Nhìn lại sau hơn 30 năm đổi mới đã có thể đánh giá được một cách rõ ràng: những thành quả lớn lao của công cuộc đổi mới do Đảng ta phát động, lãnh đạo đã dành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa rất quan trọng. Song về mặt lý luận cũng như thực tiễn vẫn còn những khoảng trống chưa được làm rõ đủ để làm luận cứ cho những bước phát triển tiếp theo của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong đó có vấn đề về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay theo nguyên tắc giữ vững định hướng XHCN.
Trang 1QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI và
một số vấn đề đặt ra hiện nay
MỞ ĐẦU
Nhìn lại sau hơn 30 năm đổi mới đã có thể đánh giá được một cách rõràng: những thành quả lớn lao của công cuộc đổi mới do Đảng ta phát động,lãnh đạo đã dành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa rất quan trọng.Song về mặt lý luận cũng như thực tiễn vẫn còn những khoảng trống chưa đượclàm rõ đủ để làm luận cứ cho những bước phát triển tiếp theo của nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN Trong đó có vấn đề về hoàn thiện thể chế kinh tế thịtrường ở nước ta hiện nay theo nguyên tắc giữ vững định hướng XHCN
Tuy nhiên, đây là sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, bởi lẽ nórất mới mẻ, chưa có tiền lệ Đòi hỏi cấp thiết hiện nay là: cần phải nghiên cứuthực tiễn tổng kết, đúc rút kinh nghiệm; phát triển tư duy lý luận thì mới bảođảm đáp ứng yêu cầu lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu "Dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Với ý nghĩa đó bài viếtđền cập khái quát sự phát triển tư duy lý luận và đường lối đổi mới kinh tế; nêulên một số vấn đề cần tiếp tục đổi mới tư duy lý luận về nền kinh tế thị trườngnói chung và tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam trong thờigian tới nói riêng
Trang 2kinh tế thị trường kiểu phương Tây hay là mô hình kinh tế kế hoạch hoá tậptrung kiểu Xô viết? Cũng vào lúc này, hệ thống xã hội chủ nghĩa đang đạt đượcnhững thành tựu về nhiều mặt Vì vậy, việc Việt Nam tiếp thu và thực thi cơ chếquản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung là điều dễ hiểu Mặc dù lúc bấy giờ cómột số nhà kinh tế học phương Tây đã phê phán mạnh mẽ mô hình kinh tế kếhoạch hoá tập trung; song ở Việt Nam, nền kinh tế ấy trên thực tế đã phát huytác dụng tích cực trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ.
Khi cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội (từ sau tháng 4 năm 1975),nền kinh tế Việt Nam vẫn còn sản xuất nhỏ là phổ biến – cơ sở vật chất nhỏ yếu,phân công lao động không phát triển, năng xuất lao động thấp, hậu quả sau 30năm chiến tranh giải phóng dân tộc còn nặng nề, các khoản viện trợ không hoànlại (khoảng 2,5 tỷ USD) của bè bạn quốc tế không còn… Trong khi, nền kinh tếnước ta tiếp tục được vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung Nhưng cơchế này càng ngày càng không phát huy được vai trò thúc đẩy tăng trưởng màngược lại, bộc lộ những nhược điểm trầm trọng: “Giai đoạn 1976-1980, tốc độtăng trưởng bình quân hàng năm của tổng sản phẩm xã hội chỉ đạt 1,4%, thunhập quốc dân chỉ tăng 0,4%, trong khi đó dân số tăng với tốc độ bình quân2,24%/năm Tình hình đó đã khiến cho đời sống mọi tầng lớp dân cư trong xãhội hết sức khó khăn (theo ước tính vào những năm 80 của thế kỷ XX, cứ 10 dânViệt Nam thì có 7 người sống trong tình trạng nghèo đói)”1 Tác giả bài viết
“Việt Nam - Nửa chặng đường từ đói nghèo đến giàu mạnh” đăng trên tạp chí
“The Economist” số 24/4/2008 cũng nhận xét rằng: “Trong giữa những năm
1980, với chính sách tập thể hoá nông nghiệp sai lầm khủng khiếp, Việt Nam đã
ở bên bờ vực của nghèo đói”2 Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra vào cuốithập niên 70 đã trở nên trầm trọng vào giữa thập niên 80 của thế kỷ trước Trướctình hình đó, yêu cầu cấp bách phải thay đổi đường lối phát triển kinh tế được đặt
ra cho Đảng cộng sản Việt Nam Sự thay đổi lại bắt đầu diễn ra ở cơ sở mà khôngphải ở trung tâm hoạch định chính sách
