỷ lệ xương không phù hợpvới quan hệ khớp cắn)

+ Martin Dewey (1881-1963) dựa trên phân loại của Angle nhưng ông

đã đưa ra các tiểu loại của khớp cắn loại 1

+ Simon (nha sĩ người Đức) phân loại khớp cắn sai theo 3 chiều dựa trênhướng đứng của hàm với nền sọ

Thêm nữa Simon còn đánh giá vị trí trước sau của răng cửa bằng cáchđịnh rõ vị trí răng nanh quan hệ với hốc mắt Chiều ngang theo mặt phẳngFrancfort Chiều dọc theo mặt phẳng dọc giữa Mặt phẳng đứng qua hai conngươi mắt

+ Những năm 1960, Ackerman và Proffit đã bổ sung vào phương phápcủa Angle bởi nhận biết 5 đặc điểm chính của khớp cắn sai

Phương pháp này khắc phục được yếu điểm chính của cách sắp xếpAngle cổ điển

 Đánh giá tỷ lệ và thẩm mỹ của mặt

 Đánh giá sự sắp xếp và cân đối trong cung răng

 Đánh giá quan hệ xương răng trên mặt phẳng trước sau

 Đánh giá quan hệ xương răng trên mặt phẳng đứng

Trang 9

 Đánh giá quan hệ xương răng trên mặt phẳng ngang.

Phân loại thì có nhiều cách nhưng trên lâm sàng hiện nay, phân loạikhớp cắn theo Angle vẫn còn sử dụng nhiều vì đơn giản, chẩn đoán nhanh và

Một bộ răng vĩnh viễn đầy đủ gồm 32 chiếc, chia đều cho 2 cung răng:cung răng trên và cung răng dưới Do răng hàm lớn thứ 3 thường có hoặckhông (không có mầm răng), khái niệm về bộ răng gồm 28 chiếc được sửdụng trên lâm sàng

Các nghiên cứu cho thấy cung răng có nhiều loại hình dạng, kíchthước có thể thay đổi theo chủng tộc và cá thể, cũng như bị ảnh hưởng củacác yếu tố về dinh dưỡng, chuyển hoá và tình trạng sức khoẻ toàn thân vàtại chỗ khác [3], [8]

Một số tác giả cho rằng hình dạng cung răng được định sẵn bởi ditruyền [9]

Năm 1920, Williams [10] đã nêu lên sự đồng dạng giữa hình dạng củarăng và hình dạng của cung răng Nếu răng có hình dạng hình vuông sẽ kèmtheo mặt hình vuông và cung răng cũng có dạng hình vuông Các tác giả đãphân biệt ba dạng cung răng là hình vuông, hình ô van và hình tam giác

Năm 1971, Brader [11] đưa ra một mẫu cung răng Mẫu này dựa trênmột ê líp 3 tiêu điểm và đã làm thay đổi quan niệm về hình dạng cung răng.Đường cong cung răng rất giống với đường cong của ê líp, các răng sắp xếp

Trang 10

chỉ một phần ở cực nhỏ của toàn bộ đường cong Ông cho rằng cấu trúc củacung răng có 4 đặc trưng chủ yếu:

- Hình dạng của cung răng

- Kích thước của cung răng

- Sự đối xứng hai bên

- Sự thay đổi của các cấu trúc xung quanh dẫn đến sự biến đổi hình thểcủa cung răng

Rickett đã tiến hành một loạt nghiên cứu về hình dạng cung răng và đãđưa ra kết luận:

- Hình dạng cung răng hàm trên đồng dạng với hình dạng cung rănghàm dưới

- Cung răng hàm trên ở phía trước hơn so với cung răng hàm dưới

- Có 5 dạng cung răng: Dạng hình thuôn dài, dạng hình thuôn dài hẹp,dạng hình trứng, dạng hình trứng hẹp, dạng hình vuông

Nhưng trên thực tế, hiện nay sự phân loại hình dạng cung răng chủ yếuđược sử dụng trong chẩn đoán và điều trị chỉnh hình răng mặt là phương phápphân loại của Chuck và Williams [10] là: Dạng hình vuông, dạng hình tamgiác (hình thuôn dài), hình ô van (hình trứng)

1.2.2 Kích thước cung răng

Các tác giả Cretot (1938), Granat (1974), Izard (1943): Đưa ra phươngpháp đo đạc kích thước cung răng và cung xương ổ răng theo chiều ngang vàchiều trước – sau Phương pháp đo đạc được đưa ra phụ thuộc chủ yếu vàomục tiêu nghiên cứu, mục đích điều trị [12]

Năm 1979, Engle [13] đã tiến hành đo hàng loạt mẫu để xác định cácyếu tố của hình dạng và kích thước cung răng Ông cùng với Lestrel đã rút ra

4 kích thước chủ yếu của cung răng là:

- Chiều dài trước (chiều dài vùng răng nanh): là khoảng cách từ điểmgiữa hai răng cửa giữa tới đường nối đỉnh của hai răng nanh

Trang 11

- Chiều rộng trước (chiều rộng vùng răng nanh): là khoảng cách giữahai đỉnh của hai răng nanh.

