1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tình hình dịch bệnh, sự lưu hành và xác định type virus LMLM gây bệnh trên đàn trâu, bò tại tỉnh lạng sơn giai đoạn 2011 2015, đánh giá đáp ứng miễn dịch của vắc xin phòng bện

96 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Bệnh lở mồm long móng LMLM là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan nhanh, mạnh, gây thiệt hại nặng nề đối với gia súc mẫn cảm thuộc loài guốc chẵn như: Trâu

Trang 1

–––––––––––––––––––––

ĐÀM THỊ PHƯƠNG MAI

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH, SỰ LƯU HÀNH

VÀ XÁC ĐỊNH TYPE VIRUS LỞ MỒM LONG MÓNG GÂY BỆNH TRÊN ĐÀN TRÂU, BÒ TẠI TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2011 - 2015, ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH

CỦA VẮC XIN PHÒNG BỆNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

–––––––––––––––––––––

ĐÀM THỊ PHƯƠNG MAI

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH, SỰ LƯU HÀNH

VÀ XÁC ĐỊNH TYPE VIRUS LỞ MỒM LONG MÓNG GÂY BỆNH TRÊN ĐÀN TRÂU, BÒ TẠI TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2011 - 2015, ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi trực tiếp nghiên cứu dưới

sự hướng dẫn của PGS.TS Đặng Xuân Bình

- Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan, được rút ra từ tình hình thực tế của tỉnh Lạng Sơn trong những năm qua

và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Các thông tin tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Tác giả luận văn

Đàm Thị Phương Mai

Trang 4

- Lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Chi cục Thú y tỉnh Lạng Sơn

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Tác giả luận văn

Đàm Thị Phương Mai

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Tên gọi 3

1.1.2 Căn bệnh 3

1.1.3 Lịch sử bệnh 3

1.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu trên thế giới 5

1.3 Tổng quan kết quả nghiên cứu ở Việt Nam 8

1.4 Virus LMLM 12

1.4.1 Hình thái và cấu trúc 12

1.4.2 Đặc tính di truyền, cấu trúc gen, kháng nguyên 13

1.4.3 Đặc tính kháng nguyên 15

1.4.4 Các điểm quyết định kháng nguyên 16

1.4.5 Tiến hóa của virus LMLM 16

1.4.6 Đặc tính gây nhiễm trong phòng thí nghiệm 17

1.4.7 Đặc tính nuôi cấy tổ chức tế bào 18

1.5 Một số đặc điểm dịch tễ học vủa virus LMLM 19

1.5.1 Nguồn dịch 19

1.5.2 Động vật cảm thụ 19

1.5.3 Đường xâm nhập 20

1.5.4 Cơ chế sinh bệnh 20

1.5.5 Chất chứa virus 21

1.5.6 Con đường và phương thức truyền lây 22

Trang 6

1.5.7 Lứa tuổi mắc bệnh 23

1.5.8 Tỷ lệ ốm và chết 23

1.6 Miễn dịch trong bệnh LMLM 23

1.7 Triệu chứng và bệnh tích ở trâu, bò 24

1.7.1 Triệu chứng 24

1.7.2 Bệnh tích 26

1.8 Chẩn đoán 26

1.8.1 Chẩn đoán lâm sàng 26

1.8.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm 27

1.9 Phòng bệnh LMLM 30

1.9.1 Vệ sinh phòng dịch 30

1.9.2 Vắc xin phòng bệnh 31

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đối tượng, phạm vi 33

2.1.1 Đối tượng 33

2.1.2 Phạm vi, địa điểm 33

2.2 Nội dung nghiên cứu 33

2.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học về bệnh LMLM ở trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 - 2015 33

2.2.2 Xác định tỷ lệ dương tính huyết thanh học đối với các chủng virus chủ yếu (O, A, Asia 1), đánh giá tỷ lệ mang trùng ở trâu, bò 33

2.2.3 Định type virus gây bệnh LMLM ở trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn 33

2.2.4 Xác định loại vắc xin LMLM phù hợp tiêm cho đàn trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn 33

2.3 Vật liệu nghiên cứu 33

2.3.1 Mẫu bệnh phẩm 33

2.3.2 Tài liệu, số liệu 33

2.3.3 Sinh phẩm và Kit xét nghiệm 33

2.3.4 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 34

2.4 Phương pháp nghiên cứu 34

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 34

2.4.2 Phương pháp lấy mẫu máu 34

2.4.3 Phương pháp lấy mẫu biểu mô 34

2.4.4 Phương pháp 3ABC - ELISA phát hiện kháng thể nhiễm tự nhiên 35

Trang 7

2.4.5 Thiết kế thí nghiệm xác định tình hình nhiễm virus tự nhiên 36

2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 36

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh LMLM tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 - 2015 37

3.1.1 Tình hình dịch LMLM tại tỉnh Lạng Sơn từ 2011 - 2015 37

3.1.2 Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 - 2015 40

3.1.3 Thời gian lưu hành bệnh LMLM ở trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn 42

3.1.4 Lứa tuổi trâu, bò mắc bệnh LMLM 49

3.1.5 Tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM 53

3.2 Xác định tỷ lệ dương tính huyết thanh học đối với kháng nguyên phi cấu trúc 3ABC, đánh giá tỷ lệ mang virus tự nhiên ở trâu, bò 57

3.2.1 Tỷ lệ dương tính huyết thanh 3ABC tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 - 2015 57

3.2.2 Tỷ lệ trâu, bò có phản ứng huyết thanh 3ABC dương tính tại huyện Văn Lãng 60

3.3 Tỷ lệ trâu, bò nhiễm virus LMLM tự nhiên sau khi tiêm phòng vắc xin LMLM 61

3.4 Xác định virus gây bệnh LMLM ở trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn 62

3.4.1 Xác định type virus LMLM gây bệnh ở trâu, bò bằng phản ứng ELISA 63

3.4.2 Xác định type virus LMLM từ mẫu bệnh phẩm biểu mô của trâu, bò mắc bệnh 64

3.5 Lựa chọn loại vắc xin phòng bệnh LMLM phù hợp cho trâu, bò trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 67

3.6 Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn sau khi tiêm vắc xin LMLM 68

3.6.1 Tình hình tiêm phòng vắc xin LMLM cho đàn trâu, bò trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 - 2015 68

3.6.2 Đáp ứng miễn dịch của trâu, bò sau khi tiêm vắc xin LMLM 69

3.6.3 Một số khuyến cáo phòng chống bệnh LMLM cho người chăn nuôi trâu, bò 72

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 74

1 Kết luận 74

2 Đề nghị 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC ẢNH MINH HỌA 83

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADN : Acid Deoxyribonucleic

ARN : Acid ribonucleic

ELISA : Enzyme Linked Immunosorbent Assay FMD : Foot ADN Mouth Disease

LMLM : Lở mồm long móng

LPB : Liquid Phase Blocking

OIE : Tổ chức Thú y Thế giới

PBS : Phosphate Buffered Saline

PCR : Polymerase Chain Reaction

RT : Reverse Transciption

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1.Tổng hợp số ổ dịch LMLM trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (2011 - 2015) 37

Bảng 3.2a Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM từ năm 2011 đến năm 2015 40

Bảng 3.2b Tỷ lệ trâu và bò mắc bệnh LMLM từ năm 2011 đến năm 2015 41

Bảng 3.3a Số ca bệnh LMLM ở trâu, bò trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn theo mùa (giai đoạn 2011 - 2015) 43

Bảng 3.3b Số ca bệnh LMLM ở trâu, bò theo mùa (tính chung trâu, bò) 44

Bảng 3.3c Tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM qua các năm theo mùa (2011 - 2015) 45

Bảng 3.3d Tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM qua các năm theo mùa (2011 - 2015) 46

Bảng 3.4a Tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi 49

Bảng 3.4b Tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi 50

Bảng 3.4c Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi (tính chung trâu, bò) 50

Bảng 3.5 Tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi (2011 - 2015) 53

Bảng 3.6 Tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM theo mùa (2011 - 2015) 55

Bảng 3.7 Tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo năm 56

Bảng 3.8 Tỷ lệ trâu, bò có phản ứng huyết thanh 3ABC dương tính tại 4 huyện của Lạng Sơn (2011 - 2015) 58

Bảng 3.9 Tỷ lệ trâu, bò có phản ứng huyết thanh 3ABC dương tính tại 2 huyện của Lạng Sơn (2015) 58

Bảng 3.10 Tỷ lệ dương tính ABC - ELISA ở trâu bò huyện Văn Lãng (2015) 60

Bảng 3.11 Diễn biến dương tính ABC - ELISA ở trâu, bò được tiêm phòng vắc xin qua các thời điểm khác nhau tại một huyện (Bắc Sơn) 61

Bảng 3.12 Kết quả định type virus LMLM trâu, bò bằng phản ứng ELISA (giai đoạn từ 2011 đến 2015) 63

Bảng 3.13 Tổng hợp kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô từ trâu, bò (giai đoạn từ 2011 - 2013) 65

Bảng 3.14 Kết quả xác định định type virus LMLM gây bệnh ở trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn (giai đoạn 2014 - 2015) 65

Bảng 3.15 Tình hình tiêm phòng vắc xin LMLM trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn (2011 - 2015) 69

Bảng 3.16 Hiệu giá kháng thể của trâu, bò sau khi được tiêm vắc xin LMLM 70

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sự lưu hành theo đặc điểm của virus LMLM thành các vùng trên Thế

giới từ 2010 - 2013 7

Hình 1.2 Cấu trúc của virion virus LMLM 12

Hình 1.3 Sơ đồ hệ gen của virus LMLM (Grubman et al, 2001) [57] 13

Hình 3.1 Biểu đồ số ổ dịch biến động theo thời gian (năm) 39

Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo năm 41

Hình 3.3 Biểu đồ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo mùa 47

Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh theo lứa tuổi 51

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM chết theo lứa tuổi 53

Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM theo mùa 55

Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo năm 56

Hình 3.8 Biểu đồ biến động hiệu giá kháng thể và độ dài miễn dịch của đàn trâu, bò sau khi tiêm vắc xin 71

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bệnh lở mồm long móng (LMLM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan nhanh, mạnh, gây thiệt hại nặng nề đối với gia súc mẫn cảm thuộc loài guốc chẵn như: Trâu, bò, lợn… Bệnh thuộc danh mục bảng A (danh mục các bệnh phải công bố dịch, các bệnh nguy hiểm của động vật và phải áp dụng các biện pháp phòng bệnh bắt buộc theo quy định của tổ chức thú y thế giới OIE-World Organisation for Animal Health)

Bệnh do virus LMLM thuộc họ Picornaviridae, giống Aphthovirus gây ra, có

2 đặc tính đặc biệt liên quan đến dịch tễ học, đó là tính đa type và dễ biến đổi kháng nguyên Các type virus tuy gây ra các triệu chứng giống nhau, nhưng lại không tạo miễn dịch chéo Bệnh có thể lây lan trong phạm vi một nước hoặc nhiều nước và trở thành đại dịch

Tiêm phòng vắc xin được xác định là giải pháp quan trọng hàng đầu, tuy nhiên việc chọn vắc xin phù hợp cho từng vùng, từng tỉnh đòi hỏi cần phải nghiên cứu kỹ type virus gây bệnh trên thực địa để tránh trường hợp tiêm phòng loại vắc xin không phù hợp, gây lãng phí và thiệt hại cho người chăn nuôi

Lạng Sơn là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, có đường quốc

lộ 1A, 1B, 4A, 4B và đường 279 đi qua, là điểm nút của sự giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây như Cao Bằng, Thái nguyên, Bắc Cạn, phía Đông như tỉnh Quảng Ninh, phía Nam như Bắc Giang, Bắc Ninh, Thủ đô Hà Nội và phía Bắc tiếp giáp với Trung Quốc với hai cửa khẩu quốc gia và 7 cặp chợ biên giới Mặt khác có đường sắt liên vận quốc tế, là điều kiện rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, khoa học - công nghệ với các tỉnh phía Nam trong cả nước, với Trung Quốc và qua đó sang các vùng châu Á, châu Âu và các nước khác

Lạng Sơn có địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, diện tích tự nhiên 8.327,6 km2, gồm 10 huyện, 1 thành phố với 226 xã, phường, thị trấn Trong những năm gần đây cùng với việc phát hiện nhiều ổ dịch trên đàn gia súc, gia cầm, dịch LMLM gia súc vẫn tái phát tại một số xã trên địa bàn Gia súc mắc bệnh LMLM gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành chăn nuôi, đặt biệt là trâu, bò và làm thiệt hại đáng kể kinh tế của người chăn nuôi, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế

Trang 12

Giai đoạn 2011-2015 bệnh LMLM diễn biến phức tạp, trong những năm

2011 và 2012 virus gây bệnh LMLM trên đàn gia súc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là type O Nhưng từ năm 2013 đến nay xuất hiện thêm virus gây bệnh LMLM type A Bệnh không chỉ gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi mà nhà nước còn phải mất nhiều kinh phí để dập dịch, hỗ trợ cho người chăn nuôi và người tham gia phòng chống dịch

Diễn biến phức tạp của dịch LMLM ở tỉnh Lạng Sơn đòi hỏi phải có những nghiên cứu về sự phân bố và lưu hành của virus LMLM, từ đó có cơ sở khoa học để lựa chọn vắc xin phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống dịch LMLM trên địa bàn tỉnh, đảm bảo an toàn dịch bệnh cho chăn nuôi và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm có nguồn gốc động vật, đồng thời giúp ngành chăn nuôi của tỉnh

phát triển Để giải quyết vấn đề đó, tôi triển khai đề tài: "Nghiên cứu tình hình

dịch bệnh, sự lưu hành và xác định type virus LMLM gây bệnh trên đàn trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011-2015, đánh giá đáp ứng miễn dịch của vắc xin phòng bệnh"

2 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành các type virus LMLM ở trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn

- Nghiên cứu sự phân bố của type virus LMLM tại tỉnh Lạng Sơn làm cơ sở lựa chọn loại vắc xin phù hợp

- Nghiên cứu khả năng đáp ứng miễn dịch của trâu, bò sau khi tiêm vắc xin phòng bệnh LMLM

3 Ý nghĩa của đề tài

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và xác định type virus gây bệnh LMLM trên đàn trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn

- Cung cấp tư liệu khoa học về đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành type virus LMLM gây bệnh ở trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn

- Các kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm dịch tễ học, xác định sự phân

bố của các type virus LMLM gây bệnh trên trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn là cơ sở khoa học, giúp các cơ quan chức năng lựa chọn loại vắc xin LMLM phù hợp Từ đó có biện pháp quản lý, chỉ đạo công tác phòng, chống dịch bệnh hiệu quả

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Tên gọi

Bệnh LMLM được gọi bằng một số tên như: Foot and mouth disease (FMD, Anh), La fièvre aphteuse (FA, Pháp), Afta epizootic (Ý), Maul und Klauenseuche (MKS, Đức), Fiebre aphtosa, glosso peda (Tây Ban Nha), Khẩu đề dịch (Trung Quốc), Lở mồm long móng (Việt Nam)

1.1.2 Căn bệnh

Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) do một virus có kích thước nhỏ thuộc họ Piconarviridae gây ra, là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm Bệnh có biểu hiện gia súc bị sốt cao, nổi mụn nước ở niêm mạc miệng, da, vùng da mỏng, kẽ móng, trên núm vú của gia súc cái thuộc loài guốc chẵn (cả gia súc và động vật hoang dã đều mắc) (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) [16]

Bệnh gây ra do bởi 7 type virus: A, O, C, ASIA1, SAT 1, SAT 2, SAT 3 với hơn 65 phân type Ở khu vực Đông Nam Á thường thấy 3 type là: O, A, ASIA1 (Nguyễn Thị Kim Lan, 2015) [22]

Bệnh LMLM có tính chất của đại dịch, lây lan rất nhanh và rất mạnh, có thể xảy ra trên diện rộng ở nhiều vùng trong một nước hay nhiều nước khác nhau Tỷ lệ gia súc mắc bệnh rất cao, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế mặc dù tỷ lệ chết ở gia súc trưởng thành thấp Theo số liệu của OIE bệnh LMLM gây sảy thai khoảng 25% động vật có chửa, làm giảm sản lượng thịt 25%, giảm sản lượng sữa 50% và giảm 25% năng suất lông ở cừu Virus LMLM có thể gây ra các ổ dịch rộng lớn, tỉ lệ mắc bệnh cao gần như 100% và bệnh có thể lây lan trong phạm vi một hoặc nhiều nước (Văn Đăng Kỳ và cộng sự, 2001) [21]; (Đào Trọng Đạt, 2000) [17]

Do tính chất nguy hiểm nên bệnh LMLM được OIE xếp vị trí số một của bảng

A (bảng các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm ở động vật) và bắt buộc các thành viên phải khai báo Các nước đang có bệnh LMLM không được xuất khẩu động vật mắc bệnh đó và sản phẩm của chúng sang các nước khác (trích dẫn từ Sổ tay dịch bệnh động vật, 2002) [30]

1.1.3 Lịch sử bệnh

Bệnh LMLM ở bò lần đầu tiên được Fracastorius mô tả vào năm 1514 tại Italy, nhưng sau đó gần 400 năm (vào năm 1897) các tác giả Loeffler và Frosch mới

Trang 14

chứng minh được tác nhân gây bệnh LMLM Sau đó, vào các năm 1920, 3 serotype điển hình (O, A và C) của vi rút LMLM được các tác giả Vallee và Carre phát hiện tại Pháp và Waldmann phát hiện tại Đức Sau đó, vào những năm 1940-1950, các serotype khác gồm SAT1-3 và Asia1 được Pirbright, Vương Quốc Anh công nhận (Bộ NN và PTNT, 2016) [3]

Từ lúc xuất hiện bệnh đến năm 1897, các tài liệu chủ yếu mô tả triệu chứng (Trần Thanh Phong, 1996) [25] Năm 1897, Loeffler và Frosch đã phân lập được virus gây bệnh (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [27] Waldmann và Pape (1920) đã chứng minh được tính cảm thụ của chuột lang đối với virus Năm 1922, Valleé và Carré tìm thấy tính đa dạng của huyết thanh miễn dịch chống virus (type O và type A) Năm 1926, Waldmann và Trauwein tìm ra virus type C Sau đó Lawrence khám phá ra các type SAT1, SAT2 và SAT3 từ những bệnh phẩm ở Châu Phi gửi đến viện Pirbright và type Asia1 từ những bệnh phẩm ở Đông Nam Á, Hồng Kông, Ấn

Độ, Miến Điện (Merial Ltd Pibright, Anh quốc, 2003) [24]

Theo Nguyễn Vĩnh Phước, 1978 [27] từ đầu thế kỷ 20 trở đi, bệnh phát ra ở nhiều nơi trên Thế giới Ở Châu Mỹ, dịch LMLM xuất hiện ở Mỹ vào các năm

1902, 1908, 1914, 1924, 1929, 1932; ở Mexico năm 1946, Canada 1952 và nhiều nước ở Nam Mỹ như Argentina năm 1953 Bệnh cũng xuất hiện ở Venezuela năm

1950, Colombia năm 1950-1951 rồi sang Ecuador năm 1956 Ở Châu Phi, bệnh thường xẩy ra ở Bắc Phi, Nam Phi Ở Châu Âu, có luồng dịch phát sinh từ Tây Đức lan sang Hà lan, Bỉ, Lucxemburg, Pháp, Anh, Ý, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy

và Ba Lan vào năm 1951; Bệnh kéo dài đến năm 1953, 1954 Theo ở Châu Á, bệnh phát ra ở Ấn Độ năm 1929, 1952…, Myanmar năm 1948, Thái Lan năm 1952, Trung Quốc năm 1951, Campuchia năm (1931, 1946, 1952) Bệnh LMLM ở Châu

Á không dữ dội như ở Tây Âu nhưng ảnh hưởng đến kinh tế các nước Cận Đông, Trung Đông, Nam Á và Viễn Đông

Từ năm 1926 đến năm 1936, giai đoạn tập trung nghiên cứu về vắc xin và chương trình quốc tế về phòng chống dịch được hình thành Trong 3 năm (1937 - 1939) người ta thống kê được có 2 triệu ổ dịch trên khắp các châu lục và cũng chính trong hoàn cảnh này, Waldmann và Kobe đã nghiên cứu chế tạo Vắc xin vô hoạt bằng Formol hấp phụ bởi AL2(OH)3 để tiêm phòng cho gia súc Có thể coi đây là một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc khống chế bệnh LMLM trên phạm vi toàn cầu Năm 1947, Frenkel đã cho ra đời loại vắc xin cải tiến, nuôi cấy trên tế bào thượng bì của lưỡi bò, gọi

là vắc xin Frenkel Loại vắc xin này nhanh chóng được sử dụng tại Hà Lan, Pháp và

Trang 15

Đức Sau đó nhiều phương pháp nghiên cứu nuôi cấy virus đã được tìm ra giúp cho việc cải tiến kỹ thuật chế vắc xin (Đào Trọng Đạt, 2000) [17]

Trong những năm gần đây, kỹ thuật chẩn đoán được cải tiến đã giúp cho việc xác định bệnh được nhanh chóng Vắc xin được sản xuất với chất lượng cao và cùng với chiến lược khống chế bệnh hiệu quả, nhiều nước đã khống chế hoặc thanh toán bệnh thành công Hiện có 59 nước trên thế giới được OIE công nhận là nước an toàn dịch bệnh LMLM (OIE, 2005) [66]

1.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu trên thế giới

Bệnh LMLM đã xuất hiện ở nhiều nước thuộc Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ

La tinh và Châu Âu Điển hình là trong những năm 1981-1985, dịch xuất hiện ở 80 nước, gây nên tổn thất lớn cho nền kinh tế của những nước này (Bộ NN và PTNT, 2016) [3] Năm 1985, dịch LMLM do virus thuộc type Asia 1 xảy ra ở Hy Lạp (Donaldson,A I Global, 2000) [55] Cùng thời gian này, ở Châu Á dịch đã có mặt tại 11 nước và hầu hết các ổ dịch cũng do virus type Asia 1 Ở Châu Phi, dịch LMLM gây thiệt hại ở nhiều nước, đặc biệt là Kenia và Ethiopia (1984 - 1985) Virus type C là căn bệnh chính của những ổ dịch ở 2 nước này Tại các nước còn lại của châu lục này, bệnh LMLM đều do virus thuộc 3 type SAT1, SAT2 và SAT3 gây ra (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) [16]

Những năm 1990, ở Châu Âu, các nước báo dịch gồm Italia, Bulgari, Nga và

Hy Lạp Năm 1996 có 2 ổ dịch ở Thổ nhĩ Kỳ và 1 ở Hy Lạp Năm 1997, chỉ có Georgia và Armenia là có bệnh Trong năm 1998 (theo báo cáo của WRL), một chủng type A mới được phát hiện tại Iran năm 1996 đã lan đến Thỗ Nhĩ Kỳ sát Istanbul, dịch kéo dài đến cuối năm 1998 (Kitching et al, 2000) [60]

Ở Châu Phi, vào thập niên 90, virus LMLM type O lưu hành rộng rãi ở Tây Phi, Gambia, Senegal, UgADNa, Tanzania, Malawi và Kenia Năm 1999 ổ dịch LMLM type O bắt nguồn từ Mali (Tây Phi) theo đường vận chuyển bò xuyên qua Sahara lan đến Algeria, Marocco và Tunisia Virus LMLM type SAT 2 lưu hành ở UgADNa, Zambia và Kenia; SAT 1 được xác định ở Kenia (Kitching et al, 2002) [59]

Ở Châu Á, dịch LMLM do virus type O và Asia 1 xảy ra ở Pakistan và Myanmar; type O và A tại Nepal, Buhtan; type A ở Thái Lan Tại Malaysia không công bố dịch từ năm 1998 nhưng trong thực tế 2 type virus O và Asia 1 vẫn lưu hành (không gửi bệnh phẩm đến WRL) Hai ổ dịch địa phương tại Đài loan và Philippines (đảo Luzon) đều do virus type O gây ra Tại Trung Quốc dịch xảy ra ở Vân Nam nhưng không có thông tin về type virus (Bùi Quang Anh & Hoàng Văn Năm, 2001) [1]