1 Lê Thị Quế: Từ tư duy đến thực tiễn 15 năm “lột xác” của nền kinh tế Việt Nam (1986-2001), Nghiên cứu kinh
tế, số 354, (11-2007), tr60
2 Thông tấn xã Việt Nam: tài liệu tham khảo, ngày 7/5/2008, tr1.
Trang 3Đầu tiên, khuynh hướng “phá rào” đã diễn ra ở Hợp tác xã Đoàn Xá(huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng), sau đó được nhân rộng ra toàn Huyện “Khoánchui” đã xuất hiện ở nhiều địa phương Chính cái thực trạng tưởng như đingược lại những nguyên tắc xây dựng chủ nghĩa xã hội ấy lại trở thành luận cứthực tiễn để Đảng Cộng sản Việt Nam điều chỉnh những yếu tố bất cập tronglãnh đạo thực hiện cơ chế quản lý kinh tế Và từ đó, Chỉ thị 100 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng (13-1-1981) Về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động
trong các hợp tác xã nông nghiệp (thường gọi là khoán 100) ra đời Khoán 100
đã tạo đà cho sản xuất nông nghiệp phát triển: sản lượng lương thực đã tăng từ14,4 triệu tấn năm 1980 lên 15 triệu tấn năm 1991 và 16,8 triệu tấn năm 1982 3
Trên lĩnh vực công nghiệp, Chính phủ cũng có những thay đổi đáng kể
mà khởi đầu là việc ban hành quyết định số 25-CP (21-1-1981) Về một số chủ
trương và biện pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ tài chính của các xí nghiệp quốc doanh Đặc biệt, tại Đại
hội V (3-1982), Đảng cộng sản Việt Nam đã thực hiện điều chỉnh quy mô và tốc
độ công nghiệp hoá trong quan hệ với nông nghiệp nhằm tập trung phát triển sảnxuất, thoả mãn nhu cầu trước mắt của người dân Đảng xác định: “cần tập trungsức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưanông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sảnxuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quantrọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặngtrong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý”4
Tuy những chủ trương và chính sách “cởi mở” trong khuôn khổ cơ chếquản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung nêu trên vẫn không giải quyết được mộtcách cơ bản những khó khăn của đất nước, sản xuất vẫn không đủ cho tiêu dùng
thiết yếu , song đã cho thấy sự cần thiết phải thay đổi cơ chế quản lý kinh tế cũ,
xác lập cơ chế quản lý kinh tế mới Điều đó được thừa nhận chính thức trong
3 Trần Hoàng Kim: Kinh tế Việt Nam: chặng đường 1945-1995 và triển vọng đến năm 2020, NXB Thống kê,
H.1996, tr.77
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội 1982,
tr.62-63
Trang 4Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ươngĐảng cộng sản Việt Nam khoá V, số 237/TLHN, ngày 11-6-1985 Báo cáo này
viết: “Quan liêu bao cấp là căn bệnh của toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế hiện
nay, đặc biệt trên các lĩnh vực giá cả, tiền lương, tài chính - tín dụng, lưu thông
tiền tệ, thương nghiệp Cho nên, lúc này xoá quan liêu bao cấp trong giá - lương
- tiền là yêu cầu hết sức cấp bách, là khâu đột phá có tính quyết định để đẩy
mạnh sản xuất, làm chủ thị trường, ổn định và cải thiện một bước đời sống củanhân dân, thay đổi toàn bộ cơ chế quản lý nền kinh tế quốc dân”5
Thực tế cho thấy, ngay cả bước điều chỉnh dù không lớn này cũng khôngphải hoàn toàn “thuận buồm xuôi gió” Trước thềm Đại hội VI, vẫn tồn tại hai
khuynh hướng Một, tiếp tục kiên định cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp,
dù đã bộc lộ rõ tính chất quan liêu của nó Hai, khuynh hướng đổi mới Trong
bối cảnh đó, Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng đã thảo luận, đi tớinhất trí về một số vấn đề quan trọng Ngày 20-9-1986, Hội nghị Bộ Chính trị đã
đưa ra Kết luận về một số vấn đề thuộc quan điểm kinh tế:
Về cơ cấu kinh tế, Bộ Chính trị khẳng định: “Một nền kinh tế có cơ cấu
hợp lý mới phát triển ổn định Bố trí đúng cơ cấu các ngành kinh tế, cơ cấu sảnxuất và đầu tư là những vấn đề quan trọng đầu tiên của đường lối kinh tế, có ýnghĩa quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội trong mỗichặng đường”6 Đồng thời Bộ Chính trị cũng cho rằng, hơn mười năm qua “đãmắc nhiều sai lầm, khuyết điểm trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, bố trí đầutư ,trong 5 năm 1986-1990 phải kiên quyết điều chỉnh lớn phương án bố trí cơcấu kinh tế, cơ cấu đầu tư ”7
Về cải tạo xã hội chủ nghĩa và củng cố quan hệ sản xuất mới, Bộ Chính
trị yêu cầu quán triệt tư tưởng chỉ đạo “cải tạo xã hội chủ nghĩa nhất thiết phảituân theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độcủa lực lượng sản xuất Đặc trưng cần nắm vững là nền kinh tế có cơ cấu nhiềuthành phần”8
5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, t46, NXBCTQG, H.2006, tr.64
6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 47, tr.220
7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 47, tr.221
8 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 47, tr.228-229
