1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VAI TRÒ của các CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA đối với nền KINH tế THẾ GIỚI, tác ĐỘNG và GIẢI PHÁP THU hút sử DỤNG có HIỆU QUẢ sự THÂM NHẬP của các CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA vào VIỆT NAM

37 389 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 211 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay chủ nghĩa tư bản (CNTB) đã đạt được những bước tiến đáng kể, diện mạo có nhiều thay đổi. Một trong những nguyên nhân làm nên sự thay đổi đó là sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia (XQG). Các công ty XQG của CNTB hiện đại là những công ty tư bản độc quyền của một quốc gia, thực hiện việc bành chướng quốc tế bằng hình thức thiết lập một hệ thống chi nhánh ở nước ngoài để phân chia thị trường thế giới, nhằm tìm kiếm lợi nhuận độc quyền.

Trang 1

chiến tranh thế giới thứ hai đến nay chủ nghĩa tư bản (CNTB) đã đạt được nhữngbước tiến đáng kể, diện mạo có nhiều thay đổi Một trong những nguyên nhân làmnên sự thay đổi đó là sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia (XQG) Cáccông ty XQG của CNTB hiện đại là những công ty tư bản độc quyền của mộtquốc gia, thực hiện việc bành chướng quốc tế bằng hình thức thiết lập một hệthống chi nhánh ở nước ngoài để phân chia thị trường thế giới, nhằm tìm kiếm lợinhuận độc quyền Còn nếu xét dưới góc độ rộng hơn, công ty XQG chính là hìnhthức vận động của quan hệ sản xuất quốc tế, là hình thức tổ chức xí nghiệp quốc tếtrong điều kiện lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ cao và có tính quốc tế hoá

Ngày nay, các công ty XQG có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tếthế giới và ngày càng trở thành lực lượng cơ bản vận hành nền kinh tế toàn cầu.Bởi thế, nó đã thu hút được sự quan tâm của không chỉ các nhà nghiên cứu, mà cảcác doanh nhân và giới chính khách của hầu hết các quốc gia Đối với nước ta, kể

từ khi chúng ta chính thức mở cửa thực hiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), các công ty XQG đã đượcchào đón Thực tế, sau 30 năm đổi mới, sự có mặt của các công ty XQG đã gópphần quan trọng vào sự phát triển chung của đất nước, tạo nên một diện mạo mớicho nền kinh tế quốc dân ở Việt Nam Tuy nhiên việc thu hút đầu tư, hợp tác kinhdoanh với các công ty XQG cũng đang chịu ảnh hưởng của những tác động tráichiều, mà những tác động đó ảnh hưởng đến tính bền vững trong sự phát triển của

nền kinh tế Việt Nam Từ những vấn đề trên, tác giả chọn vấn đề: “Vai trò của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế thế giới Tác động và giải pháp giải pháp thu hút, sử dụng có hiệu quả sự thâm nhập của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam”.

Trang 2

NỘI DUNG

1 Vai trò của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế thế giới

1.1 Khái quát sự hình thành các công ty xuyên quốc gia

Cho đến nay, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về các công ty XQG,nhưng về bản chất thì nó là các công ty tư bản độc quyền, có qui mô rộng lớn,với một cơ cấu bao gồm hai bộ phận có tổ chức chặt chẽ bắt đầu từ một công

ty mẹ (mang quốc tịch một nước, còn gọi là công ty gốc- Parent Company),

để hình thành các công ty con (Subsidiary, Branch) nằm ở nước ngoài(nước có các công ty nhánh đó gọi là nước chủ nhà- Hots Country), các chinhánh đó lại có nhiều thứ bậc khác nhau (cấp 1, cấp 2, cấp 3…)

Mối quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty nhánh hết sức phức tạp.Trong đó công ty mẹ giữ vai trò chủ đạo về chiến lược sản xuất – kinhdoanh, về tài chính, về công nghệ…, còn các công ty nhánh có tính độc lậptương đối Cho nên, các công ty XQG vừa có tính tập trung hóa và vừa cótính phi tập trung hóa cao Như vậy có thể hiểu các công ty XQG đó là cáccông ty của một quốc gia, thực hiện việc sản xuất - kinh doanh quốc tếthông qua việc thiết lập hệ thống chi nhánh ở nước ngoài nhằm thực hiện

mở rộng thị trường và thu hút các nguồn lực

Theo sự phát triển của lịch sử kinh tế thế giới: phân công lao động xã hộicàng phát triển thì quy mô sản xuất - kinh doanh trong các thực thể kinh tế ngàycàng lớn Đến cuối thế kỷ XIX, quy mô sản - xuất kinh doanh đã phát triển đếnmức rất lớn, hình thành các tổ chức độc quyền, tiếp đó là sự xuất hiện hàng loạt các

tổ chức tư bản độc quyền lớn có số vốn từ hàng triệu đến vài chục triệu USD như:Standard Oil, Rockerfeller… Cho đến nay, công ty XQG vẫn luôn phát triển khôngngừng và trở thành một trong những xu thế tất yếu của lịch sử và thời đại

Trang 3

* Nguyên nhân hình thành các công ty XQG: Sự ra đời các công ty

XQG từ nguyên chính là do: tích tụ và tập trung sản xuất ngày càng cao tất yếu dẫn đến sự hình thành các công ty XQG

Khi nghiên cứu về CNTB trong giai đoạn tự do cạnh tranh, C.Mác vàPh.Ăngghen đã dự báo rằng: tích tụ và tập trung tư bản dẫn đến tập trung sản xuất

và tập trung sản xuất dẫn đến độc quyền CNTB là một lực lượng quốc tế; quốc tếhoá sản xuất và trao đổi là xu hướng tất yếu Các ông chỉ ra rằng: “…chế độ tíndụng đẩy nhanh tốc độ phát triển các lực lượng sản xuất vật chất và sự hình thànhmột thị trường thế giới”.1