- Chiều dài sau (chiều dài vùng răng hàm): là khoảng cách từ điểm giữahai răng cửa giữa tới đường nối hai đỉnh của hai núm ngoài gần của răng hàmlớn thứ nhất

- Chiều rộng sau (chiều rộng vùng răng hàm): là khoảng cách giữa haiđỉnh của hai núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất

Kích thước của cung răng có sự khác biệt theo giới tính và các dạngcung răng hình vuông, hình ô van, hình tam giác

+ Kích thước cung răng ở nam lớn hơn nữ

+ Chiều rộng cung răng ở vùng răng nanh và vùng răng hàm ở cungrăng hình vuông là lớn nhất, rồi đến dạng cung răng hình ô van, hẹp nhất làcung răng dạng hình tam giác

+ Ngược lại chiều dài cung răng ở dạng cung răng hình tam giác là lớnnhất, rồi đến cung răng dạng ô van, ngắn nhất là cung răng dạng hình vuông

Năm 1991, Huang S T., Miura F., Soma K [2] đã nghiên cứu trên mẫuhàm của người Trung Quốc và đã rút ra rằng kích thước cung răng ở nam lớnhơn nữ, và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Năm 1992, Hoàng Tử Hùng và Huỳnh Thị Kim Khang [14] nghiên cứukích thước chiều dài và chiều rộng cung răng hàm trên ở người Việt trưởngthành Kết quả cho thấy cung răng hàm trên người Việt trưởng thành có dạng

ê líp, kích thước cung răng ở nam lớn hơn ở nữ

Năm 1993, Raberin M., Laumon B., Martin J L [15] khoa chỉnh nhacủa trường nha Lyon ở Pháp đã nghiên cứu phân tích trên 278 mẫu thạch caocủa người Pháp trưởng thành chưa được can thiệp chỉnh nha Các tác giả đãrút ra kết luận rằng không có sự khác biệt về tỷ lệ các dạng cung răng ở nam

Trang 12

cũng như ở nữ và cung răng ở nam lớn hơn cung răng ở nữ cả về chiều rộng

và chiều dài

Năm 1999, Phạm Thị Hương Loan và Hoàng Tử Hùng [8] nghiên cứu

so sánh đặc điểm cung răng người Việt với người Ấn Độ và Trung Quốc đưa

ra nhận xét: Cung răng người Việt rộng hơn đáng kể so với cung răng người

Ấn Độ, nhưng lại gần với kích thước cung răng người Trung Quốc

Tác giả Nojima, McLaughlin, Isshiki [16] với nghiên cứu so sánh mẫuhàm dưới của người Nhật và người Caucasian đã rút ra tỷ lệ các dạng cungrăng và so sánh kích thước từng dạng cung răng của 2 nhóm

Năm 2000, Benjamin và Edward [17] đã nghiên cứu trên hai nhóm làngười Mỹ da trắng và người Mỹ da đen Họ nhận thấy rằng người Mỹ da đen

có kích thước cung răng lớn hơn người Mỹ da trắng, người Mỹ da đen có tỷ lệcung răng hình vuông lớn hơn người Mỹ da trắng

Năm 2001, Lê Đức Lánh [18] đã tiến hành nghiên cứu trên 140 cặpmẫu hàm độ tuổi từ 12 đến 15 tuổi đã rút ra kết luận kích thước cung răngtăng nhẹ trong giai đoạn từ 12 đến 15 tuổi

Năm 2005, theo nghiên cứu của Tancan Uysal, Zafer Sari [19] trên 150mẫu thạch cao của những người có khớp cắn bình thường (tuổi trung bình21,6 ± 2 tuổi) Chiều rộng tại vị trí răng nanh hàm trên là 34,4 ± 2,1 mm vàhàm dưới là 33,4 ± 0,13 mm; chiều rộng tại vị trí răng hàm lớn thứ nhất hàmtrên là 50,7 ± 3,7mm và hàm dưới là 45,7 ± 2,8mm ở nữ

Năm 2009, theo nghiên cứu về độ rộng cung răng ở người miền NamTrung Quốc của Jonk Y.K.Ling và Ricky W.K.Wong [20], đo đạc trên 358

mẫu thạch cao đã kết luận kích thước ngang cung hàm ở nam lớn hơn ở nữ

Theo nghiên cứu của Al-Khatib AR, Rajion ZA, Masudi SM và cộng

sự (2011) [21] khi nghiên cứu trên 252 mẫu hàm của người Malay có độ tuổi

từ 13-30 cũng đã kết luận kích thước ngang cung hàm ở nam lớn hơn nữ

Trang 13

Năm 2013, theo nghiên cứu của Lê Hồ Phương Trang, Trần NgọcKhánh Vân, Lê Võ Yến Nhi [22] trên 117 mẫu hàm thạch cao cũng kết luậnkích thước ngang cung hàm ở nam lớn hơn ở nữ.

