1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y tế của một số cơ sở y tế tư nhân tại thành phố thái nguyên, tỉnh thái nguyên

116 239 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đối tượng có thể chịu ảnh hưởng của chất thải y tế bao gồm nhữngngười làm việc trong các cơ sở y tế, những người trực tiếp tham gia xử lý, tiêuhủy chất thải, những người dân trong

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, xuất phát từyêu cầu phát sinh trong công việc để hình thành hướng nghiên cứu Các số liệunghiên cứu này được tiến hành tại ba cơ sở y tế tư nhân tại thành phố TháiNguyên, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳcông trình nào

Tác giả

Phạm Huyền Trang

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học Khoahọc Môi trường khoá 23, giai đoạn 2015 - 2017 của Trường Đại học Nông Lâm - Đạihọc Thái Nguyên

Để hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạomọi điều kiện thuận lợi của tập thể thầy, cô giáo Khoa Khoa học Môi trường,Phòng Quản lý Sau Đại học và lãnh đạo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.Đối với các cơ sở y tế tư nhân, tác giả đã nhận được những sự giúp đỡ củacán bộ, nhân viên tại ba cơ sở tỉnh Thái Nguyên nơi mà tác giả đã đến thu thập sốliệu đề tài Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự giúp đỡ quý báuđó

Tác giả xin cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của cán bộ, nhân viên Sở Y tế tỉnh TháiNguyên đã giúp tôi có tài liệu hoàn thành luận văn

Kết quả của luận án này không thể tách rời sự chỉ dẫn của thầy giáo hướngdẫn khoa học là PGS TS Nguyễn Ngọc Nông, người đã nhiệt tình chỉ bảo hướngdẫn để tác giả hoàn thành luận văn này Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn

Xin được cảm ơn sự khuyến khích, giúp đỡ của gia đình cùng bạn bè và đồngnghiệp xa gần, đó là nguồn khích lệ và cổ vũ to lớn đối với tác giả trong quá trìnhthực hiện và hoàn thành công trình này

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017

Tác giả

Phạm Huyền Trang

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Các khái niệm liên quan về chất thải y tế 4

1.1.2 Phân loại chất thải y tế 6

1.1.3 Nguồn gốc phát sinh, thành phần và đặc tính của chất thải y tế 7

1.1.4 Ảnh hưởng của CTRYT đến sức khỏe cộng đồng và môi trường 9

1.1.4.1 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe 9

1.1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường 11

1.2 Cơ sở pháp lý liên quan đến quản lý chất thải y tế và quản lý chất thải rắn 13 1.3 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân trên Thế giới và Việt Nam 15

1.3.1 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân trên Thế giới 15

1.3.2 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân tại Việt Nam 19

Trang 4

1.4 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế của cơ sở y tế tư nhân tại

Thái Nguyên 24

1.5 Các biện pháp và công nghệ xử lý chất thải rắn y tế 29

1.5.1 Mô hình xử lý CTR y tế 29

1.5.2 Các phương pháp xử lý CTRYT 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32

2.3 Nội dung nghiên cứu 33

2.3.1 Tổng quan về các cơ sở y tế tư nhân được lựa chọn nghiên cứu 33

2.3.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở y tế tư nhân Thái Nguyên 33

2.3.3 Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở y tế thông qua ý kiến cán bộ y tế và bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân 33

2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu 33

2.4 Phương pháp nghiên cứu 33

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 33

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 34

2.4.3 Phương pháp khảo sát thực địa 34

2.3.4 Phương pháp phân tích các bên liên quan 35

2.3.5 Phương pháp xác định rác thải phát sinh 35

2.3.6 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

Trang 5

5 3.1 Tổng quan về các cơ sở y tế tư nhân được lựa chọn nghiên cứu

36

3.1.1 Địa điểm, quy mô bệnh viện 36

3.1.2 Chức năng hoạt động của các cơ sở nghiên cứu 37

3.1.3 Cơ cấu tổ chức hoạt động của các cơ sở nghiên cứu 37

3.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở y tế tư nhân 39

3.2.1 Nguyên liệu thô và hóa chất sử dụng trong quá trình hoạt động 39

3.2.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải y tế của ba cơ sở nghiên cứu 40

3.2.3 Thực trạng công tác thu gom chất thải rắn y tế của ba cơ sở nghiên cứu 51 3.2.4 Thực trạng công tác xử lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở nghiên cứu 56

3.3 Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở y tế thông qua ý kiến cán bộ y tế và bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân 58

3.3.1 Đánh giá thông qua cán bộ y tế 58 3.3.2 Đánh giá thông qua bệnh nhân và người nhà bệnh nhân 63

3.3.3 Đánh giá tình trạng môi trường và công tác quản lý CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu dựa trên phiếu điều tra và quan sát thực tế 64

3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu 69

3.4.1 Giải pháp trong hoạt động thu gom, lưu trữ và xử lý CTRYT 69

3.4.2 Giải pháp trong công tác quản lý nhân lực 71

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHẦN PHỤ LỤC 79

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

tỉnh 27Bảng 1.5: Tổng hợp công tác quản lý, xử lý chất thải của các đơn vị y tế.

28 Bảng 3.1: Địa điểm, quy mô của ba cơ sở nghiên cứu tại TP Thái

Nguyên 36Bảng 3.2: Cơ cấu tổ chức của ba cơ sở y tế tư nhân Thái Nguyên 37Bảng 3.3: Cơ cấu cán bộ, nhân viên của ba cơ sở y tế tư nhân Thái

Nguyên 38Bảng 3.4: Danh sách dụng cụ, nguyên liệu thô, hóa chất sử dụng hàng năm

của ba cơ sở nghiên cứu 39Bảng 3.5: Thống kê nguồn phát sinh chất thải y tế tại ba cơ sở nghiên

cứu 40Bảng 3.6: Bảng thống kê khối lượng CTRYT trong 2 tháng ở PKĐK HN- TN 41Bảng 3.7: Bảng thống kê khối lượng CTRYT trong 2 tháng ở BVĐKTT 43Bảng 3.8: Bảng thống kê khối lượng CTRYT trong 2 tháng ở BVĐKAP 45Bảng 3.9: Bảng thống kê tổng hợp khối lượng CTRYT phát sinh mỗi tuần

của ba cơ sở nghiên cứu tại TP Thái Nguyên (tổng hợp 3 bảng3.6, 3.7, 3.8) 47Bảng 3.10: Thống kê khối lượng CTRYT phát sinh theo thời gian (tháng) và

tỉ lệ % giữa các loại chất thải ở ba cơ sở nghiên cứu tại TP.Thái Nguyên 48

Trang 8

Bảng 3.11: Phương tiện thu gom CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu 51Bảng 3.12: Phân loại CTRYTNH của ba cơ sở nghiên cứu Thái Nguyên 54Bảng 3.13: Thu gom và vận chuyển CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu 55Bảng 3.14: Cán bộ, nhân viên y tế của ba cơ sở được hướng dẫn về Quy

chế quản lý chất thải y tế do Bộ Y tế quy định 58Bảng 3.15: Hiểu biết của PKĐK HN-TN về màu sắc dụng cụ đựng chất

thải y tế 59Bảng 3.16: Hiểu biết của BVĐKTT về màu sắc dụng cụ đựng chất thải y tế 60Bảng 3.17: Hiểu biết của BVĐKAP về màu sắc dụng cụ đựng chất thải y tế 61Bảng 3.18: Số lượng nhân viên y tế đã từng bị thương do chất thải y tế 62Bảng 3.19: Kết quả phỏng vấn bệnh nhân và người nhà 63Bảng 3.20: Hiểu biết của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về công

tác quản lý CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu 63Bảng 3.21: Thực trạng phương tiện thu gom, vận chuyển CTRYT của