Trang 5Về cơ chế quản lý kinh tế, Bộ Chính trị khẳng định “phải xoá bỏ tập trung
quan liêu, bao cấp, chuyển hẳn sang hạch toán kinh tế, kinh doanh xã hội chủnghĩa” Sự thay đổi này nhằm vào các vấn đề như: thay đổi cơ cấu nền kinh tế,cách thức tổ chức, quản lý, phương thức phân phối sản phẩm theo hướng tăngquyền chủ động cho cơ sở, gắn trách nhiệm của người lao động với hiệu quả sảnxuất, kinh doanh
Kết luận của Bộ Chính trị nêu những nội dung chủ yếu của cơ chế hạchtoán kinh tế, kinh doanh xã hội chủ nghĩa cần xây dựng là:
Đổi mới kế hoạch hoá trên cơ sở vận dụng đúng đắn hệ thống các quy luậtkinh tế, phát huy vai trò chủ đạo của các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã hội,đồng thời sử dụng đúng đắn các quy luật vận động của quan hệ hàng hoá - tiền tệ
Bảo đảm cho các đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa có quyền tự chủ sảnxuất, kinh doanh, thực hiện đúng hạch toán kinh tế, tự tạo vốn và hoàn vốn, tựchịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh của mình
Chấn chỉnh và kiện toàn tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý theoyêu cầu của cơ chế mới, trên cơ sở phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính -kinh tế của cơ quan nhà nước và chức năng quản lý sản xuất - kinh doanh của các
tổ chức, đơn vị kinh tế, phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ”9
Kết luận nói trên là cơ sở hình thành Báo cáo Chính trị của Đảng Cộngsản Việt Nam tại Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986)
Những thay đổi mang tính đột phá đầu tiên - Xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung; thừa nhận cơ chế thị trường.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đánhdấu sự khởi đầu của tiến trình đổi mới ở Việt Nam, trong đó bao hàm ý nghĩa làbước đột phá đầu tiên tư duy của Đảng về nền kinh tế thị trường, được thể hiện
trên hai vấn đề chủ yếu như: Một, phê phán triệt để cơ chế quản lý cũ “cơ chế
quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không tạo được động lựcphát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa kìm hãm sản xuất, làm giảm
9 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 47, tr.236-237
Trang 6năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông, và đẻ ranhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội”10 Hai, đề ra yêu cầu xây dựng cơ chế
quản lý mới phải phù hợp với quy luật khách quan và với trình độ phát triển củanền kinh tế Trong đó nhấn mạnh: “quá trình từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn
ở nước ta là quá trình chuyển hoá nền kinh tế còn nhiều tính tự cấp, tự túc thànhnền kinh tế hàng hoá”; với hai đặc trưng của cơ chế quản lý mới là “Tính kếhoạch là đặc trưng số một của cơ chế quản lý kinh tế”; “Sử dụng đúng đắn quan
hệ hàng hoá - tiền tệ là đặc trưng thứ hai của cơ chế mới về quản lý kinh tế”11.Đại hội VI khẳng định “Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế
kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúngnguyên tắc tập trung dân chủ”12
Như vậy, đến Đại hội lần thứ VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thừa nhận
nền sản xuất hàng hoá, tức là thừa nhận cơ chế thị trường, nhưng chưa coi nền kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường Dư luận bên ngoài cũng cho rằng “năm
1986 bắt đầu công cuộc đổi mới , Việt Nam đã phát triển từ một nền kinh tế kếhoạch hoá sang một nền kinh tế định hướng thị trường”13
Sau hơn hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI (12-1986 đến 3-1989),
đã nảy sinh nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cần giải quyết Trước hết là sựkhông thống nhất trong nhận thức về kinh tế thị trường ở Việt Nam; tiếp theo là
sự lúng túng trong việc thực hiện đường lối kinh tế mới của Đảng Mặt khác,những tác động từ sự khủng hoảng của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩakhác đã tạo nên tâm lý bất lợi ở một bộ phận cán bộ và nhân dân Trong bốicảnh đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ Sáu ra Nghị quyết số 06-NQ/TW
(29-3-1989) Kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương
hướng, nhiệm vụ ba năm tới Đảng đề ra các nguyên tắc đổi mới, trong đó nhấn
mạnh “Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho
10 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 47, tr.62
11 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H.1987, tr.63
12 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H 1987, tr.65
13 Thông tấn xã Việt Nam: tài liệu tham khảo, ngày 7/5/2008, tr.2.
Trang 7mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả ” Trên lĩnh vực kinh tế, Nghị quyếtnhấn mạnh:
Một, “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển mạnh các đơn vị kinh tế
sang hạch toán kinh doanh theo quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hoá có kếhoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội”14
