1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền phản tố và việc thực hiện quyền phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự

13 2,1K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 30,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền phản tố và việc thực hiện quyền phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự Trong các quyền con người được hiến pháp ghi nhận, quyền dân sự của công dân có ý nghĩa rất quan trọng. Theo đó, công dân được phép xử sự theo một cách nhất định hoặc được yêu cầu người khác thực hiện những hành vi nhất định để thỏa mãn lợi ích của mình. Quyền năng này được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của nhà nước. Để bảo hộ cho các quyền dân sự của các chủ thể, Nhà nước quy định nhiều biện pháp, cách thức bảo vệ khác trong việc bảo vệ quyền dân sự, một trong số các biện pháp đó là quyền yêu cầu phản tố của bị đơn. Quy định về yêu cầu phản tố của bị đơn tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền tố tụng của bị đơn, đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự, tạo điều kiện cho việc giải quyết nhanh, toàn diện các yêu cầu của đương sự trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự. Vấn đề này sẽ được làm rõ trong đề tài: “ Quyền phản tố và việc thực hiện quyền phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong các quyền con người được hiến pháp ghi nhận, quyền dân sự của công dân có ý nghĩa rất quan trọng Theo đó, công dân được phép xử sự theo một cách nhất định hoặc được yêu cầu người khác thực hiện những hành vi nhất định để thỏa mãn lợi ích của mình Quyền năng này được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của nhà nước Để bảo hộ cho các quyền dân sự của các chủ thể, Nhà nước quy định nhiều biện pháp, cách thức bảo vệ khác trong việc bảo vệ quyền dân sự, một trong số các biện pháp đó là quyền yêu cầu phản tố của bị đơn Quy định về yêu cầu phản tố của bị đơn tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền tố tụng của bị đơn, đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự, tạo điều kiện cho việc giải quyết nhanh, toàn diện các yêu cầu của đương sự trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự Vấn đề này sẽ

được làm rõ trong đề tài: “ Quyền phản tố và việc thực hiện quyền phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự”.

Để làm rõ vấn đề, em khai thác vấn đề theo hướng khái quát về quyền phản

tố và việc thực hiện quyền phản tố của bị đơn trong TTDS, đưa các ví dụ minh họa

để làm rõ vấn đề, từ đó nêu những điểm mới và những bất cập về yêu cầu phản tố trong BLTTDS hiện hành Trong bài có sử dụng các phương pháp giải thích, phân tích, đưa ví dụ chứng minh, nêu các điều luật để bài làm thêm phong phú, hiệu quả

Do thời gian cũng như hiểu biết còn hạn chế nên bài làm không thể tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để bài làm thêm hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn

NỘI DUNG

I QUYỀN PHẢN TỐ VÀ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN PHẢN TỐ CỦA

BỊ ĐƠN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Trang 2

Điều 200 BLTTDS năm 2015 quy định: “1 Cùng với việc phải nộp cho Tòa

án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

2 Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.

3 Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.”

Phản tố là quyền của bị đơn trong vụ án dân sự Thực chất việc phản tố của bị đơn là việc bị đơn khởi kiện ngược lại người đã kiện mình, nhưng được xem xét, giải quyết cùng với đơn khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên có liên quan đến nhau Nếu yêu cầu của bị đơn là một việc hoàn toàn không liên quan đến đơn khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn phải khởi kiện thành một vụ án dân sự mới Như vậy, yêu cầu phản tố của bị đơn chỉ phát sinh khi có việc nguyên đơn kiện bị đơn và tòa án có thẩm quyền đã thụ lí vụ án đối với yêu cầu của nguyên đơn, sau đó bị đơn cũng cho rằng nguyên đơn xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên có đơn yêu cầu tòa án giải quyết

Trang 3

là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn nếu như yêu cầu đó độc lập, không trùng với yêu cầu mà nguyên đơn yêu cầu tòa án giải quyết Trường hợp bị đơn có yêu cầu cùng về yêu cầu của nguyên đơn thì đây là ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn chứ không phải yêu cầu phản tố

Ví dụ: Nguyên đơn C có đơn khởi kiện yêu cầu tòa án công nhận quyền sở hữu đối với một chiếc xe máy và buộc bị đơn D phải trả cho mình chiếc xe máy đó

Bị đơn D có yêu cầu tòa án không công nhận xe máy này thuộc sở hữu của C hoặc công nhận xe máy này là thuộc sở hữu chung của C và D Trường hợp này yêu cầu của D không được coi là yêu cầu phản tố đối với C

Cùng với việc nộp ý kiến bằng văn bản về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho toàn án, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố và đây được coi là yêu cầu khởi kiện của bị đơn đối với nguyên đơn Yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, yêu cầu phản tố được chấp nhận để bù trừ nghĩa vụ đối với yêu cầu

của nguyên đơn là trường hợp bị đơn có nghĩa vụ với nguyên đơn và nguyên đơn cũng có nghĩa vụ đối với bị đơn Do đó, bị đơn có yêu cầu tòa án giải quyết để bù trừ nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn Căn cứ để công nhận quyền phản tố của bị đơn là quyền khởi kiện và quyền phản tố đều mang tính chất tài sản và phải tuân thủ quy định tại điều 379 BLDS 2015 về những trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ dân sự

Ví dụ: Nguyên đơn A có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn B phải trả lại tiền thuê nhà còn nợ năm 2015 là 10 triệu đồng Bị đơn B có quyền yêu cầu đòi nguyên đơn A phải thanh toán cho mình tiền sửa chữa nhà bị hư hỏng và bị đơn đã ứng trước để tra thay cho nguyên đơn là 5 triệu Trong trưởng hợp này, yêu cầu của bị đơn B được coi là yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn A và đây là yêu cầu phản tố

để bù trừ nghĩa vụ

Thứ hai, yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận dẫn đến việc loại trừ

chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là trường hợp bị đơn có

Trang 4

yêu cầu phản tố lại đối với nguyên đơn và nếu yêu cầu đó được chấp nhận, thì việc loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn vì không có căn cứ

Ví dụ: A có một chiếc xe ô tô thuộc sở hữu riêng đã bán cho C, nhưng nói với B là cho C thuê xe mỗi tháng 5 triệu Sau đó A chết, B khởi kiện yêu cầu C phải thanh toán tiền thuê xe trong vòng một năm qua là 60 triệu C có yêu cầu phản

tố yêu cầu toàn án công nhận quyền sở hữu xe ô tô và đang có tranh chấp Nếu Tòa

án chấp nhận yêu cầu của C sẽ dẫn đến không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của B đòi

C thanh toán tiền thuê xe ô tô

Thứ ba, có sự liên quan giữa yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu của

nguyên đơn là trường hợp hai yêu cầu này có mối quan hệ với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác

và nhanh chóng

Ví dụ: chị A khởi kiện yêu cầu anh B phải trợ cấp nuôi con là C một tháng 5 triệu Anh B có yêu cầu phản tố yêu cầu tòa án xác định C không phải là con của anh mình

2 Xác định chủ thể có quyền phản tố

Về chủ thể thực hiện quyền phản tố: Theo quy định tại khoản 4 Điều 72

BLTTDS năm 2015 , bị đơn được “Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ mà

nguyên đơn yêu cầu” Theo quy định này thì yêu cầu phản tố chỉ được thực hiện

khi và chỉ khi bị đơn có yêu cầu đối với nguyên đơn Trong trường hợp người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn tham gia tố tụng trong vụ án có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, tuy pháp luật chưa có quy định cụ thể nhưng có thể liên hệ với các quy định khác của BLTTDS và chế định ủy quyền được quy định trong BLDS Khi tham gia tố tụng, đương sự được quyền ủy quyền cho người khác đại diện thay mặt

mình Điều 86 BLTTDS xác định: “1 Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng

Trang 5

dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện.

2 Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền" Như vậy,cần căn cứ

vào văn bản ủy quyền để xác định quyền được thực hiện yêu cầu phản tố của chủ thể là người đại diện theo ủy quyền

3 Thời điểm thực hiện quyền phản tố

Theo khoản 3 điều 200 BLTTDS năm 2015: “ Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.” Về thời hạn bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố

trong BLTTDS năm 2015 đã có sự thay đổi Do BLTTDS năm 2015 có bổ sung một thủ tục tố tụng hoàn toàn mới là phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên bị đơn sẽ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm Tòa án ở phiên họp nêu trên Như vậy thời hạn đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn đã rút ngắn so với quy định tại khoản 2 Điều 177 BLTTDS năm 2015

Quy định mới này giúp cho việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn của tòa án được chủ động và hợp lý hơn Bởi lẽ nếu đưa ra quy định bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử như trước đây dẫn đến trường hợp tòa án đã tiến hành hòa giải xong đối với vụ án thì bị đơn mới có yêu cầu phản tố Lúc đó toàn án lại phải tiến hành các thủ tục xác minh, thu thập chứng cứ sau dó mới tiến hành hòa giải riêng đối với yêu cầu phản

tố của bị đơn và như vậy việc giải quyết vụ án sẽ bị kéo dài , gây tốn kém về thời gian, công sức của cơ quan tiến hành tố tụng

4 Thủ tục yêu cầu phản tố

Điều 202 BLTTDS năm 2015 quy định: “Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn.” Theo tinh thần của điều luật, thủ tục yêu cầu phản tố sẽ được thực

Trang 6

hiện như thủ tục khởi kiện của nguyên đơn quy định tại các Điều 189, 190, 191,192, 194 cả BLTTDS năm 2015

Khi tiến hành khởi kiện tại tòa án cá nhân, cơ quan, tổ chức phải làm đơn khởi kiện để nộp cho tòa án có thẩm quyền Đây là quy định bắt buộc, mọi hình thức khởi kiện không có đơn khởi kiện đều không hợp lệ Khi phản tố bị đơn phải ghi rõ những nội dung cơ bản được quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS năm

2015 Sau khi nhận được yêu cầu phản tố của bị đơn, toàn án phải xem xét yêu cầu của bị đơn, trước hết yêu cầu phản tố của bị đơn có thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 200 BLTTDS về các trường hợp yêu cầu phản tố được chấp nhận Nếu đúng là trường hợp phản tố, tòa án cần phải xem xét đến những điều kiện để thụ lí như về vấn đề thời hiệu, thẩm quyền…tòa án có thể trả lại đơn khởi kiện nếu thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Điều 192 Khi trả đơn tòa án phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về trả đơn khởi kiện Nếu thấy yêu cầu phản

tố thuộc thẩm quyền của tòa án, thì tòa án phải thông báo ngay cho người phản tố biết để họ đến tòa án làm thủ tục nộp tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tạm ứng án phí Sau khi đã thụ lý yêu cầu phản tố, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải thông báo cho nguyên đơn và những người liên quan biết đến việc tòa án thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn Nhưng người được thông báo phải nộp cho tòa án bản ý kiến của mình đối với yêu cầu phản tố của bị đơn và tài liệu chứng cứ kèm theo, nếu có theo đúng quy định tại Điều 170 và 200 BLTTDS năm

2015

Cần lưu ý: Trong trường hợp Tòa án nhận đơn yêu cầu phản tố của bị đơn để giải quyết trong cùng một vụ án, thì ngày thụ lý vụ án để tính thời hạn chuẩn bị xét

xử vụ án được xác định như sau:

Trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lí vụ án là ngày Tòa án nhận được đơn về yêu cầu phản tố của bị đơn cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo

Trang 7

Trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp cho tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí

Trường hợp có nhiều bị đơn có yêu cầu phản tố thì ngày thụ lí được xác định như sau: 1)Là ngày tòa án nhận được đơn về yêu cầu phản tố cuối cùng họ đều thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí; 2) là ngày người nộp cuối cùng cho tòa án biên lai nộp tiền tạm án phí

5 Vấn đề thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu phản tố

Điều 244 BLTTDS năm 2015: “1 Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi,

bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu.

2 Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút.”

Theo quy định, trường hợp đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng việc

bổ sung, yêu cầu vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện,yêu cầu phản tố ban đầu thì hội đồng xét xử sẽ không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu đó Được coi là vượt quá phạm vi yêu cầu phản tố khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Thay đổi, bổ sung số lượng tài sản vượt quá mức yêu cầu ban đầu;

+ Thay đổi hoặc bổ sung quan hệ pháp luật tranh chấp;

+ Thay đổi, bổ sung đối tượng bị khởi kiện;

+ Thay đổi, bổ sung đối tượng tranh chấp

Nói chung ở giai đoạn sơ thẩm đương sự có thể tự mình thực hiện quyền rút một phần hay toàn bộ yêu cầu khởi kiện và bất cứ thời điểm nào kể cả ngay tại phiên tòa sơ thẩm nhưn phải trước khi hội đồng xét xử nghị án

6 Vấn đề thay đổi địa vị tố tụng

Trang 8

Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 245 Việc thay đổi tư cách tố tụng của các đương sự do tòa án giải quyết bằng việc xác định lại tư cách tham gia tố tụng