PKĐK HN-TN 66Bảng 3.22: Thực trạng phương tiện thu gom, vận chuyển CTRYT của

BVĐKTT 67Bảng 3.23: Thực trạng phương tiện thu gom, vận chuyển CTRYT của

BVĐKAP 68

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1.1: Một số biểu tượng nguy hại [9] Hình 3.1: Biểu đồ khối

lượng CTRYT trong 2 tháng ở PKĐK HN-TN Hình 3.2: Biểu đồ khối

lượng CTRYT trong 2 tháng ở BVĐKTT Hình 3.3: Biểu đồ khối

lượng CTRYT trong 2 tháng ở BVĐKAP Hình 3.4: Biểu đồ khối

lượng CTRYT của ba cơ sởnghiên cứu Hình 3.5: Biểu đồ

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chất thải rắn y tế là một vấn đề nan giải trong công tác kiểm soát ô nhiễm,nhiều đánh giá trên Thế giới xếp các cơ sở y tế là đối tượng gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng Tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với chất thải sinh hoạt và chấtthải công nghiệp nhưng chất thải rắn y tế lại chứa đựng những chất độc hại, cácloại hoá chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ, các vật sắc nhọn, đặc biệt chứa đựng hàng loạt những vi sinh vật gây bệnh, gây nguy hại cho sứckhỏe Những đối tượng có thể chịu ảnh hưởng của chất thải y tế bao gồm nhữngngười làm việc trong các cơ sở y tế, những người trực tiếp tham gia xử lý, tiêuhủy chất thải, những người dân trong cộng đồng dân cư xung quanh,…

Trong những năm gần đây công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Namđược tiến hành hiệu quả và triệt để hơn Điều này được thể hiện trong việc tuânthủ quy trình thu gom, xử lí chất thải rắn tại các cơ sở y tế Tuy nhiên, chỉ tại cácbệnh viện lớn của nhà nước và số ít các cơ sở chữa bệnh tư nhân với quy mô lớn,hiện đại tập trung tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, HảiPhòng,… mới có phương tiện xử lí hiệu quả Các cơ sở khám chữa tư nhân khác,đặc biệt là các phòng khám tư nhân vừa và nhỏ thì công tác quản lý chất thải rắn

y tế đang bộc lộ một số bất cập và còn nhiều yếu kém

Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Trung Du - Miền núi Bắc Bộ, trong lưu vựcsông Cầu Được đánh giá là tỉnh trung tâm của khu vực miền núi phía Bắc, tỉnh TháiNguyên có Đại học Y - Dược đào tạo đội ngũ y, bác sỹ cho các tỉnh lân cận, có Bệnhviện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên là địa chỉ điều trị, chăm sóc sức khỏe củađông đảo bệnh nhân trong và ngoài tỉnh Theo đó, số lượng các trung tâm, cơ sở y

tế khám, chữa bệnh khác cũng hết sức lớn mạnh Tìm hiểu về công tác quản lýchất thải y tế tại một số cơ sở y tế tại thành phố Thái Nguyên cho thấy: Các bệnhviện công lập, với quy mô lớn như Bệnh viên Đa khoa Trung ương Thái Nguyên,Bệnh viện Gang Thép Thái Nguyên, Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Thái Nguyên đều

có hệ thống xử lí chất thải y tế đầy đủ và hoạt động khá hiệu quả

Trang 11

Cùng với các cơ sở y tế công lập, hệ thống các cơ sở y tế tư nhân ở TP TháiNguyên cũng hình thành và phát triển nhanh chóng Bước đầu khảo sát tìnhtrạng quản lý chất thải rắn y tế tại một số cơ sở y tế tư nhân tại khu vực thànhphố Thái Nguyên, thấy rằng về cơ bản chất thải rắn y tế đều được quản lý đúngquy trình kỹ thuật Tuy nhiên, chất thải rắn y tế của một số cơ sở y tế tư nhân cólúc đổ chung với rác thải sinh hoạt, phân loại và xử lí chưa đúng quy định Tiếnhành phỏng vấn một số đối tượng là nhân viên tại các cơ sở y tế tư nhân, ngườidân sống xung quanh các cơ sở và thậm chí các bác sỹ trực tiếp điều hành các cơ

sở y tế tư nhân, nhận thấy: phần lớn họ không thực sự lo ngại về vấn đề này, họcho rằng khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh hằng ngày của các cơ sở y tế tưnhân là không đáng kể Một số ít có quan tâm thì cũng “lực bất tòng tâm” vì không

có phương tiện xử lí

Nhằm có cái nhìn cụ thể về công tác quản lý chất thải rắn y tế với đối tượng

là một số cơ sở y tế tư nhân tại thành phố Thái Nguyên, tôi lựa chọn đề tài nghiên

cứu: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải

rắn y tế của một số cơ sở y tế tư nhân tại Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”.

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá tổng quan về ba cơ sở y tế tư nhân được lựa chọn nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở y tế

tư nhân thông qua số liệu thực tế quản lý, xử lý CTRYT

- Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở y tế thông qua ýkiến cán bộ y tế và bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân

Trang 12

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTRYT của ba cơ

sở nghiên cứu

Trang 13

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

+ Đề tài là tài liệu tham khảo và cơ sở khoa học cho các nghiên cứu liên quan+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học vào nghiên cứu thực tế+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm thực tế để phục vụ chocông tác sau này

+ Là tư liệu giúp cho các nhà quản lý về môi trường có những chính sách vàcông tác quản lý môi trường chặt chẽ hơn

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Các khái niệm liên quan về chất thải y tế

* Định nghĩa chất thải y tế

Trong Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế, chất thải y tế là chất thảiphát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tếnguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế [23]

Chất thải rắn y tế là chất thải ở thể rắn phát sinh từ các hoạt động chuẩnđoán, xét nghiệm, khám chữa điều trị, các nghiên cứu liên quan,… bao gồm chấtthải thông thường và chất thải nguy hại [3]

Nước thải y tế là nước thải phát sinh từ các hoạt động chăm sóc và sinh hoạttại các cơ sở y tế [3]