Hai, “Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, thị trường xã hội
(bao gồm cả thị trường hàng tiêu dùng, thị trường vật tư, thị trường dịch vụ, thịtrường vốn và chứng khoán) là một thể thống nhất với nhiều lực lượng khácnhau tham gia lưu thông hàng hoá Thị trường thông suốt trong cả nước và gắnvới thị trường thế giới
Trong nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch, thị trường vừa là một căn cứ,vừa là một đối tượng của kế hoạch Cơ chế thị trường thể hiện sự vận động củacác quy luật sản xuất và lưu thông hàng hoá trong quan hệ tác động qua lại vớicác quy luật kinh tế khác”15
Bằng việc lần đầu tiên đưa ra quan điểm về một thị trường xã hội thống
nhất; trong nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch, thị trường vừa là một căn cứ, vừa
là một đối tượng của kế hoạch, và việc chấp nhận giá cả trong nước phải gắn liền với giá cả trên thị trường quốc tế, Nghị quyết Trung ương Sáu đã thể hiện
một bước tiến mới trong tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thịtrường
Năm 1991 Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương
lĩnh tiếp tục bổ sung lý luận về kinh tế hàng hoá:
Một, đưa ra chủ trương “Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa”16
14 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị lần thứ Sáu, Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI), Lưu hành nội bộ, tr.17
15 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị lần thứ Sáu, Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI), Lưu hành nội bộ, tr.18
16 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, t51, NXB Chính trị quốc gia, H.2007, tr.137
Trang 8Hai, “Xoá bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, hình
thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch,
chính sách và các công cụ khác Xây dựng và phát triển đồng bộ các thị trườnghàng tiêu dùng, vật tư, dịch vụ, tiền vốn; sức lao động ; thực hiện giao lưu kinh
tế thông suốt cả nước và với thị trường thế giới”17
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tại Đạihội lần thứ VIII, sau khi nêu những thành tựu và chỉ ra những khuyết điểm, yếukém của 10 năm đổi mới, đã rút ra 6 bài học chủ yếu Trong đó, bài học thứ 3 cónội dung “Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơchế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa” Mặc dù vào thời điểm này, nền kinh tế thị trường chưa được chính thức thừa nhận nhưng đã được đề cập nhằm mục đích sử dụng mặt
tích cực của nó phục vụ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Nghị quyết viết: “Vậndụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý nền kinh tế thị trường là để
sử dụng mặt tích cực của nó phục vụ mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội chứkhông đi theo con đường tư bản chủ nghĩa; kinh tế thị trường có những mặt tiêucực mâu thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội; đi vào kinh tế thị trường, phảikiên quyết đấu tranh khắc phục, hạn chế tối đa những khuynh hướng tiêu cực”18
Theo đó, kinh tế thị trường là công cụ, là phương tiện để phục vụ mục tiêu
“làm cho mọi người, mọi nhà đều khá giả” và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Xác định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ nhận thức về kinh tế thị trường sau 15 năm đổi mới, Đại hội Đảngcộng sản Việt Nam lần thứ IX (2001) đã chính thức xác định nền kinh tế ViệtNam là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Đồng thời nêu rõnội hàm của khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là:
“nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sựquản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế
17 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, t51, NXB Chính trị quốc gia, H.2007, tr.138
18 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, H 1996,
tr.72
Trang 9thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”19 Mục đích của nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế
để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sốngnhân dân
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều thành phần kinh
tế, nhiều hình thức sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tếnhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc củanền kinh tế Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phậncấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Như vậy, Đảng đã khẳng định vai trò tất yếu và vị trí pháp lý của cácthành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài trong nền kinh tế Việt Nam thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội “Từnay không phải là “cho phép” các thành phần đó tồn tại hay không, mà tất yếutồn tại như một quy luật khách quan”20
Đại hội IX đề ra tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan
hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa là “thúc đẩy phát triển lực lượngsản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội Tăng trưởngkinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bướcphát triển”21 Đại hội xác định mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội là: “thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tếhàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”22
Như vậy, đến Đại hội Đảng lần thứ IX, trên lĩnh vực kinh tế “về cơ bảnViệt Nam đã tạo dựng được khung thể chế kinh tế thị trường và tiếp tục hoànthiện các kỹ năng để vận hành nó ngày càng tốt hơn”23
Củng cố, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
19 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001,
Trang 10Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2006) đề ra chủtrương tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, với cácnội dung cơ bản như:
Một, nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường,
là nhằm thực hiện các mục tiêu cơ bản: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh”; nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo,khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng; thực hiện tiến bộ vàcông bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăngtrưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục; phát huy quyền làmchủ xã hội của nhân dân
Hai, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của nhà nước thông qua việc
thực hiện tốt các chức năng chủ yếu như: định hướng sự phát triển bằng cácchiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng cácnguyên tắc của thị trường; thực hiện quản lý nhà nước bằng hệ thống pháp luật,giảm tối đa sự can thiệp bằng hành chính vào hoạt động của thị trường và doanhnghiệp
Ba, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị
trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh: phát triển thị trường hàng hoá
và dịch vụ; phát triển vững chắc thị trường tài chính; phát triển thị trường bấtđộng sản; phát triển thị trường sức lao động trong mọi khu vực kinh tế; pháttriển thị trường khoa học và công nghệ
Bốn, phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh
doanh Trong đó khẳng định “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tưnhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tếnhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh
tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”24
Ngày 30-1-2008, Hội nghị Trung ương lần thứ Sáu (khoá X) ban hành
Nghị quyết Về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
24 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, H.2006,
tr.83.
Trang 11chủ nghĩa, đề ra mục tiêu tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, với các
nội dung cụ thể: đến năm 2010, từng bước xây dựng đồng bộ hệ thống phápluật; phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đi đôi với phát triển mạnh
mẽ các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp; hình thành một số tậpđoàn kinh tế, các tổng công ty đa sở hữu, áp dụng mô hình quản trị hiện đại, cónăng lực cạnh tranh quốc tế; đổi mới cơ bản mô hình tổ chức và phương thứchoạt động của các đơn vị sự nghiệp công; phát triển đồng bộ, đa dạng các loạithị trường; giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triểnvăn hoá, môi trường; nâng cao hơn hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, vaitrò của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ Sáu (khoá X) đề ra quan điểm chỉ đạoviệc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là,nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan củakinh tế thị trường, thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện phát triển của ViệtNam; đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế; giữa thể chế kinh tếvới thể chế chính trị, xã hội; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội Gắn kết hàihoà giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá
và bảo vệ môi trường; kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển kinh tế thị trườngcủa nhân loại và kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn đổi mới ở Việt Nam; chủđộng và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời bảo đảm giữ vững độc lập,chủ quyền quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng caonăng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, pháthuy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nghị quyết cũng đưa ra 5 chủ trương
và giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa: thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa; hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loạihình doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất kinh doanh; hoàn thiện thể chế bảođảm đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường;