1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc mạ ở vùng tây nguyên

38 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 546,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó cho thấy mỗi dân tộc mỗi vùng miền lại có những nét văn hóa đặc sắc riêng và cũng là nền tảng kiến thức để giúp tôi tìm hiểu về người Mạ.Người Mạ có tên gọi khác Châu Mạ, Mạ Xốp, M

Trang 2

2.2 Giá trị của văn hóa nghệ thuật dân gian của dân tộc

Mạ đối với kho tàng văn hóa các dân tộc Việt

điểm………

điểm………

Trang 3

3.1.2 Nhược điểm……….

3.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị truyền

Mạ……… .

3.2.1 Nâng cao công tác tổ chức quản lý………

3.2.2 Khai thác giá trị văn hóa truyền thống………

3.2.3 Đầu tư phát triển cho các nghệ nhân dân gian……….

3.2.4 Nâng cao tầm quan trọng của văn hóa dân tộc đối với thế hệ trẻ……

PHỤ

LỤC………

Trang 4

ngưỡng, văn nghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xã hội Từ đó cho thấy mỗi dân tộc mỗi vùng miền lại có những nét văn hóa đặc sắc riêng và cũng là nền tảng kiến thức để giúp tôi tìm hiểu về người Mạ.

Người Mạ (có tên gọi khác Châu Mạ, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Ngắn) là một dân tộc ít người trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, cư trú chủ yếu tại nam Tây Nguyên

Văn hóa dân gian của dân tộc Mạ vô cùng phong phú hơn hết còn mang nhiều ý nghĩa nhân văn sâu sắc, ra đời và tồn tại trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc

Tìm hiểu về văn hóa dân gian của người Mạ là tìm hiểu về các loại hình, giá trị và ý nghĩa của chúng đối với cuộc sống củangười dân Từ đó ta có thể thấy bản sắc riêng của tộc người Mạ

ở Tây Nguyên

Xuất phát từ những mục đích trên mà tôi muốn tìm hiểu vềvấn đề: ‘‘Tìm hiểu giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Mạ ở vùng Tây Nguyên’’

Trang 5

2. Cảm nhận khi học môn Văn hóa các dân tộc thiểu số:

Cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới cô Nguyễn Thị

Phương Thúy đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong học phần này.Qua học phần này tôi đã được hiểu rõ ràng và sâu sắc hơn vềvăn hóa của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, từ đó có tinh thần gìn giữu và phát huy các giá trị văn hóa của nền văn hóa đa sắc tộc này

NỘI DUNG 1.Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của người

Mạ ở Tây Nguyên.

1.1 Khái quát vùng Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên, một thời gọi là Cao nguyên Trung phần Việt Nam là khu vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ

tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk,Đắk Nông và Lâm Đồng Tây Nguyên là một trong 3 tiểu vùng của miền trung Việt Nam Tây Nguyên cùng với Bắc Trung Bộ Việt Nam và Nam Trung Bộ Việt Nam hợp thành miền trung của Việt Nam Nếu xét diện tích Tây Nguyên bằng tổng diện tích của

5 tỉnh ở đây, thì vùng Tây Nguyên rộng 54.641,0 km²

Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trước là một tỉnh), Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông), Nam Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng) Trung Tây

Trang 6

Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam.

Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10

và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng

4 là hai tháng nóng và khô nhất Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400–500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm, đặc điểm của khí hậu núi cao

So với các vùng khác trong cả nước, điều kiện kinh tế - xã hội của Tây Nguyên có nhiều khó khăn, như là thiếu lao động lành nghề, cơ sở hạ tầng kém phát triển, sự chung đụng của nhiều sắc dân trong một vùng đất nhỏ và với mức sống còn thấp Tuy nhiên, Tây Nguyên có lợi điểm về tài nguyên thiên nhiên Tây Nguyên có đến 2 triệu hecta đất bazan màu mỡ, tức chiếm đến 60% đất bazan cả nước, rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm, trà

Nhờ địa thế cao nguyên và nhiều thác nước, nên tài

nguyên thủy năng của vùng lớn và được sử dụng ngày càng có hiệu quả hơn Trước đây đã xây dựng các nhà máy thủy điện ĐaNhim (160.000 kW) trên sông Đa Nhim (thượng nguồn sông Đồng Nai), Đray H'inh (12.000 kW) trên sông Serepôk Mới đây, công trình thủy điện Yaly (700.000 kW) đưa điện lên lưới từ năm

2000 và đang có dự kiến xây dựng các công trình thủy điện khác như Bon Ron - Đại Ninh, Plây Krông Tây Nguyên không giàu tài nguyên khoáng sản, chỉ có bôxit với trữ lượng hàng tỉ tấn là đáng kể

Trang 7

1.2 Khái quát về người Mạ

1.2.1 Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bổ dân cư

Người Mạ (có tên gọi khác Châu Mạ, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Ngắn) là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, cư trú chủ yếu tại nam Tây Nguyên

Người Mạ nói tiếng Mạ thuộc ngữ chi Ba Na của ngữ tộc Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Mạ ởViệt Nam có dân số 41.405 người, cư trú tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Mạ cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng (31.869 người, chiếm 77,0% tổng số người Mạ tại Việt Nam), Đắk Nông (6.456 người), Đồng Nai (2.436 người)

Rất ít người biết rằng trước đây cả vùng Đồng Nai thượng

thuộc Tỉnh Lâm Đồng có một “Tiểu vương quốc” của người “Mạ” nằm giữa “Chân Lạp (Khmer)” và “Chiêm Thành (Champa)“.

“Tiểu vương quốc” này mờ dần trên con đường Nam tiến của

người Việt và bị xoá nhòa vào thế kỷ 17 khi cả một vùng của

“Chân Lạp” và “Chiêm Thành” thuộc về “Việt Nam“.

“Tiểu quốc Mạ” là một “cổ vương quốc” của các bộ tộc mà

phần lớn là người Mạ ở khu vực cao nguyên Di Linh thuộc nam Tây Nguyên, Việt Nam, được hình thành từ khoảng cuối thế kỷ

15 và chấm dứt sự tồn tại sau khi phân rã ra thành các bộ tộc riêng biệt vào khoảng cuối thế kỷ 17

Lãnh thổ người Mạ đã từng ổn định trong lịch sử, khiến cho

một số tài liệu gọi nó là “Tiểu vương quốc Mạ” hoặc “Xứ Mạ“

Trang 8

Lãnh thổ người Mạ rất rộng, nhưng đến cuối thế kỷ 17 và đặc biệt là dưới ách thống trị của người Pháp, người Mạ đã rút sâu vào rừng núi để bất hợp tác và chống chính quyền này Địa bàn vùng Mạ đã bị thu hẹp lại trong phạm vi một số xã của huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng ngày nay.

1.2.2 Khái quát về đặc điểm văn hóa

Người Mạ làm nương rẫy trồng lúa và cây khác như ngô, bầu, bí, thuốc lá, bông Công cụ sản xuất thô sơ, có các loại xà-gạt, xà-bách, dao, rìu, gậy chọc lỗ Trong tỉnh Lâm Đồng (huyện Cát Tiên), người Mạ có làm ruộng nước bằng kỹ thuật lùa cả đàn trâu xuống ruộng để trâu giẫm đất đến khi sục bùn thì gieo lúa giống (xạ lúa) Người Mạ nuôi trâu, bò, gà, vịt,

ngan theo cách thả trâu, bò vào rừng sống thành đàn, chỉ khi cần giết thịt hoặc giẫm ruộng mới tìm bắt về Phụ nữ Mạ nổi tiếng về nghề dệt vải truyền thống với những hoa văn tinh vi hình hoa lá, chim thú với nhiều màu sắc Nghề rèn sắt nổi tiếng

ở nhiều làng Họ tự luyện quặng lấy sắt để rèn các công cụ sản xuất và vũ khí như xà gạt lưỡi cong, lao Ở vùng ven Đồng Nai,người Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông

Tổ chức cộng đồng

Người Mạ sống thành từng bon (làng), mỗi bon có từ 5 đến

10 nhà sàn dài (nhà dài là nơi ở của các thế hệ có chung huyết thống) Đứng đầu bon là quăng bon (già trưởng làng)

Bộ tộc Mạ đã xác lập được chế độ phụ hệ vững chắc trong hôn nhân gia đình Đây là điều khác nhau giữa người Mạ với người Kơho, Chil, Lạt và Mnông Lãnh thổ người Mạ đã từng ổn

Trang 9

định trong lịch sử, khiến cho một số tài liệu xưa gọi nó là tiểu vương quốc Mạ hoặc xứ Mạ.