Chất thải y tế thông thường

Chất thải y tế thông thường là chất thải có chứa thành phần và tính chấttương tự như chất thải sinh hoạt CTYT thông thường không chứa các chất độc hại,các tác nhân gây bệnh đối với con người và môi trường CTYT thông thường có thểbao gồm các vật liệu, bao gói: giấy, thùng carton; chai nhựa, chai thủy tinh không ônhiễm, có nguồn gốc phát sinh từ khu vực hành chính, từ các khoa, phòngkhông cách ly trong cơ sở y tế, Một phần CTYT thông thường có thể tái sử dụnghoặc tái chế và đem lại nguồn thu cho các cơ sở y tế Thực hiện triệt để đúng quyđịnh trong công tác phân loại CTYT sẽ góp phần giảm tải tác động của CTYT nóichung tới con người và môi trường

Chất thải y tế nguy hại

- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặctính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm vàchất thải nguy hại không lây nhiễm

Trang 15

CTYT nguy hại là các chất thải phát sinh từ hoạt động y tế có chứa các thànhphần gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khỏe con người và môi trường CTYTnguy hại có một trong các đặc tính sau:

+ Chứa các tác nhân gây bệnh

- Có hai loại rủi ro liên quan trực tiếp đến CTYT nguy hại bao gồm: Nguy cơgặp phải chấn thương hoặc bị nhiễm trùng Hai đối tượng được xếp vào nhóm

có nguy cơ cao là nhân viên y tế và những người trực tiếp tham gia vào quá trìnhphân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải y tế;

- Nguy cơ ảnh hưởng chính đến môi trường là nguy cơ lây nhiễm bệnh tậtđối với cộng đồng

Hình 1.1: Một số biểu tượng nguy hại [9]

Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặctính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm vàchất thải nguy hại không lây nhiễm

Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom,lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện [23]

Trang 16

1.1.2 Phân loại chất thải y tế

* Phân định chất thải y tế

a) Chất thải lây nhiễm bao gồm:

- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắthoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm kim tiêm; đầu sắc nhọn của dâytruyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫu thuật

- Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xácđộng vật thí nghiệm

b) Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:

- Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;

- Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại

từ nhà sản xuất;

- Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và cáckim loại nặng;

- Chất hàn răng amalgam thải bỏ và chất thải nguy hại khác

c) Chất thải y tế thông thường bao gồm:

- Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của conngười và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;

- Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh mụcchất thải y tế nguy hại

- Sản phẩm thải lỏng không nguy hại

Trang 17

* Phân loại chất thải y tế:

a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng;b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng cólót túi và có màu vàng;

c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lóttúi và có màu vàng;

d) Chất thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi và cómàu vàng;

đ) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: Đựng trong túi hoặc trongthùng có lót túi và có màu đen;

e) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng cụ cónắp đậy kín;

g) Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Đựng trongtúi hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh;

h) Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túihoặc trong thùng có lót túi và có màu trắng [23]

1.1.3 Nguồn gốc phát sinh, thành phần và đặc tính của chất thải y tế

* Nguồn gốc phát sinh, thành phần

- Chất thải y tế thông thường là chất thải có chứa thành phần và tính chấttương tự như chất thải sinh hoạt CTYT thông thường không chứa các chất độc hại,các tác nhân gây bệnh đối với con người và môi trường CTYT thông thường có thểbao gồm các vật liệu, bao gói: giấy, thùng carton; chai nhựa, chai thủy tinh không ônhiễm, có nguồn gốc phát sinh từ khu vực hành chính, từ các khoa, phòngkhông cách ly trong cơ sở y tế, Một phần CTYT thông thường có thể tái sử dụnghoặc tái chế và đem lại nguồn thu cho các cơ sở y tế Thực hiện triệt để đúng quyđịnh trong công tác phân loại CTYT sẽ góp phần giảm tải tác động của CTYT nóichung tới con người và môi trường

Trang 18

- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặctính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm vàchất thải nguy hại không lây nhiễm.

CTYT nguy hại là các chất thải phát sinh từ hoạt động y tế có chứa các thànhphần gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khỏe con người và môi trường CTYTnguy hại có một trong các đặc tính:

+ Chứa các tác nhân gây bệnh

- Có hai loại rủi ro liên quan trực tiếp đến CTYT nguy hại bao gồm: Nguy cơgặp phải chấn thương hoặc bị nhiễm trùng Hai đối tượng được xếp vào nhóm

có nguy cơ cao là nhân viên y tế và những người trực tiếp tham gia vào quá trìnhphân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải y tế;

- Nguy cơ ảnh hưởng chính đến môi trường là nguy cơ lây nhiễm bệnh tậtđối với cộng đồng

* Đặc tính của CTYT nguy hại

Tiếp xúc với CTYT nguy hại có thể có nguy cơ bị chấn thương hoặc nhiễmmầm bệnh Đặc tính của CTYT nguy lại có thể bao gồm một hoặc một số tính chấtnguy hại sau đây:

Chất thải y tế nguy hại có một số đặc tính như sau:

+ Có khả năng lây nhiễm;

+ Gây độc gen, gây độc tế bào;

+ Có chứa độc chất, hóa chất độc hại;

Trang 19

+ Có tính ăn mòn;

+ Có tính phóng xạ (đối với các cơ sở có xạ trị);

+ Sắc nhọn [9]

* Các đối tượng có nguy cơ chịu ảnh hưởng của CTYT nguy hại

Tất cả mọi người khi tiếp xúc với CTYT nguy hại đều có thể có khả năng bị tácđộng xấu tới sức khỏe Các đối tượng có nguy cơ chịu ảnh hưởng lớn nhất củaCTYT nguy hại bao gồm:

Các đối tượng có nguy cơ ảnh hưởng bởi CTYT nguy hại

- Cán bộ, nhân viên y tế: bác sỹ, y sĩ, y tá, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý, ycông, nhân viên văn phòng, sinh viên thực tập, công nhân vận hành các công trình

xử lý chất thải,…;

- Nhân viên của các đơn vị hoạt động trong bệnh viện: nhân viên công ty vệsinh môi trường; nhân viên giặt là, nhân viên làm việc ở khu vực nhà tang lễ,trung tâm khám nghiệm tử thi,…;

- Đối tượng khác:

+ Người tham gia vận chuyển, xử lý CTYT ngoài khuôn viên bệnh viện; ngườiliên quan đến bãi chôn lấp rác và người nhặt rác;

+ Bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú;

+ Người nhà bệnh nhân và khách thăm;

+ Cộng đồng và môi trường xung quanh cơ sở y tế;

+ Cộng đồng sống ở vùng hạ lưu các con sông tiếp nhận các nguồn chất thảichưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu của các cơ sở y tế [9]

1.1.4 Ảnh hưởng của CTRYT đến sức khỏe cộng đồng và môi trường

1.1.4.1 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe

Ngày nay, các bệnh viện được cho là môi trường có nguy cơ rủi ro cho sứckhỏe con người CTYT có thể gây ra nhiều tác động xấu tới sức khỏe con người

Trang 20

như: lây bệnh qua đường máu cho nhân viên y tế, đặc biệt là sự cố thương tích dochất thải sắc

Trang 21

nhọn Dạng phơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất qua đường máu của nhân viên

y tế trong quá trình thực hiện quản lý chất thải là bị thương do các kim tiêm lây nhiễm

* Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn

Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổnthưởng kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vếtđâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải

có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV,

* Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm

CTYT lây nhiễm cơ thể chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụcầu, HIV, viêm gan B,… chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua cáchình thức: qua da (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua cácniêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa(do nuốt hoặc ăn phải) Việc quản lý CTYT lây nhiễm không đúng cách còn có thể lànguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong bệnhviện Chẳng hạn một số người có khả năng bị lây nhiễm các bệnh mà họ khôngmắc phải trước khi đến bệnh viện, nhưng khi đến và làm việc trong bệnh viện saumột thời gian bị mắc bệnh hoặc đem mầm bệnh đến nơi họ ở

* Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm

Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây

ra các nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng, Hóa chất độc hại vàdược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi,… có thể xâm nhập vào cơ thểqua đường da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầyđường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận,… Một số ví dụ về ảnhhưởng của chất thải hóa học và dược phẩm:

+ Thủy ngân là một chất độc hại trong CTYT Thủy ngân có mặt trong một sốthiết bị y tế, nhất là các thiết bị chẩn đoán như: nhiệt kế thủy ngân, huyết áp kếthủy ngân và một số nguồn khác như khi bóng đèn huỳnh quang, compact sử dụng

bị vỡ;

Trang 22

+ Chất khử trùng được dùng với số lượng lớn trong bệnh viện, chúng thường

có tính ăn mòn và có thể kết hợp thành các hợp chất có độc tính cao hơn;

+ Dư lượng các hóa chất sử dụng tại các phòng xét nghiệm khi thải vào hệthống thoát nước có thể ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống xử lý nướcthải bằng phương pháp sinh học hoặc các hệ sinh thái tự nhiên của các nguồnnước tiếp nhận;

+ Tương tự như vậy đối với dư lượng dược phẩm trong các chất thải cóchứa dược phẩm Dư lượng dược phẩm thải có thể bao gồm: các loại khángsinh, các thuốc khác nếu không được xử lý khi thải vào các nguồn nước tiếpnhận sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường sống và các loài thủy sinh trong cácnguồn nước tiếp nhận

* Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào

Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các conđường: hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa; hoặc tiếp xúc với chất thảidính thuốc gây độc tế bào; hoặc tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đangđược điều trị bằng hóa trị liệu Một số chất gây độc tế bào có thể gây hại trực tiếptại nơi tiếp xúc, đặc biệt là da và mắt, một số triệu chứng thường gặp là: chóngmặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm da

* Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ

Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường độ vàthời gian tiếp xúc Trong bệnh viện, các chất phóng xạ thường có chu kỳ bán rãngắn (kéo dài từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần) Các triệu chứng hay gặp làđau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn nhiều bất thường,… ở mức độnghiêm trọng hơn có thể gây ung thư và các vấn đề về di truyền [9]

1.1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường

Chất thải y tế có thể tác động xấu tới tất cả các khía cạnh của môi trường,đặc biệt là môi trường đất, nước, không khí Mặt khác, xử lý CTYT không đúngphương pháp có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên thiên nhiên

Trang 23

* Đối với môi trường đất

Quản lý CTYT không đúng quy trình và việc tiêu hủy CTYT tại các bãi chôn lấpkhông tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóachất độc hại, gây ô nhiễm môi trường đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chônlấp gặp khó khăn

* Đối với môi trường không khí

Chất thải y tế từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra tácđộng xấu tới môi trường không khí Bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dungmôi, hóa chất, phát sinh trong các khâu phân loại - thu gom - vận chuyển, CTYT

có thể phát tán vào không khí Trong khâu xử lý, đặc biệt là với các lò đốt

CTYT quy mô nhỏ, không có thiết bị xử lý khí thải có thể phát sinh ra các chấtkhí độc hại như sau:

+ Ô nhiễm bụi: khi nhiệt độ đốt không đủ hoặc không tuân thủ đúng quytrình vận hành, lượng chất thải nạp vào lò quá lớn sẽ làm phát tán bụi, khói đen vàcác chất độc hại;

+ Các khí axit: Do trong CTYT có thể có chất thải làm bằng nhựa PVC, hoặcchất thải dược phẩm khi đốt có nguy cơ tạo ra hơi axit, đặc biệt là HCl và SO2;+ Dioxin và Furan: Trong quá trình đốt cháy chất thải có thành phần halogen(Cl, Br, F) ở nhiệt độ thấp có thể hình thành dioxin và furan là những chất rất độc

* Đối với môi trường nước

Tác động của CTYT đối với các nguồn nước có thể so sánh với nước thải sinhhoạt Tuy nhiên, nước thải từ các cơ sở y tế còn có thể chứa Salmonella, Coliform,

Trang 24

Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng, các hóa chất độc hại, chất hữu cơ,kim loại nặng Do đó, nếu không được xử lý triệt để trước khi xả thải vào nguồnnước tiếp nhận, đặc biệt đối với nguồn tiếp nhận được sử dụng cho sinh hoạt,trồng trọt, chăn nuôi, sẽ có nguy cơ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả,thương hàn, viêm gan A,… cho những người sử dụng các nguồn nước này [9].

1.2 Cơ sở pháp lý liên quan đến quản lý chất thải y tế và quản lý chất thải rắn

- Quyết định số: 3079/ QĐ-BYT ngày 21 tháng 8 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ

Y tế về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống làm công tácbảo hộ lao động trong các sở y tế

- Thông tư số: 18/2009/TT-BYT ngày 14 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ

Y tế hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ

sở khám chữa bệnh

- Quyết định số: 09/2011/QĐ-UBND ngày 18 tháng 02 năm 2011 của Ủy banNhân dân tỉnh Thái Nguyên về “Về việc quy định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển,

xử lý chất thải rắn y tế trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên”

- Thông tư số: 18/2009/TT-BYT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ Y tế về

“Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sởkhám bệnh, chữa bệnh”

- Quyết định số: 170/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướngChính phủ về “Quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thảirắn y tế nguy hại đến năm 2025”

- Chỉ thị số: 21/CT-UBND ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Ủy ban Nhân dântỉnh Thái Nguyên về “Tăng cường quản lý chất thải rắn thông thường, chất thảinguy hại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”

- Quyết định số: 1788/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướngChính phủ về “Phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng đến năm 2020”

Trang 25

- Thông tư số: 31/2013/TT-BYT ngày 15 tháng 10 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ

Y tế về “Quan trắc tác động môi trường từ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh củaBệnh viện”

- Luật Bảo vệ môi trường số: 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014 củaQuốc hội số 13

- Nghị định số: 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về

“Quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tácđộng môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường”

- Nghị định số: 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ về

“Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường”

- Thông tư số: 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 05 năm 2015 của Bộ Tàinguyên và Môi trường về “Đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môitrường và kế hoạch bảo vệ môi trường”

- Thông tư số: 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 06 năm 2015 của Bộ trưởng

Bộ Tài nguyên về “Quản lý chất thải nguy hại”

- Nghị định số: 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2015 của Chính phủ về

“Quản lý chất thải và phế liệu”

- Chỉ thị số: 05/CT-BYT ngày 06 tháng 7 năm 2015 của Bộ trường Bộ Y tế về

“Việc tăng cường quản lý chất thải y tế trong Bệnh viện”