1.3 Mối liên hệ về hình dạng cung răng với hình thể răng cửa giữa hàm trên và với hình dạng của khuôn mặt

Việc tìm ra mối liên hệ giữa hình dạng của răng, hình dạng của cungrăng với hình dạng khuôn mặt có ý nghĩa quan trọng trong phục hình răng.Việc chọn răng giả đối với bệnh nhân mất răng toàn bộ vẫn là một thách thứcđối với các nhà phục hình Từ lâu các nhà nghiên cứu đã cố gắng đưa ra cáctiêu chí trong việc lựa chọn răng giả cũng như mối liên quan về hình thể răngcửa với hình dạng khuôn mặt, giữa hình thể răng cửa với hình dạng cungrăng, với hình dạng của vòm miệng… Năm 1920, Williams [10] đã đưa ranhững dẫn chứng về hình thái học và đã tìm ra một phương pháp được gọi tên

là “Luật hài hoà” và ngày nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong việc chọnrăng giả Ông cho rằng có sự liên quan chặt chẽ giữa hình dạng khuôn mặt vớihình thể răng cửa giữa hàm trên và hình dạng của cung răng và mối tươngquan này có thể được ứng dụng trong việc lựa chọn răng giả ở người mất răngtoàn bộ Ông cũng đã mô tả 3 dạng chính của răng cửa là: dạng hình vuông,dạng hình tam giác và dạng hình ô van Nếu răng có dạng hình vuông sẽ kèmtheo mặt hình vuông và cung răng cũng sẽ có dạng hình vuông Nếu ta chụpảnh một chiếc răng cửa giữa của 1 bệnh nhân nào đó đem phóng đại cho vừabằng kích thước ảnh của mặt bệnh nhân ấy thì ta thấy đường quanh răng cửagiữa phù hợp với khuôn mặt từ trán đến cằm Căn cứ vào đó người ta mớichia ra 3 loại mặt chính: mặt hình vuông, mặt hình tam giác và mặt hình ôvan Mặt loại nào thì dùng răng loại ấy

Trang 14

Năm 1980, Mavroskoufis và G.M.Ritchie [24] ở trường nha khoa LuânĐôn đã nghiên cứu trên 70 mẫu hàm thạch cao của sinh viên, đa số là da trắng

về mối tương quan giữa hình thể răng cửa giữa hàm trên và hình dạng khuôn

Trang 15

mặt Các tác giả đã nhận thấy rằng chỉ có 31,3% có sự đồng dạng giữa hìnhthể răng cửa giữa hàm trên và hình dạng khuôn mặt và họ đã kết luận rằngkhông có mối liên quan mật thiết nào giữa hình thể răng cửa giữa hàm trên vàhình dạng khuôn mặt Tuy nhiên các tác giả cũng quan sát thấy rằng ở nhữngngười có sự tương quan giữa hình thể răng cửa giữa hàm trên và hình dạngkhuôn mặt, răng thường ngắn, vuông và rộng Các trường hợp khác thườngkhông có sự tương quan hoặc tương quan rất thấp.

Cũng nhằm mục đích xác định mối tương quan giữa các yếu tố của “Bộ

ba Nelson”, năm 1998, Philip Sellen và Daryll Jagger [25] đã nghiên cứu vàphân loại trên 50 đối tượng người da trắng ở độ tuổi 20-31, mục đích là đánhgiá mối tương quan giữa 5 yếu tố thẩm mỹ là:

- Hình dạng khuôn mặt

- Hình thể răng cửa

- Hình dạng cung răng

- Hình dạng vòm miệng

- Sự sắp xếp các răng cửa hàm trên

Kết quả thu được trong nhóm nghiên cứu là một nửa số nghiên cứu có

sự tương quan giữa 3 yếu tố, 24% có sự tương quan giữa 4 yếu tố, chỉ có 6%

là có sự tương quan cả 5 yếu tố Trong đó mức tương quan giữa hình thể răngcửa giữa hàm trên và hình dạng khuôn mặt là 56%, giữa hình dạng cung răng

và hình dạng khuôn mặt là 66%, giữa hình dạng cung răng và hình thể răngcửa cao nhất là 68% Tuy nhiên chỉ có 33% các trường hợp tương quan ở cả 3

là hình thể răng cửa, hình dạng cung răng và hình dạng khuôn mặt Kết quảcủa Philip Sellen và Daryll Jagger cho thấy rằng mối tương quan giữa hìnhdạng cung răng, hình dạng khuôn mặt và hình thể răng cửa là không đủ lớn để

hỗ trợ cho bộ ba thẩm mỹ của Nelson hay thuyết hình dạng khuôn mặt/ hìnhdạng cung răng của Williams

Trang 16

Năm 2010, Farias và cộng sự [27] đã tiến hành nghiên cứu trên 100 đốitượng gồm 40 nam và 60 nữ cũng kết luận không tìm thấy mối tương quangiữa khuôn mặt và răng cửa giữa hàm trên.

Năm 2011, Shah và cộng sự [28] đã sử dụng ảnh chuẩn hoá và phầnmềm chỉnh sửa ảnh, nghiên cứu trên 60 đối tượng cũng kết luận mối tươngquan giữa hình dạng khuôn mặt, hình dạng răng cửa giữa và hình dạng cungrăng là không đáng kể

Năm 2012, Luiz R.P, Carolina S.L, Ricardo H.S, và cộng sự [29] tiếnhành nghiên cứu trên 51 mẫu hàm của người Caucasian và Abdulhadi [30]tiến hành nghiên cứu trên 120 đối tượng có chung kết luận mối tương quangiữa hình thể răng cửa giữa và hình dạng cung răng là rất thấp và không có ýnghĩa thống kê

Trang 17

Cũng vào năm 2012, Koralakunte và Budihal [31] nghiên cứu trên 200sinh viên Ấn Độ đã kết luận có khoảng 31,5% dân số có mối tương quan hìnhdạng răng – mặt.

1.4 Các phương pháp nghiên cứu mô mềm

Một số phương pháp để đo đạc, đánh giá như: phép đo trực tiếp, đo trênảnh chụp, đo trên phim X-quang sọ nghiêng và mới đây là đo trên ảnh kỹthuật số [32]

1.4.1 Phép đo trực tiếp

Phép đo trực tiếp là phương pháp cơ bản nhất trong phân tích những thayđổi kích thước mô mềm bằng đo đạc trực tiếp Hạn chế của phương pháp nàylà: sự nhạy cảm của một số tổ chức phần mềm với việc đo trực tiếp như mắt;

độ đàn hồi, độ dày và mật độ của tổ chức phần mềm; lực ấn khi sử dụng dụng

cụ đo đạc cũng ảnh hưởng đến độ chính xác kết quả [33]

1.4.2.1 Chụp ảnh chuẩn hoá

Tư thế đầu tự nhiên: là vị trí đầu ở tư thế tự nhiên [34] Theo Claman vàcộng sự, khung ảnh bao quanh đỉnh đầu và xương đòn, khoảng cách từ khóemắt ngoài đến đường tóc ở mang tai bằng nhau ở cả hai bên, đường nối haiđồng tử, đường nối từ khóe mắt tới đỉnh tai song song với sàn nhà (đường nàysong song với mặt phẳng Frankfort)

Trang 19

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm sinh viên trường Đại học

Y Hà Nội từ 18- 25 tuổi có đầy đủ các tiêu chuẩn lựa chọn

Tiêu chuẩn chọn: Có đầy đủ các tiêu chí sau

+ Tuổi: từ 18 tuổi đến 25 tuổi

+ Có bố mẹ, ông bà là người Việt Nam

+ Có đủ 28 răng vĩnh viễn (không kể răng hàm lớn thứ ba)

+ Hình thể răng cửa giữa hàm trên nguyên vẹn

+ Khớp cắn răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất loại I hai bên theo Angle.+ Các răng mọc đều đặn trên cung hàm, không chen chúc, độ cắn chùm

và cắn chìa bình thường

+ Không có các phục hình, tổn thương tổ chức cứng làm thay đổi chiềugần xa của thân răng

+ Chưa điều trị nắn chỉnh răng và các phẫu thuật tạo hình khác

+ Không có dị dạng hàm mặt, không có tiền sử chấn thương hay phẫuthuật vùng hàm mặt

Tiêu chuẩn loại trừ: Khi có một trong các tiêu chí sau

+ Mất răng hàm lớn thứ nhất, răng hàm lớn thứ hai (một bên hoặc hai bên).+ Có phục hình, hoặc tổn thương tổ chức cứng làm thay đổi chiều gần xacủa răng

