1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ vấn đề THỊ TRƯỜNG và sự vận DỤNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở nước TA HIỆN NAY

18 322 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 112 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập thứ nhất gồm 4 tác phẩm của V. I. Lênin viết trong những năm 1893 1894, vào thời kỳ đầu hoạt động cách mạng của Người. Ở Nga, những năm 90 thế kỷ XIX được đánh dấu bằng sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp và sự trưởng thành của giai cấp công nhân, bằng cao trào chung của phong trào công nhân. Sự tích tụ cao độ của đại công nghiệp đã giúp cho việc đoàn kết và tổ chức công nhân lại. Hình thức đấu tranh đình công đã được đẩy mạnh lên nhiều. Những tư tưởng của chủ nghĩa Mác bắt đầu thâm nhập vào trong công nhân.

Trang 1

1 Quan điểm của Lênin trong tác phẩm "Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường"

Tập thứ nhất gồm 4 tác phẩm của V I Lê-nin viết trong những năm

1893 - 1894, vào thời kỳ đầu hoạt động cách mạng của Người Ở Nga, những năm 90 thế kỷ XIX được đánh dấu bằng sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp và sự trưởng thành của giai cấp công nhân, bằng cao trào chung của phong trào công nhân Sự tích tụ cao độ của đại công nghiệp đã giúp cho việc đoàn kết và tổ chức công nhân lại Hình thức đấu tranh đình công đã được đẩy mạnh lên nhiều Những tư tưởng của chủ nghĩa Mác bắt đầu thâm nhập vào trong công nhân

Tên tuổi của Lê-nin gắn liền với sự mở đầu của một giai đoạn mới trong phong trào công nhân Nga Trong các tác phẩm của mình viết trong những năm 1893 - 1894, V I Lê-nin đã phân tích một cách sâu sắc, theo quan điểm mác-xít chế độ kinh tế - xã hội của đất nước vào cuối thế kỷ XIX, xác định những nhiệm vụ cơ bản của cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân

và đảng dân chủ - xã hội Nga Lê-nin đề ra cho những người dân chủ - xã hội Nga nhiệm vụ phải thành lập một đảng mác-xít Có thái độ sáng tạo đối với lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác, Lê-nin là người mác-xít đầu tiên đã nghiên cứu vấn đề về những đặc điểm của cuộc cách mạng dân chủ - tư sản sắp tới ở Nga, về những động lực của cuộc cách mạng đó và về sự chuyển biến của nó thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Trong các tác phẩm in ở tập I, V I Lê-nin đã chĩa mũi nhọn chủ yếu vào các quan điểm triết học và kinh tế của phái dân tuý, vào lập trường chính trị

và sách lược của phái đó, vì lúc bấy giờ những quan điểm và lập trường ấy là trở ngại chủ yếu, về mặt tư tưởng, cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác và cho phong trào dân chủ - xã hội ở Nga Trong các tác phẩm đó, Lê-nin cũng đã đấu tranh chống lại việc các đại biểu của chủ nghĩa "mác-xít hợp pháp" xuyên tạc chủ nghĩa Mác theo tinh thần tư sản

Tác phẩm của Lê-nin: "Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường" là một trong

số những bài báo đăng trên tạp chí "Của cải nước Nga" chống lại những

Trang 2

người mỏc-xớt", "Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dõn tuý và sự phờ phỏn trong cuốn sỏch của ụng Xtơ-ru-vờ về nội dung đú (Sự phản ỏnh chủ nghĩa Mỏc trong sỏch bỏo tư sản)"

Là tỏc phẩm trong số những tỏc phẩm cũn giữ lại được của V I Lờ-nin, Người viết bài này khi cũn hoạt động ở Xa-ma-ra, vào mựa xuõn 1893 Bài đú chứng tỏ rằng Lờ-nin thời trẻ đó vận dụng lý luận mỏc-xớt vào việc nghiờn cứu một cỏch khộo kộo, độc lập, sõu sắc và triệt để biết bao Sử dụng những số liệu thống kờ của cỏc hội đồng địa phương được dẫn ra trong cuốn "Kinh tế nụng dõn ở miền Nam nước Nga" của Pụ-xtơ-ni-xốp đồng thời phờ phỏn tớnh khụng triệt để và những sai lầm về phương phỏp luận của tỏc giả cuốn sỏch

đú Tỏc phẩm "Bàn về cỏi gọi là vấn đề thị trường", mà V I Lờ-nin đó viết vào mựa thu năm 1893, là mẫu mực về sự vận dụng sỏng tạo lý luận kinh tế của C.Mỏc vào việc nghiờn cứu chế độ kinh tế ở Nga Lờ-nin đó đỏnh giỏ và vạch ra những quỏ trỡnh và cỏc hỡnh thức phỏt triển của chủ nghĩa tư bản “Chủ nghĩa t bản liệu có thể phát triển đợc ở Nga không và liệu có thể phát triển hoàn toàn đợc không, một khi quần chúng nhân dân thì nghèo khổ và ngày càng nghèo khổ? Thật vậy, muốn phát triển, chủ nghĩa t bản cần có một thị trờng rộng lớn ở trong nớc; thế mà sự phá sản của nông dân lại phá hoại thị trờng đó, đe doạ làm cho nó phải đóng cửa hoàn toàn và làm cho không thể tổ chức đợc chế độ t bản”1

Đồng thời đập tan cõu chuyện hoang đường của phỏi dõn tuý núi rằng tưởng như chủ nghĩa tư bản khụng đụng chạm đến nụng dõn "cụng xó" Lờ-nin chứng minh rằng trỏi với lý luận của phỏi dõn tuý, chủ nghĩa tư bản ở Nga vẫn phỏt triển với một sức mạnh khụng gỡ kỡm hóm nổi, rằng nụng dõn thực tế

đó phõn chia thành những giai cấp đối địch: giai cấp tư sản nụng thụn và giai cấp vụ sản nụng nghiệp, là hai giai cấp đó phỏt triển do sự tan ró của trung nụng dưới chủ nghĩa tư bản Trờn cơ sở tài liệu rất phong phỳ, Lờ-nin đó vạch trần tớnh chất tiểu tư sản của cụng xó nụng thụn, những quan niệm phi lý và tai hại của phỏi dõn tuý coi cụng xó nụng dõn là nền tảng của chủ nghĩa xó hội Người chứng minh rằng cỏc quan hệ kinh tế tư sản đó bỏm rễ chắc vào nụng dõn Sau này những sự khẳng định này đó được bọn "mỏc-xớt hợp phỏp"

1 Sđd trang 89

Trang 3

bảo vệ Trên cơ sở hiểu biết sâu sắc bộ "Tư bản" của Mác và vận dụng phương pháp biện chứng duy vật, Lê-nin đã chỉ ra rằng do kết quả của sự phân công xã hội ngày càng tăng, nền kinh tế tự nhiên của những người sản xuất nhỏ dần dần biến thành nền kinh tế hàng hoá và nền kinh tế hàng hoá đến lượt nó biến thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, rằng sự phân công lao động

đó tất yếu dẫn đến sự phân hoá giai cấp trong những người sản xuất và làm cho thị trường trong nước phát triển Như vậy, Lê-nin đã bác bỏ những lý luận thịnh hành của phái dân tuý cho rằng ở Nga, chủ nghĩa tư bản tuồng như không có cơ sở để phát triển, và Người chứng minh rằng chủ nghĩa tư bản đã trở thành "cái nền cơ bản của đời sống kinh tế nước Nga" Đồng thời Người phê phán những sự khẳng định của B.Cra-xin trong tác phẩm "Bàn về cái gọi

là vấn đề thị trường" Lê-nin đã phát triển luận điểm của Mác nói về mối tương quan giữa hai khu vực của nền sản xuất xã hội, Người xác định sự phát triển ưu tiên của khu vực I, coi đó là quy luật kinh tế của tái sản xuất mở rộng Trên cơ sở công thức tái sản xuất của Mác, Lê-nin đã trình bày những thay đổi trong tái sản xuất mở rộng, do sự tiến bộ kỹ thuật đưa lại Vào cuối năm