Hôn nhân gia đình

Chế độ hôn nhân của người Mạ là một vợ, một chồng, theochế độ phụ hệ Khi con trai đến tuổi trưởng thành (khoảng 15-

17 tuổi), cảm mến cô gái nào thì báo cáo cha mẹ để tìm người mai mối Người Mạ quan niệm, khi người con gái đi lấy chồng, nhà gái mất đi một lao động, nên sính lễ được đòi hỏi khá nhiều

để đền bù sự mất mát đó Người con trai muốn đính hôn với một người con gái thì phải biếu bố mẹ vợ tương lai nhiều món quà quí, thường là một ché rượu, một con gà, một số tặng

phẩm như chuỗi hạt đeo cổ, lục lạc, lược sừng và một số đồ trang sức nhỏ khác theo ý thích của người vợ tương lai Trước khi tiến hành hôn lễ, nhà trai nộp cho nhà gái một cặp chiêng,

ba mươi cái ché, hai con trâu, ba đến sáu con lợn Trong ngày

cử hành hôn lễ, người con gái gùi một gùi củi về nhà chồng, mẹchồng đón gùi củi, hướng dẫn cô dâu và đón mọi người vào nhàlàm những lễ theo qui định Người mai mối đưa cho chú rể một chén rượu, sau khi uống một nửa, chú rể đưa cho cô dâu uống,

cứ như thế lặp đi, lặp lại 6 lần trước sự chứng kiến của hai họ

Lễ nghi bắt buộc trong ngày cưới là trao vòng, nếu chưa thực hiện có nghĩa là nghi lễ chưa được chính thức Tiếp theo là múa,hát, đánh chiêng, thổi kèn Suốt đêm vợ chồng trẻ và mọi ngườitrong bon tiệc tùng, cũng có nhà tiệc tùng suốt mấy ngày liền Sau hôn nhân, sự cư trú thiên về nhà chồng, nhưng tàn dư mẫu

hệ và hình thức cư trú song phương vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi Tập quán phổ biến là sau lễ cưới chàng rể thường ở nhà vợ, sau khi hoàn tất các lễ vật mới đưa vợ về nhà mình Từ đó, đôi vợ

Trang 10

chồng trẻ ở hẳn bên nhà chồng, một số nơi có tập quán nhà gái

đi hỏi chồng và cư trú luôn phiên mỗi bên vài năm cho đến khi cha mẹ không còn nữa thì ở hẳn bên có cha mẹ còn sống Tục kết hôn với em chồng và em vợ vẫn còn phổ biến, khi người chồng chết, người vợ có thể lấy em chồng (nếu em chồng chưa lấy vợ hoặc vợ chết Nếu không có em trai chồng để lấy thì người vợ goá phải ở lại nhà chồng trong ba năm để nuôi con, trả một phần sính lễ do gia đình chồng yêu cầu và sau đó về nhà đẻ đi bước nữa với hai bàn tay trắng Thông thường, phần sính lễ đó dùng vào bữa tiệc cuối cùng để người vợ goá báo cáonhà chồng trước khi về nhà đẻ Một số người vợ goá không muốn "tái giá" thì ở cùng con trai trưởng và được thừa kế tài sản cùng với con trai trưởng Trường hợp người vợ chết, người chồng lấy em gái của người vợ quá cố (nếu em vợ chưa chồng hoặc chồng chết, nhưng phải thoả thuận cả hai bên), nếu người

vợ đã mất không có em gái, người chồng đi lấy vợ khác, tài sản thuộc về người chồng Nếu trái với nguyên tắc trên thì bị làng phạt vạ Quan hệ nam nữ trước hôn nhân không ảnh hưởng đếngiá trị của người con gái lúc đi lấy chồng Trong xã hội cũ, hiện tượng đa thê vẫn tồn tại ở tầng lớp trên Tuy nhiên, muốn lấy vợ