Sau này, V.I.Lênin đã kế thừa dự báo khoa học trên của C.Mác vàPh.Ăngghen trong giai đoạn lực lượng sản xuất phát triển cao làm cho CNTB pháttriển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền đã phát triển luận điểm

đó và cho rằng: Tự do cạnh tranh dẫn đến tập trung sản xuất và khi tập trung sảnxuất đến một mức độ nhất định dẫn đến độc quyền - đây là quy luật phổ biến tronggiai đoạn phát triển của CNTB hiện nay Tập trung sản xuất đến một mức độ nhấtđịnh tức là khi đó chỉ còn một hay một số nhà tư bản nắm giữ hầu hết hoặc toàn bộviệc sản xuất, tiêu thụ một hay một số mặt hàng nào đó trên thị trường dẫn tới độcquyền Độc quyền ra đời lại làm cho tập trung sản xuất diễn ra ở trình độ cao hơn.Độc quyền ra đời từ thấp đến cao, từ lưu thông đến sản xuất, từ trong nước đếnquốc tế và khi độc quyền ra đời trên phạm vi quốc tế thì ra đời công ty XQG

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu thì trên thực tế các công ty XQG đã ra đờicách nay khoảng 200 năm, trước khi tổ chức độc quyền ra đời Theo một công trìnhnghiên cứu kinh tế mới đây của PGS.TS Lê Văn Sang - Trung tâm Kinh tế châu Á -

Thái Bình Dương- đăng trên Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, số

10 (138), năm 2007 cho thấy, công ty XQG xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế

kỷ XX, trước khi CNTB chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang độc quyền

1 C.Mác và Ph Ăgghen: Toàn tập, Nxb CTQG., Hà Nội, 1994, t 25, ph I, tr 674.

Trang 4

Như vậy, suy đến cùng, việc ra đời của các công ty XQG là do sự phát

triển của lực lượng sản xuất và dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, cùng với quá trình phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuấtcao độ

-* Các nguyên nhân khác

Ngoài nguyên nhân cơ bản trên thì các công ty XQG ra đời bởi:

+ Đây là một biện pháp kinh tế của các nước tư bản nhằm chiếm lại thuộcđịa cũ đã mất - Đây còn gọi là chính sách thực dân kinh tế Nếu chính sách thựcdân cũ đưa quân đi xâm chiếm thuộc địa để bóc lột, chính sách thực dân mớidùng người bản xứ để thực hiện sự bóc lột, thì chính sách thực dân kinh tế làdùng các công ty XQG để thực hiện chính sách “biên giới mềm” Chúng ta đềubiết, tình hình thế giới nửa cuối thế kỷ XX, nhất là từ sau chiến tranh thế giớithứ Hai, đã có những thay đổi cơ bản, phong trào giải phóng dân tộc ở các lụcđịa Á - Phi - Mỹ La tinh phát triển mạnh mẽ đưa đến sự ra đời hàng loạt nướcđộc lập dân tộc, thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm phá sảnCNTB cũ, song về nền kinh tế lại gặp những khó khăn lớn Do vậy để thực

hiện việc “nắm lại” những khu vực đã mất, chủ nghĩa đế quốc thực hiện

nhiều biện pháp, trong đó sự thâm nhập bằng cách thông qua hoạt động củacác công ty công ty XQG là một trong những cách có thể mang lại hiệu quả

+ Các công ty XQG ra đời còn do chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước

tư bản độc quyền, khuyến khích các công ty mở rộng đầu tư ra nước ngoài thông quathực hiện các chính sách ưu đãi về vốn tín dụng, khoa học – công nghệ, đào tạo…nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – chính trị của Nhà Nước tư bản độc quyền.Chính sự điều tiết của CNTB độc quyền nhà nước với quá trình kinh tế, đặc biệt

là kinh tế đối ngoại, như hỗ trợ thông tin, ưu đãi tín dụng, thuế, thông qua ngoạigiao kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi để các công ty XQG vượt biên giới quốcgia, thực hiện kinh doanh quốc tế Có thể nó các công ty XQG thật sự được sinh

Trang 5

ra từ chính sách của Nhà nước và Nhà nước có một ý nghĩa không thể thiếuđược đối với sự ra đời của nó.

1.2 Vai trò của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế thế giới

Hiện nay, trên thế giới có trên 70.000 công ty mẹ và trên 600.000 công

ty chi nhánh, hoạt động rải khắp gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Với sốlượng lớn như vậy, các công ty XQG đóng vai trò quan trọng trong nền kinh

tế toàn cầu Hiện các công ty XQG đang kiểm soát 40% sản lượng côngnghiệp, 60% ngoại thương, 80% kỹ thuật mới của thế giới tư bản chủ nghĩa

Có thể nói các công ty XQG là lực lượng cơ bản của CNTB hiện đại Chúngtác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế - xã hội của thế giới Vai trò đối vớinền kinh tế thế giới của các công ty XQG thể hiện trên những nội dung cơ bảnsau đây:

* Thực hiện sự phân công lao động quốc tế

Nét điển hình của quốc tế hoá đời sống kinh tế trên thế giới ngày nay là

sự phân công chuyên môn hoá mà các công ty XQG là lực lượng thực hiện cơbản Đặc điểm của sự phân công này là chuyên môn hoá hẹp Về hình thức bềngoài, giống như kiểu công trường thủ công của thế kỷ trước, nhưng nộidung, hình thức và quy mô hoàn toàn mới Điểm nổi bật là quy trình côngnghệ được phân chia thành những công đoạn và phân công cho xí nghiệp, chinhánh đóng tại các nước trên thế giới tuỳ theo điều kiện cụ thể về trình độ laođộng, nguyên liệu, thị trường… Và như vậy, vị trí của người công nhân bộphận trong công trường thủ công cổ điển đã được thay thế bằng cả một xínghiệp chi nhánh nằm ở nước chủ nhà

Theo thường lệ, công ty mẹ và các công ty chi nhánh ở các nước TBCNphát triển đảm nhiệm những khâu đòi hỏi trình độ khoa học công nghệ cao,công đoạn phức tạp của dây chuyền công nghệ cao, còn các chi nhánh ở các

Trang 6

nước đang phát triển tuỳ điều kiện cụ thể có thể đảm nhiệm các khâu ít phứctạp hơn, hoặc chỉ đòi hỏi lao động giản đơn Có thể dẫn chứng bằng một vài

ví dụ cụ thể như:

+ Việc sản xuất máy tính, điện tử hiện nay của các công ty XQG Nhật,

Mỹ, Cộng hoà liên bang Đức việc sản xuất “phần mềm”, “phần cứng” và

việc lắp ráp các bộ phận đầu, cuối được thực hiện theo cách trên Công tyHonda, Kaoashaki, Yamaha, Mitshubishi, Suzuki (Nhật Bản) cũng thực hiệnviệc phân công chuyên môn hoá theo cách đó đối với các nước chủ nhà Ấn

Độ, Baraxin và các nước ASEAN

+ Trong ngành bán dẫn điện tử, tình hình cũng diễn ra tương tự Chẳnghạn Công ty Matsushita đã thực hiện việc phân công chuyên môn hoá trongdây chuyền sản xuất Audio như sau: chi nhánh ở Xingapo sản xuất các bộphận điều khiển từ xa, động cơ, linh kiện điện, điện tử, chi nhánh ở Đài Loansản xuất ăngten, linh kiện điện tử

+ Việc sản xuất tivi màu của hãng Thomson cũng dựa trên những mô hìnhtrên Cụ thể, chi nhánh ở Đài Loan sản xuất đèn hình, các bộ phận bằng kim loại,một số linh kiện điện tử; chi nhánh ở Hàn Quốc sản xuất đèn hình; chi nhánh ởIndônexia sản xuất một số phụ kiện điện tử; chi nhánh ở Xingapo và chi nhánh ởMailaixia sản xuất mạch tổ hợp IC, các bộ phận bằng kim loại và nhựa Vớihãng Seagade trong việc sản xuất đầu video có sự phân công như sau: chi nhánh

ở Nhật Bản sản xuất các bộ phận từ tính, động cơ, đầu từ; các chi nhánh ở HồngKông sản xuất đầu từ; chi nhánh ở Thái Lan sản xuất các linh kiện điện tử; chinhánh ở Đài Loan sản xuất các bộ phận bằng kim loại; chi nhánh ở Hàn Quốcsản xuất IC

Trong nội bộ của một tổng công ty XQG, việc thực hiện chuyên mônhoá trong phân công lao động quốc tế đã được chỉ đạo một cách hết sức chặtchẽ, đặc biệt là bảo đảm tính nghiêm ngặt về kỹ thuật Vì vậy, sản phẩm

Trang 7

thường đạt chất lượng cao, năng suất lao động tăng và hoạt động kinh doanh

có hiệu quả, sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, đồng thời thịtrường tiêu thụ cũng được mở rộng

Tuy mỗi công ty XQG đều có chiến lược riêng của mình gắn với đặcđiểm của nước mẹ và nước cắm nhánh, song xu hướng chung là tập trung vàocác ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao, và chuyển giao các ngành cổtruyền, ngành mà hàm lượng lao động thủ công cao, đã gây ô nhiễm, kémhiệu quả sang các nước đang phát triển Điều đó cũng đồng nghĩa với việcthực hiện phân công theo chiều ngang Chẳng hạn, vào những năm 1970 -

1980 sau khi đã xác đinh rõ những xu hướng phát triển của các ngành, cáccông ty XQG Nhật Bản đã thực hiện chuyển giao các ngành công nghiệp

“trắng” (như: giấy, gỗ, diêm, mỳ chính, dệt may mặc…sang các nước Đông Á), tạo nên làn sóng “công nghiệp hoá theo đàn ngỗng bay” trong khu vực

Việc phân công chuyên môn hoá sản xuất trên phạm vi thế giới là mộttiến bộ có tính chất lịch sử, nó đã khai thác được tiềm năng và thế mạnh củatừng nước, từng khu vực, tạo ra mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và phản ánhquá trình tất yếu kinh tế kỹ thuật Song, do phân công theo kiểu TBCN vớimục tiêu lợi nhuận là trên hết, nên không thể tránh khỏi những hậu quả như:

làm “què quặt” sự phát triển kinh tế của một số nước, tạo ra sự phụ thuộc

nặng nề, mà thực chất là các nước tư bản chủ nghĩa thực hiện khai thác cácnước đang phát triển để tăng hiệu suất của tư bản

Về mặt nào đó, các nước đang phát triển cũng có lợi ích kinh tế trong

sự phân công này, như giải quyết được phần nào vấn đề thất nghiệp, có thêmnguồn thu ngoại tệ…song nếu không có đường lối chiến lược đúng thì tất yếu

phải trả giá cao về sự tụt hậu và cái “mất” sẽ lớn hơn cái “được” Do vậy,

vấn đề đặt ra là cần chấp nhận sự phân công này ở mức độ nào và biết cách

Trang 8

chuyển hoá để nắm những khâu công nghệ tiên tiến, khắc phục những tiêucực do các công ty XQG gây nên.

