Bản chất của phương thức quản lý tổng hợp là việc nâng cao chất lượng quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững bằng việc dân chủ hoá các quá t
Trang 1Quản lý nhà nước về biển tại địa phương hiện nay
Việt Nam là một quốc gia bên bờ biển Đông, có chiều dài đường bờ biển trên 3.260
km, với 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nằm ven biển Biển hàm chứa các
hệ thống tài nguyên quy mô khác nhau, bao gồm các hệ sinh thái với tính liên kết chức năng cao và các giá trị dịch vụ rất quan trọng Biển chiếm vị trí địa chính trị quan trọng trên bình đồ thế giới và khu vực, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế cũng như bảo đảm an ninh, quốc phòng của nước ta Chính vì vậy, Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”
đã nêu rõ: “Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, trên cơ
sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn”
Công tác quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển được biết đến như một phương thức quản lý tiên tiến, được thừa nhận chính thức tại Mỹ năm 1972 với việc ban hành và thực thi Luật quản lý bờ biển, sau đó được nhân rộng và áp dụng phổ biến tại các nước phát triển có biển Bản chất của phương thức quản lý tổng hợp là việc nâng cao chất lượng quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững bằng việc dân chủ hoá các quá trình quản lý (từ hoạch định đến thực thi chính sách), dựa trên việc xác lập một cơ chế quản lý có sự tham gia tích cực, bình đẳng của các cộng đồng gắn với môi trường không gian ven biển
để chia sẻ và phát triển các lợi ích kinh tế biển giữa các ngành, lĩnh vực, các địa phương một cách hài hoà, đồng thời vẫn bảo đảm tính thống nhất về lợi ích quốc gia Tuy nhiên, đây là phương thức và cách tiếp cận quản lý còn mới đối với nước ta Quản lý tổng hợp không thay thế quản lý của các ngành sản xuất hiện nay như: dầu khí, thuỷ sản, du lịch, hàng hải và các lĩnh vực dịch vụ đi kèm, mà đóng vai trò kết nối và điều chỉnh hành vi phát triển của các ngành và các hoạt động khai thác, sử dụng biển, thông qua các cơ chế điều phối liên ngành và các công cụ tổng hợp khác Mục đích chung cuối cùng của quản lý tổng hợp và thống nhất về biển là đảm bảo
phát triển đa ngành, sử dụng đa mục tiêu (tối ưu hoá) và bảo đảm đa lợi ích (các bên
cùng có lợi) giữa nhà nước, tổ chức, cá nhân, các bên liên quan và cộng đồng địa phương, cũng như giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích giữa các ngành trong quá trình khai thác, sử dụng các hệ thống tài nguyên-môi trường biển Trong quản lý tổng hợp và thống nhất về biển, vùng bờ biển là nơi chuyển tiếp và chịu tác động tương tác giữa các quá trình biển, là nơi giàu có và đa dạng các loại hình tài nguyên thiên nhiên -tiền đề phát triển đa ngành, là nơi tập trung sôi động các hành động phát triển của con người Thế nhưng vùng này lại chỉ được quản lý theo ngành, địa phương
Trang 2Nhận thấy sự cần thiết phải sớm có một định hướng chiến lược tổng thể về biển, trước mắt cho tầm nhìn đến năm 2020, trên cơ sở đó hoạch định cơ chế, chính sách phù hợp cho từng ngành và tăng cường hệ thống quản lý nhà nước về biển,
Đảng ta đã ra Nghị quyết 09 - NQ/TW về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020” Nghị quyết đã nhấn mạnh công tác quản lý nhà nước về biển và xác định
rõ yêu cầu phải “xây dựng cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp, thống nhất về biển
có hiệu lực, hiệu quả”
Thực hiện Nghị quyết 09 – NQ/TW, tại kỳ họp lần thứ nhất, Quốc hội khoá XII đã thống nhất cần phải giao một cơ quan cấp Bộ giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo Trên cơ sở đó, ngày 4-3-2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, theo đó giao Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo
Việc giao Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý tổng hợp và thống nhất về biển cũng một lần nữa khẳng định Chính phủ quan tâm việc tăng cường các biện pháp quản lý theo nguyên tắc phát triển bền vững Theo đó, cần tách quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường biển với quản lý nhà nước của các ngành, nghề khai thác, sử dụng tài nguyên biển để bảo đảm tính khách quan vì mục tiêu phát triển lâu dài, hài hòa các lợi ích Với việc hình thành cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường,
hệ thống quản lý nhà nước về biển ở nước ta đã hoàn thiện thêm một bước và chuyển sang một giai đoạn mới Hệ thống này rất cần được tăng cường năng lực nhằm bảo đảm phát huy hiệu quả quản lý, đặc biệt là cần nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành, liên vùng và hướng mọi hoạt động quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên biển trong các ngành, lĩnh vực phù hợp với những chuẩn mực và yêu cầu của quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển theo nguyên tắc phát triển bền vững Tại Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 4-3-2013 của Chính phủ, một lần nữa, Chính phủ đã tiếp tục giao Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản
lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo Các nhiệm vụ được bổ sung tập trung vào công tác xây dựng cơ chế, chính sách tổng hợp phát triển bền vững kinh tế biển,
ổn định xã hội gắn với bảo vệ môi trường
Ở địa phương, Ủy ban nhân dân (UBND) là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về biển tại địa phương, giúp cho UBND cấp tỉnh thực hiện tốt chức năng này có các cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp về biển và các cơ quan quản lý nhà nước đối với các ngành, nghề khai thác, sử dụng tài nguyên biển Từ năm 2008, theo Thông tư liên tịch số 03-2008-TTLT-BTNMT-BNV ngày 15-7-2008 giữa Bộ Tài
Trang 3nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường thuộc UBND các cấp, thì Sở Tài nguyên và Môi trường được xác định là cơ quan tham mưu, giúp
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý tổng hợp về biển và hải đảo
Sở Tài nguyên và Môi trường có phòng Biển hoặc phòng Biển và Hải đảo để tham mưu, giúp giám đốc Sở về lĩnh vực này Ở cấp huyện, hiện có giao cho UBND các huyện ven biển thực hiện chức năng quản lý tổng hợp về biển nhưng Thông tư cũng chưa xác định rõ nội dung nhiệm vụ, quyền hạn của huyện về lĩnh vực này
Qua quá trình triển khai thực hiện tại địa phương thấy rằng, các địa phương thường ghép nhiệm vụ này vào các phòng chuyên môn hiện có của Sở, như: phòng Tài nguyên nước, Khoáng sản, Khí tượng thủy văn… mà không thành lập mới, các cán
bộ tại các phòng đó thực hiện thêm nhiệm vụ quản lý tổng hợp và thống nhất về biển Chính vì vậy, ngày 5-11-2010, liên bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường - Nội vụ
đã ban hành Thông tư liên tịch số 26/2010/TTLT-BTNMT-BNV, trong đó giao trách nhiệm cho Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh có biển chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ trình UBND cấp tỉnh quyết định thành lập Chi cục Biển và Hải đảo trên cơ
sở tổ chức lại phòng Biển và Hải đảo hoặc các phòng có tên gọi khác thực hiện chức năng quản lý nhà nước về biển và hải đảo Năm 2014, một lần nữa quy định Chi cục Biển và Hải đảo là một trong các tổ chức tham mưu tổng hợp, chuyên môn nghiệp
vụ trong tổ chức bộ máy của Sở Tài nguyên và Môi trường được tiếp tục quy định tại Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28-8- 2014 giữa Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Đến nay, cơ bản 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển đã thành lập Chi cục Biển và Hải đảo Các cơ quan quản lý nhà nước đối với các ngành, nghề khai thác biển bao gồm các
cơ quan quản lý nhà nước về các ngành, nghề nông nghiệp khai thác biển; các cơ quan quản lý nhà nước về công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản và dầu khí; các cơ quan quản lý nhà nước về giao thông vận tải biển; các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch biển
Hệ thống quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo ở nước ta hiện nay vận hành dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, từng bước được hoàn thiện theo quan điểm quản lý toàn diện: kết hợp giữa quốc phòng, an ninh với xây dựng kinh tế và bảo vệ tài nguyên, môi trường Trong hệ thống này, ngành tài nguyên - môi trường đóng vai trò “nhạc trưởng”, là đầu mối thực hiện quản
lý tổng hợp và thống nhất về biển
Trang 4Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho các cơ quan quản lý nhà nước về biển, để các cơ quan này có đủ tiềm lực khoa học, công nghệ vươn ra biển như xây dựng, hoàn thiện
hệ thống trạm quan trắc tổng hợp tài nguyên và môi trường, khí tượng thủy văn biển; đầu tư các thiết bị phục vụ cho nghiên cứu biển… Dựa trên những kinh nghiệm quản lý biển tiên tiến trên thế giới hiện nay, nước ta đã áp dụng những phương thức, mô hình đó phù hợp với điều kiện của Việt Nam, hướng tới lấy quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển để phát huy hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường phát triển bền vững Không thể không nhắc một số dự án hợp tác quốc tế thí điểm về mô hình quản lý tổng hợp dải ven biển, đã được triển khai tại một số địa phương như Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trên thực tế, trong hệ thống quản lý nhà nước về biển, còn tồn tại một số bất cập:
Một là, vẫn còn chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ nên khó bảo đảm tính thống
nhất của quản lý nhà nước
Hai là, trong quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên biển, các quy hoạch khai thác
của từng ngành chưa tính đến yếu tố tổng thể (không dựa trên quy hoạch tổng thể không gian biển), làm gia tăng thêm các mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường khi nguồn tài nguyên biển là có hạn và ngày càng bị thu hẹp
Ba là, trong phân công trách nhiệm quản lý quy hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội khu vực biển, đảo giữa các cơ quan quản lý tổng hợp, chưa có sự phân công rành mạch với nhau; giữa trách nhiệm quản lý quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, chưa có với trách nhiệm quản lý các quy hoạch,
kế hoạch phát triển sản phẩm, dịch vụ mang tính chuyên ngành vẫn đang triển khai Chưa phân cấp rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong việc quản
lý vùng bờ biển
Vì sao còn những bất cập trên? Cần thẳng thắn nhìn nhận rõ những khó khăn, thách thức đang tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về biển, đảo Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến biển, đảo chưa đầy đủ và hoàn thiện, mới chủ yếu phục vụ cho công tác quản lý nhà nước của từng ngành, lĩnh vực Trong quản
lý biển, vẫn bị phân tán các nguồn lực Vì vậy, hiện nay chưa xây dựng được công
cụ quản lý tổng hợp biển ở tầm vĩ mô là những quy hoạch tổng thể, dài hạn về sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; để dựa vào đó có thể điều chỉnh, sắp xếp lại một cách có trật tự các quy hoạch, kế hoạch, dự án mang tính chuyên ngành
về khai thác tài nguyên biển, bảo đảm cân đối được các lợi ích từ cấp quốc gia đến
Trang 5từng ngành, lĩnh vực, địa phương Cơ quan chức năng ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa thấy rõ được sự cần thiết phải tăng cường hợp tác với nhau
để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đối phó với những nguy cơ, hiểm hoạ chung của dải ven bờ như: nước biển dâng do biến đổi khí hậu, ô nhiễm, suy thoái các hệ sinh thái, đói nghèo và việc di dân tự phát v.v
Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về biển tại địa phương, cần quan tâm một số giải pháp trọng tâm như sau:
Thứ nhất, cần tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các bộ,
ngành liên quan, của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong việc thực hiện
Nghị quyết Trung ương 4 khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, quán triệt, thực hiện tốt các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa “Chiến lược
biển Việt Nam đến năm 2020” của Trung ương, như: Luật Biển Việt Nam, Luật Tài
nguyên, Môi trường biển và hải đảo và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các Luật nêu trên Đặc biệt là tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân ở các địa phương ven biển về phát triển kinh tế - xã hội gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần các văn kiện Đại hội XII của Đảng
Thứ hai, xác định rõ tầm nhìn của sự phát triển đối với hệ thống quản lý nhà nước về
biển, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi cơ chế quản lý nhà nước tổng hợp về biển ở địa phương nói chung và trên phạm vi toàn quốc nói riêng; nhân rộng mô hình quản lý tổng hợp về biển; bảo đảm tính minh bạch trong hoạch định và thực thi chính sách trên
cơ sở phát huy cao độ tính chất dân chủ (đưa các yếu tố dân chủ trực tiếp vào trong quá trình quản lý để cộng đồng trở thành đối tác đồng quản lý nhằm khai thác bền vững biển với chính quyền)
Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật, chiến lược, quy hoạch về quản lý
tổng hợp và thống nhất về biển trên cơ sở hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch ngành cho phù hợp với yêu cầu quản lý tổng hợp
Thứ tư, hoàn thiện một bước hệ thống tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ các cơ
quan trong hệ thống quản lý nhà nước về biển theo hướng phân công, phân cấp rõ
về thẩm quyền, trách nhiệm; xác định mô hình tổ chức bộ máy quản lý biển thích hợp và ổn định cho giai đoạn áp dụng thành công cơ chế quản lý tổng hợp biển theo nguyên tắc phát triển bền vững
Trang 6Thứ năm, xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức
quản lý nhà nước tổng hợp về biển thuộc ngành tài nguyên và môi trường Đồng thời, tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức quản lý tổng hợp về biển cho cán bộ, công chức các bộ, ngành có liên quan nhằm trang bị tư duy và có lối hành xử thích ứng với những yêu cầu về quản lý tổng hợp biển
Ths Đoàn Thị Thanh Mỹ