lẽ, phải được sự thoả thuận của vợ cả, người vợ cả được nhận của hồi môn Ai biết điều khiển một vụ tranh cãi có quyền lấy hai vợ đã phần nào phản ánh hôn nhân của người Mạ Tình trạng li hôn ít xảy ra, bởi khi li hôn phải được già làng chấp nhận mới hợp thức theo phương thức của người Mạ Người

ngoại tình bị coi là phạm tội lớn, kẻ gian dâm phải chịu tội với thần linh, bồi thường cho người bị phụ tình theo phân xử của toà án phong tục Ngày nay, hôn nhân có những thay đổi cho

Trang 11

phù hợp với tình hình mới, nhiều tập tục lạc hậu bỏ, lưu giữ những tập tục tiến bộ.

Ma chay

Khi trong nhà có người chết, công việc đầu tiên của người nhà là mặc những bộ quần áo quí nhất cho người chết, để chân duỗi ra cho ngay ngắn và buộc chân lại, hai tay úp lên ngực, sau đó lấy cái bát gối đầu cho người chết Việc để người chết trong nhà là để tỏ lòng thương tiếc, nên người Mạ thường để người chết trong nhà 7- 8 ngày

Tuy nhiên, trẻ sơ sinh chết thì được chôn ngay, trẻ mới lớn

để vài ngày rồi mới chôn Quan tài được đưa vào nhà bằng cửa lớn mới làm, chứ không phải bằng cửa chính Quan tài được làmbằng gỗ tốt Thường là ngày thứ ba, người chết được bỏ vào hòm, sau đó họ hàng, làng xóm, bạn bè mới đến viếng Người

Mạ có tục sắm sửa và phân chia đồ đạc cho người chết như khi còn sống Con cháu, anh em thường cắt một phần tóc của

mình bỏ vào hòm người đã chết, với hi vọng người chết có

“nguyên liệu để lợp nhà” Người ở bon nào chết, chôn ở bon đó, người cùng họ thì chôn chung một nghĩa địa Người chết được đối xử bình đẳng như nhau, không phân biệt giữa già làng và thường dân Thủ tục đào huyệt đơn giản, không cần phải xem hướng, miễn là vừa hòm của người chết Huyệt đào xong lát một ít lá cây, đặt hòm lên trên, trải chiếc chiếu của người chết nằm khi còn sống, sau đó đắp đất, vun cao mộ Chôn xong của cải đã chia cho người chết được làm hỏng chút ít (có lẽ là để người khác không lấy) để bên cạnh mộ để người chết sử dụng Dưới chân mộ, làm một giàn thấp để lên đó những dụng cụ làm bếp Những nhà giàu có, họ làm tang trâu và làm một chuồng

Trang 12

trâu có để ít xương và sừng của con trâu bị giết đặt cạnh mộ Nơi chôn cất được coi là nơi cấm kị nên sau khi chôn không ai tới đó, chỉ trừ khi có người chết đem đến chôn ở đó Đám tang xong, mọi người tắm rửa ở suối xong mới về nhà Trước khi vào nhà phải ngồi tập trung một chỗ, lấy nước lá ổi hoà với máu gà, vẩy lên mọi người và cầu khấn, mọi thủ tục tiến hành xong, mọingười được vào nhà Sau đó, nhà có người mất kiêng 7 ngày không đi làm Hết bảy ngày, họ giết một con gà, nấu nước sôi, lấy lá ngải cứu làm lễ rửa một lần nữa mới đi làm.