+ Bị dị dạng hàm mặt

+ Đã điều trị nắn chỉnh răng, hoặc phẫu thuật vùng hàm mặt

+ Không hợp tác nghiên cứu

Trang 20

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu

Công thức tính cỡ mẫu ước tính một giá trị trung bình trong quần thể

n: Cỡ mẫu nghiên cứu

 : Mức ý nghĩa thống kê

Chọn  = 0,05 thì hệ số tin cậy

s: Độ lệch chuẩn của chỉ số nghiên cứu

Giá trị trung bình của chỉ số nghiên cứu

: Mức sai lệch tương đối giữa tham số mẫu và quần thể

Chọn =0,02

Dựa vào nghiên cứu trước với giá trị trung bình của chiều rộng tại vị trírăng nanh hàm trên = 34,4±2,1 (mm) [19] Chúng tôi tính được cỡ mẫucần có n= 35,79 Thực tế, khi tiến hành nghiên cứu chúng tôi lấy cỡ mẫu n=40

2.5 Vật liệu và trang thiết bị nghiên cứu

- Dụng cụ nha khoa thông thường: Gương, gắp, thám châm, trong khaykhám vô trùng, compa, thước đo tiêu chuẩn

Trang 21

- Máy ảnh Nikon D300, ống kính tele 70-210.

- Thước cặp điện tử Mitutoyo CD-6”CSX

Hình 2.1 Bộ dụng cụ lấy dấu, đỗ mẫu, đo đạc

Hình 2.2 Thước cặp điện tử Mitutoyo CD-6”CSX [35]

- Vật liệu lấy dấu và sáp cắn: Chất lấy dấu (Alginate), thìa lấy dấu, sáp

lá mỏng, đèn cồn, thạch cao siêu cứng, bát cao su, bay đánh chất dấu khuôn

và thạch cao đá

2.6 Các bước nghiên cứu

- Bước 1: Lập danh sách sinh viên

- Bước 2: Khám sàng lọc và lập danh sách đối tượng nghiên cứu

- Bước 3: Tiến hành lấy mẫu hàm và chụp ảnh chuẩn hoá

- Bước 4: Đo đạc các chỉ số trên mẫu hàm và ảnh chuẩn hoá

- Bước 5: Nhập và xử lý số liệu

Trang 22

- Bước 6: Viết luận văn

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ GANTT mô tả tiến độ thực hiện đề tài

2.6.1 Lập danh sách sinh viên

Lập danh sách sinh viên theo đơn vị tổ, lớp

2.6.2 Khám sàng lọc và lập danh sách đối tượng nghiên cứu

Khám sàng lọc, chọn những đối tượng đủ tiêu chuẩn, lên danh sách.Trong nghiên cứu chúng tôi lấy những sinh viên có khớp cắn răng hàmlớn vĩnh viễn thứ nhất loại I hai bên theo Angle như sau: là khớp cắn có đỉnhmúi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với rãnhngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới và không có chen chúc.+ Khám ngoài miệng: Sự cân đối, hài hoà của khuôn mặt

Trang 23

- Tư thế chụp: mặt thẳng.

- Vị trí đặt thước tham chiếu có thuỷ bình: Thước chuẩn hóa được gắn cốđịnh lên giá đỡ, để ngang trên đỉnh đầu đối tượng chụp, giọt nước nằm ngangkhông chuyển động

- Vị trí đặt máy ảnh: Máy ảnh được gắn trên chân máy và điều chỉnh độcao sao cho phù hợp với từng đối tượng, khoảng cách từ máy ảnh đến đốitượng là 1,5m để độ biến dạng thấp nhất [34]

- Tiêu cự ống kính: Do sử dụng máy ảnh crop có kích thước cảm biếnbằng 2/3 phim 35 mm, nên chúng tôi để tiêu cự 70 mm (tương đương tiêu cự

105 mm trên phim 35 mm) để đảm bảo tỷ lệ 1:1

Trang 24

Hình 2.3 Chụp ảnh nghiên cứu

Hình 2.4 Ảnh mặt thẳng

2.6.3.2 Đo đạc trên ảnh kỹ thuật số

- Các tập tin ảnh được xử lý qua phần mềm quản lý ảnh ACD See, đượcđánh dấu các điểm mốc giải phẫu mô mềm cần nghiên cứu trên ảnh

- Xác định các điểm mốc giải phẫu trên ảnh:

Trang 25

+ Điểm go là điểm nằm ở chỗ cắt nhau giữa đường thẳng đi ngang quahai điểm ch (nơi gặp nhau của môi trên và môi dưới ở góc miệng) với đườngviền da khuôn mặt