* Thúc đẩy sự phát triển khoa học - công nghệ

Với mục đích cạnh tranh và tìm kiếm lợi nhuận, với thế lực kinh tế vàtiềm lực khoa học công nghệ đã được tích luỹ trong nhiều thập kỷ, các công

ty XQG đang đi đầu trong việc nghiên cứu, thử nghiệm những dây chuyềncông nghệ tiên tiến

Nhiều sản phẩm mới đạt trình độ tiên tiến nhất, nhiều dạng năng lượngnguyên liệu mới được nghiên cứu và áp dụng với từng mức độ, nhiều dâychuyền công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu đã ra đời, phương pháp

tự động hoá sử dụng người máy, phương pháp điều khiển từ xa trong quảnlý… đã được áp dụng ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa và một số chi nhánh ởcác nước đang phát triển có trình độ tiên tiến hơn Theo tính toán của cácchuyên gia Liên hợp quốc, các công ty XQG kiểm soát tới 80% các phát sinhsáng chế của thế giới Do vậy, chúng trở thành người có vai trò ngày càng lớntrong việc thúc đẩy cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, làm cho cácnước tư bản phát triển có ưu thế trong cuộc cạnh tranh kinh tế, khoa học côngnghệ hiện nay, và thích nghi với điều kiện lịch sử mới Đồng thời, chúng cũngchiếm giữ một vị trí to lớn trong việc thực hiện cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ và quá trình công nghiệp hoá của các nước đang phát triển Điều

đó đòi hỏi các quốc gia này phải có chiến lược kinh tế đúng đắn để sử dụngđược thành tựu khoa học công nghệ của loài người mà phần chủ yếu hiệnđang nằm trong tay các công ty XQG, đồng thời tránh nguy cơ tụt hậu, rútngắn khoảng cách lịch sử trong cuộc chạy đua kinh tế

Nắm trong tay lực lượng khoa học và công nghệ của thế giới, các công

ty XQG cũng buộc phải chấp nhận những tất yếu kinh tế, thực hiện sự chuyểngiao công nghệ sang các nước khác, mà chủ yếu là sang các nước đang phát

Trang 9

triển Đứng trên góc độ đó, các công ty XQG đang đóng vai trò người “trợ thủ” quan trọng trong sự phát triển khoa học công nghệ

Đối với những nước lạc hậu, vai trò này được biểu hiện trên nhiều khíacạnh như: thực hiện chuyển giao công nghệ từ công ty mẹ sang công ty chinhánh, cũng như từ nước mẹ sang các nước chủ nhà; thực hiện đào tạo cán bộquản lý và công nhân làng nghề Hầu hết ở các công ty lớn như GMC, Nestlé,GEC, GDC… đều có các trường đại học riêng của mình làm công việc đàotạo và những trung tâm nghiên cứu khoa học thực hiện triển khai… Chính vìvậy mà chúng đã góp phần đáng kể trong việc phát triển nguồn nhân lực có trítuệ

Ngoài ra, các công ty XQG còn tham gia vào việc thúc đẩy hợp tác giữacác cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học các nước Nhiều công ty lớn đãthực hiện tài trợ thông qua các quỹ của mình đối với một số dự án Trong số

đó các công ty Ford, Toyota, Mitsubishi, Sumitomo… có vai trò khá nổi bậtđối với nhiều nước Đông Nam Á Tuy nhiên, các công ty XQG thực hiện việclàm của mình với mục đích và phương thức riêng nằm trong chiến lược chungcủa các nước mẹ Vì vậy, quá trình chuyển giao công nghệ, phát triển khoa họccông nghệ là một quá trình chứa đựng nhiều mâu thuẫn và hậu quả mà các nướcnhập khẩu công nghệ phải gánh chịu không hề nhỏ Chẳng hạn, thông thường

họ phải chấp nhận kỹ thuật, công nghệ hạng hai trong quá trình chuyển giaocông nghệ và sử dụng công nghệ chuyển giao, các công ty XQG ít quan tâmđến việc bảo vệ môi trường sinh thái

Đồng thời trong quá trình chuyển giao công nghệ, với những phươngthức riêng, mỗi công ty XQG cũng đã khống chế một phần kỹ thuật côngnghệ của nước chủ nhà Chẳng hạn chuyển giao công nghệ nhưng với nhữnghợp đồng phụ kèm theo tạo ra sự phụ thuộc của nước chủ nhà, hoặc giữ lại bíquyết để tiếp tục thao túng trình độ thấp hoặc trung bình, mà ngay cả với

Trang 10

NIES Do vậy, A.Vernon - chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về các công tyXQG - đã cho rằng việc chuyển giao kỹ thuật công nghệ của các công tyXQG đã không làm tăng thêm tiềm lực khoa học - công nghệ của nước tiếpnhận, trừ trường hợp hết sức đặc biệt.