Tín ngưỡng

Người Mạ thường cử hành những cuộc lễ cúng thần nông nghiệp theo chu kì canh tác theo nông lịch của người Mạ Các vịthần được thờ cúng là thần lúa (Yàng còi), thần rừng (Yàng bri), thần núi (Yàng bơ nơm), thần lửa (Yàng us), Những lễ này được tiến hành theo qui mô gia đình, họ tộc, bon Lễ cúng thần rừng được tiến hành khi phát rẫy, lễ vật cúng tuỳ theo kinh tế của từng gia đình, nhưng thường gồm rượu cần, gà hoặc vịt Khirẫy phát xong, cúng thần lửa, trong lễ cúng tạo ra lửa bằng cách cổ truyền (dùng mây, nửa, đá và cỏ khô gột ra lửa), đem lửa đó đi đốt rẫy Từ khi lúa được tra đến khi lúa trổ bông nhiều nghi lễ được tổ chức tại gia đình, vật hiến sinh là gà, vịt Trước khi thu lúa, người Mạ thịt lợn hoặc dê để tạ thần, lễ cúng này gọi là Yu rmul Trong lễ cúng này, phải kiêng kị nhiều điều trong bảy ngày, bảy đêm Khi lúa đã được đưa về kho, lễ cúng lớn nhất hàng năm bắt đầu chuẩn bị tổ chức, đánh dấu một mùa rẫy kết thúc Vật hiến sinh trong lễ thường là lợn, gà, vịt, dê Mỗi chủ nhà dựng một cây nêu trên rẫy của mình, nhổ một cặp gốc rễ mang về dắt lên phần mái nhà đối diện với cửa ra vào,

Trang 13

một cây nêu khác (hoặc lấy cây nêu đã cắm trên rẫy) được dựng bên cạnh kho lúa Tuỳ theo từng lễ cúng mà người Mạ cúng ở nương rẫy hay ở nhà Ngày nay, lễ cúng lúa vẫn được duy trì, tuy nhiên không đầy đủ như trước nữa Ngoài ra, người

Mạ thường tổ chức lễ hiến sinh vào những dịp vui mừng như cưới hỏi, sinh đẻ, về nhà mới, kết nghĩa anh em, sắm được tài sản quí, ốm đau, dịch bệnh, tang gia, thiên tai hạn hán Đó là những cơ hội để chủ nhà thể hiện tinh thần cộng đồng với bon, vui có nhau, buồn cùng chia sẻ, cùng nhau lo toan, cùng nhau hưởng thụ

Lễ hiến sinh lớn nhất của người Mạ là đâm trâu Trước đây

cứ vài năm một lần, các bon ở gần nhau hội họp để tổ chức lễ đâm trâu Tuy nhiên cũng phá lệ, nếu như già làng hoặc chủ nhà mơ thấy thần báo mộng phải giết trâu để tạ ơn, thì lập tức tiến hành lễ đâm trâu Đây là tín ngưỡng nông nghiệp nguyên thủy, đâm trâu để tạ ơn thần linh Ngày nay, tuỳ theo tình hình

cụ thể mà tổ chức lễ đâm trâu Cây nêu trong lễ đâm trâu được trang hoàng công phu trong nhiều ngày, làm nhà cúng Yàng (dogià làng chọn vị trí) Cây nêu buộc trâu được dựng ngay trước nhà cúng Yàng và mọi thủ tục của nghi lễ được tổ chức tại đó

Lễ đâm trâu biểu hiện của tín ngưỡng nông nghiệp nguyên thuỷ, hơn nữa nó in dấu ấn của hoạt động kinh tế và tinh thần của người Mạ

Văn hóa

Người Mạ nổi bật với kho tàng văn học dân gian phong phú với nhiều truyện cổ, truyền thuyết, huyền thoại độc đáo Truyện kể sinh động thể hiện được ước mơ của con người, tiêu

Trang 14

K'Choi, K'Tàr Truyện cổ tích, trong sự hóa thân có xuất hiện chi tiết người hóa thành các loài động vật, thậm chí vật cũng có thểsinh ra người và đôi khi vật lại là thầy của người Trong các

huyền thoại đã thể hiện quan niệm loài người là sản phẩm của

hang Họ cho rằng loài người ban đầu này đã bị huỷ diệt hầu hết Huyền thoại của người Mạ trong quá trình phát triển cũng đôi chút có sự pha tạp, nhưng nó vẫn giữ được đặc trưng riêng như tính nguyên hợp, sự gắn chặt tín ngưỡng và nghi lễ Bên cạnh đó, người Mạ cũng đã có những luật tục được truyền tụng qua các thời kì lịch sử, với 13 chương gồm 68 điều đã thể hiện được mối quan hệ trong xã hội Nổi bật nhất trong các điều luật

đó là vấn đề hôn nhân và gia đình (từ Chương 5 đến Chương 10), qui định xét xử các tội phạm về tình dục (Chương 11),

những qui định chung về luật tục (Chương 13), ngoài ra luật cònthể hiện các nội dung về các mối quan hệ khác nhưng rất ít Các loại nhạc cụ được sử dụng trong các nghi lễ, hội hè thường

là cồng chiêng, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lỗ ô, sáo trúc ba

lỗ gắn vào trái bầu khô

Nhà cửa

Nhà người Mạ không chỉ có những đặc trưng đáng chú ý

mà còn có thể "đại diện" cho nhà của người Cờ Ho, Chil trên caonguyên Lâm Đồng Mạ là cư dân lâu đời trên mảnh đất này Hiện nay nhà người Mạ đã có rất nhiều thay đổi Nhà sàn chỉ còn ở những vùng cao, vùng thấp nhà đất đã chiếm ưu thế Nhà

ở cổ truyền của người Mạ là nhà sàn dài tới 20–30 m (nay đã hiếm) Nay vẫn là nhà sàn nhưng là nhà ngắn của các gia đình nhỏ

Trang 15

Bộ khung nhà với ba vì hai hoặc bốn cột Kết cấu đơn giản thường là ngoãm tự nhiên và buột lạt Mái hồi khum tròn nhưng không có "sừng" trang trí Hai mái chính cũng hơi khum nên mặt cắt của nóc có hình "parabôn" Mái nhà rất thấp nên phần mái bên trên cửa, người ta phải làm vồng lên để ra vào khỏi đụng đầu.

Tổ chức mặt bằng sinh hoạt cũng có những đặc điểm đángchú ý: khu vực giữa nhà là nơi sinh hoạt chung của mọi gia đình(tiếp khách, cúng bái ), nơi này có bàn thờ thần bếp và có mộtcái cột để buộc ché rượu cần khi tiếp khách Còn dưới chân vách hậu là một dãy dài những ú, ché đựng rượu cần Các hộ gia đình ở về hai bên của khu trung tâm

Phần diện tích và không gian trong nhà dành cho các gia đình cũng có những đặc điểm rất dễ nhận: giữa nhà là một kho thóc, mặt sàn kho các mặt sàn nhà khoảng trên 1 mét

Dưới gầm kho thóc đặt bếp Trên bếp có dựa treo Giáp vách haậu là sạp dành cho mọi thành viên trong gia đình Giáp vách tiền là một sạp nhỏ và thấp (khoảng 70–80 cm) trên để bát, đĩa, vỏ bầu khô và các thứ lặt vặt khác

Nhà người Cờ Ho hoặc Chil về hình thức thì nhà của họ cũng giống nhà ngườ Mạ Cái khác ở cách bố trí trong nhà là giáp vách tiền, cái sạp ở nhà người Mạ thì người Cơ ho còn kết hợp làm chuồng hà

Trang phục

Có cá tính riêng về tạo hình áo nữ, đặc biệt là phong cách thẩm mỹ Mùa làm nông, nhiều người ở trần, mùa rét choàng tấm mền Có tục cà răng, căng tai, đeo nhiều vòng trang sức

Trang 16

Trang phục nam

Thường để tóc dài búi sau gáy, ở trần, đóng khố Khố cũng

có nhiều loại khác nhau về kích thước và hoa văn trang trí Loại khố trang trọng có đính hạt cườm, tua dài Bên cạnh đó họ còn mặc áo chui đầu, xẻ tà, vạt sau dài hơn vạt trước che kín mông

Áo có các loại: dài tay, ngắn tay và cộc tay Thủ lĩnh búi tóc cắmlông chim có bộ khiên giáo kèm theo

Trang phục nữ

Phụ nữ để tóc dài búi sau gáy Xưa họ ở trần mặc váy, có

bộ phận mặc áo chui đầu Áo nữ mặc vừa sát thân, dài tới thắt lưng, không xẻ tà, vạt trước và sau áo bằng nhau; cổ áo tròn thấp Tổng thể áo chỉ là hình chữ nhật màu trắng Nửa thân dưới áo trước và sau lưng được trang trí hoa văn các màu đỏ, xanh là chính trong bố cục dải băng ngang thân với các mô típ hoa văn hình học là chủ yếu Chiều dọc hai bên mép áo được dệt viền các sọc trang trí Váy là loại váy hở được dệt trang trí hoa văn với những phong cách bố cục đa dạng Về cơ bản là các sọc: màu xanh, đỏ, vàng, trắng trên nền chàm chủ yếu là hoa văn hình học theo nguyên tắc bố cục dải băng ngang

truyền thống Có trường hợp nửa trên váy dệt trang trí hoa văn kín trên nền sáng (trắng) với hoa văn hình học màu đỏ xanh