+ Điểm ft là điểm ở phía ngoài nhất của xương thái dương trên mô mềm + Điểm zy là điểm ở phía ngoài nhất của cung gò má trên mô mềm

Hình 2.5 Các điểm mốc trên ảnh chuẩn hoá

- Chuẩn hóa lại ảnh dựa vào thước chuẩn hóa:

+ Đưa ảnh vào phần mềm Autocad 2015

+ Sử dụng lệnh SCALE, và thước chuẩn hoá trên ảnh để chuẩn hoá lạikích thước

+ Sau đó, sử dụng công cụ “aligned dimension” của phần mềm Autocad

2015 đo các kích thước sau:

Trang 26

Hình 2.6 Đo các chỉ số bằng phần mềm Autocad 2015

+ Tiến hành đo các chỉ số: chiều rộng giữa 2 xương thái dương (ft- ft), chiều rộng giữa 2 xương gò má (zy- zy) và chiều rộng hàm dưới (go- go) rồi ghi vào bảng số liệu

2.6.3.3 Phân tích hình dạng khuôn mặt theo Celebie và Jerolimov

Celébie và Jerolimov dựa vào mối tương quan giữa ba kích thướcngang của mặt: chiều rộng giữa 2 xương thái dương (ft- ft), chiều rộng giữa 2xương gò má (zy-zy) và chiều rộng hàm dưới (go-go) để xác định hình dạngkhuôn mặt Theo ông mặt hình vuông nếu go-go = zy-zy = ft-ft hoặc ft-ft =zy-zy hoặc zy-zy = go-go, mặt hình ô van nếu zy-zy > ft-ft và zy-zy > go-go,mặt hình tam giác nếu ft-ft > zy-zy > go-go hoặc ft-ft < zy-zy < go-go (nếu 2kích thước chênh nhau khoảng 2mm thì coi như là bằng nhau)

Trang 27

Hình 2.7 Phân loại mặt theo Celébie Jerolimov [26]

2.6.4 Các bước tiến hành lấy dấu, đổ mẫu

Trang 28

+ Gỡ mẫu khi đã đông cứng

+ Mài mẫu theo tiêu chuẩn của chỉnh hình răng mặt:

Đế dày từ 3-4 cm, mặt phẳng đế song song với mặt phẳng cắn

Mặt sau vuông góc với đường giữa sống hàm

Mặt bên tạo một góc 65º so với mặt sau và cách đường viền lợi 2-3mm Hàm trên mặt trước mài thành 2 mặt tạo với mặt bên một góc 30º

Hàm dưới mặt trước mài tròn từ răng 3 bên này đến răng 3 bên kia

Hình 2.8 Mẫu hàm tiêu chuẩn

* Yêu cầu mẫu:

+ Mẫu không bị co

+ Đủ đến răng hàm lớn thứ hai của mỗi hàm

+ Mẫu không bị bọng, không vỡ, không gãy răng

* Bảo quản mẫu:

+ Đánh số thứ tự các mẫu theo cặp, mỗi cặp mẫu được bảo quản trongmột hộp bìa cứng có ngăn để cho mẫu hàm trên và hàm dưới

+ Trên mẫu đặt miếng xốp để mẫu không bị hư hại trong quá trình vận chuyển

Trang 29

2.6.5 Đo đạc và ghi nhận các chỉ số

2.6.5.1 Xác định hình thể răng cửa giữa hàm trên

Dựa theo phương pháp của Célebie và Jerolimov [26], chúng tôi xác địnhhình thể răng cửa giữa hàm trên dựa vào mối tương quan giữa 3 kích thước:Chiều rộng vùng cổ răng (CW), chiều rộng thân răng giữa 2 điểm tiếp xúc vớirăng bên cạnh (CPW), chiều rộng vùng rìa cắn (IW) Theo ông răng hình vuôngnếu CW=CPW=IW hoặc CW=CPW hoặc CPW=IW, răng hình ô van nếuCPW>CW và CPW>IW, răng hình tam giác nếu IW>CPW>CW (nếu 2 kíchthước chênh nhau khoảng nhỏ hơn 0,1mm thì coi như là bằng nhau)

Hình 2.9 Phân loại hình thể răng cửa giữa hàm trên

theo Celébie Jerolimov [26]

Cách đo: Sử dụng compa đầu nhọn đo các kích thước:

 Chiều rộng vùng cổ răng (CW): Đo từ đỉnh nhú lợi phía gần đếnđỉnh nhú lợi phía xa

Trang 30

Hình 2.10 Đo chiều rộng cổ răng

 Chiều rộng thân răng giữa 2 điểm tiếp xúc với răng bên cạnh (CPW):

Đo từ điểm tiếp xúc phía gần đến điểm tiếp xúc phía xa

Hình 2.11 Đo chiều rộng thân răng

 Chiều rộng vùng rìa cắn (IW): Đo tại vị trí bắt đầu có sự thu hẹp rìacắn

Hình 2.12 Đo chiều rộng rìa cắn

Trang 31

2.6.5.2 Xác định hình dạng cung răng

Sử dụng 3 loại thước OrthoForm của 3M.

Trên mỗi thước có ghi tên hình dáng cung răng mà thước đó xác định

Có ba đường trên thước, đường thẳng chính giữa để xác định đường giữacung răng, hai đường cong song song, đường phía ngoài để xác định hìnhdáng cung răng hàm trên, đường phía trong dùng xác định hình dáng cungrăng hàm dưới

Cách đo: Đặt mẫu hàm lên một mặt phẳng, đặt thước lên trên mẫu sao

cho thước nằm trên mặt phẳng cắn của răng, nếu hình dạng cung răng trùnghoặc song song với hình dạng đường cong trên thước nào thì cung răng códạng hình của đường cong vẽ trên thước đó

Hình 2.13 Thước OrthoForm (3M)

Hình 2.14 Xác định hình dáng cung răng

Trang 32

2.6.5.3 Đo các kích thước cung răng hàm trên và hàm dưới

Chúng tôi xác định kích thước cung răng dựa trên phương pháp của Engle [13] để đo kích thước cung răng như sau:

+ Thực hiện dưới ánh sáng tự nhiên

+ Tất cả các mẫu hàm đều do một người đo

+ Mỗi mẫu đo làm 3 lần, mỗi lần cách nhau 10 phút, lấy giá trị trung gian.+ Ghi lại số liệu vào phiếu nghiên cứu (phụ lục)

2.6.5.4 Xác định kích thước cung răng

Đo các kích thước sau:

Chiều dài trước (chiều dài vùng răng nanh): khoảng cách từ điểm giữahai răng cửa tới đường nối đỉnh của hai răng nanh

Chiều dài sau (chiều dài vùng răng hàm): khoảng cách từ điểm giữa hai răngcửa tới đường nối đỉnh của hai núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất

Chiều rộng trước: khoảng cách giữa hai đỉnh của hai răng nanh

Chiều rộng sau: khoảng cách của hai đỉnh của hai múi ngoài gần rănghàm lớn thứ nhất

*Chiều rộng phía trước cung răng (R33)

Xác định đỉnh hai răng nanh, và

đo chiều rộng phía trước cung răng

Hình 2.15 Đo chiều rộng phía

trước cung răng

Trang 33

*Chiều rộng phía sau cung răng (R66)

Xác định đỉnh múi gần ngoài

răng hàm lớn thứ nhất, và đo chiều

rộng phía sau cung răng

Hình 2.16 Đo chiều rộng phía sau

cung răng

*Chiều dài phía trước cung răng (D13)

Sử dụng đồng thời hai thước đo,

một thước thẳng dẹt đặt qua đỉnh hai

răng nanh và một thước trượt đo

khoảng cách từ điểm giữa hai răng

cửa tới đường nối đó

Hình 2.17 Đo chiều dài phía

trước cung răng

* Chiều dài phía sau cung răng (D16)

Sử dụng đồng thời hai thước

đo, một thước thẳng dẹt đặt qua hai

đỉnh của hai múi ngoài gần răng

hàm lớn thứ nhất và một thước

trượt đo khoảng cách từ điểm giữa

hai răng cửa tới đường nối đó

Hình 2.18 Đo chiều dài phía sau

cung răng

Trang 34

2.6.6 Các biến số cần nghiên cứu

2.6.6.1 Các biến số định lượng

Bảng 2.1 Hệ thống các biến số định lượng

1 Chiều rộng phía trước cung

mm

8 Chiều rộng vùng cổ răng

9 Chiều rộng thân răng (CWP) Đo chiều rộng thân răng giữa 2 điểm

tiếp xúc với răng bên cạnh mm

10 Chiều rộng vùng rìa cắn

Trang 35

zy-zy < go-go

Cung răng

Dạng hình vuông Hình dạng cung răng trùng hoặc

song song với hình dạng đường cong trên thước Ortho Form cung hình vuông

Dạng hình ô van Hình dạng cung răng trùng hoặc

song song với hình dạng đường cong trên thước Ortho Form cung hình ô van

Dạng tam giác Hình dạng cung răng trùng hoặc

song song với hình dạng đường cong trên thước Ortho Form cung hình tam giác

2.6.7 Xử lý số liệu

- Làm sạch số liệu trước khi phân tích

- Số liệu được nhập và phân tích bởi phần mềm STATA 12.0

- Kiểm định các biến bằng các test kiểm định

Trang 36

+ Sai số do hệ thống đo lường.

+ Sai số do quy trình đo lường

2.6.8.2 Cách khống chế sai số

- Khống chế sai số người đo: Trước khi tiến hành đo đạc chính thức,chúng tôi rút ngẫu nhiên trong mẫu nghiên cứu 10 đối tượng, đo tất cả cácphép đo 2 lần để đánh giá mức độ tương quan trên cùng 1 người đo và đượcghi lại như bình thường Sau đó, lập bảng tính hệ số tương quan Pearson (r)

và so sánh với phân loại chuẩn của nhà thống kê học người Anh Karl Pearsonđưa ra vào đầu thế kỷ XX [36]

Bảng 2.3 Ý nghĩa của hệ số tương quan

±0,01 đến ±0,1 Mối tương quan quá thấp, không đáng kể

±0,2 đến ±0,3 Mối tương quan thấp

±0,4 đến ±0,5 Mối tương quan trung bình

±0,6 đến ±0,7 Mối tương quan cao

±0,8 trở lên Mối tương quan rất cao

Chỉ tiến hành đo đạc khi tất cả các phép đo đều có hệ số tương quan từ

±0,8 trở lên

- Đo trên mẫu hàm ba lần, lấy trị số trung bình

- Sử dụng một dụng cụ, đo cùng một loại đơn vị đo, thước đo có chuẩn mực

Trang 37

- Đo trong cùng một tiêu chuẩn, điều kiện.

- Kiểm tra số liệu hàng ngày, bổ sung những thông tin còn thiếu

2.7 Đạo đức nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu hiểu rõ mục tiêu, quy trình nghiên cứu (Phụ lục 2)

- Nghiên cứu có sự đồng ý tự nguyện của các đối tượng nghiên cứubằng văn bản (Phụ lục 2)

- Các thông tin cá nhân của đối tượng sẽ được đảm bảo giữ bí mật

- Nghiên cứu này chỉ nhằm mục đích nâng cao công tác chăm sóc sứckhoẻ răng miệng Ngoài ra không còn mục đích nào khác

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sau khi khám sàng lọc trên 1500 sinh viên Trường Đại học Y Hà Nộituổi từ 18 đến 25 tuổi chúng tôi đã chọn được 40 đối tượng thỏa mãn các tiêuchuẩn lựa chọn Tiến hành nghiên cứu trên nhóm đối tượng này chúng tôi thuđược kết quả như sau:

3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu.

Trong tổng số 40 đối tượng nghiên cứu, chúng tôi chọn chủ đích chọn

tỷ lệ nam giới tương đương với tỷ lệ nữ giới, đều chiếm 50%

Trong nghiên cứu này, các biến đo đạc là các biến định lượng liêntục, vì thế để xác định thuật toán thống kê và kiểm tra xem việc đo đạc cóđạt hay không chúng tôi đã tiến hành kiểm tra phân phối chuẩn của cácbiến Bằng biểu đồ histogram cho thấy các biến đo đạc đều tuân theo quyluật phân phối chuẩn

Hình 3.1 Lược đồ tần suất chiều rộng

phía trước cung răng

Hình 3.2 Lược đồ tần suất chiều dài

phía sau cung răng

Hình 3.3 Lược đồ tần suất chiều rộng

vùng cổ răng

Hình 3.4 Lược đồ tần suất chiều

rộng thân răng

Trang 39

Hình 3.5 Lược đồ tần suất chiều rộng

giữa hai xương thái dương

Hình 3.6 Lược đồ tần suất chiều

rộng hàm dưới 3.2 Hình dạng, kích thước răng cửa giữa hàm trên

3.2.1 Hình dạng răng cửa giữa hàm trên

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ các hình dạng răng cửa giữa

Nhận xét: Phần lớn đối tượng có răng hình ô van (34 đối tượng chiếm 85%),

đối tượng có răng hình vuông chiếm tỷ lệ thấp (6 đối tượng chiếm 15%), vàkhông có đối tượng có răng hình tam giác

Bảng 3.1 Tỷ lệ các hình dạng răng cửa giữa hàm trên theo giới (n=40)

Răng hình vuông

Trang 40

Tỷ lệ các dạng răng cửa giữa hàm trên hình ô van và hình vuông làtương đồng ở cả hai giới nam và nữ Phần lớn các đối tượng có răng hình ôvan, ở cả hai giới đều chiếm tỷ lệ cao nhất (85%), còn lại là răng hình vuôngchiếm 15% Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

3.2.2 Kích thước răng cửa giữa

Bảng 3.2 Kích thước răng cửa giữa theo giới

Ngày đăng: 11/04/2018, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w