Mặc dù có đào tạo công nhân, bổ nhiệm cán bộ quản lý song sự đào tạo hếtsức phiến diện, phần lớn chỉ phục vụ những nhu cầu trước mắt chứ ít khi có tínhchiến lược lâu dài Còn những chức vụ được bổ nhiệm cũng hầu hết chỉ dừng lạinhững vị trí thứ yếu, với ý đồ tránh sự lớn mạnh của nước chủ nhà, ngăn chặn sựxuất hiện của những đối thủ cạnh tranh mới Đặc biệt trong hầu hết các ngành, cáccông ty XQG từ chối việc thiết lập các trung tâm R&D ở nước chủ nhà, các trungtâm này thường được đặt ở nước mẹ, còn ở các chi nhánh có chăng chỉ là nhữngphòng thí nghiệm nhỏ với nhiệm vụ kiểm soát chất lượng đầu vào và đầu ra… Từ

đó đặt ra vấn đề là các nước chủ nhà cần phải có luật đầu tư chặt chẽ, chính sáchkhôn ngoan để hạn chế những tiêu cực, và nhất là phái xây dựng chiến lược dàihạn với những hướng đi thích hợp nhằm nâng cao các yếu tố bên trong, biếnchúng thành nội lực để thu hút có hiệu quả công nghệ chuyển giao, tránh nhữnghậu quả xấu đối với nền kinh tế đất nước, đặc biệt là tránh sự tụt hậu và những hậuquả khó lường về môi trường sinh thái

* Góp phần đẩy mạnh quan hệ hàng hoá - tiền tệ trên phạm vi toàn thế giới

Với hàng trăm nghìn chi nhánh trải rộng khắp thế giới, các công tyXQG trở thành một lực lượng đông đảo nắm giữ nguồn hàng hoá thế giới.Hiện nay các công ty XQG đã kiểm soát 60% buôn bán quốc tế Trong nhiềungành hàng, các công ty này đã kiểm soát hầu như toàn bộ buôn bán quốc tế.Chẳng hạn, với một số nông sản phẩm như chè, cà phê, ca cao, các công tyXQG đã kiểm soát tới 80% - 90% buôn bán quốc tế

Trang 11

Với mạng lưới chi nhánh dày đặc, các công ty XQG đã khai thác đượcmọi nguồn hàng tiềm tàng của thế giới và có thể nói mọi sản phẩm của thếgiới được chúng lôi cuốn vào thị trường và cùng với việc phân công chuyênmôn hoá, các công ty XQG đã khai thác được thị trường tại chỗ, giảm chi phívận chuyển, hạ giá thành Cùng với những sản phẩm hàng hoá được bổ sunghàng loạt các mặt hàng mới dưới tác động của các công ty XQG Ngay cả trithức con người được thể hiện trong phát minh sáng chế cũng được trao đổidưới hình thức hàng hoá

Có thể nói các công ty XQG thực hiện “hàng hoá hoá” mọi sản phẩm,

tạo ra sự đa dạng trong trao đổi trên phạm vi quốc tế Chẳng hạn như phươngthức cho thuê các thiết bị và phương tiện kỹ thuật mua bán nợ nước ngoài…đặc biệt là với những hàng hoá đa dạng, phong phú, chất lượng cao, giá hạ đãchẳng khác gì những viên đạn trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn lýtrường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cườngcũng phải hàng phục Bằng cách đó chúng đã phá bỏ những hàng rào biêngiới quốc gia vốn đã từng kìm hãm quá trình quốc tế hoá lưu thông Điều đógóp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và nâng cao trình độ xã hộihoá

Tuy nhiên, một điều không thể tránh khỏi là do quá chạy theo mục đíchlợi nhuận, các công ty XQG đã làm biến dạng mối quan hệ hàng hoá tiền tệ,gây ra những hiện tượng tiêu cực với quy mô thế giới Cụ thể là dựa vào tiềmlực kinh tế to lớn, với hàng trăm tỷ đôla trong tay, với những nguồn nguyênliệu, nhiên liệu dồi dào đặt dưới sự kiểm soát của mình, các công ty XQG đãthực hiện những hoạt động đầu cơ, nâng giá, trao đổi nội bộ giữa các chinhánh mà khối lượng trao đổi này thường rất lớn, có khi chiếm tới 60% tổngkhối lượng hàng hoá luân chuyển của các công ty XQG Điều đó gây nên tìnhhình mất ổn định trong lưu thông hàng hoá, cũng như nền tài chính - tiền tệ

Trang 12

của thế giới Người ta có nhận xét rằng các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền

tệ, như khủng hoảng thi trường chứng khoán, cũng như sự bùng nổ về nợ nầncủa thế giới thứ ba… đều có nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp từ sự lũngđoạn của các công ty XQG Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế mở cửa, việc

tự do đầu tư vào thị trường cổ phiếu, một mặt giúp cho các nước chủ nhà cóthêm nguồn vốn đầu tư lớn, song điều rủi ro gặp phải là các công ty XQG rất

dễ dàng thực hiện hành vi “ảo thuật” trên thị trường này để kiếm lời Ngay cảđối với cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997 diễn ra ở các nước châu Ácũng không loại trừ nguyên nhân đó Chính vì vậy, không những các nướcđang phát triển mà ngay cả các nước tư bản phát triển đều hết sức quan tâmđến việc đưa ra những luật lệ ngăn cấm sự lộng hành của các công ty XQG,trong đó lĩnh vực lưu thông hàng hoá và tiền tệ được nhấn mạnh nhiều nhất

* Thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Nguồn đầu tư chính ra nước ngoài là các nước phát triển, trước hết làcác nước G7 và một số nước châu Âu Thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tưnước ngoài đều thực hiện qua kênh công ty XQG Nói cách khác, các công tyXQG là lực lượng cơ bản trong việc thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài (hiện naychúng chiếm khoảng 90% lượng FDI) Với lợi thế về vốn, kỹ thuật hiện đại, quản

lý tiên tiến và mạng lưới thị trường rộng lớn, các công ty XQG luôn tích cực đầu ta

ra nước ngoài nhằm tối đa hoá lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu

Mặc dù tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp của các công ty XQG trong tổng vốn đầu tưcủa từng nước chủ nhà không cao (khoảng 5%) Song đây là nguồn vốn quan trọngkhó có thể thay thế vì nó tạo ra những kết quả phát sinh khác, như chuyển giao côngnghệ, tạo thêm việc làm, phát triển dịch vụ và các nguồn thu phụ thêm (thuế các loại,sản phẩm được phân chia theo hợp đồng, và các khoản thu khác) Tuy thế, cũng phải

thấy rõ tính chất hai mặt của đầu tư trực tiếp mà các công ty XQG thực hiện: một

Trang 13

mặt, tăng thêm nguồn vốn cho nước chủ nhà và các hệ quả lợi ích khác, song mặt khác, nếu không quản lý giỏi thì chính qua đó cũng để lại những hậu quả ngoài mong

muốn Thực tế của các nước đã chứng minh điều đó

Tác động của FDI đi liền với sự biến đổi cơ cấu kinh tế của nước chủnhà và chính là do sự biến đổi cơ cấu đầu tư Nhìn chung, xu hướng đầu tư có

sự biến đổi như sau: đầu tư vào ngành dịch vụ tăng lên tương đối và tuyệt đối,đầu tư vào công nghiệp chế biến tăng lên tuyệt đối và có chiều hướng giảm nhẹ

về tương đối, còn đầu tư vào nông nghiệp tăng tuyệt đối nhưng giảm đi tươngđối Việc biến đổi đó đã dẫn đến làm biến đổi tỷ trọng và giá trị của các ngànhtrong nền kinh tế của nước chủ nhà Đồng thời sự tập trung cao vốn đầu tư vàocác ngành công nghiệp chế biến đã tác động dây chuyền đến các ngành kháctheo mối quan hệ liên ngành, làm tăng tỷ trọng của xuất khẩu và làm cơ cấu xuấtnhập khẩu thay đổi theo

Cùng với sự biến đổi cơ cấu ngành, cơ cấu lao động, cơ cấu vùng cũng

có sự biến đổi, trong đó có việc hình thành các trung tâm thương mại, côngnghiệp kỹ thuật cao, đồng thời đội ngũ lao động và cơ cấu nghề nghiệp cũngbiến đổi theo Sự biến đổi cơ cấu kinh tế có tác động lớn đối với quá trìnhtăng trưởng kinh tế của các nước chủ nhà và nếu các nước này có được chiếnlược đúng đắn sử dụng được lợi thế của mình sẽ có thể thúc đẩy sự phát triển

cơ cấu theo hướng tiến bộ mà cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tạo ra

* Giải quyết thêm nhiều việc làm mới và nâng cao tay nghề người lao động

Việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ là

vấn đề tất yếu đối với mọi doanh nghiệp, vì người lao động là một yếu tố cầnthiết của quá trình sản xuất Thiếu yếu tố đó hoặc có nhưng chất lượng kémthì hoặc là không có quá trình sản xuất diễn ra, hoặc sản phẩm tạo ra sẽ không

có sức cạnh tranh Do vậy, các công ty XQG luôn luôn quan tâm đến tay nghề

Trang 14

của người lao động thông qua các hình thức đào tạo dài hạn, ngắn hạn, chínhquy hoặc tại chức Về mặt cán bộ quản lý đã được các công ty XQG đặt lên vịtrí hàng đầu, nhất là những cán bộ quản lý ở cấp chiến lược.

Song trong việc đào tạo tay nghề cũng như phân bổ, bồi dưỡng cán bộquản lý thường tồn tại trong các xu hướng mâu thuẫn Một mặt không đào tạo

và bồi dưỡng có nghĩa là không thể tồn tại, song mặt khác, đào tạo, bồi dưỡngcũng có nghĩa là góp phần tạo ra đối thủ cạnh tranh cho chính mình Do vậy,các công ty XQG luôn luôn có sự lựa chọn phương án thích hợp Thôngthường đào tạo chủ yếu để giải quyết công việc ngày hôm nay, còn việc đàotạo dài hạn phải hết sức cân nhắc và có những biện pháp bảo vệ để tránh thấtthoát Đối với cán bộ quản lý, việc lựa chọn cũng được thực hiện nghiêmngặt, đặc biệt là những cán bộ chủ chốt thường không để người có quốc tịchcủa nước chủ nhà đảm nhận và việc đào tạo, bồi dưỡng bao giờ cũng gắn liềnvới việc quản lý, tránh tình trạng chuyển sang các xí nghiệp nước chủ nhà.Cho đến nay, các công ty XQG đã tạo ra một khối lượng việc làm tươngđối lớn Thống kê cho thấy, các công ty XQG đã tạo được khoảng 45 triệu laođộng vào giữa những năm 1970 và 10 năm sau đạt được gần 65 triệu laođộng, con số này tăng lên đến 70 triệu vào giữa những năm thuộc thập kỷ 90của thế kỷ XX Nhìn chung, công ty XQG thường tạo việc làm ở các ngànhcông nghiệp và dịch vụ nhiều hơn là trong ngành nông nghiệp và các ngànhkhác Một số việc làm được tạo ra một cách gián tiếp thông qua các liên kếtkinh tế cung cấp dịch vụ của các công ty nội địa

Theo K.Sauvant, các công ty XQG đã tạo ra khoảng 1% việc làm chodân số trong độ tuổi lao động ở các nước đang phát triển Chỉ riêng 500 công

ty hàng đầu tính đến năm 1996 đã tạo ra hơn 35,5 triệu lao động, nhiều công

ty có số lao động hàng trăm nghìn người (chẳng hạn: năm 1996, GMC có sốlao động lớn nhất là 647.000 người còn Ford Motor là 371 nghìn người,

Trang 15

Unilever là 306 nghìn người, US Postal Service là 887 nghìn người…) Đặcbiệt, ở một số nước đang phát triển, tỷ lệ việc làm mà các công ty XQG tạo rakhá lớn, chẳng hạn năm 1999: 5,9% ở Malaixia, 8,67% ở Philippin và 54,6%

ở Xingapo

* Góp phần điều tiết nền kinh tế thế giới

Đã có thời gian người ta tranh luận nhiều về vai trò của các công tyXQG đối với vấn đề chương trình hoá nền kinh tế thế giới Có người chorằng, với sự có mặt ở nhiều nước trên thế giới, thông qua chiến lược cắmnhánh mà bản thân mỗi công ty XQG có tính kế hoạch rất cao nên điều đó sẽ

là tiền đề cho việc thực hiện kế hoạch hoá kinh tế quốc tế

Những ý kiến phản bác lại thì cho rằng, điều đó chỉ làm tăng thêm tính vôchính phủ của nền kinh tế thế giới, bởi vì không có một sức mạnh nào hoặc trungtâm nào có thể điều phối được hàng chục nghìn các công ty mẹ và hàng trăm nghìnchi nhánh Khi chúng đã vượt biên giới ra ngoài thì chúng trở thành một lực lượngđộc lập và chỉ có lợi nhuận mới là mục tiêu mà chúng theo đuổi và phục tùng

Các ý kiến trên đều có tính hợp lý, song không tránh khỏi tính cựcđoan Thực tế, các công ty XQG đã tạo ra những nhân tố mới trong việc pháttriển nền kinh tế thế giới theo những chương trình kế hoạch định trước củamình và nền kinh tế thế giới nói chung, kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa nóiriêng, đã có những bước tiến mới trong việc điều chỉnh hoạt động theo hướng

“tháp hợp” Trước hết, mỗi công ty XQG là một “phức hợp” gồm nhiều

ngành khác nhau, hoạt động tại nhiều nước dưới sự điều chỉnh từ một trungtâm, đó là công ty mẹ Với những tiến bộ về thông tin và bằng những phươngpháp quản lý mới, các công ty XQG đã từng bước điều khiển hoạt động củamình một cách có kế hoạch Đây là nhân tố mới, làm cân đối cục bộ nền kinh

tế thế giới trong giai đoạn mà tính hoàn chỉnh của thế giới đã được xác lập

Trang 16

Cũng chính bằng hoạt động của mình các công ty XQG đã trở thành ngườilàm giảm áp lực của những cuộc khủng hoảng kinh tế từ trung tâm

Thực tế đã chứng minh rằng trong nhiều trường hợp các công ty XQG

đã điều tiết sản phẩm thừa từ chính quốc sang chi nhánh, hoặc từ chi nhánhnày sang chi nhánh khác, làm cho tính chất gay gắt của khủng hoảng chu kỳgiảm đi và tính chất phá hoại của giai đoạn khủng hoảng không nghiêm trọngnhư trước

Cũng cần nhấn mạnh rằng, với cơ chế “tháp hợp”, trong đó việc tổ chức

và điều hành đều dựa theo những chỉ tiêu cơ bản của chương trình đặt ra, đồngthời mở rộng tính độc lập cho các chi nhánh, các công ty XQG đã dễ dàng thíchứng với những biến đổi của thị trường Cũng do phương thức thực hiện kế hoạchđịnh hướng (chương trình) mà tính năng động của các chi nhánh được nâng caolàm cho các công ty XQG trở thành doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, đứngvững trên thị trường với những khối lượng lợi nhuận khổng lồ, tỷ suất lợi nhuậncao, thậm chí tới 25,2% doanh số bán và 22,1% tài sản (chẳng hạn như vớiPetronas và Glaxo Wellcome vào năm 1998) Có thể nói chương trình hoá trongtừng công ty XQG và nhất là từng xí nghiệp chi nhánh được thực hiện nghiêmngặt, có hiệu quả Song cũng không tránh khỏi sự hoạt động vô chính phủ Tính

vô chính phủ đó biểu hiện ở việc các chi nhánh tự do hoạt động, có khi thoátkhỏi sự chỉ đạo của công ty mẹ Đồng thời, tính kế hoạch của một tập đoàn XQGlại mâu thuẫn với sự cạnh tranh vô chính phủ của cả hệ thống các công ty XQG.Chỉ cần để cập đến sự hoạt động vô chính phủ của 500 công ty cỡ lớn mà mỗicông ty có vốn ngang với tổng sản phẩm xã hội của một nước tư bản chủ nghĩatrung bình, lại có hàng nghìn chi nhánh ở hàng trăm nước trên thế giới…cũng

đủ thấy tính chất phức tạp và khó khăn trong việc kế hoạch hoá hoặc chươngtrình hoá nền kinh tế cũng như mức độ nghiêm trọng của hoạt động vô chínhphủ trong nền kinh tế thế giới dưới sự tác động của các công ty XQG Thực tế

Trang 17

những thập kỷ qua cho thấy, các cuộc khủng hoảng cơ cấu, tiền tệ, nănglượng, nguyên liệu…đều có vai trò “ngòi nổ” của các công ty này.

Vì vậy, một mặt cần thấy được những nhân tố mới trong việc điều chỉnh hoạtđộng của nền kinh tế thế giới theo những chương trình lớn mà các công ty XQG đãmang lại Những nhân tố này có tính khách quan trong thời đại cách mạng khoa học

và công nghệ Mỗi quốc gia đều có thể khai thác nhân tố này một cách có lợi chomình Mặt khác, không nên quá ảo tưởng vào một nền kinh tế thế giới hoàn chỉnhtheo ý nghĩa đầy đủ của nó, và càng không nên đặt hy vọng quá nhiều vào sự điềutiết từ một trung tâm Bởi vì các trung tâm điều tiết kinh tế quốc tế hiện nay mới chỉ

là những tiền đề song lại không phải là trung tâm thuộc các công ty XQG, mà lànhững hình thức liên quốc gia trong sự điều tiết, như các hội nghị G7, G3, hoặc các

tổ chức quốc tế, trong đó lại có những mục đích điều tiết các hoạt động của cáccông ty XQG, tránh những hoạt động tiêu cực mà việc hoạt động vô chính phủ làmột mặt

Tuy nhiên, cần khẳng định rằng các công ty XQG, bằng hoạt động quốc

tế của mình, đã đưa các nhân tố mới - nhân tố quốc tế - vào các nền kinh tếcủa mỗi quốc gia, làm cho chương trình kinh tế của mỗi quốc gia gắn liền vớiquốc tế và khu vực Do vậy khi xây dựng chương trình kinh tế, mỗi quốc giacần phải tính tới các yếu tố quốc tế, đặc biệt là vai trò XQG Vai trò này nhiềukhi có tính quyết định đối với việc thực hiện các chương trình kinh tế Chẳnghạn với Xingapo - một quốc gia đảo với hơn 3 triệu dân nhưng có tới 3.000công ty XQG của nhiều nước và các công ty này đã nắm giữ vị trí quan trọngcủa các ngành công nghiệp chủ chốt (80% năng lực sản xuất) và tham gia tới70% kim ngạch xuất khẩu Còn ở Malaixia, các công ty XQG đã tham gia vào60% xí nghiệp, 70% tổng sản phẩm xã hội và 70% kim ngạch xuất khẩu Với vị trí như vậy, khi xây dựng chương trình kinh tế, các quốc gia này,

Trang 18

không thể không tính tới vị trí của các công ty XQG, thậm chí nó còn có cảtính chất quyết định đối với việc thực hiện các chương trình kinh tế quốc gia.

* Vấn đề phương pháp luận rút ra từ việc phân tích vai trò của các công ty XQG đối với nền kinh tế thế giới

Một là, sự ra đời, tồn tại và phát triển của các công ty XQG là một tất

yếu kinh tế Dù muốn hay không, các công ty XQG vẫn xuất hiện, tồn tại vàphát triển do sự tập trung sản xuất đạt đến trình độ cao dưới tác động của cáchmạng khoa học - công nghệ hiện đại Ngày nay, không ai có thể phủ nhận vềthực lực kinh tế của các công ty XQG

Có thể đưa ra một vài số liệu để chứng minh tính chất hùng hậu về kinh

tế của các công ty XQG trong nền kinh tế toàn cầu: Về sở hữu tài sản, cáccông ty XQG ngày nay nắm trong tay hàng chục ngàn tỉ USD, gấp hơn hai lầntoàn bộ ngân sách của 7 nước giàu nhất hành thế giới; sở hữu của một công tyXQG trong nhóm 10 công ty XQG hàng đầu thế giới đã có tài sản kinh doanh trịgiá tương đương với GDP của một quốc gia trung bình trên thế giới; về số lượng,các công ty XQG phát triển rất nhanh, từ 7000 công ty XQG cách đây 30 năm,đến nay đã tăng lên tới trên 70.000 với số lượng chi nhánh trên 600.000 bám

rễ vào hầu hết các nước trên thế giới; các công ty XQG nắm phần lớn FDI, làlực lượng nòng cốt thúc đẩy FDI thế giới tăng trưởng nhanh, làm cho tốc độtăng FDI vượt xa tốc độ tăng trưởng thương mại thế giới

Hai là, với số lượng lớn và thực lực kinh tế mạnh như trên, các công ty XQG

đóng vai trò quan trọng trên nhiều lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là sự phát triển kinh

tế toàn cầu Ngày nay, với xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá mà các công ty

XQG là một lực lượng thúc đẩy, đã mở ra nhiều khả năng mới để mỗi quốc giatranh thủ sử dụng nguồn lực quốc tế Đối với các nước đang phát triển, chậmphát triển, việc hợp tác với các công ty XQG để tranh thủ vốn, tiếp thu khoahọc - công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến qua đó đẩy nhanh tiến

Ngày đăng: 11/04/2018, 08:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hoàng Thị Bích Loan, Trần Quang Lâm, Nguyễn Đình Kháng..., Thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam, Nxb.CTQG., Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuhút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam, "Nxb.CTQG., Hà Nội
Nhà XB: Nxb.CTQG.
4. Phùng Xuân Nhạ (ch.b.), Nguyễn Việt Khôi, Nguyễn Thiết Sơn..., Các công ty xuyên quốc gia : Lý thuyết và thực tiễn , Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công ty xuyên quốc gia : Lý thuyết và thực tiễn
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc giaHà Nội
5. Nguyễn Thiết Sơn, Giáo trình các công ty xuyên quốc gia, Nxb. Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình các công ty xuyên quốc gia
Nhà XB: Nxb. Đạihọc Quốc gia
6. Nguyễn Khắc Thân (ch.b), Chu Văn Cấp, Nguyễn Văn Kỷ..., Tập bài giảng về chủ nghĩa tư bản hiện đại: (Dùng cho hệ đào tạo sau đại học), Nxb. CTQG., Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tậpbài giảng về chủ nghĩa tư bản hiện đại: "(Dùng cho hệ đào tạo sau đại học),Nxb. CTQG., Hà Nội
Nhà XB: Nxb. CTQG.
7. Một số tạp chí ngành, tạp chí điện tử và trang web: Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, Báo điện tử ĐCS Việt Nam, Tạp chí Cộng sản điện tử Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w