- Thông tư liên tịch số: 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm

2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về “Quản

lý chất thải y tế”

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và tiêu chuẩn Việt Nam

- TCVN 6706:2000: Chất thải nguy hại - Phân loại

- TCXDVN 320:2004: Bãi chôn lấp chất thải nguy hại - Tiêu chuẩn thiết kế

- TCVN 7380: 2004: Lò đốt chất thải y tế - Yêu cầu kỹ thuật

- TCVN 7381:2004: Lò đốt CTRYT - Phương pháp đánh giá thẩm định

Trang 26

- TCXDVN 365:2007: Bệnh viện Đa khoa - Hướng dẫn thiết kế

- TCVN 6707:2009: Chất thải nguy hại - Dấu hiệu cảnh báo

- TCVN 6696:2008: Chất thải rắn - Bãi chôn lấp hợp vệ sinh - Yêu cầu chung

về bảo vệ môi trường

y

tế

- QCVN 02:2012/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn

1.3 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân trên Thế giới và Việt Nam

1.3.1 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân trên

Thế giới

1.3.1.1 Các nghiên cứu về công tác quản lý chất thải rắn y tế của cơ sở y tế tư nhân trên Thế giới

C Visvanathan (2006), Chương trình quản lý và kỹ thuật môi trường Viện

Công nghệ Châu Á của Thái Lan (Environmental Engineering & Management Program Asian Institute of Technology Thailand) đã nghiên cứu công tác quản lý chất thải y tế (Medical Waste Management Issues in Asia) tại thành phố Khulna

của Bangladesh và đề cập tới Chương trình của Ngân hàng Thế giới (thực hiện bởiProdipan, tổ chức NGO): nghiên cứu tại 20 bệnh viện tư nhân và các phòng thínghiệm có liên quan (tại thời điểm đó có 42 bệnh viện) Mỗi tổ chức tham giađóng góp 1,5 - 9 đô la Mỹ /tháng, tùy thuộc vào khối lượng chất thải y tế phátsinh Có đội ngũ nhân viên thu gom phân loại và vận chuyển chất thải Trong việcthu gom phải phân loại: chất thải lây nhiễm để thiêu hủy (đốt), đồ nhựa được khửtrùng và tiêu hủy bằng máy nghiền, còn kim tiêm và các vật sắc nhọn được đểtrong hộp khóa có nắp [28]

Y Chartier et al., WHO (2012) đã nghiên cứu công tác quản lý an toàn chất

thải từ các hoạt động chăm sóc sức khỏe một cách an toàn (Safe management of wastes from health-care activities) Ông đã thống kê khối lượng chất thải rắn y tế

và các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải y tế tại các cơ sở

y tế tư nhân [30]

Trang 27

1.3.1.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân trên Thế giới

Theo báo cáo của Uỷ ban nghiên cứu và bảo vệ môi trường Liên hợp quốc,ngày nay lượng chất thải rắn y tế ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất độchại, chất thải rắn y tế không được xử lí đúng cách là một trong các ổ dịch gâybệnh nghiêm trọng

Bảng 1.1: Lượng phát sinh CTRYT trên Thế giới Vùng Chất thải rắn y tế phát sinh hàng ngày (kg/giường)

Trang 28

Bảng 1.2: Tổng khối lượng chất thải y tế phát sinh theo

từng loại hình cơ sở y tế (Pakistan, Tanzania, Nam Phi)

Loại cơ sở y tế

Tổng lượng chất thải y tế thông thường

Phát sinh chất thải lây nhiễm

giường/ngày(Khoảng: 1,28 -3,47)Phòng khám và trạm xá 0,075kg /

Trang 29

Pakistan khảo sát bốn bệnh viện và các cơ sở khác ở Karachi; Pescod & Saw(1998) Tanzania khảo sát các cơ sở ở Dar es Salaam; Christen (1996), Nam Phikhảo sát 13 bệnh viện và 39 phòng khám tại Gauteng và KwaZulu - Natal; phòngkhám theo yêu cầu; trung tâm y tế cộng cộng có 30 giường và hoạt động 7ngày/ tuần; DEAT (2006) cho thấy chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhântại các nước Pakistan, Tanzania, Nam Phi đã được thống kê và chiếm khối lượngnhỏ hơn so với các bệnh viện, cơ sở y tế của Nhà nước Nhưng số lượng các cơ sở

y tế tư nhân là khá lớn; Nếu không quản lý tốt thì lượng chất thải sẽ ảnh hưởngkhá lớn tới chất lượng môi trường (đất, nước, không khí) tại các quốc gia đó

Công tác quản lý CTRYT là rất quan trọng Những chất thải này có thể gây rathiệt hại đáng kể cho sức khỏe con người và chất lượng môi trường Trong số tất

cả các chất thải tạo ra, công tác quản lý CTRYTNH cần đặc biệt quan tâm [25]

Tại Philippin:

Căn cứ vào kết quả của cuộc điều tra được tiến hành năm 2002 cho biếttrong năm 2001 các đơn vị tiến hành thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lýCTRYTNH tại

Trang 30

chỗ ở Metro Manila phải đăng ký Nếu CTRYTNH được vận chuyển đến các cơ sở

tư nhân có tư cách pháp nhân để xử lý theo ca và hàng ngày thì cần phải hợpđồng với các cơ sở đó

Tại các phòng khám chữa bệnh tư nhân của Metro Manila - thủ đô Phillipinlại hợp đồng với cơ sở xử lý CTRYTNH có tư cách pháp nhân Tháng 7 năm

2003, có hai nhà máy thuộc sở hữu tư nhân cung cấp dịch vụ xử lý CTRYTNH củacác bệnh viện và phòng khám chữa bệnh tư nhân ở thủ đô Manila: một lò đốt,một lò vi sóng Các cơ sở tính phí khoảng 40Pesos/kg CTRYTNH bao gồm cả thugom và xử lý Trong trường hợp đốt tại chỗ thì tro và xỉ được chôn ngay trongkhuôn viên cơ sở y tế đó (hay phòng khám chữa bệnh tư nhân) (trong tháng 7năm 2003, 1$ = 50 peso Philippines) Bên cạnh đó cũng có một vài cơ sở đốtCTRYTNH phải ngừng hoạt động do áp lực từ chính cộng đồng xung quanh hoặc

do nhiều lý do khác chi phối Qua đó, cho thấy Phillipin đã quan tâm đến cácphòng khám chữa bệnh tư nhân một cách đúng mức và bị xử phạt hành chínhhoặc ngừng hoạt động nếu như ảnh hưởng lớn tới môi trường và sức khỏe conngười Đặc biệt là có sự lên tiếng của cộng đồng dân cư đối với cơ sở y tế hoặcphòng khám chữa bệnh (vi phạm quy chế quản lý CTRYTNH) làm ảnh hưởng tớicuộc sống và môi trường hiện tại của họ [1]

1.3.2 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân tại

Trang 31

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Quý đã được tiến hành trong phạm vi địa bànhành chính của Thành phố Hà Nội, trong đó tập chung vào các cơ sở y tế tư nhântại quận Hai Bà Trung và quận Hà Đông [13].

Như vậy, nghiên cứu sẽ làm tài liệu cho các nhà quản lý biết được thựctrạng chất thải rắn y tế tại cơ sở nghiên cứu và đưa ra các giải pháp (lựa chọn)tốt trong công tác quản lý chất thải rắn y tế nguy hại hiệu quả Ngoài ra, nghiêncứu còn làm tài liệu tham khảo và cơ sở khoa học cho các nghiên cứu liên quan

Năm 2009, trong báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học, đề tài: “Nghiên cứu môi trường và điều kiện làm việc của một số cơ sở y tư nhân tại thành phố Hà Nội

và Hải Dương” nghiên cứu về môi trường và điều kiện làm việc của các cơ sở y tư

nhân tại hai thành phố lớn của Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm nâng caochất lượng môi trường tại các cơ sở nghiên cứu [40]

Nghiên cứu đã đánh giá được điều kiện làm việc, hoạt động chuyên môncủa các phòng khám đa khoa tư nhân tại thủ đô Hà Nội, Hải Dương và đánh giáthực trạng một số yếu tố môi trường phòng khám đa khoa y tư nhân (thông quaviệc quan trắc để xác định một số yếu tố môi trường không khí, nước tại phòngkhám) Đồng thời tác giả cũng đánh giá được hiệu quả xử lý chất thải rắn y tế vànước thải ở các phòng khám đa khoa tư nhân và đánh giá điều kiện nhân lựcchuyên môn cũng như hiệu quả hoạt động của cơ sở đó

1.3.2.2 Công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam

Năm 2013, cả nước có 157 bệnh viện tư nhân (trong đó có 151 bệnhviện trong nước và 06 bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài), hơn 30.000 phòngkhám tư nhân và cơ sở dịch vụ y tế (trong đó có 30 phòng khám đa khoa, 87 nhà

hộ sinh, số còn lại là phòng khám chuyên khoa, dịch vụ y tế, 30 phòng khám cóvốn đầu tư nước ngoài, 29 cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có người nước ngoàitham gia khám bệnh, chữa bệnh) Nhiều bệnh viện quy mô lớn từ 400 - 500giường bệnh, được đầu tư trang thiết bị y tế hiện đại, chất lượng khám chữabệnh ngày càng cao [1], [25], [4], [11]

Trang 32

Các tỉnh có bệnh viện tư nhân tập trung nhiều là Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh,Nghệ An và Đà Nẵng, trung bình có 79 giường, 6 khoa/bệnh viện và 100% bệnhviện có khoa cấp cứu, khoa cận lâm sàng và khoa dược, [28].

Nhìn chung, khu vực y tế tư nhân góp phần giảm tải cho bệnh viện tuyếntỉnh và trung ương Nhờ việc xây dựng, phát triển cơ sở khám, chữa bệnh tưnhân nên bước đầu đã hình thành môi trường cạnh tranh giữa bệnh viện công vàbệnh viện tư, góp phần thúc đẩy phát triển chuyên môn, kỹ thuật, nâng cao thái

độ phục vụ đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh đã dạng của người dân [4]

Các cơ sở y tế tư nhân đóng vai trò quan trọng trong điều trị ngoại trú(chiếm 60% số lượt khám, chữa bệnh ngoại trú), đã tiến hành cấp cứu, khám chữabệnh cho trên 3 triệu lượt người, phẫu thuật, thủ thuật trên 100 nghìn lượtngười, góp phần giảm tải đáng kể cho các cơ sở y tế công lập, chất lượng phục

vụ tốt hơn so với hệ thống y tế công, người dân có điều kiện được lựa chọn dịch

vụ khám, chữa bệnh theo yêu cầu [1], [25], [4], [11]

Bên cạnh đó, các phòng khám chữa bệnh tư nhân cũng có những mặt tồn tại

về nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị Bộ Y Tế đã cho phép các bác sỹ trong khuvực y tế Nhà nước được phép hoạt động ngoài giờ, đào tạo, cấp phép cho nhânviên của hệ thống bệnh viện tư nhân và phòng khám chữa bệnh tư nhân Đặc biệt,các phòng khám và bệnh viện tư nhân đã đóng góp tích cực vào việc giải quyếtmột phần tình trạng quá tải, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân [28]

Thực trạng công tác quản lý CTRYT tại các phòng khám và bệnh viện tư nhântrong cả nước đáng báo động:

- Phân loại CTRYT chưa đúng quy định, phương tiện thu gom chất thải cònthiếu và chưa đồng bộ, việc xử lý, tiêu huỷ chất thải gặp nhiều khó khăn, nguồnkinh phí đầu tư xây dựng, vận hành hệ thống xử lý CTRYTNH hạn hẹp là những bấtcập trong quản lý CTRYT ở nhiều phòng khám tư nhân hiện nay

- Công tác quản lý CTRYT tại các phòng khám tư nhân còn yếu kém và mắcnhiều sai phạm theo quy định của Nhà nước

Trang 33

Tại tỉnh Hoà Bình:

Phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về Môi trường - Công an tỉnh HòaBình đã kiểm tra đột xuất một số bệnh viện và phòng khám đa khoa tư nhântrên địa bàn Ngoài kiểm tra thực tế tại nơi thu gom, xử lý chất thải, lực lượngcảnh sát môi trường kiểm tra hồ sơ pháp nhân, hồ sơ liên quan trong công tácbảo vệ môi trường

Đa số các điểm thu gom, xử lý rác thải, CTRYT của các phòng khám chữa bệnh

tư nhân chưa phân loại theo từng loại rác, chưa có kho chứa và chưa bố trí đủthùng rác Về vệ sinh phòng khám chữa bệnh tư nhân cũng làm chưa tốt, về cảmquan có mùi khó chịu, rác còn vương vãi nhiều chỗ Toàn bộ CTRSH, CTRYTNH đềuđược thu gom và hợp đồng với tổ dịch vụ vệ sinh môi trường vận chuyển, xử lý.Khó khăn lớn nhất của các phòng khám tư nhân đang gặp phải là chưa có hệ thống

xử lý nước thải và lò đốt xử lý CTRYTNH phát sinh Sau hợp đồng vận chuyển với

tổ dịch vụ vệ sinh môi trường, chất thải, CTRYT được xử lý ra sao, cơ sở y tếkhông biết và hoàn toàn không quan tâm

Nhiều phòng khám đa khoa tư nhân cũng chưa chấp hành nghiêm các quyđịnh pháp luật về bảo vệ môi trường Thời điểm kiểm tra tại phòng khám đa khoaNhân Đức ở tổ 17, phường Đồng Tiến (TP Hoà Bình) của phòng Cảnh sát Phòngchống tội phạm về Môi trường tỉnh Hòa Bình phát hiện CTRYT phát sinh trong quátrình hoạt động như bông, gạc, các mẫu xét nghiệm,… để lẫn lộn với rác thải sinhhoạt, chưa phân loại theo quy định Vấn đề xử lý CTR, CTRYTNH, phòng khám hợpđồng với đơn vị bệnh viện đa khoa tỉnh thu gom, xử lý