đã được xác định trước đó Việc xác định lại tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trước khi mở phiên tòa do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện Nếu tại phiên tòa do Hội đồng xét xử thực hiện và phải được ghi vào biên bản tại phiên tòa Thực hiện quy định này trong thực tiễn xét xử là một vấn đề cần hết sức phải chú ý, vì nó sẽ liên quan đến hồ sơ vụ án Vấn dề đặt ra là sự thay đổi địa vị tham gia tố tụng của đương sự có dẫn đến việc thay đổi lại toàn bộ hồ sơ

vụ án, liên quan đến các giấy tờ mà tòa án đã lập từ khi thụ lý vụ án hay sự thay đổi địa vị tố tụng này chỉ bắt đầu ghi nhận trong bản án

II NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ BẤT CẬP VỀ YÊU CẦU PHẢN TỐ TRONG BLTTDS NĂM 2015

1 Một số điểm mới về yêu cầu phản tố trong BLTTDS hiện hành

BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 không quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn khi họ có yêu cầu phản tố, trong khi đó bản chất của yêu cầu phản tố là việc bị đơn khởi kiện lại nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nên bị đơn phải có quyền lợi của nguyên đơn; nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bị phản tố có quyền lợi và nghĩa vụ của bị đơn Chính vì thế, BLTTDS năm 2015 đã quy định thêm quyền, nghĩa vụ của bị đơn Tại khoản 4 Điều 72 BLTTDS năm 2015 Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này

BLTTDS năm 2004 và BLTTDS năm 2015 có quy định khác nhau về thời điểm bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố Tại khoản 3 Điều 177 BLTTDS năm

Trang 9

trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm” Tại khoản 3 BLTTDS năm 2015 lại quy định khác,  Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Do BLTTDS năm 2015 có bổ sung một thủ tục tố tụng hoàn toàn mới là phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên bị đơn sẽ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm Tòa án ở phiên họp nêu trên

2 Bất cập còn tồn tại

Mặc dù đã có sự bổ sung và sửa đổi nhưng BLTTDS năm 2015 vẫn chưa có quy định cụ thể về nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bị phản tố có quyền lợi và nghĩa vụ của bị đơn; nguyên đơn, bị đơn bị yêu cầu độc lập có quyền lợi và nghĩa vụ của bị đơn

Việc không quy định rõ quyền, nghĩa vụ của đương sự liên quan đến yêu cầu phản tố, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự liên quan đến việc thực hiện yêu cầu phản tố Đồng thời, sẽ khó ràng buộc nghĩa vụ của họ trong các hoạt động

tố tụng

Theo khoản 2 Điều 200 BLTTDS thì yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận khi thuộc 01 trong 03 trường hợp gồm: (1) để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; (2) loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc (3) giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập

có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn Tuy nhiên, do BLTTDS không quy định rõ nên đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau về yêu cầu phản tố của bị đơn đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Theo khoản 1 Điều 176 BLTTDS, bị đơn có yêu cầu phản đối chỉ áp dụng đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Cho nên, trong trường hợp người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu

Trang 10

độc lập thì bị đơn không có quyền phản tố đối họ, bất kể để giải quyết đúng đắn vụ

án cần phải giải quyết yêu cầu này của bị đơn

3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn

Thứ nhất, hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về điều khoản này,

do đó cần xây dựng kịp thời văn bản hướng dẫn để dễ dàng áp dụng trong thực tiễn hiện nay

Thứ hai, trên thực tế yêu cầu của nguyên đơn có thể phức tạp hơn và việc đưa

ra yêu cầu phản tố của bị đơn cũng có thể trên nhiều phương diện và việc chấp nhận yêu cầu phản tố một phần dựa trên quan điểm của Thẩm phán giải quyết vụ việc Chính vì vậy, Thẩm pháp có thẩm quyền giải quyết vụ việc nên linh hoạt, có kiến thức chuyên môn sâu rộng để khi nào chấp nhận phản tố và khi nào từ chối quyền yêu cầu phản tố của bị đơn

Thứ ba, trên thực tế bị đơn thường lỡ mất quyền yêu cầu phản tố của mình do

không biết, chính vì vậy việc pháp luật quy định rõ ràng hơn về quyền này là thật

sự cần thiết, cũng như có trách nhiệm phổ biến quyền này đối với bị đơn

KẾT LUẬN

Yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập là một trong những nội dung vô cùng quan trọng được BLTTDS quy định nhằm đảm bảo quyền khởi kiện cua công dân, đảm bảo kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án dân sự Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng, một vài quy định của BLTTDS về các vấn đề này đã phát sinh bất cập, gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết các vụ án dân sự, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Với các đề xuất trong bài viết, tác giả hy vọng góp phần vào việc hoàn thiện quy định BLTTDS về yêu cầu phản

Ngày đăng: 11/04/2018, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w