1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ lý LUẬN về HAI PHƯƠNG PHÁP sản XUẤN GIÁ TRỊ THẶNG dư của các mác sự vận DỤNG vào sự NGHIỆP CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa ở nước TA

24 488 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 115 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế thừa có chọn lọc những hạt nhân hợp lý trong tư tưởng kinh tế của nhân loại, đặc biệt là trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển, mà đại biểu chính là David Ricardo, Karx Marx và Engels đã xây dựng nên trường phái kinh tế chính trị Macxít và sau này được Lênin bảo vệ và phát triển; Kinh tế chính trị Mac Lênin đã đưa ra những luận chứng có tính chất quá độ lịch sử của chủ nghĩa tư bản và tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa và hướng tới chủ nghĩa cộng sản. Quyển I của bộ tư bản có tựa đề là “Về tư bản” được K.Marx cho xuất bản năm 1867, trong tác phẩm này K.Marx đã trình bày một cách khoa học hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị tư bản mà trước đó, chưa ai có thể làm được, nó được đánh giá như “tiếng sét nổ giữa bầu trời quang đãng của chủ nghĩa tư bản”,

Trang 1

LÝ LUẬN VỀ HAI PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

CỦA MÁC VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LỜI MỞ ĐẦU

Kế thừa có chọn lọc những hạt nhân hợp lý trong tư tưởng kinh tế của nhânloại, đặc biệt là trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển, mà đại biểu chính làDavid Ricardo, Karx Marx và Engels đã xây dựng nên trường phái kinh tế chính trịMacxít và sau này được Lênin bảo vệ và phát triển; Kinh tế chính trị Mac - Lênin

đã đưa ra những luận chứng có tính chất quá độ lịch sử của chủ nghĩa tư bản và tấtyếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa và hướng tới chủ nghĩa cộng sản Quyển I của

bộ tư bản có tựa đề là “Về tư bản” được K.Marx cho xuất bản năm 1867, trong tácphẩm này K.Marx đã trình bày một cách khoa học hệ thống các phạm trù kinh tếchính trị tư bản mà trước đó, chưa ai có thể làm được, nó được đánh giá như “tiếngsét nổ giữa bầu trời quang đãng của chủ nghĩa tư bản”, một trong số các học thuyếtđược nêu ra là thuyết giá trị thặng dư, nhờ có học thuyết này mà toàn bộ bí mật củanền kinh tế tư bản chủ nghĩa được vạch trần, phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa được nêu ra một cách chính xác, mà trong đó hai phương pháp sản xuất chính

là phương pháp giá trị thặng dư tương đối và phương pháp giá trị thặng dư tuyệtđối được áp dụng rộng rãi nhất, nhằm tạo ra tư bản để tích luỹ và tái mở rộng sảnxuất, đưa xã hội tư bản ngày càng phát triển Hai phương pháp này đã được đưavào ứng dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Sau ngày đấtnước dành được độc lập, đảng và nhà nước ta đã nhận định rằng để đưa đất nướcphát triển thì con đường duy nhất để đưa nước ta phát triển là đưa nước ta trở thànhmột nước có nền kinh tế hiện đại, để làm được điều đó trước hết chúng ta phải tiến

Trang 2

hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì mới từng bước đưa nước ta trở thành mộtnước công nghiệp hiện đại Do vận dụng không hợp lý những nguyên tắc trongtừng thời kì khác nhau của đất nước nên chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn trongquá trình xây dựng đất nước, đạt được ít thành quả trong quá trình xây đựng đấtnước Nhưng từ khi bước vào thời kì đổi mới năm 1986, từ những kinh nghiệm thuđược sau nhiều năm và kinh nghiệm của thế giới, đảng ta đã có quan điểm hết sức

rõ ràng (tại đại hội giữa nhiệm khoá VII): “Những tiến bộ về kinh tế, xã hội cùngvới sự mở rộng và tăng cường hợp tác phát triển với các nước, các tổ chức quốc tếcho phép chúng ta đẩy tới một bước công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước nhằm tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, đẩy nhanh tốc độ pháttriển kinh tế, từng bước cải thiện đời sống vật chất tinh thần của nhân dân Đây lànhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới Công nghiệphoá, hiện đại hoá là con đường thoát khỏi tụt hậu xa hơn so với các nước xungquanh, giữ được ổn định chính trị và xã hội, bảo vệ được độc lập, chủ quyền vàđịnh hướng phát triển xã hội chủ nghĩa” Trong giai đoạn đẩy mạnh Công nghiệphóa, hiện đại hóa hiện nay, việc nghiên cứu hai phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư của Mac có ý nghĩa lý luân và thực tiễn vô cùng to lớn

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG Chương I Lý luận về hai phương pháp sản xuất giá trị thăng dư

1 Giá trị thặng dư

Học thuyết về giá trị thặng dư là một trong hai phát kiến lớn nhất mà Mác đãđóng góp cho nhân loại Cho đến nay học thuyết giá trị thặng dư của K.Marx vẫngiữ nguyên giá trị Tuy nhiên nó cần được phát triển phù hợp với thực tiễn ngàynay Đã có nhiều người đưa ra phạm trù giá trị thặng dư, nhưng họ không chỉ rađược sự đúng đắn của phạm trù này, K.Marx là người đầu tiên xây dựng hoànchỉnh học thuyết giá trị thặng dư.Và theo K.Marx thì “giá trị thặng dư là giá trị dosức lao động của công nhân tạo ra ngoài giá trị sức lao động và bị nhà tư bản chiếmđoạt”, nó là kêt quả lao động không công của người công nhân làm thuê Khi nóiđến tư bản người ta thường liên tưởng đến tiền, đến tư liệu sản xuất, nhưng khôngphải như vậy, mà tư bản là quan hệ sản xuất hàng hoá, là mối quan hệ sản xuất giữagiữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân làm thuê, tư bản là giá trị mang lại giá trịthặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê Bởi vậy,cũng dễ hiểu khi mục đích của giai cấp tư sản là giá trị thặng dư Nhưng để sảnxuất giá trị thặng dư, trước hết nhà tư bản phải sản xuất ra hàng hoá có giá trị sửdụng, vì giá trị sử dụng là nội dung vật chất của hàng hoá, là vật mang giá trị và giátrị thặng dư Đây cũng là quá trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hoá sức lao động và

tư liệu sản xuất để sản xuất giá trị thặng dư Bởi thế mỗi sản phẩm được làm ra đềuđược kiểm soát bởi nhà tư bản và thuộc sở hữu của nhà tư bản Trong quá trình sảnxuất tư bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể của mình công nhân lao động làm thuê

sử dụng tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào hàng hoá, bằng lao độngtrừu tượng công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn

đó là giá trị thặng dư Ví dụ sau sẽ minh hoạ rõ về giá trị thặng dư:

Trang 4

Giả sử để chế tạo 1kg sợi, nhà tư bản phải ứng ra số tiền là 20.000 đơn vị tiền tệmua 1kg bông, 3.000 đơn vị cho hao phí máy móc và 5.000 đơn vị mua sức laođộng của công nhân điều khiển máy móc trong 10 giờ Tổng cộng số tiền ứng ra là28.000 đơn vị tiền tệ Trong quá trình sản xuất, bằng lao động cụ thể công nhân sửdụng máy móc để chuyển 1kg bông thành 1kg sợi, Theo đó giá trị của bông và haomòn của máy móc được chuyển vào sợi, bằng lao động trừu tượng công nhân tạo ragiá trị mới nhập vào sợi Trong 5 giờ công nhân đã chuyển được 1kg bông thành1kg sợi thì giá trị của 1kg sợi là:

+ Giá trị 1kg bông chuyển vào: 20.000 đơn vị

+ Giá trị mới tạo ra (bằng giá trị sức lao động): 5.000 đơn vị

Tổng cộng: 28.000 đơn vị

Nếu quá trình lao động dừng ở đây thì nhà tư bản không thu được ít giá trị thặng dưnào Nhưng nhà tư bản đã mua sức lao động trong 10 giờ nên 5 giờ tiếp theo nhà tưbản không phải trả công nữa mà chỉ cần phải chi thêm 2.000 đơn vị tiền tệ để mua1kg bông và 3.000 đơn vị hao mòn máy móc nhưng sẽ có thêm 1kg sợi

Tổng số tiền nhà tư bản bỏ ra để có 2kg sợi:

+ Tiền mua bông: 20.000 x 20 = 40.000 đơn vị

+ Hao mòn máy móc trong 10 tiếng 3.000 x 2 = 6.000 đơn vị

+ Tiền lương cả ngày 10 tiếng: = 5.000 đơn vị

Giá trị sợi nhà tư bản thu được 28.000*2 = 56.000 đơn vị

Như vậy nhà tư bản thu được giá trị thặng dư = 56.000 - 51.000 = 5.000 đơn vị

Từ ví dụ trên đây có thể thấy đích xác được giá trị thặng dư từ đâu mà có, cái mànhà tư bản thu được là cái gì, nguồn gốc sâu xa của nó Đó là cơ sở của sự giàu cócủa giai cấp tư sản, cho nên K.Marx đã viết “Bí quyết của sự tăng thêm giá trị của

Trang 5

tư bản quy lại là ở chỗ tư bản chi phối được một số lượng lao động không côngnhất định của người khác” Nhà tư bản làm được điều đó vì họ có trong tay tư liệusản xuất, còn người lao động không có tư liệu sản xuất chỉ có sức khoẻ, điều duynhất người công nhân có thể làm là bán sức lao động của mình để lấy tiền luôi sốngbản thân và gia đình của họ Khi đó sức lao động trở thành hàng hoá, giá trị sức laođộng là điều kiện quan trọng để sản xuất ra giá trị thặng dư Như vậy, theo K.Marxgiá trị sản phẩm được khái quát theo công thức sau:

c + v + mTrong đó:

c: giá trị tư liệu sản xuất v: giá trị của sức lao động m: giá trị thặng dư

Trước Mác, ngay cả những nhà kinh tế tư bản lỗi lạc như D.Ricardo cũngkhông giải thích được vì sao trao đổi hàng hoá theo đúng quy luật giá trị mà nhà tưbản vẫn thu được lợi nhuận Nhờ phân biệt được phạm trù lao động và tính chất haimặt của lao động sản xuất hàng hoá C.Mác đã chứng minh một cách khoa học rằngtrong quá trình sản xuất hàng hoá lao động cụ thể của công nhân chuyển giá trị của

tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng sang sản phẩm, đồng thời lao động trừu tượngcủa người đó thêm vào sản phẩm một giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động củamình Khoản lớn hơn đó, tức là số dư ra ngoài khoản bù lại giá trị sức lao động,C.Mác gọi là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt Công nhân chỉ được tiếptục làm thuê chừng nào còn tạo ra được khối lượng giá trị mới lớn hơn giá trị sứclao động mà nhà tư bản đã trả cho người đó dưới hình thức tiền công, nếu không sẽ

bị sa thải

Trang 6

Theo đó Giá trị thặng dư là giá trị rôi ra ngoài giá trị sức lao động do công

nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.

Nhà tư bản giành một phần giá trị thặng dư này cho sự hưởng thụ của mình và giađình mình, phần còn lại được tích luỹ để tái sản xuất mở rộng Khoản tích luỹ nàylại trở thành điều kiện vật chất để thu hút thêm nhiều gái trị thặng dư hơn nữa.Chính lòng ham mê giá trị thặng dư là động lực thúc đẩy nhà tư bản dám mạo hiểm

bỏ vốn đầu tư vào kinh doanh

2 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư, nhưng haiphương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối vàphương pháp giá trị thặng dư tương đối Mỗi phương pháp đại diện cho một trình

độ khác nhau của giai cấp tư sản, cũng như những giai đoạn lịch sử khác nhau của

xã hội

Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối được áp dụng ở giai đoạn đầu của chủnghĩa tư bản, thời kì này nền kinh tế sản xuất chủ yếu là sử dụng lao động thủ công,hoặc lao động với những máy móc giản đơn ở các công trường thủ công Đó là sựgia tăng về mặt lượng của quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư Bởi phương phápgiá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động vượtquá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động vàthời gian lao động tất yếu là không thay đổi Có nghĩa là khi nhà tư bản muốn tănggiá trị thặng dư, thì nhà tư bản sẽ mua thêm máy móc mua, thêm tư liệu sản xuât,thuê thêm công nhân để sản xuất ra hàng hóa; nhưng móc, chỉ mua thêm nguyênliệu sản xuất, và bắt công nhân hiện có phải cung cấp thêm một lượng lao động,đồng thời tận dụng triệt để công suất của máy móc hiện có Cái lợi ở đây là nhà tưbản không cần ứng thêm tư bản, thuê thêm công nhân, mua thêm máy móc thiết bị,

Trang 7

đồng thời máy móc sẽ được khấu hao nhanh hơn, hao mòn và chi phí bảo quảngiảm đi rất nhiều, thời gian thu lợi nhuận sẽ dài hơn VD: Một ngày người côngnhân lao động 8 giờ, trong đó thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao độngthặng dư là 4 giờ, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là 10.000 đơn vị tiền tệ,thì trong một ngày người công nhân tạo ra một lượng giá trị mới là 80.000, baogồm 40.000 là chi phí sản phẩm và 40.000 là giá trị thặng dư tuyệt đối, tỷ suất giátrị thặng dư là 100% Nhưng khi kéo dài thời gian lao động ra thêm 2 giờ với điềukiện các yếu tố khác không đổi thì giá trị thặng dư tuyệt đối tăng lên là 60.000, nhà

tư bản được lợi thêm 20.000 đơn vị so với trước đó, tỷ suất thặng dư là 150%.(Tỷsuất giá trị thặng dư biểu hiện của trình độ bóc lột giá trị thặng dư)

Nhà tư bản nào cũng muốn kéo dài ngày công lao động của người công nhânlàm thuê, nhưng thực tế thì không cho phép họ làm như vậy trong một thời gianquá dài Vì những việc làm đó là vượt quá giớ hạn sinh lí của người công nhân, mộtngười có thể duy trì mãi một cường độ lao động với năng suất cao trong một thờigian dài là điều không thể có được, họ cần phải có thời gian ăn ngủ, nghỉ ngơi giảitrí nhằm hồi phục sức khoẻ Thật dễ hiểu khi giai cấp tư bản gặp phải sự kháng cựcủa giai cấp công nhân Giai cấp tư sản muốn kéo dài thời gian lao động trongngày, còn giai cấp công nhân muốn rút ngắn thời gian lao động, do đó độ dài ngàylao động có thể co giãn và việc xác định độ dài ngắn ấy phụ thuộc vào so sánh lựclượng trong cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp đó Điểm dừng của độ dài ngày laođộng là điểm mà ở đó lợi ích kinh tế của nhà tư bản và lợi ích kinh tế của người laođộng được thực hiện theo một thoả hiệp tạm thời

Khi độ dài ngày lao động đã được xác định, nhà tư bản sẽ tìm mọi cách đểtăng cường độ lao động của người công nhân Tăng cường độ lao động có nghĩa làchi phí nhiều sức lao động trong một khoảng thời gian nhất định, nên về thực chấtcũng giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày Nhà tư bản có thể tăng thêm

Trang 8

tư liệu lao động, yêu cầu hay thoả thuận người lao động lao động với cường độ caomức bình thường, yêu cầu khi người lao động là họ phải tập trung làm việc hơn,các thao tác làm việc phải nhanh hơn… những việc đó sẽ tốn nhiều sức lao độnghơn so với bình thường, và cũng tạo ra nhiều sản phẩm hơn Nhưng việc tăngcường độ lao động khó hơn việc tăng thời gian lao động của người công nhân vìviệc này muốn thực hiện đựoc thì nhà tư bản phải thay đổi máy móc.

Việc áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối ngoài việc gặpkhó khăn như ở trên đã đề cập, theo D.Ricardo “với sự tăng thêm của một nhân tốsản xuất nào đó, trong điều kiện các nhân tố sản xuất khác là không thay đổi, năngsuất của của nhân tố tăng thêm sẽ giảm đi” Bởi vậy, việc gia tăng các nguyên liệusản xuất trong khi các điều kiện sản xuất khác không đổi, là việc làm không hiệuquả khi mà nhà tư bản muốn tăng thu thêm giá trị thặng dư

Để khắc phục những vấn đề mà phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối gặpphải thì nhà tư bản đã áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối vàosản xuất Phương pháp này có tiến bộ vượt bậc so với phương pháp giá trị thặng dưtuyệt đối, thể hiện trình độ sản xuất cũng như trình độ xã hội đã được nâng lên mộttầm cao hơn Phương pháp giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được

do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ

đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao độngvẫn như cũ Vì giá trị sức lao động được quyết định bởi các tư liệu tiêu dùng vàdịch vụ để sản xuất, tái sản xuất sức lao động, nên muốn hạ thấp giá trị sức laođộng thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người laođộng Điều đó chỉ được thực hiện bằng cách tăng năng suất lao động xã hội cho cácngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất

ra các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ VD: Giả sử ngày lao động là 8 giờ, nó được chia

ra 4 giờ là thời gian lao động tất yếu, 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi này

Trang 9

tỷ suất thăng dư là 100%.Nhưng khi máy móc được thay đổi, ngày lao động khôngthay đổi, thời gian lao động tất yếu của người công nhân chỉ còn lại là 3 giờ, thờigian lao động thặng dư đã tăng lên là 5 giờ, vì vậy tỷ suất thặng dư đã tăng lên là166% (Đồng nghĩa với trình độ bóc lột tăng lên)

Sự ra đời và phát triển và sử dụng rộng rãi máy móc đã làm cho năng suất laođộng tăng lên nhanh chóng Máy móc có ưu thế tuyệt đối so với các công cụ thủcông, vì công cụ thủ công là công cụ lao động do con người trực tiếp sử dụng bằngsức lao động nên bị hạn chế bởi khả năng sinh lý của con người, nhưng khi laođộng bằng máy móc sẽ không gặp phải những hạn chế đó Vì thế, việc sử dụngmáy móc làm năng suất lao động tăng lên rất cao, làm giảm giá trị tư liệu sinh hoạt,làm hạ thấp giá trị hàng hoá sức lao động, rút ngắn thời gian lao động tất yếu kéodài thời gian lao động thặng dư, giúp nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dưhơn Phương pháp giá trị thặng dư tương đối ngày càng được nâng cao do các cuộccách mạng khoa học, đặc biệt cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển vớitốc độ vũ bão, đem lại sự phát triển chưa từng có trong lịch sử loài người, nó khácvới cuộc cách mạng khoa học là dẫn đến sự hình thành các nguyên lý công nghệsản xuất mới, chứ không đơn thuần về công cụ sản xuất như cách mạng khoa học,

do đó dẫn đến sự tăng trưởng cao, đưa xã hội loài người bước sang một nền vănminh mới - nền văn minh trí tuệ

Phương pháp giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất theo chiềusâu, lao động phức tạp tăng lên và thay thế cho lao động giản đơn Để có lợi chomình có lợi cho mình các nhà tư bản buộc phải chú trọng đến nhân cách sáng tạocủa lao động làm thuê Điều đó đã chứng minh rằng lao động trí óc, lao động cótrình độ kĩ thuật cao ngày càng có vai trò quyết định tới việc sản xuất giá trị thặng

dư và tầng lớp công nhân này có mức sống tương đối cao Chính những điều đó dãlàm cho một số người lao động nhầm tưởng rằng họ không bị bóc lột sức lao động,

Trang 10

sức lao động của họ được trả một cách thoả đáng, họ an tâm làm việc mà khôngkhông biết rằng một khối lượng lớn giá trị mới do sức lao động của mình tạo ra đã

bị nhà tư bản chiếm đoạt Hơn nữa, với tốc độ phát triển chóng mặt của máy móccông nghệ, tác hại của sóng điện từ từ những thiết bị tin học hiện đại làm cho ngườilao động bị hao phí rất nhiều sức lực, phát sinh nhiều bệnh nghề nghiệp, các bệnhnày có thể phát sinh ngay trong quá trình còn đang lao động của người công nhânnhưng cũng có thể để lại di chứng sau một thời gian dài mới biều hiện bệnh

Một dạng của giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư siêu ngạch, đây làcái đích hướng tới của các nhà tư bản Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng

dư thu được do áp dụng công nghệ mới làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấphơn giá trị xã hội của nó Xét trong từng trường hợp giá trị thặng dư siêu ngạch làhiện tượng tạm thời, nó sẽ bị mất đi khi công nghệ đó đã được phổ biến rrộng dãi,nhưng xét theo phạm vi toàn xã hội thì đây một hiện tượng thường xuyên Theođuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là kì vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhấtthúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất laođộng, làm cho năng suất xã hội tăng lên nhanh chóng Bởi vậy K.Marx gọi giá trịthặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối

Thực ra, hai phương pháp giá trị thặng dư đó không hề bị tách dời nhau, màchỉ trong mỗi thời kì khác nhau sự vận dụng hai phương pháp là nhiều hay ít màthôi, trong thời kì đầu của chủ nghĩa tư bản thì phương pháp giá trị thặng dư tuyệtđối được sử dụng nhiều hơn so với phương pháp giá trị thặng dư tương đối, còntrong thời kì sau của chủ nghĩa tư bản thì ngược lại Trong xã hội hiện đại ngàynay, việc nhà tư bản kết hợp tốt hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư đã tạo rangày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản, bằng cách tăng cường các phươngtiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày càng nhiều sức lao động làm thuê Máymóc hiện đại được áp dụng, các lao động chân tay bị cắt giảm nhưng điều đó không

Trang 11

đi đôi với giảm nhẹ cường độ lao động của người công nhân, mà trái lại do việc ápdụng máy móc không đồng bộ nên khi máy móc chạy với tốc độ cao, có thể chạyvới tốc độ liên tục buộc người công nhân phải chạy theo tốc độ vận hành máy làmcho cường độ lao động tăng lên, năng suất lao động tăng, ngoài ra nền sản xuấthiện đại áp dụng tự động hoá cao cường độ lao động người công nhân tăng lên vớihình thức mới đó là cường độ lao động thần kinh thay thế cho cường độ lao động

cơ bắp, tạo ra sản phẩm chứa nhiều chất xám có giá trị lớn Nên sản xuất tư bản chủnghĩa trong diều kiện hiện đại là sự kết hợp tinh vi của hai phương pháp sản xuấtgiá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối

Việc nghiên cứu 2 phương pháp nói trên, khi gạt bỏ mục đích và tính chất củachủ nghĩa tư bản thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phươngpháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch có thể vậndụng trong các danh nghệp ở nước ta nhằm kích thích sản xuất, tăng năng suất laođộng xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sảnxuất

Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta, việc nghiên cứusản xuất giá trị thặng dư gợi mở cho các nhà hoạch định chính sách phương thứclàm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong điều kiện điểm xuất phát củanước ta còn thấp, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần tận dụng triệt để các nguồnlực, nhất là lao động và sản xuất kinh doanh Về cơ bản lâu dài, cần phải coi trọngviệc tăng năng suất lao động xã hội, coi đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoánền kinh tế quốc dân là là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội, thúcđẩy tăng trưởng kinh tế

Trang 12

Chương II. Vận dụng lý luận hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa nước ta hiện nay

1 Giá trị thực tiễn của lý luận về hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong thời đại ngày nay

a Sự cần thiết phải nhận thức lại, bổ sung và phát triển học thuyết GTTD.

Mặc dù những tư tưởng, nội dung và phương pháp nghiên cứu lý luận giá trịthặng dư của Mác, về cơ bản, còn giá trị trong thời đại ngày nay, tuy nhiên vẫn cầnđược nhận thức lại, bổ sung và phát triển Ngày nay điều kiện lịch sử đã có nhiềuthay đổi khác xa so với điều kiện lịch sử của những năm sau chiến tranh thế giớilần thứ hai, chứ chưa nói đến thế kỷ 19 mà Mác đã nghiên cứu Do vậy, để tránhmắc sai lầm mang tính giáo điều, rập khuôn, duy ý trí, một số kết luận của Máctrong điều kiện lịch sử cũ lại dựa trên phương pháp giả định gắn với mục đíchnghiên cứu CNTB cổ điển không nên hiểu và vận dụng nguyên si Hơn nữa, đọc vàhiểu đúng nội dung lý luận giá trị thặng dư trong bộ “Tư bản” là việc không phải aicũng làm được Vì vậy mà phải có sự nghiên cứu cụ thể để rút ra những kết luậnmới cho những trường hợp cụ thể

Ngày nay mục đích nghiên cứu kinh tế chính trị nói chung và lý luận giá trịthặng dư nói riêng đã có sự thay đổi Nếu trước đây mục đích nghiên cứu của kinh

tế chính trị là để phê phán phương thức sản xuất TBCN, tìm ra bản chất bóc lột giátrị thặng dư của CNTB cổ điển và xu hướng thay thế CNTB bằng một xã hội tốtđẹp hơn, thì giờ đây, bên cạnh mục đích như trước, chúng ta còn có mục đíchnghiên cứu, khai thác bộ “Tư bản” với tư cách một sách phong phú và sâu sắc vềkinh tế thị trường để xây dựng và phát triển nền kinh tế – xã hội ở nước ta Do đócần phải thay đổi một số yếu tố và phạm trù kinh tế phù hợp với hoàn cảnh hiện tại

b Tính thực tiễn của hai phương pháp sản xuất GTTD.

Ngày đăng: 11/04/2018, 09:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w