Tại thời điểm lực lượng cảnh sát Môi trường đến kiểm tra các phòng khám

đa khoa chưa xuất trình được một số thủ tục hồ sơ như hồ sơ pháp nhân, hồ sơbáo cáo đánh giá tác động môi trường, hồ sơ đăng ký chủ nguồn chất thải nguyhại; hồ sơ khai thác tài nguyên nước ngầm và giấy phép xả nước thải; hồ sơ liênquan đến việc sử dụng máy X quang và chưa có kết quả quan trắc giám sát môitrường,…

Trang 34

Những thiết sót, tồn tại trong bảo vệ môi trường ở các phòng khám tư nhânphụ thuộc cả yếu tố chủ quan và khách quan Về chủ quan các phòng khám hoàntoàn có thể tự khắc phục được như phân loại CTRYT đúng quy định trước khi vậnchuyển, xử lý; tăng cường vệ sinh môi trường tạo cảnh quan trong lành Nếukhông được xử lý triệt để, chúng sẽ là mầm bệnh đặc biệt nguy hại đến sức khỏecon người và môi trường xung quanh [35].

Tại TP Hồ Chí Minh:

TP Hồ Chí Minh có 750 cơ sở y tế bao gồm bệnh viện, phòng khám tư nhân.Tuy nhiên, cơ quan chức năng chỉ mới kiểm soát, xử lý chất thải khu vực y tế nhànước, còn chất thải rắn y tế của phòng khám tư nhân xử lý như rác thải sinh hoạt,gây nguy hại cho môi trường

Một số phòng khám đa khoa tư nhân do 22 công ty TNHH một thành viêndịch vụ công ích của các quận, huyện tổ chức thu gom nhưng vẫn chưa triệt để.Hiện nay, có khoảng 10% rác thải rắn y tế của các phòng khám tư nhân để chungvào rác thải sinh hoạt

Theo dự báo của Sở Tài nguyên Môi trường thành phố, với khoảng 15.000 cơ

sở y tế tư nhân, cửa hàng kinh doanh dược phẩm, số lượng nguồn phát sinh chấtthải rắn y tế của thành phố sẽ tăng nhanh, dự kiến lên đến 40 tấn/ngày vào năm

2019 Mặt khác, TP Hồ Chí Minh đã xây dựng dự thảo "Quy hoạch hệ thống quản

lý chất thải TP Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" nhằm phân

loại chất thải để có hướng xử lý phù hợp [39]

Theo Công ty TNHH một thành viên Môi trường đô thị TP Hồ Chí Minh, hiệnchỉ có các bệnh viện là có chuyển giao rác thải y tế cho công ty xử lý Riêng rác thải

y tế của các phòng khám đa khoa tư nhân, và các phòng khám nha khoa trên địabàn TP Hồ Chí Minh hiện tại đều đổ chung vào CTRSH Đây là vấn đề chưa thểthống kê, kiểm soát được Do vậy, nếu không quản lý tốt nguồn thải nguy hại này

sẽ để lại hậu quả ô nhiễm môi trường nghiêm trọng [27]

Trang 35

Tại Hà Nội:

Hà Nội có 23 bệnh viện tư nhân với số lượng các cơ sở y tế tư nhân khácrất lớn Hà Nội định hướng phát triển và mở rộng mạng lưới các bệnh viện tư nhântrên địa bàn cả về số lượng bệnh viện, số giường bệnh Đặc biệt, phát triển loạihình bệnh viện 100% vốn nước ngoài để tăng đầu tư vào lĩnh vực kỹ thuật hiện đại[32]

Ưu tiên phát triển bệnh viện tư nhân, phòng khám chữa tư nhân và các dịch

vụ y tế tư nhân sử dụng công nghệ y học cao, hiệu quả khám chữa bệnh lớn, ítgây ô nhiễm môi trường; Khuyến khích thành lập các bệnh viện tư nhân và cácphòng khám tư nhân mới; Hướng các nhà đầu tư vào khu vực thành phố, có chủtrương phát triển các dịch vụ y tế khám, chữa bệnh như các khu đô thị mới

Hiện nay, tại Hà Nội có 18 bệnh viện ngoài công lập đã được cấp đất, trong

đó 04 bệnh viện đã triển khai xây dựng và đi vào hoạt động; Rà soát 14 dự ánbệnh viện còn lại, chỉ đạo tiếp tục xây dựng hoặc thu hồi đất dành cho các hạngmục y tế khác có tính khả thi cao hơn [36]

Trong thực tế, chỉ một số các bệnh viện tư nhân có quy mô lớn như cácbệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài là có hệ thống xử lí và phương tiện xử líchất thải rắn y tế Phần lớn các phòng khám đa khoa tư nhân và các cơ sở y

tế nhỏ khác đều đổ chung CTRYTNH vào CTRSH Đây là vấn đề chưa thể thống

kê, kiểm soát được

1.4 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế của cơ sở y tế tư nhân tại Thái Nguyên

Theo thống kê của Sở Y tế (2015), tính đến ngày 31/3/2017 có 650 cơ sởkhám chữa bệnh được cấp giấy phép hoạt động, trong đó cơ sở ngoài công lập:

442 (04 bệnh viện đa khoa, 11 phòng khám đa khoa, 280 phòng khám chuyênkhoa và cơ sở dịch vụ y tế, 117 phòng chuẩn trị y học cổ truyền)

Trên toàn tỉnh có 1.179 cơ sở kinh doanh thuốc được cấp Giấy chứng nhận

đủ điều kiện kinh doanh thuốc: 18, Nhà thuốc: 228, Quầy thuốc: 675 Đại lý bánthuốc của doanh nghiệp: 53, Tủ thuốc trạm y tế: 139, Cơ sở bán lẻ thuốc y học cổtruyền: 06 [17]

Trang 36

Bảng 1.3: Thống kê giường bệnh kế hoạch toàn tỉnh năm 2014, 2015, 2016

kế hoạch 2014

Giường kế hoạch 2015

Giường kế hoạch 2016

Giường thực kê 2016

4 Bệnh viện 91 Quân đội (có phục

vụ khám chữa bệnh cho nhân

Trang 37

Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên ưu tiên quỹ đất và miễn giảm tiền thuê đất, tiềnthuế cho các dự án y tế như bệnh viện tư nhân, phòng khám tư nhân và bệnhviện tiêu chuẩn quốc tế; Có chính sách thu hút, khuyến khích các tổ chức, tập thể

cá nhân đầu tư, liên doanh, liên kết với các đơn vị y tế thực hiện các kỹ thuậtchuyên sâu để nâng cao chất lượng phục vụ và khả năng tiếp cận các dịch vụ y tếchất lương cao đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân trong tìnhhình mới Như vậy, tỉnh Thái Nguyên có các chính sách khuyến khích các tổ chứckinh tế và người dân đầu tư phát triển bệnh viện ngoài công lập, tạo điều kiện ưuđãi để phát triển hình thức này, tập trung ở khu đông dân cư như thành phố, cáckhu công nghiệp,… Dự kiến đến năm 2020 tỉnh Thái Nguyên sẽ có 05 bệnh viện tưnhân đưa tổng số giường bệnh tư nhân lên 500 giường [32]