Nam nữ thường thích mang vòng đồng hồ ở cổ tay có

những ngấn khắc chìm - ký hiệu các lễ hiến sinh tế thần cầu mát cho chủ nhân nó Nam nữ đều đeo hoa tai cỡ lớn bằng

đồng, gà voi, gỗ; cổ đeo hạt cườm Phụ nữ còn mang vòng chânđồng nhiều vòng xoắn

Trang 17

2 Một số loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian và ý nghĩa của nó đối với đời sống văn hóa của người Mạ

2.1 Một số loại hình văn nghệ dân gian

2.1.1 Câu đố

Câu đố Mạ là những câu hỏi ngắn gọn, được đặt ra để chỉmột hình thái hoạt động của nhận thức nhằm đoán biết mộtđiều "bí ẩn" nào đó mà người già thường nêu lên trước lớp trẻ,cũng nhằm vận động suy nghĩ của con người bằng cách liên hệ,

so sánh mà tri thức thu được trong khi quan sát các sự vật, hiệntượng thiên nhiên và xã hội

Câu đố Mạ là một loại hình sáng tác dân gian, phản ánhcác sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan theo một lốinói ẩn dụ rất hay

Câu đố Mạ thường là phương tiện kiểm tra nhận thức các

sự vật, hiện tượng theo lối nói chệch, nói một đằng hiểu mộtnẻo để giúp người ta hiểu biết về cuộc sống, về kinh nghiệmlàm ăn và đấu tranh sinh tồn mà các bậc cha mẹ thường kể vớicon cái sau các bữa ăn, khi đi rẫy, lúc nghỉ ngơi hay nhữngngày lễ hội

Các vật đố là mọi hiện tượng thường ngày muôn màumuôn vẻ như các dụng cụ sản xuất, cây, con, nhà cửa, vậtdụng, và con người với con người

Câu đố Mạ rất gắn bó với lao động sản xuất và sinh hoạthàng ngày của nhân dân lao động trên mọi phạm vi và đem ra

Trang 18

đố, hỏi Vì thế, câu đố Mạ còn là tư liệu giúp cho con người hiểubiết đời sống kinh tế và văn hóa qua các thời kỳ lịch sử.

Câu đố Mạ, không chỉ là những câu hỏi giải trí mà còn thửthách tài năng ứng đối trong chức năng thẩm mỹ toàn diện thựctại xã hội Có nhiều câu đố được đưa vào dân ca mà người Mạvận dụng sáng tạo trong khi giao tiếp và uống rượu

Có thể nói: mọi vật chung quanh người Mạ đều có thể làcâu đố cả Đa số câu đố Mạ, mới nghe tưởng là tục ngữ, bởi sựcấu trúc của nó cũng ngắn gọn, cô đúc và vần điệu Câu đố Mạđược xây dựng hình tượng trên cơ sở đặc điểm của ngôn ngữdân tộc Nội dung, hình thức câu đố Mạ rất khôn khéo và kínkẽ

Câu đố Mạ ngày nay vẫn còn khả năng tồn tại và đangđược bà con dân tộc Mạ ưa dùng như:

-Con trâu đằm sâu trong nước , là gì?

Trang 19

-Buôn Kòn Dòn địu con bên hông?

Tục ngữ Mạ là những câu nói theo thói quen, Chính từnhững câu nói quen miệng, hợp lý, sau mới trở nên gọn gàng,cân đối, vần vè được truyền miệng qua nhiều thế hệ Tục ngữkhông nhất thiết phải có vần điệu Nhưng, hầu hết các câu tụcngữ Mạ đều có vần điệu quyện vào âm thanh uyển chuyển,

Ngày đăng: 11/04/2018, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w