Trang 16

Tại châu Âu năm 2001 dịch đầu tiên xảy ra ở Anh, sau đó lan ra Pháp, Hà Lan, Ai Len qua con đường vận chuyển gia súc (Bộ NN và PTNT, 2016) [3] Tính đến cuối tháng 4/2001 Chính phủ Anh đã phải chi phí cho việc tiêu hủy gia súc bệnh, dập dịch, tổng thiệt hại do dịch gây ra lên đến trên 14 tỷ đô la Mỹ Sau đó, dịch xảy ra ở một loạt các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á Tính đến tháng 7/2001 có trên 20 nước xảy ra dịch LMLM (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [27]

Từ năm 2000 - 2004 có 23 nước ở châu Á và châu Phi gửi mẫu đến WRL Kết quả type O vẫn là type phổ biến nhất; các type A, SAT 1 và SAT 2 có trình tự nucleotide (di truyền) biến đổi nhiều so với các chủng trước đây cùng serotype (Alexandersen, S., I Brotherhood, ADN A I Donaldson, 2002)[46]

Năm 2004 Type A được tìm thấy ở Malaysia, Thái Lan, Lào và Việt Nam Các virus phân lập từ Hồng Kông và Philippines nằm trong topotype Cathay nhưng lại thuộc dòng phụ khác Virus nhận được từ Việt Nam thuộc topotype Cathay hoặc ME - SA (chủng Pan- Asia) Virus type A ở Việt Nam thuộc topotype Asia, có quan hệ rất gần với các chủng gây dịch bệnh ở Thái Lan năm 2003, 2004 (OIE manual, 2000) [65]

Trong báo cáo của OIE năm 2005, không có dịch LMLM ở các nước trong vùng được coi là an toàn và không tiêm phòng vắc xin LMLM Cũng trong năm này FAO/WRLFMD đã nhận 266 mẫu bệnh phẩm LMLM từ 21 nước châu Âu, châu Á, châu Phi và kết quả phân lập và định type O vẫn chiếm tỷ lệ lưu hành cao nhất (OIE, 2005) [66]

Trong năm 2009, 59 nước đã báo cáo có dịch LMLM ở cả Châu Âu và Châu

Á (Bùi Quang Anh & Hoàng Văn Năm, 2001) [1]

Trong năm 2010, có tổng cộng 716 ổ dịch LMLM xảy ra trên 21 quốc gia thuộc châu Phi và châu Á Trong số 716 ổ dịch này, chủ yếu là nhiễm virus LMLM serotype O (93%), mỗi loại serotype A, Asia và SAT2 chỉ chiếm 2% và thấp nhất là serotype SAT1 với 1% (OIE, 2005) [66]

Theo kết quả xét nghiệm của Phòng thí nghiệm giám định virus LMLM (Pirbright, UK) những năm gần đây, sự phân bố của các type và subtype virus LMLM trên thế giới như sau (hình 1.1 – Phụ lục 1)

- Châu Âu: Những ổ dịch do virus type O và A có subtype A Iran/96 ở Iran

Trang 17

SAT 1 và SAT 2 xảy ra rộng khắp trừ phía Bắc Phi, nhưng SAT 3 chỉ xảy ra ở vùng hẹp của phía Nam châu Phi (Samuel et al, 2001) [73]

Hình 1.1 Sự lưu hành theo đặc điểm của virus LMLM thành các vùng

Theo kết quả phân tích gen virus gây bệnh ở phòng thí nghiệm giám định virus LMLM (IAH, Pirbright, UK), type O gây bệnh năm 2000 có cấu trúc gen khác với type

O gây bệnh ở Đài Loan năm 1997 và khác với một số ổ dịch xảy ra gần đây trên thế giới, được đặt tên là South Asia topotype, chúng gây bệnh cho trâu, bò và lợn, phân bố

Trang 18

rất rộng từ Đài Loan ở phía Đông tới Hy Lạp ở phía Tây Năm 1999 có 14 tỉnh ở Trung Quốc bị dịch nặng đã ảnh hưởng lớn đến các nước láng giềng (Grubman et al, 2001) [57]

1.3 Tổng quan kết quả nghiên cứu ở Việt Nam

Bệnh LMLM được phát hiện lần đầu ở Nha Trang năm 1898 Sau đó xảy ra

ở các tỉnh Nam bộ vào năm 1920 và lây rộng ra các tỉnh ở phạm vi cả nước Các năm 1937-1940 bệnh được phát hiện ở Quảng Ngãi và năm 1952 bệnh phát ra tại tỉnh Thừa Thiên Huế, đến năm 1953-1954 bệnh lây lan vào các tỉnh Nam Trung bộ, Bắc Trung bộ (Khu 4), Khu 3, khu tả ngạn, trung và thượng du Bắc bộ, Tây Bắc (Điện Biên) và Việt Bắc Tháng 4-1955, bệnh tái phát ở Khu 3 và lan vào Khu 4 và Khu tả ngạn Việt Bắc (Bộ NN và PTNT, 2016) [3]

Trước năm 1969, cứ khoảng 2 đến 3 năm dịch LMLM tái phát 1 lần ở các tỉnh phía Nam Năm 1969 dịch phát nặng cho cả trâu, bò và lợn Dịch xuất phát từ Sài Gòn - Chợ Lớn rồi lan ra các tỉnh và 5 trại lợn công nghiệp ở Nam Bộ (Tô Long Thành, 2000) [32]

Năm 1975, dịch LMLM xảy ra liên tiếp ở 17 tỉnh phía Nam từ Quảng nam -

Đà Nẵng trở vào các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Từ năm 1980 - 1988: Dịch phát ra chủ yếu ở vùng Đông Nam bộ và các tỉnh miền Trung Năm 1989, dịch phát ra mạnh ở Đồng Nai và Bình Thuận, sau đó giảm dần trong những năm 1990, 1991 Năm 1992, dịch LMLM xảy ra ở Quảng Bình, Hà Tĩnh sau đó lây lan rộng ra cả Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Năm 1993, dịch LMLM xảy ra ở 122 xã của 18 huyện thuộc các tỉnh gồm Quảng Ninh, Hải Phòng,

Hà Tĩnh, Quảng Bình và Thừa Thiên Huế làm 32.260 trâu, bò và 1612 lợn bị bệnh Năm 1995 dịch LMLM xảy ra ở 107 huyện của 26 tỉnh làm 236.000 trâu, bò và 11.000 lợn mắc bệnh (Bộ NN và PTNT, 2016) [3]

Năm 1992, dịch phát tại Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh và những năm sau

đó, bệnh có mặt ở cả 3 miền của đất nước (Văn Đăng Kỳ và Nguyễn Văn Thông, 2011) [21]

Năm 1993, dịch đã lan rộng ra trên địa bàn 122 xã của 18 huyện thuộc 8 tỉnh bao gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu với tổng 32.260 trâu, bò và 1.612 lợn bị bệnh (Văn Đăng Kỳ và Nguyễn Văn Thông, 2011) [21]

Trang 19

Năm 1995 là giai đoạn đỉnh điểm của dịch với 26 tỉnh thành có dịch làm nhiều gia súc mắc bệnh, tại khu vực phía Nam đã có 10.293 lợn mắc bệnh (Trần Hữu Cổn, 1996) [7]

Năm 1996, 1997 dịch xảy ra nặng một số tỉnh Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên Năm 1998 và đầu năm 1999, dịch LMLM bùng phát tại Bình Thuận làm 2.449 bò ở 20 xã của 3 huyện, thị mắc bệnh Đầu năm 1999, nguồn bệnh từ Trung Quốc theo con đường trao đổi, buôn bán gia súc xâm nhập vào Việt Nam và làm dịch phát ra ở huyện Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng, sau đó nhanh chóng lây lan sang các địa phương khác như Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam,… Tính đến cuối năm 1999, có 55 tỉnh thành phố

có gia súc bệnh, số trâu bò mắc bệnh lên đến 120.989 con, số lợn mắc bệnh là 31.801 con (Bộ NN và PTNT, 2016) [3]

Đầu năm 2000, dịch tiếp tục lây lan mạnh, có thêm 5 tỉnh phát dịch là Bắc Cạn, Lai Châu, Yên Bái, Tây Ninh và Trà Vinh Trong đợt dịch này tính đến cuối năm 2000, cả nước có 60 tỉnh thành có gia súc mắc bệnh, trừ tỉnh An Giang chưa bị dịch (Cục Thú y, 2004) [10]

Năm 2001, dịch LMLM còn xảy ra và tái phát trên đàn trâu bò của 11 tỉnh,

23 huyện, 35 xã làm 2.072 con mắc bệnh Trên lợn, dịch LMLM xảy ra ở 11 tỉnh,

31 huyện, 52 xã chủ yếu thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long làm 3.311 con mắc bệnh (Cục Thú y, 2004) [10]

Năm 2002, bệnh LMLM xảy ra ở 26 tỉnh, thành với 10.287 trâu bò mắc bệnh Năm 2003, bệnh LMLM xảy ra ở 38 tỉnh, thành phố, trong đó 28 tỉnh có trâu bò mắc bệnh với tổng số 20.303 con, 28 tỉnh có lợn mắc bệnh với tổng số là 3.533 con (có 18 tỉnh dịch xảy ra ở cả trâu, bò, lợn) Các tỉnh có số trâu bò mắc bệnh nhiều là: Hà Giang, Quảng Trị, Phú Yên, Khánh Hoà, Đắk Lắk, Gia Lai (Cục Thú y, 2004) [11]

Năm 2004, dịch LMLM đã xuất hiện ở 932 xã, phường thuộc 232 quận, huyện ở 48 tỉnh, thành phố làm 71.736 trâu bò, 125 dê và 1.858 lợn mắc bệnh Trước thời điểm 2001, các kết quả xét nghiệm đối với các mẫu bệnh phẩm tại Việt Nam chỉ phát hiện thấy có vi rút LMLM týp O Sau đó, đã phát hiện vi rút LMLM týp A trên các mẫu bệnh phẩm được lấy từ các tỉnh: Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hoà, Long An, Đồng Nai, Lâm Đồng Nguyên nhân của

sự xuất hiện vi rút LMLM týp A có thể là do việc bò nhập lậu từ Căm-pu-chia (Bộ

NN và PTNT, 2016) [3]

Trang 20

Năm 2005, dịch LMLM đã xảy ra ở 408 xã, phường của 160 quận, huyện thuộc 37 tỉnh, thành phố Tổng số gia súc mắc bệnh là 28.241 trâu bò, 3.976 lợn và

81 dê Từ giữa tháng 10/2005, dịch LMLM týp Asia1 đã xảy ra và lây lan cho đàn trâu, bò của 18 xã thuộc các huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa (Khánh Hoà) và huyện Si

Ma Cai (Lào Cai) làm 1.823 con mắc bệnh (Cục Thú y, 2006) [5] Các ổ dịch

LMLM trâu, bò xảy ra tập trung ở các tỉnh Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung Đáng lưu ý dịch LMLM týp A có nguồn gốc từ Cam-pu-chia đã xuất hiện và lây lan

ở nhiều tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, LMLM týp Asia 1 cũng đã xảy ra ở Khánh Hòa và Lào Cai (Bộ NN&PTNT, 2016) [3]

Trong giai đoạn 2006 – 2012, có ba đợt dịch lớn xảy ra vào các năm 2006,

2009 và 2011 Dịch LMLM tập trung vào các tháng 3-7 (năm 2006) và từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau (các năm 2009 và 2011) Khoảng 2 - 3 năm lại xuất hiện các đợt dịch trầm trọng kéo dài khoảng 2,5 tháng, mặc dù dịch vẫn xảy ra rải rác ở các tháng của các năm (Bộ NN&PTNT, 2016) [3]

Năm 2006, dịch LMLM trên trâu bò đã xảy ra tại 1.410 xã của 283 huyện thuộc 47 tỉnh, số gia súc mắc bệnh là 114.015 con Trong đó type Asia 1 có ở Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Cao Bằng và Thái Bình (phát hiện bằng kít 3 ABC

và giám định bằng phương pháp RT -PCR) với tổng số 9.271 trâu bò và 12.461 lợn

bị bệnh Trong năm 2006 cả nước đã xử lý tiêu hủy 4.906 trâu, bò, 31.087 lợn (Bộ NN&PTNT, 2011) [2]

Năm 2007 - 2009: Phân bố không gian của các ổ dịch LMLM ít hơn, nhưng vẫn tập trung ở các tỉnh Nam Trung Bộ Năm 2009, phân tích thống kê cho thấy chùm ổ dịch LMLM phân bố rõ nét tại các tỉnh Lạng Sơn và Lai Châu (Bộ NN&PTNT, 2016) [3]

Năm 2009, dịch đã xảy ra ở 229 xã thuộc 87 huyện của 27 tỉnh, thành phố với tổng số 7.861 con trâu, bò mắc bệnh, 432 con phải tiêu hủy Trên lợn dịch xảy

ra ở 35 xã thuộc 23 huyện của 16 tỉnh, thành phố với tổng số 499 lợn mắc bệnh, 429 con phải tiêu hủy (Bộ NN&PTNT, 2011) [2]

Dịch LMLM xảy ra trên địa bàn các tỉnh bắc Trung Bộ, Duyên Hải miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc Dịch xảy ra trên quy mô rộng vào tháng 9/2009, cao điểm nhất có tới trên 90 ổ dịch xuất hiện trong tháng, các

Trang 21

tháng khác dịch xảy ra ít hơn và rải rác tại nhiều địa phương Dịch LMLM týp A xuất hiện tại vùng núi phía Bắc (Sơn La, Bắc Giang và Hà Giang); Tây Nguyên (Kon Tum), đồng bằng sông Cửu Long (Long An) là những vùng đã lâu không có type virus này (Bộ NN&PTNT, 2011) [2]

Năm 2010 dịch đã xảy ra ở 297 xã thuộc 103 huyện của 28 tỉnh, thành phố là Bắc Ninh, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Phước, Bà Rịa -Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Phú Thọ và Thái Nguyên với tổng số 16.333 con trâu, bò mắc bệnh, 419 con trâu bò phải tiêu hủy Có 16 tỉnh, thành phố có lợn

bị mắc bệnh LMLM với tổng số 1.675 con lợn mắc bệnh, 848 con phải tiêu hủy (Bộ NN&PTNT, 2011) [2]

Năm 2011, dịch có giảm so với các năm trước, có 122 xã của 43 huyện thuộc

14 tỉnh có dịch làm 2.408 trâu, bò và 67 lợn mắc bệnh Số chết, tiêu hủy là 218 trâu,

bò và 39 lợn type O vẫn là type virus xuất hiện nhiều nhất trong các ổ dịch Tháng 12/2008 phát hiện type A tại Nghệ An (Cục Thú y, 2003) [9]

Các ổ dịch LMLM từ đầu năm 2010 đến nay đều do virus LMLM type O gây

ra (Cục Thú y, 2011) [12]

Năm 2013, dịch LMLM đã xảy ra ở 45 xã thuộc 18 huyện của 9 tỉnh thành trong nước, làm nhiều gia súc mắc bệnh và tiêu hủy Virus LMLM type A gây bệnh tại 9 tỉnh (Lạng Sơn, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Nam, Phú Yên, Lâm Đồng và Long An) (Báo cáo tổng kết của Cục Thú y, 2013) [9]

Năm 2014, cả nước đã xuất hiện 59 ổ dịch tại 59 xã thuộc 26 huyện, thị xã của 10 tỉnh gồm Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Phú Yên, Kon Tum và Yên Bái làm 2.704 con gia súc mắc bệnh (gồm 1.397 con trâu, 1.152 con bò, 134 con lợn và 24 con dê) (Báo cáo tổng kết của Cục Thú y, 2015) [9]

Năm 2015, cả nước đã xuất hiện dịch LMLM tại 62 xã thuộc 36 huyện của

18 tỉnh/thành phố gồm Bắc Kạn, Bến Tre, Cao Bằng, Bình Dương, Đắk Lắc, Đắk Nông, Hà Tĩnh, Lào Cai, Nghệ An, Ninh Thuận, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Trị, Sóc Trăng, Sơn La, Tiền Giang, Yên Bái và Thành phố Cần Thơ làm 3.632 con gia súc mắc bệnh, trong đó có: 2.273 con trâu (chiếm 62,58%), 611 con trâu (chiếm 16,82%), 716 con lợn (chiếm 19,71%) và 32 con dê (chiếm <1%); Tổng số gia súc tiêu hủy là 333 con (bao gồm 14 con bò, 8 con trâu, 310 con lợn và 10 con dê) (Báo cáo tổng kết của Cục Thú y, 2015) [9]

Như vậy, hiện nay đã tìm thấy có 3 type virus lở mồm long móng đang lưu hành tại Việt Nam đó là: typ O, A, Asia1 trong đó typ O là typ gây bệnh chủ yếu,

Trang 22

bao gồm typ O Panasia gây bệnh ở các tỉnh Nam bộ, typ O Myanmar 98 đang lưu hành ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung - Tây Nguyên

1.4 Virus LMLM

Virus LMLM thuộc họ Piconarviridae, chi Aphtho virus

Hình 1.2a Virus LMLM

(Sabenzia Nabalayo Wekesa et al, 2015) [72]

Cấu trúc virus gồm phần trung tâm là axit nucleic chiếm 31%, được bao bọc bởi một capsid là protein, gồm 60 capsome, không vỏ bọc Hạt virus là phân tử

Trang 23

ARN là đơn vị gây nhiễm, đóng vai trò như một ARN thông tin (Acharya, R., E et

al, 1989) [45]

Dưới ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, hạt virus có thể phân ly thành những phần tử nhỏ ARN và những tiểu phần protein của capsome (thường gọi là tiểu phần 12S) dài 7 - 8nm (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [26], (Grubman et al, 2004) [57]

Sức đề kháng của virus đối với ngoại cảnh tương đối mạnh, tùy thuộc vào điều kiện môi trường hay chất chứa virus Đặc biệt khi virus dính vào những vật chất khô hay những có bản chất protein (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [27], (Trịnh Văn Thịnh, 1958) [38]

1.4.2 Đặc tính di truyền, cấu trúc gen, kháng nguyên

Theo Abrams, C C., A M King, ADN G J Belsham (1995) [44]., hệ gen của virus LMLM bao gồm phần không mã hóa cho protein đầu 5’ (5’UTR) và đầu 3’ (3’UTR), phần mã hóa cho protein cấu trúc (1 ABCD) và phần mã hóa protein không cấu trúc (2 ABCD và 3 ABCD) Chỉ thị phân tử sử dụng nhiều nhất trong định type và nghiên cứu phả hệ virus LMLM là 5’ UTR và VP1 Cấu trúc của gen

mã hóa cho các protein được trình bày ở hình 1.3

Hệ gen của virus LMLM với chiều dài 8.000 - 8.500 base (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [26], (Forss et al, 1984) [56] Do đặc điểm của các virus ARN sợi đơn dương, có tính biến dị rất mạnh

Hình 1.3 Sơ đồ hệ gen của virus LMLM (Grubman et al, 2001) [57]

Trang 24

Bộ gen chứa một khung đọc mở duy nhất ORF, với 2 vị trí khởi đầu giải mã cho một protein chung (polyprotein) Polyprotein được chia thành hơn 12 polypetide chức năng và trung gian của các phần sẽ bị cắt (Nguyễn Quang Hưng, 2001) [18], (Reid et

al, 2003) [71] Hầu hết các quá trình phân cắt tạo các protein trưởng thành được xúc tác bởi 3 proteinase của virus là Lpro, 2A và 3 Cpro Hai đầu của bộ gen có thể được thay đổi, đầu 5’ tận cùng bởi VPg (khoảng 23 axit amin), đầu 3’ bởi chuỗi Adenyl Lpro là nhân tố quan trọng quyết định độc tính của Virus

Theo Reid, S M., Ferris, N P., Hutchings, G H., Samuel, A R., Knowles,

N J (2000) [67], những protein tạo nên capsid có tính chất kháng nguyên và khả năng sinh kháng thể, gồm 4 loại: VP1, VP2, VP3, VP4 (VP: viral protein) VP1 ở ngoài cùng tham gia vào việc cố định virus trên những tế bào và là một trong những loại kháng nguyên chính kích thích tạo ra kháng thể chống lại bệnh LMLM Do đó,

có thể nói VP1 đóng vai trò quan trọng nhất trong sinh bệnh học vì nó là yếu tố sinh miễn dịch căn bản Protein VP1 kích thích tạo ra các kháng thể trung hòa ở trâu, bò

và lợn, ba vùng kháng nguyên tương ứng đã được mô tả trên bề mặt của suptype A12 Hai trong những kháng nguyên đó đã được phát hiện trên chuỗi polypeptide của VP1 và trong các tiểu phần có hằng số sa lắng 12 S Các vùng kháng nguyên này tham gia trong phản ứng trung hòa virus (Reid et al, 2003) [71]:

- Sự kết hợp của các tiểu phần virus với kháng thể, qua đó virus mất khả năng xâm nhập (gây nhiễm)

- Phong tỏa các vị trí hấp phụ đặc hiệu

- Hạn chế khả năng xâm nhập và khả năng tái tạo Virus

Về chức năng các thành phần kháng nguyên của virus LMLM có thể được phân biệt như sau:

- Hạt virus có hằng số sa lắng 140S với 60 bản sao của 4 loại protein (VP1, VP2, VP3, VP4)

- Vỏ capsid trần có hằng số sa lắng 75S với 60 bản sao của VP0 - VP3

- Các capsome có hằng số sa lắng 12S, được cấu tạo bằng các VP1 - VP3

- Kháng nguyên VIA có hằng số sa lắng 3,8S; chuỗi RNA polymerase

- Ngoại trừ phân tử ARN, các đơn vị cấu trúc cũng xuất hiện trong quá trình virus nhân lên trong mô bị nhiễm và có đặc tính kháng nguyên hoặc dị ứng nguyên Thành phần miễn dịch của một hạt virus hoàn chỉnh có khả năng kích thích con vật tạo ra đáp ứng miễn dịch sản sinh kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên tương ứng

Trang 25

Đặc tính này cũng được giữ nguyên trong quá trình bất hoạt và ức chế sự nhân lên của virus

Ngoài đặc tính kháng nguyên gây miễn dịch dịch thể đặc hiệu, hạt virus hoàn chỉnh còn có khả năng gây dị ứng Phân tử ARN của virus LMLM không có ý nghĩa

Về mặt kháng nguyên, virus LMLM không đồng nhất, điều này xảy ra trong các serotype, mà mỗi serotype đó có thể có dưới type và các biến chủng hoặc các biến chủng này lại khác nhau về mặt huyến thanh học Sự sai khác về bộ gen là nguyên nhân tạo ra các biến chủng, đặc biệt thông qua sự đa dạng của phân tử VP1 Cấu trúc VP1 cũng là điểm xuất phát của những công nghệ di truyền và công nghệ hóa hiện nay (Donalson A.I, 2000) [15] Mặc dù những protein khác như L, 2AC và 3AD không phải là phần cấu trúc capsid, nhưng chúng cũng tạo ra những đáp ứng kháng thể ở động vật nhiễm bệnh (Brochi et al, 1998) [52], (Sorensen et al, 1998) [74]

Các phương pháp huyết thanh học dùng để xác định subtype đã mang lại nhiều kết quả quan trọng trong quá trình nghiên cứu virus LMLM Tuy nhiên các phản ứng huyết thanh học được sử dụng đều phát hiện kháng thể kháng protein cấu trúc, protein vỏ của virus nhưng không phân biệt được đó là kháng thể của động vật

đã được tiêm vắc xin phòng bệnh hay do nhiễm virus (Tô Long Thành và cộng sự, 2008) [36], (Reid et al, 2001) [70]

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ sinh học phân tử, các kỹ thuật chẩn đoán cũng có nhiều phát triển vượt bậc Ngày nay, công nghệ phân tích gen đã được áp dụng nhiều trong công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong sản xuất vắc xin phòng bệnh Phương pháp PCR do Mullis và cộng sự phát minh vào năm 1985 được sử dụng rộng rãi đã đem lại cuộc cách mạng di truyền học phân

tử Đây là kỹ thuật hoàn toàn mới trong việc nghiên cứu và phân tích gen và hệ gen,

có thể tạo ra số lượng lớn các bản sao của đoạn ADN mong muốn Phương pháp

Trang 26

phân tích gen đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu về vắc xin ADN phòng bệnh LMLM Người ta đã xác định được các đoạn axit amin có khả năng kích thích đáp ứng miễn dịch nhanh, mạnh, tái tổ hợp vào ARN của virus dùng trong sản xuất vắc xin Khi các loại vắc xin ADN này được tiêm cho gia súc thì các đáp ứng miễn dịch đặc hiệu sẽ hình thành không chỉ chống lại các protein cấu trúc mà còn cả protein phi cấu trúc của virus (Reid et al, 1998) [69], (Reid et al, 2003) [71]

1.4.4 Các điểm quyết định kháng nguyên

Theo Bergmann, I E., V Malirat, E Neitzert, E Beck, N Panizzuti, C Sanchez, ADN A Falczuk (2000) [50], một số protein phi cấu trúc của virus LMLM gây đáp ứng miễn dịch là 3D, 3A, 3AB, 3ABC, 2C, 2B, 3C và Lpro Trong thời gian gần đây, một số protein phi cấu trúc 2C, 3C, 3AB và 3ABC đã được nghiên cứu và nhiều phương pháp có độ nhạy cao đã được phát triển Tuy nhiên có

lẽ phương pháp căn bản ELISA vẫn là sự lựa chọn tốt hơn do có nhiều thuận lợi về tính khách quan, độ nhạy cao, an toàn, rẻ, dễ giải thích và sử dụng phù hợp cho số lượng mẫu lớn ở thực địa (Forss et al, 1984) [56] (Brocchi và cộng sự, 1998) [52] (Reid et al, 1998) [69] đã tiến hành thí nghiệm dùng kháng thể đơn dòng kháng protein phi cấu trúc 3ABC với kỹ thuật ELISA ngăn trở Brocchi và cộng sự (1998) [52] cũng đã tìm kiếm kháng thể kháng nguyên 3D, 3AB và 3ABC bằng phương pháp ADN tái tổ hợp Kết quả là ở những gia súc được bảo vệ bằng vắc xin đã không tạo kháng thể kháng protein phi cấu trúc đặc biệt là 3ABC

1.4.5 Tiến hóa của virus LMLM

Thành phần hệ gen của virus LMLM luôn luôn biến đổi, ngay cả trong cùng một serotyp, các chủng phân lập ở các vùng địa lý khác nhau có mức độ tương đồng

về thành phần nucleotide và axit amin cũng khác nhau

Mầm bệnh của bệnh LMLM là loại virus ARN nhỏ nhất trong các virus qua lọc (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [26], virus LMLM có hai đặc tính liên quan đến dịch tễ học, đó là tính da type và tính dễ biến đổi kháng nguyên Các type gây ra những triệu chứng bệnh tích giống nhau nhưng lại không gây ra miễn dịch chéo (Trịnh Văn Thịnh, 1958) [38]

Virus LMLM gây ra những triệu chứng lâm sàng giống nhau nhưng được phân loại dựa vào kiểu gene xác định dựa trên so sánh trình tự VP1 Hiện có 7 type virus LMLM, trong đó mỗi type này lại phân chia thành nhiều type phụ (subtype) khác nhau bởi những đặc tính miễn dịch học (cấu trúc kháng nguyên, độc lực …) Hiện nay, người ta thừa nhận có hơn 70 type phụ virus LMLM Không có sự đồng

Trang 27

nhất rõ rệt về đặc tính kháng nguyên trong các type, không có miễn dịch chéo giữa các type, chỉ có miễn dịch chéo giữa một số type phụ trong phạm vi một type (Forss

et al, 1984) [56], (Reid et al, 2002) [68] Đối với 3 type O, A, C trong một ổ dịch có thể có sự kết hợp của các type này, nhưng thông thường chỉ một type chiếm ưu thế

1.4.6 Đặc tính gây nhiễm trong phòng thí nghiệm

Ngay lần đầu tiên phát hiện virus LMLM, Loeffler và Frosch (1897) đã nghiên cứu nuôi cấy virus trong phòng thí nghiệm để tìm hiểu đặc tính của nó và tạo

ra những chủng virus có tính kháng nguyên dùng để chế tạo vacxin

Theo Waldmann (1937), khi tiêm virus LMLM cho bê mới đẻ chưa bú sữa

mẹ sẽ gây bệnh và làm chết bê trong vòng 38 giờ; phủ tạng bê (đặc biệt là cơ tim, phổi) và xương chứa nhiều virus Có thể gây bệnh bằng cách tiêm tĩnh mạch virus cho bê mới đẻ chưa bú mẹ, con vật chết trong khoảng 38 giờ với rất nhiều virus trong phủ tạng

Kết quả gây bệnh thực nghiệm cho bê trong phòng thí nghiệm phụ thuộc vào liều tiêm và đường tiêm truyền Kết quả gây bệnh thực nghiệm bằng phương pháp tiêm truyền dưới da không ổn định, tùy thuộc vào liều sử dụng và cần ít nhất 1ml máu độc mới có kết quả Tiêm virus vào tĩnh mạch bê cũng cho kết quả không ổn định, bệnh có thể diễn biến trầm trọng nhưng cũng có thể chỉ ở thể nhẹ, thoáng qua Tiêm bắp virus cho bê có thể gây bệnh trầm trọng (Trịnh Văn Thịnh và cộng sự, 1958) [38] Tiêm truyền đường phúc mạc bao giờ cũng gây bệnh, và kết quả có thể cao hơn ở bê mới đẻ và nhịn đói Khi tiêm truyền bằng đường trên không có kết quả, có thể gây bệnh ở liều thấp virus bằng phương pháp tiêm nội bì Ở bò và lợn thường tiêm vào nội bì niêm mạc lưỡi (ở chuột lang tiêm vào nội bì gan bàn chân) Trong số các phương pháp tiêm truyền, tiêm nội bì có hiệu quả nhất; những đường tiêm khác nhau như bắp thịt, dưới da, tĩnh mạch… cho kết quả không chắc chắn và đòi hỏi liều virus cao hơn (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [26] Bệnh LMLM tái tạo trong phòng thí nghiệm bằng tất cả các đường tiêm truyền đều diễn biến nhẹ hơn so với thể bệnh lây tự nhiên

Động vật thí nghiệm: Trong phòng thí nghiệm, có thể gây bệnh bằng cách tiêm phúc mạc cho chuột lang, chuột đồng, chuột trắng, chuột nhắt xám, chuột nhắt trắng sơ sinh (12 - 24 giờ), chuột đất, chuột còn bú hoặc thỏ nhà, thỏ rừng, gà, trong

đó chuột lang là động vật cảm thụ nhất

Chuột lang là động vật cảm thụ trong phòng thí nghiệm Waldmann và Pege (1920) cho rằng, động vật thí nghiệm tốt nhất là chuột lang Khía da chuột lang có thể tái tạo mụn nước Độc lực của virus trên chuột lang được gia tăng bằng nhiều

Trang 28

lần tiếp đời Trước đây, chuột lang là động vật thí nghiệm được dùng trong chẩn đoán, nhân virus và kiểm tra hiệu lực, an toàn của vắc xin

Tiếp đời trên chuột nhắt, nhược độc hóa: trong phòng thí nghiệm, tiếp đời virus trên chuột nhắt trắng sau nhiều đời làm giảm độc lực của virus trên bò Sau 20 lần tiếp đời qua chuột nhắt virus nhân lên ở chuột không còn khả năng gây bệnh cho

bò nhưng vẫn còn khả năng gây miễn dịch Người ta dùng phương pháp này để chế vắc xin nhược độc

1.4.7 Đặc tính nuôi cấy tổ chức tế bào

Vi rút LMLM có thể được nuôi cấy: Trên tổ chức da sống, như tổ chức da của thai lợn, thai bò, chuột con còn sống (giữ thai sống bằng phương pháp nhân tạo); trên các động vật thí nghiệm như thỏ, chuột lang, chuột nhắt đã trưởng thành (tuy nhiên vi rút thường bị biến đổi và mất đặc tính gây bệnh); trên màng niệu nang của phôi trứng (không ổn định, có khi được có khi không); trên tổ chức thượng bì lưỡi bò trưởng thành, đây là tổ chức thích hợp nhất để nuôi cấy vi rút LMLM Lưỡi

bò phải được lấy ngay khi vừa mới mổ bò, giữ lạnh ở nhiệt độ 2-3 °C và chỉ sử dụng được trong vòng 8 ngày Phương pháp này là phương pháp cho kết quả tốt, độc lực của vi rút vẫn cao đối với bò và động vật thí nghiệm sau nhiều lần tiếp đời

Do đó phương pháp này thường được dùng để chế vắc xin vô hoạt (Bộ Nông nghiệp

và PTNT, 2016) [3]

Ngoài các phương pháp trên, có thể nuôi cấy trên môi trường tế bào Tốt nhất

là tế bào thận bê hoặc cừu non, tuyến yên của bò hoặc của lợn, hoặc các dòng tế bào mẫn cảm như tế bào BHK (Baby Hamster Kidney) Sau khi cấy vi rút LMLM vào các môi trường tế bào nói trên, để tủ ấm 37 °C trong khoảng 24-72 giờ, vi rút sẽ làm huỷ hoại tế bào nuôi Năm 1973, phòng thí nghiệm tham chiếu Pirbright đã nuôi cấy

140 chủng vi rút LMLM, khoảng 120 chủng đã sinh trưởng trong môi trường BHK21 Hiện nay môi trường này thường được dùng để phân lập vi rút (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016) [3]

Chế kháng nguyên: Dùng chuột lang từ 2 - 7 ngày tuổi để gây bệnh, sau 24 giờ có thủy thũng hoặc mọc mụn nước Thu dịch thủy thũng hoặc mụn nước cấy vào môi trường tế bào, sau 24 giờ xuất hiện bệnh tích và tế bào chết

Thu dịch (trong môi trường có chứa virus được giải phóng từ tế bào) để làm kháng nguyên trong phản ứng ELISA Nếu tế bào không biến đổi hoặc chuột bị

Trang 29

chết, phải cấy truyền hai lần liên tiếp cách nhau 48 giờ với huyễn dịch virus - tế bào đông tan

1.5 Một số đặc điểm dịch tễ học vủa virus LMLM

1.5.1 Nguồn dịch

1.5.1.1 Nguồn dịch thiên nhiên

Trong tự nhiên, nhiều loài động vật hoang dã cảm thụ bệnh và có thể trở thành nguồn bệnh cho vật nuôi Các loài nhai lại hoang dã như bò rừng

(Bisonbonasus), trâu rừng (yak), lạc đà, nhiều loài sơn dương, hoẵng, những loài

hươu khác nhau (như hươu Dama, hươu đỏ), nai đều nhiễm virus LMLM Hoãng nhiễm virus LMLM có biểu hiện triệu chứng điển hình, hươu Sira biểu hiện ít trầm

trọng hơn, hươu hoang dã (Fallowdeer) và hươu ved chỉ biểu hiện dưới dạng ẩn

tính Các loài nhai lại cảm thụ này đóng vai trò quan trọng trong dịch tễ học của bệnh (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) [16]

1.5.1.2 Nguồn dịch gia súc mang trùng

Thú mang trùng được coi là vấn đề quan trọng nhất trong dịch tễ học của bệnh LMLM hiện tại “Thú mang trùng” được định nghĩa là thú mà ở đó virus sống

có thể phân lập được 28 ngày sau khi nhiễm bệnh “Thú mang trùng” không chỉ có nghĩa là hoang thú mà cả động vật nuôi; trong thực tế có khoảng trên 50% bò, dê, cừu phơi nhiễm với virus LMLM trở thành “thú mang trùng”, bất luận chúng đã hoặc chưa được “bảo vệ” bằng vắc xin Sự hình thành trạng thái mang trùng phụ thuộc vào chủng và type huyết thanh của virus LMLM Thời gian mang trùng phụ thuộc vào loài nhiễm bệnh và có tính cá thể

Vấn đề về động vật mang trùng đặc biệt quan trọng khi cân nhắc sử dụng văc xin để khống chế một ổ dịch, bởi vì vắc xin không ngăn chặn được sự nhiễm virus (bò đã được tiêm vắc xin vẫn nhiễm bệnh và mang trùng) và các phương tiện chẩn đoán hiện tại chưa đảm bảo chắc chắn 100% phát hiện hết các trường hợp động vật mang trùng

1.5.2 Động vật cảm thụ

Bệnh LMLM chủ yếu là của loài nhai lại và lợn Loài vật ăn thịt ít mắc bệnh hơn Ngựa, loài một móng và người không cảm nhiễm bệnh (Donalson A.I, 2000) [15], (Trịnh Văn Thịnh và cộng sự, 1958) [38]

Trâu và bò là những loài dễ mắc bệnh nhất (Nguyễn Lương, 1997) [23], trong đó bò có tỷ lệ nhiễm và mức độ bệnh trầm trọng hơn trâu, sau đó đến lợn, cừu, dê Trong số các giống bò, bò lai được nuôi dưỡng tốt, khỏe mạnh thường dễ nhiễm bệnh hơn Bệnh thường xảy ra ở trâu bò rồi lây lan sang lợn (trừ chủng virus

Trang 30

chỉ nhiễm cho lợn) (Lê Minh Chí, 1996) [5], virus LMLM chủng Cathay chỉ gây bệnh cho lợn

Động vật nhỏ (tiểu gia súc) như cừu có tỷ lệ cảm nhiễm thấp và giữ vai trò quan trọng trong việc mang trùng Cừu có thể mang trùng tới năm tháng và duy trì

sự nhân lên với mức độ thấp của virus Virus thừng cư trú ở vùng hầu của gia súc

1.5.3 Đường xâm nhập

Đường hô hấp: Đường xâm nhập chính của virus là đường hô hấp, virus vào

vùng hầu ở trong các tế bào của màng nhầy họng rồi lan sang các tế bào lân cận, các

hệ thống lưu thông và hệ lâm ba dẫn tới các tế bào, cơ quan khắp cơ thể

Đường tiêu hóa: Khi mầm bệnh theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào cơ

thể qua đường tiêu hóa, chúng nhân lê trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa làm thành mụn nước sơ phát, sau đó theo hệ thống máu và lâm ba đến khắp cơ thể

Da: Da nguyên lành không để virus đi qua, khi có vết xây sát gia súc có thể

nhiễm Virus Tại những xây sát hoặc vết thương ở da, nhất là các vùng vú thường xuất hiện mụn nước sơ phát; vùng da tổn thương cũng là nơi virus xâm nhập vào cơ thể

1.5.4 Cơ chế sinh bệnh

Virus LMLM phổ biến lây lan theo đường hô hấp, virus sinh sôi qua vùng hầu Ngoài đường hô hấp ra, bệnh có thể nhiễm qua da, vết thương da và niêm mạc Khi virus theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào cơ thể hoặc qua các tổn thương ở

da, trước tiên nó nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa hoặc của da, gây thủy thũng một số tế bào thượng bì, làm thành mụn nước sơ phát nhưng khó nhận biết vì con vật vẫn khỏe mạnh (Donalson A.I, 2000) [15]

Tổn thương do virus gây ra tại cửa vào không gây triệu chứng bệnh (thời kỳ nung bệnh); thời gian nung bệnh rất khác nhau phụ thuộc vào độc lực của Virus, số lượng virus và đường xâm nhập, thời gian nung bệnh ngắn 2 - 3 ngày, có khi lên tới

10 - 14 ngày, những trường hợp liều gây nhiễm thấp thời gian nung bệnh đối với chu kỳ đầu tiên có thể dài hơn (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [27]

Sau khi nhân lên ở vùng cửa vào và những hạch lâm ba lân cận, virus vào máu và được đưa đến các vị trí thứ cấp (Donalson A.I, 2000) [15] Do tính hướng thượng bì, virus hầu như rất ít nhân lên ở các phủ tạng; virus phát triển chủ yếu trong những tế bào thượng bì của miêm mạc và da, chủ yếu là những tế bào thượng

bì non, gây sưng hạch, tổn thương (mụn nước) các biểu mô quang miệng (mõm lợn), chân, vú và gốc sừng Ngoài ra mụn nước cũng phát triển ở những nơi ít nhìn thấy như: trên trụ dạ cỏ, âm hộ, vùng bẹn… virus có thể qua đường tuần hoàn của

Trang 31

con mẹ xâm nhập vào phôi thai và có thể gây sảy thai Vào giai đoạn cuối bệnh (cuối giai đoạn sốt), virus có thể tiếp tục nhân lên ở những tế bào đang phân chia vùng mô lận cận và gây nên các mụn nước thứ phát

Mụn nước xuất hiện ở cả chiều sâu của thượng bì Do áp lực của nước ở trong mụn, mụn nước phát triển to ra, nhô lên Cùng với phản ứng viêm, bạch cầu di động đến làm cho dịch lâm ba của mụn nước màu trong trở nên đục và không bao giờ sinh mủ khi không có vi khuẩn kế phát Khi mụn vỡ, những vết tích ở thượng bì được lấp đầy nhanh chóng Mụn nước chỉ lở loét khi mồm, chân bị nhiễm vi khuẩn sinh mủ, gây hoại tử, xây x át gây nên bệnh lý cục bộ, ăn sâu vào trong, có khi gây bại huyết làm con vật suy yếu hoặc chết

1.5.5 Chất chứa virus

Nước dãi: Độc lực của virus xuất hiện rất sớm trong nước dãi (10 giờ sau

khi nhiễm virus) Sự xuất hiện virus trước khi sốt trong nước dãi có thể do sự nhân lên của virus ở cửa vào Số lượng virus cường độc trong nước dãi đạt cao nhất khi các mụn nước ở miệng vỡ, kéo dài đến ngày thứ 10 - 14 ngày sau khi có triệu chứng và biến mất sau 5 tuần (Nguyễn Quang Hưng, 2001) [18] Virus được thải ra ngoài qua nước dãi lẫn nước mụn và mảnh thượng bì của mụn bị vỡ ra trên niêm mạc lưỡi và miệng Virus trong nước dãi tồn tại đến 2 ngày ở 370C, 3 tuần ở 200C, 5 tuần ở 40C

Mụn nước: Virus có nhiều nhất trong nước của mụn tiên phát dưới 5 ngày,

mụn khong còn virus sau khi hình thành mụn thứ phát Hàm lượng virus cao nhất là trong nước mụn và thành mụn, 1ml dịch mụn nước có chứa 108 TCID50 ở ngày thứ

2 - 3 sau khi có triệu chứng và giảm rõ rệt sau 4 - 5 ngày (Tr Doel, 2003) [41]

Máu: Virus LMLM xuất hiện trong máu của động vật cảm thụ vào thời kỳ

sốt, thường từ giờ thứ 18 sau nhiễm virus và có thể kéo dài 3 - 5 ngày Máu chứa ít virus hơn ở mụn nước, khoảng 105TCID50/ml máu tại thời điểm cao nhất (Nguyễn Quang Hưng, 2001) [18]

Các chất thải tiết khác: Virus LMLM cũng được thải ra môi trường ngoài trong các chất dịch bài tiết như nước tiểu, phân, sữa, nước mũi, nước mắt và tinh dịch Số lượng virus cường độc trong các chất bài tiết này thấp hơn ở nước dãi Độc lực của virus có trong chúng cùng một lúc với độc lực của virus có trong máu, cao nhất vào ngày thứ 2 và thứ 3 sau khi thú nhiễm virus và mất đi vào ngày thứ 4 hoặc thứ 5, ngoại trừ ở nước tiểu

Mô, tổ chức khác như: tim, da, tuyến tụy, tuyến giáp, trong mật và các hạch lâm ba cũng chứa một lượng lớn virus trong suốt giai đoạn bệnh cấp tính (Nguyễn Quang Hưng, 2001) [18] Sản phẩm động vật và phụ phẩm, chất thải: Các thú sản,

Trang 32

sản phẩm sữa, thịt, máu, xương, da, lông, móng, sừng đều chứa virus độc, rác thải của nhà bếp, nước rửa đun đun không kỹ cũng làm phát tán virus (Nguyễn Viết Không và cộng sự, 2006) [20] Virus có thể giữ nguyên hoạt tính trên lông gia súc đến 4 tuần (Nguyễn Quang Hưng, 2001) [18]

Chất thải, vật dụng chăn nuôi: tường, nền, máng ăn, chất lót chuồng, rơm cỏ, nước rửa chuồng, các đồ vật và dụng cụ đều có thể chứa virus và trở thành nguồn cơ giới truyền lây virus

1.5.6 Con đường và phương thức truyền lây

Phương thức truyền lây bệnh LMLM rất đa dạng Virus gây bệnh LMLM có thể lây truyền trực tiếp giữa con mắc bệnh và con khỏe khi nhốt chung hoặc chăn thả chung trên đồng cỏ Virus từ nước bọt, dịch mụn nước, các chất bài xuất, bài tiết của con vật mắc bệnh xâm nhập vào con khỏe Bệnh cũng có thể truyền lây gián tiếp thông qua thức ăn, nước uống, máng ăn, máng uống, nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi, thú y, sản phẩm chăn nuôi; phương tiện vận chuyển, tay chân, quần áo người chăn nuôi bị nhiễm virus

Bệnh lây truyền trực tiếp từ đàn này sang đàn khác, từ địa phương này sang địa phương khác do sự di chuyển của con vật nhiễm bệnh đến đàn chưa có bệnh là hình thức lây truyền chủ yếu Do nhu cầu giao lưu, buôn bán động vật, sản phẩm động vật của các tỉnh, các vùng và các nước ngày càng phát triển, cùng với sự chênh lệch về giá cả đã thúc đẩy sự vận chuyển bất hợp pháp, tư thương đã tìm mọi cách để vận chuyển gia súc ra khỏi vùng dịch để kiếm lời Người chăn nuôi vì không rõ nguồn gốc hoặc tham giá rẻ đã mua về nuôi, từ đó mầm bệnh phát tán khắp nơi (Nguyễn Quang Hưng, 2001) [18]

Chó, mèo, gà, chim muông, hoang thú, côn trùng không mắc bệnh nhưng có thể truyền bệnh theo con đừng cơ học từ nơi này đến nơi khác Những con vật đó khỏi bệnh nhưng vẫn mang virus trong móng chân, máu, nước tiểu là nguồn gốc gây ra các ổ dịch mới Gió cũng là một yếu tố quan trọng trong việc làm lây lan bệnh qua không khí

Ngoài ra, virus có thể truyền từ mẹ sang bào thai Bê sinh ra mắc bệnh thường chết nhanh (Tr Doe, 2003) [41]

Thời điểm lây lan: Virus xuất hiện trong nước bọt trước khi xuất hiện các

triệu chứng và tăng cao khi vỡ các mụn nước ở miệng; virus có mặt trong các chất thải tiết khác nhau như nước tiểu, phân cũng đồng thời với sự xuất hiện mụn nước Mọi chất thải tiết và không khí đều mang virus Như vậy, virus được lan truyền ngay khi động vật chưa có triệu chứng và khả năng lây truyền tăng cao khi mụn nước vỡ Sau 4 ngày kể từ lúc mụn nước vỡ ra, khả năng lây nhiễm giảm hoặc

Trang 33

không còn, trừ khi virus còn tồn tại trên da, lông, một vài con vật giữ được mầm bệnh như một vật mang trùng trong thời gian dài (Nguyễn Lương, 1997) [23]

Phạm vi lây lan: Tốc độ gió, hướng gió là những yếu tố quan trọng trong

việc lây lan qua không khí Trong hoàn cảnh thuận lợi, virus có thể lan xa 100km nhờ gió Truyền lây virus trong không khí là kiểu truyền lây “không kiểm soát được”, đáng sợ hơn nhiều lần so với các phương thức truyền lây “kiểm soát được” như sự tiếp xúc trực tiếp với gia súc mắc bệnh hoặc gián tiếp qua con người hay các vật dụng khác

Mùa truyền lây: Ở vùng nhiệt đới, bệnh LMLM thường ở thể nhẹ, ít chết

Đặc điểm bệnh này có thể do ảnh hưởng của khí hậu Trong sức nóng nhiệt đới, những chất, những bộ phận chứa virus bị tiêu diệt nhanh, làm giảm mức độ truyền lây Cũng có thể chính vì lý do nhiệt độ này, bệnh LMLM ở Việt Nam và các nước nhiệt đới khác bệnh lây lan quanh năm, nhưng thường phổ biến hơn vào mùa xuân, mùa mưa phùn, đất ẩm ướt, ánh nắng dịu của mùa đông

1.6 Miễn dịch trong bệnh LMLM

Sau khi virus LMLM xâm nhập vào cơ thể sẽ nhân lên, phá hủy tế bào của tổ chức thượng bì, con vật bị sốt và có đáp ứng miễn dịch Cả miễn dịch dịch thể và miễn dịch trung gian tế bào đều xuất hiện trong bệnh LMLM, trong đó vai trò của miễn dịch trung gian tế bào đặc biệt quan trọng

Ở những con vật tiếp xúc với kháng nguyên lần đầu, đáp ứng miễn dịch thường chậm và ở mức thấp Khi tiếp xúc kháng nguyên lần thứ hai và những lần sau đó, đáp ứng miễn dịch xảy ra sớm hơn và ở mức cao hơn (miễn dịch thứ phát) Đặc điểm về thời gian và mức độ đáp ứng miễn dịch chính là cơ sở khoa học của việc tiêm phòng nhắc lại nhằm tạo miễn dịch chắc chắn và lâu dài (Mayr, G A., V O'Donnell, J Chinsangaram, P W Mason, ADN M J Grubman (2001) [64]

Trong tiêm phòng, kháng thể đặc hiệu tồn tại ở mức cao, kéo dài 4-6 tháng ở

bò (đối với lợn, thời độ dài miễn dịch ngắn hơn), sau đó giảm dần, con vật lại mẫn cảm với căn bệnh Tác dụng bảo hộ kháng virus LMLM chủ yếu dựa vào kháng thể

Trang 34

trung hòa Tuy nhiên kháng thể trung hòa đơn độc không phải lúc nào cũng có khả năng khống chế sự lây nhiễm bệnh LMLM; một số con vật đã được tiêm vắc xin có rất ít hoặc không có kháng thể trung hòa nhưng vẫn có sức đề kháng chống lại căn bệnh (Reid et al, 2003) [71]

Gia súc nhiễm bệnh thường có đáp ứng miễn dịch cao hơn và kéo dài hơn so với đáp ứng miễn dịch do vắc xin Sau khi lành bệnh, con vật có miễn dịch kéo dài

từ 6 tháng đến 1 năm hay vài năm Miễn dịch có thể truyền cho con qua sữa đầu và kéo dài 3 tháng (Tr.Doel, 2003) [42]

* Miễn dịch chéo: Hiện tại, có 7 type virus LMLM (O, A, C, Asia 1, SAT1,

SAT2 và SAT3) Các virus này khác nhau về kiểu gene (dựa trên so sánh trình tự VP1) và đặc tính huyết thanh học serotype Những type này lại phân chia thành nhiều type phụ (subtype) khác nhau bởi những đặc tính miễn dịch học (cấu trúc kháng nguyên, độc lực…) Các type/subtype virus này đều gây bệnh LMLM với những triệu chứng lâm sàng giống nhau (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [26], Barend

M et al, 2016) [51]

Giữa các type, do không có sự đồng nhất về đặc tính kháng nguyên chúng không có miễn dịch chéo Gia súc đã mắc bệnh do 1 serotype không có miễn dịch bảo hộ với type khác Miễn dịch bảo hộ chéo chỉ tồn tại giữa một số subtype của cùng 1 type (Trịnh Văn Thịnh và cộng sự, 1958) [38], (Sugimura et al, 1976) [75] Trong thực tế có những trường hợp con vật đã bị bệnh lại có thể “tái phát”, hiện tượng này do virus các type khác nhau có mặt ở cùng một ổ dịch Con vật lành bệnh với 1 type nhưng mắc bệnh lại do type khác Đối với 3 typ O, A, C trong một

ổ dịch có thể có sự kết hợp của các type này, nhưng thông thường chỉ một type chiếm ưu thế Đây chính là cơ sở khoa học cho việc lựa chọn vắc xin phù hợp chủng nhằm tránh trường hợp gia súc đã được tiêm phòng nhưng vẫn mắc bệnh do không

có miễn dịch đặc hiệu với chủng lưu hành, đồng thời hạn chế kinh phí dành cho việc sử dụng vắc xin không phù hợp chủng Để có thể sử dụng vắc xin một cách có hiệu quả, cần phải thường xuyên giám sát dịch tễ, tăng cường khả năng chẩn đoán

và định type virus LMLM Nguyễn Tùng, 2003) [43]

1.7 Triệu chứng và bệnh tích ở trâu, bò

1.7.1 Triệu chứng

Thời gian nung bệnh từ 2 đến 5 ngày, trung bình 3 đến 5 ngày có khi chỉ 16 giờ Khi bệnh bắt đầu xuất hiện thì con vật sốt 40 - 41 0C liên tục 2 đến 3 ngày, ủ rũ, lông dựng, đầu mũi khô, sản lượng sữa giảm, dáng điệu mệt mỏi, lừ đừ, kém ăn, thỉnh thoảng nằm gục đầu xuống, tai và đuôi không phe phẩy, nằm xuống đứng lên

Trang 35

có vẻ khó khăn, nặng nề, chậm chạp (Cục Thú y, 2003) [14], (Tô Long Thành và cộng sự, 2008) [36]

- Ở miệng: Lúc sốt thì miệng nóng, niêm mạc miệng, môi, lợi, chân răng nóng, khô, đỏ ửng, lưỡi dày lên và khó cử động, không liếm mũi được Mụn nước bắt đầu mọc ở mép, ở môi, lợi, lưỡi, phía trong má và chân răng Những mụn nước này có thể nhỏ bằng hạt kê, hạt ngô hoặc to hơn Ở những nơi có mụn nước xuất hiện, tổ chức liên kết phồng lên, có màng bọc mỏng, bên trong có nước, lúc đầu nước trong vàng, về sau nước vẫn đục dần, sờ vào mụn có cảm giác mềm Mụn có màu trắng hoặc hơi hồng Sau một hai ngày thì mụn vỡ, lớp bọc mụn rách ra xơ xác,

để lộ mặt dưới có màu đỏ hoặc mụn thủng một lỗ nhỏ có viền bị rách Nước đục chảy ra hòa lẫn với nước bọt thành chất bọt đặc dính có từng mảng vàng Mụn nước

vỡ, các màng niêm mạc mất đi để lại vết loét sâu, rộng, màu hồng trắng, có phủ một lớp chất màu vàng, sau vài ngày thì bắt đầu hình thành sẹo Mụn ở lưỡi không rõ như ở hàm, đến khi loét mới thấy rõ Nếu mụn nước mọc nhiều làm mặt lưỡi rộp lên, chỗ lồi, chỗ lõm, có khi liền nhau tạo thành mảng to, màu trắng nhạt Mụn nước

vỡ thì lưỡi bị loét đỏ, màng lưỡi tróc theo mụn nước, lớp niêm mạc có gai tróc ra Thường thấy loét ở đầu hoặc giữa lưỡi, ít thấy ở gốc lưỡi Những con bị nặng, khi dùng tay kéo lưỡi ra kiểm tra thì lớp niêm mạc lưỡi bong ra từng mảng, tạo thành những mảng loét lớn màu đỏ trên mặt lưỡi

Nước bọt lúc đầu chảy ra ít và trong, khi mụn vỡ thì nước bọt chảy ra nhiều, mùi hôi, trong nước bọt đôi khi có máu hoặc dịch lâm ba màu vàng, tiếng chép miệng đặc trưng (Cục Thú y, 2003) [14], (Tô Long Thành và cộng sự, 2008) [36] Ngoài các mụn nước mọc ở miệng một số khu vực xung quanh như mũi, mắt cũng sinh mụn Mụn mọc trong niêm mạc mũi, có con loét ra cả ngoài vành mũi Nếu có mụn mọc ở niêm mạc mắt thì gây chảy nước mắt, đặc như mủ thường ít thấy triệu chứng ở mắt (Thái Thị Thủy Phượng, 2008) [28]

- Ở chân: Khi con vật có biểu hiện kém ăn, móng chân bắt đầu nóng đau, vành móng hơi sưng, da mỏng có màu trắng hồng, tụ máu phồng lên Con vật đứng không yên, chân đau, bức đi khó khăn, dò dẫm, không dám bước mạnh Có khi đau nặng, con vật nằm một chỗ, vành móng mưng mủ phồng lên Sau 1 - 2 hôm thì mụn nước bắt đầu thấy rõ ở kẽ chân, mụn trắng dài lấp cả kẽ chân Mụn nước vỡ làm rách lớp da kẽ chân, phần da sau gót cũng bị loét làm hở móng, có khi long móng ở những con bị nặng Mụn vỡ chảy nước mùi hôi thối và để lộ lớp bì bên trong màu

đỏ Nếu giữ gìn vệ sinh tốt, không để bị nhiễm trùng thì sau 10 - 15 ngày lớp bì màu

đỏ biến thành da non, chân lành, con vật đi lại bình thường (Nguyễn Lương, 1997) [23]

Trang 36

- Ở vú: Bầu vú bị sưng, mụn nước mọc ở đầu núm vú, mụn có thể to bằng quả mận, da xung quanh mụn màu đỏ và đau, sau 2 - 6 ngày thì vỡ để lại vết xước bằng phẳng dưới dạng vảy Bầu vú bị tổn thương, việc vắt sữa khó khăn, sữa thay đổi tính chất; lỏng, màu vàng, mùi hôi và sản lượng sữa giảm nhiều Nếu không vắt sữa thì mụn lâu vỡ nhưng khi vỡ thì mau lành Sau khi khỏi bệnh, sản lượng sữa thấp hơn trước, có trường hợp cạn sữa hẳn

- Các triệu chứng khác: Ngoài những triệu chứng như mô tả ở trên, có trường hợp sau khi mụn nước ở miệng, móng vỡ thì con vật đi tháo trong 2 - 3 ngày, trong phân có chất nhầy và có khi lẫn máu Có trường hợp thấy mụn mọc ở những vùng

da mỏng như âm hộ, nách, ngực, bụng, trong đùi Một số trường hợp khác ở gia súc non hoặc gia súc nuôi nhốt trong chuồng ẩm thấp, thiếu vệ sinh, chăm sóc kém thì mầm bệnh nhiễm vào bộ máy tuần hoàn, vào tim và gây suy tim Cũng có khi nhiễm bệnh vào bộ máy tiêu hóa, hô hấp làm con vật viêm ruột, viêm phổi (Dương Tất Thắng, 2007) [37]

1.7.2 Bệnh tích

1.5.2.1 Bệnh tích ở da và niêm mạc

Bệnh tích chủ yếu của bệnh LMLM là các mụn nước nằm ở xoang miệng, gờ vành móng, đầu vú và kẽ móng chân Nói cách khác, bệnh tích chủ yếu nằm ngoài

cơ thể (Donalson A.I, 2000) [15] Đó chính là các mụn nước nông, không dẫn đến

sự hư hại lớp mầm, có thể khỏi một cách nhanh chóng, trừ trường hợp bị nhiễm trùng kế phát

1.5.2.2 Bệnh tích ở cơ quan khác

Viêm cơ tim: Tim mềm, nhạt, dễ vỡ, có những đám xám đỏ hay vàng do thoái hóa cơ (bệnh tích “tim vằn da hổ”, theo cách mô tả của (Trần Thanh Phong, 1996) [25], thường chỉ thấy ở gia súc non bị nhiễm bệnh cấp tính, đây không phải là đặc trưng của bệnh LMLM, nhưng đó lại là nguyên nhân dẫn đến tử vong của gia súc non (Cục Thú y, 2003) [14]

Ngoài ra, có thể gặp bệnh tích ở đường tiêu hóa và hô hấp: Niêm mạc miệng, lợi, trong má, lưỡi, họng, thực quản dạ dày và ruột non bị viêm, có các mục loét; viêm màng phổi - phổi Nếu không bị bội nhiễm hoặc biến chứng thì gia súc dần dần hồi phục nhưng còn để lại các di chứng là các vết sẹo (Cục Thú y, 2003) [14]

1.8 Chẩn đoán

1.8.1 Chẩn đoán lâm sàng

Chẩn đoán lâm sàng bệnh LMLM có thể thực hiện khi bệnh xẩy ra tại khu vực đã được xác định có dịch LMLM, hoặc căn cứ các đặc điểm dịch tễ như: Bệnh

Trang 37

lưu hành trên phạm vi rộng lớn, tốc độ lây lan nhanh, tỷ lệ mắc cao, tỷ lệ chết thấp, động vật móng guốc chẵn đều mắc bệnh (Donalson A.I, 2000) [15]

Triệu chứng con vật sốt cao, chảy nước bọt nhiều, có biểu hiện què, có các mụn nước trong miên mạc miệng, lợi, chân răng, lưỡi, kẽ móng, gờ móng, ở vú Những gia súc mới khỏi bệnh thì trên niêm mạc miệng, lợi, chân răng, lưỡi, kẽ móng… có các vết sẹo Tuy nhiên điều này có thể bị nhầm lẫn do những bệnh có triệu chứng tương tự Ở trâu, bò bệnh viêm mụn nước (vesicular stomatitis) rất giống bệnh LMLM, Ở lợn còn có bệnh mụn nước ở lợn (Swine vesicular disease)

và bệnh mụn nước ban đỏ (vesicular exanthema of swine), tuy khác căn nguyên nhưng lại có triệu chứng lâm sàng giống nhau (Nguyễn Như Thanh, 2011) [31] Việc phát hiện sớm gia súc nhiễm bệnh và xác định đúng bệnh, nếu có thể ngay trước khi xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng là yếu tố chủ yếu cho sự khống chế bệnh hiệu quả, ngăn chặn bệnh lây lan (Knowles, N J., ADN A R Samuel, 2003) [61] Điều đó đòi hỏi phải có phương pháp chẩn đoán nhanh, nhạy, đặc hiệu, chính xác, có thể cho kết quả trong vòng 24 giờ Hơn nữa, sự xác định kịp thời type đặc hiệu của virus thực địa và đặc tính phân tử của nó là rất cần thiết để thực hiện tiêm phòng khẩn cấp với kháng nguyên tương ứng và để đánh dấu nguồn gốc ổ dịch (Callens et al, 1997) [53]; (OIE manual, 2000) [65]; (OIE, 2005) [66]

1.8.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm

Theo Hemadri, D., C Tosh, R Venkataramanan, A Sanyal, A R Samuel, N J Knowles, ADN R P Kitching (2000) [58], có nhiều kỹ thuật phân tích khác nhau đã được sử dụng và phát hiện axit nucleic của virus, kháng nguyên và mức độ đáp ứng miễn dịch của gia súc mẫn cảm, bao gồm: Kết hợp bổ thể (Complement Fixation), trung hòa virus (Virus Neutralisation), ELISA (Enzym Linked Immunosorbent Assay), RT-PCR (Reverse Transcription Polymerase Chain Reaction), xác định trình tự của chuỗi axit nucleic (nucleic acid sepuence - based amplification, NASBA) (Marquardt, O., O C Straub, R Ahl, ADN B Haas, 1995) [63]

1.8.2.1 Phân lập virus

Nguyên tắc của phương pháp này là chẩn đoán bệnh dựa trên biểu hiện bệnh

lý ở tế bào nhiễm virus Dựa vào kết quả có thể nhận định trong bệnh phẩm (mụn nước, biểu mô) có virus LMLM hay không

Có thể tiêm huyễn dịch bệnh phẩm nghi có virus LMLM vào nội bì lưỡi bò chưa mắc bệnh và chưa tiêm phòng vắc xin LMLM Mụn nước sẽ xuất hiện đặc trưng trên các con bò này sau 24 - 48 giờ (Nguyễn Viết Không và CS, 2006) [20]

Có thể dùng chuột lang (2 đến 7 ngày tuổi) để gây bệnh bằng cách khía da bàn chân Nếu bệnh phẩm có virus LMLM thì sau 24 - 48 giờ, tại vết khía da nổi

Trang 38

mụn nhỏ, màu đỏ, có thủy thũng, chuột có thể nhiễm trùng toàn thân và chết (OIE manual, 2000) [65]

1.8.2.2 Các phản ứng huyết thanh học

Các phương pháp chẩn đoán phòng thí nghiệm được lựa chọn thường cho kết quả đặc hiệu, chính xác trong vòng 24 giờ Những phương pháp chủ yếu đối với chẩn đoán LMLM dựa vào các (i) kỹ thuật huyết thanh học như kết hợp bổ thể (complement fixation), trung hòa virus (virus neutralisation), ELISA (Enzym- Linked Immunosorbent assay), LPBE; và (ii) các phân tích phát hiện ARN của virus RT-PCR, real time RT-PCR, giải trình tự gene (Amadori M et al, 1992) [49], (Mackay et al, 1998) [62]

* Phản ứng kết hợp bổ thể (complement fixation test - CFT)

Từ lâu, phương pháp kết hợp bổ thể đã được chọn để phát hiện và định type virus LMLM trong các mẫu mô lấy từ thực địa

Phản ứng kết hợp bổ thể cũng đã được hoàn thiện và nếu sử dụng thành thục

sẽ là một phương pháp hữu hiệu để chẩn đoán phân biệt giữa virus LMLM với các virus gây viêm mụn nước khác Trên thực tế, khi không có khả năng làm phản ứng ELISA thì có thể dùng phản ứng kết hợp bổ thể

Ở Việt Nam Trước năm 1996, việc chẩn đoán định type virus LMLM từ bệnh phẩm ở ổ dịch của trâu, bò ở Nha Trang (Lombard, 1984), ở Thuận Hải do Trung tâm Chẩn đoán và Kiểm dịch động vật Thành Phố Hồ Chí Minh (1990) thực hiện bằng phương pháp kết hợp bổ thể với kết quả là virus gây bệnh thuộc type O (Lê Minh Chí, 1996) [5]

* Phản ứng trung hòa virus (virus neutralisaion - VNT) trên nuôi cấy tế bào

Nguyên lý của phản ứng: virus LMLM vào cơ thể kích thích cơ thể kháng thể đặc hiệu, kháng thể này có khả năng trung hòa virus, làm cho virus không còn khả năng gây bệnh Phản ứng thường được tiến hành trên mẫu huyết thanh của con vật bị bệnh Phản ứng trung hòa thường được tiến hành trên môi trường tế bào Sau khi xác định được type virus gây bệnh, pha loãng huyết thanh nghi theo cấp số 2, tức là 1/2, 1/4, 1/8, 1/16, 1/32, 1/64… để xác định hiệu giá kháng thể có khả năng trung hòa Virus

Việc phát hiện bệnh LMLM qua xét nghiệm mẫu bằng phản ứng trung hòa virus dựa trên khả năng bắt cặp đặc hiệu của kháng thể virus (nếu có) trong mẫu bệnh phẩm với virus LMLM Đây là phản ứng được dùng làm thí nghiệm kiểm chứng có tính đặc hiệu cao, “Tiêu chuẩn vàng” (gold stADNard) dùng trong thương mại quốc tế Tuy nhiên, phản ứng này không phân biệt được kháng thể có được là

do gia súc được tiêm phòng hay nhiễm bệnh (Anonymous, 2000) [47]

Trang 39

* Kỹ thuật ELISA

Theo quy định của WRL, phương pháp thích hợp nhất để phát hiện kháng nguyên và giám định các serotype của virus LMLM là kỹ thuật ELISA Đây là phản ứng SADNwich gián tiếp trong đó sử dụng kháng huyết thanh của thỏ kháng lại từng serotype của virus LMLM làm kháng thể nhận diện Kháng thể phát hiện là huyết thanh của thỏ kháng chuột lang gắn với enzyme (OIE manual, 2000) [65]

Hiện nay, ELISA là một phương pháp chẩn đoán nhanh, có tính đặc hiệu và

độ nhạy cao, được dùng trong giám định serotype của Virus, thay thế phương pháp kết hợp bổ thể Có thể nói đây là một kỹ thuật huyết thanh học nhạy nhất với mục đích chẩn đoán và định type (OIE manual, 2000) [65]

* Phương pháp 3ABC - ELISA

Cả 2 phương pháp trung hòa virus ELISA cạnh tranh trong pha lỏng đều phát hiện kháng thể protein cấu trúc, potein vỏ của virus nhưng không phân biệt được đó

là kháng thể của động vật đã được tiêm vắc xin hay do nhiễm virus (Tô Long Thành

Các protein phi cấu trúc của virus LMLM gây đáp ứng miễn dịch 3D, 3A/3AB/3ABC, 2C, 2B, 3C và Lpro Gần đây một số protein phi cấu trúc 2C, 3B, 3AB và 3ABC đã được nghiên cứu để phát triển các phương pháp phát hiện có độ nhạy cao Một trong những phương pháp này là Enzyme - linked immuno - electro - trensfer blot (EITB) Đây là phản ứng có độ đặc hiệu và độ nhạy cao để nhận diện kháng huyết thanh dương tính và âm tính Mackay và cộng sự (1998) hoàn thiện phương pháp chế 3ABC bằng kỹ thuật ADN tái tổ hợp Kết quả là ở những gia súc

Trang 40

được bảo vệ bằng vắc xin đã không phát triển một kháng thể đáp ứng protein không cấu trúc, đặc biệt là 3ABC

Các phương pháp ELISA được chọn do có ưu điểm về độ nhạy cao, dễ sử dụng, thao tác nhanh phù hợp với số lượng lớn mẫu ở thực địa (Bergnann et al, 2000) [50],(Brochi et al, 1998) [52], (Reid et al, 1998) [69]

* Chẩn đoán bằng kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reation)

Phương pháp PCR do Mullis và cộng sự phát minh năm 1985 đã được sử dụng rộng rãi và đem lại cuộc cách mạng trong di truyền học phân tử Đây là kỹ thuật hoàn toàn mới trong việc nghiên cứu và phân tích gen, có thể tạo ra một số lượng lớn các bản sao của đoạn ADN mong muốn

Phương pháp RT-PCR Reverse Transciption Polymerase Chain Reation) được áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán xác định sự có mặt của ARN virus LMLM trong bệnh phẩm So sánh kỹ thuật chẩn đoán bệnh LMLM tại WRL cho biết dương tính RT-PCR có 70 - 80% mẫu bệnh phẩm có kết quả dương tính bằng kỹ thuật LPBE và 20 -30% mẫu dương tính sau khi nuôi cấy trên tế bào Để phát hiện gia súc nhiễm bệnh, đồng thời xác định type virus gây bệnh LMLM dai dẳng ở thực địa, kỹ thuật RT-PCR tỏ ra rất nhạy, nhanh, chính xác, hiệu quả thường được sử dụng bổ sung hoặc thay thế cho phương pháp huyết thanh học (Reid et al, 1998) [69] Ngoài ra, người ta cũng đã bắt đầu sử dụng kỹ thuật Real time RT-PCR huỳnh quang (Real Time fluorogenic reverse transcriptation Polymerase Chain Reaction Assay) để xác định ARN virus (OIE, 2005) [66]

1.9 Phòng bệnh LMLM

1.9.1 Vệ sinh phòng dịch

Theo Quyết định số 38/2006/QĐ-BNN ngày 16/5/2006 về việc ban hành quy định phòng chống bệnh lở mồm long móng gia súc của Bộ Nông nghiệp & PTNT (Quyết định số 38, 2006) [29] thì công tác phòng dịch LMLM được quy định như sau:

- Khu chăn nuôi

+ Phải có hàng rào, ranh giới để cách ly với bên ngoài, lối ra vào phải có hố sát trùng;

+ Thường xuyên thực hiện vệ sinh chuồng trại, bãi chăn thả, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển; diệt loài gặm nhấm như chuột…

Ngày đăng: 11/04/2018, 09:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w