Theo số liệu thống kê về tình hình quản lý chất thải y tế của tỉnh Thái Nguyênkhối lượng CTRYT phát sinh từ các cơ sở y tế trong toàn tỉnh Thái Nguyên là: tổngkhối lượng CTR khoảng 7.605 kg/ngày trong đó trên 1.218kg/ngày chất thải y tếnguy hại

Theo quy hoạch của ngành y tế tỉnh, đến năm 2025 số giường bệnh ởThái Nguyên sẽ tăng đến 5.700 Với hệ số phát thải CTRYT là 1,2 kg/giường bệnh/ngày (trong đó có 20% CTRYTNH) thì vào năm 2020 tổng lượng CTRYTNH ởThái Nguyên sẽ đến 2.496 tấn (500 tấn CTRYTNH) Khối lượng CTRYT vào năm

2020 có thể lên đến 6,84 tấn/ngày (2.496 tấn) tăng 6,9 lần so với năm 2007 [31].Đối với các bệnh viện tư nhân, phòng khám tư nhân các số liệu, tài liệuthống kê còn ít Quỹ đất phòng khám tư nhân thấp, kinh phí hạn chế nên việc xâydựng hệ thống xử lý chất thải rắn y tế vẫn còn là thách thức lớn, điều này gây ảnhhưởng không nhỏ đến môi trường và sức khỏe người dân

Hiện tại, CTRYT của một số bệnh viện tư nhân và phòng khám tư nhân đượcchôn lấp lẫn với CTRSH của đô thị tại Bãi rác Đá Mài, xã Tân Cương, thành phốThái Nguyên

Trang 38

Bảng 1.4: Bảng kê cơ sở y tế ngoài công lập đến 31/12/2016 trên địa bàn tỉnh

S TT

Tên đơn vị Địa chỉ đơn vị (Ghi chi tiết)

Lao động thường xuyên thời điểm 31/12/20 1

1 Công ty cổ phần Bệnh viện

Quốc tế Thái Nguyên

Số 328, đường Lương Ngọc Quyến,phường Đồng Quang, TP Thái Nguyên,tỉnh Thái Nguyên

189

2 Bệnh viện Đa khoa An Phú Số 152, đường Hoàng Văn Thụ, tổ 32

phường Hoàng Văn Thụ, TP Thái Nguyên,tỉnh Thái Nguyên

61

3 Bệnh viện Đakhoa Việt Bắc 1 Ngõ 310, đường Lương Ngọc Quyến, tổ 4,

phường Đồng Quang, TP Thái Nguyên, tỉnhThái Nguyên

57

4 Bệnh viện Đakhoa Trungtâm Số 501 - 503, đường Lương Ngọc Quyến,

phường Phan Đình Phùng, TP Thái Nguyên,tỉnh Thái Nguyên

86

phòng khám Đa khoa Minh

Đức (Ông Trần Minh Tuấn)

Số 336, đường Lương Ngọc Quyến,phường Đồng Quang, TP Thái Nguyên,tỉnh Thái Nguyên

21

6 Phòng khám tư nhân 19A

Định Hóa

Số 19A, phố Hợp Thành, thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

22

7 Phòng khám Đa khoa Việt

Bắc (Ông Nguyễn Huy

Thắng)

Số 440/1, đường Cách mạng tháng tám,phường Trung Thành, TP Thái Nguyên,tỉnh Thái Nguyên

26

Nội - Thái Nguyên (Ông

Hoàng Lê Dương)

Nhà CL 20-01, khu đô thị hồ Xương Rồng,

tổ 24, phường Phan Đình Phùng, TP TháiNguyên, tỉnh Thái Nguyên

15

12 Phòng khám Đa khoa Thi

Vân (Ông Đỗ Văn Ngữ)

Tổ 4, thị trấn Hương Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

14

Hồng (Ông Nguyễn Huy

Trang 39

Bảng 1.5: Tổng hợp công tác quản lý, xử lý chất thải của các đơn vị y tế

CHẤT THẢI RẮN

HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI

Tự

xử lý

Thuê (Tên công ty)

Xuống cấp, đang sửa chữa

3 Bệnh viện Gang thép Thuê công ty

Xuống cấp, đang xin sửa chữa

5 Bệnh viện Y học Cổ

truyền

Thuê công tyURENCO 10

Khử khuẩn tại nguồn

6 Bệnh viện phục hồi

chức năng

Thuê công tyURENCO 10

Khử khuẩn tại nguồn

Khử khuẩn tại nguồn

Trang 40

Số lượng phòng khám tư nhân trên địa bàn thành phố khá lớn như vậynhưng công tác xử lí chất thải y tế tại các phòng khám này lại đa phần chưa tuânthủ các quy trình quản lý và xử lí chất thải rắn y tế, đặc biệt là các CTRYTNH Hầuhết cơ sở y tế tư nhân đều không có phương tiện và kĩ thuật xử lí chất thải y tếriêng.

Điều tra tại một số cơ sở khám bệnh và hiệu thuốc vừa và nhỏ trên địa bànthành phố, chúng tôi thấy bác sỹ và nhân viên đều chưa tuân thủ đúng công tác

xử lí chất thải rắn y tế, chất thải rắn y tế còn tình trạng đổ chung vào rác thải sinhhoạt Do quy mô hoạt động nhỏ nên họ nghĩ rằng số lượng rác thải y tế phátsinh hàng ngày là không đáng kể,…

1.5 Các biện pháp và công nghệ xử lý chất thải rắn y tế

1.5.1 Mô hình xử lý CTR y tế

Các mô hình xử lý, tiêu hủy CTRYTNH bao gồm:

- Mô hình 1: Trung tâm xử lý và tiêu hủy CTYT nguy hại tập trung

- Mô hình 2: Cơ sở xử lý và tiêu hủy CTYT nguy hại cho cụm cơ sở y tế

- Mô hình 3: Xử lý và tiêu hủy CTR y tế nguy hại tại chỗ [8]

1.5.2 Các phương pháp xử lý CTRYT

a Thiêu đốt

Là phương pháp sử dụng nhiệt độ cao trong các lò đốt chuyên dụng có nhiệt

độ từ 8000C, 12000C hoặc lớn hơn để đốt CTRYT Phương pháp đốt có ưu điểm là

xử lý được đa số các loại CTRYT, làm giảm tối đa về mặt thể tích của chất thải.Tuy vậy, nhược điểm của phương pháp đốt là nếu chế độ vận hành khôngchuẩn và không có hệ thống xử lý khí thải sẽ làm phát sinh các chất độc hại nhưDioxin, Furan gây ô nhiễm môi trường thứ cấp; chi phí vận hành, bảo dưỡng vàgiám sát môi trường cao [9]

b Khử trùng bằng hơi nóng ẩm (lò hấp)

Là phương pháp tạo ra môi trường hơi nước nóng ở áp suất cao để khửtrùng dụng cụ và CTYT Các loại CTNH có thể xử lý được: CTNH không sắc nhọn,chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, chất thải giải phẫu [9]

Ngày đăng: 11/04/2018, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w