1893, tạp chí "Của cải nước Nga", một tạp chí đã tập hợp xung quanh mình phái dân tuý tự do chủ nghĩa và những tạp chí dân tuý khác đã mở một chiến dịch chống chủ nghĩa Mác Trong các tạp chí đó có đăng những bài báo xuyên tạc một cách có ý thức học thuyết mác-xít về xã hội, về cách mạng, về chủ nghĩa xã hội; phái dân tuý đã xuyên tạc thô bạo các quan điểm của những người mác-xít Nga Không có cơ quan ngôn luận của mình ở Nga nên những người mác-xít không thể đập lại phái dân tuý một cách đích đáng trên báo chí công khai Cuốn sách được xuất bản bí mật đó của Lê-nin đã đóng một vai trò

to lớn trong việc đánh bại chủ nghĩa dân tuý Trong bản tuyên ngôn thực sự

đó của chủ nghĩa Mác cách mạng, trong văn kiện mác-xít có tính chất cương lĩnh đó, Lê-nin đã trình bày một cách sâu sắc thế giới quan khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết kinh tế của Mác, và phê phán một cách toàn diện các quan điểm triết học, kinh tế và chính trị của phái dân tuý tự do chủ nghĩa, cương lĩnh và sách lược của phái

đó V I Lê-nin đã chỉ ra rằng cương lĩnh chính trị của những "người bạn dân"

Trang 4

giả dối đó thể hiện lợi ích của bọn cu-lắc; Người vạch mặt phái dân tuý tự do chủ nghĩa là những tên cải lương điển hình, bọn này phản đối cuộc đấu tranh cách mạng chống chế độ chuyên chế Nga hoàng và mô tả chế độ này như một lực lượng đứng trên các giai cấp và có khả năng cải thiện tình cảnh của nhân dân V I Lê-nin vạch rõ tính chất vô căn cứ và sai lầm của những lý luận dân tuý về con đường phát triển đặc biệt, phi tư bản chủ nghĩa của nước Nga và chỉ rõ rằng phái dân tuý tự do chủ nghĩa đã cố tình làm lu mờ sự thật về tình trạng bóc lột tư bản chủ nghĩa ở nông thôn

Trong tác phẩm của mình, V I Lê-nin đã vạch mặt các nhà lý luận của phái dân tuý là những đại biểu của phương pháp phản khoa học, chủ quan trong xã hội học, là những nhà duy tâm phủ nhận tính khách quan của các quy luật phát triển xã hội và vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch

sử Các nhà dân tuý cho rằng có thể tuỳ tiện hướng tiến trình lịch sử theo ý muốn của những cá nhân "xuất chúng" Lê-nin đã đập tan những quan điểm chủ quan đó và đưa ra quan niệm duy vật về đời sống xã hội để đối lập với các quan điểm đó; Người vạch ra nội dung của học thuyết mác-xít về xã hội

và chỉ rõ rằng tiến trình lịch sử được quyết định bởi những quy luật phát triển khách quan, rằng động lực chủ yếu của sự phát triển của xã hội là nhân dân, là các giai cấp mà cuộc đấu tranh của họ quyết định sự phát triển của xã hội

V I Lê-nin lần đầu tiên đã đề ra cho những người dân chủ - xã hội Nga nhiệm vụ thành lập một đảng công nhân Mác-xít và đề ra tư tưởng liên minh cách mạng giữa giai cấp công nhân và nông dân, coi đó là phương sách chủ yếu để lật đổ chế độ Nga hoàng, bọn địa chủ và giai cấp tư sản và thành lập xã hội cộng sản chủ nghĩa Thì lúc đó người công nhân Nga, đứng đầu tất cả các phần tử dân chủ, sẽ lật đổ được chủ nghĩa chuyên chế và đưa giai cấp vô sản Nga sát cánh với giai cấp vô sản tất cả các nước, thông qua con đường trực tiếp đấu tranh chính trị công khai, tiến tới cách mạng cộng sản chủ nghĩa thắng lợi Khi những người đại biểu tiên tiến của giai cấp đó đã thấm nhuần được những tư tưởng của chủ nghĩa xã hội khoa học, tư tưởng về vai trò lịch

sử của người công nhân Nga, khi các tư tưởng đó đã được phổ biến rộng rãi,

và khi mà trong hàng ngũ công nhân đã lập ra được các tổ chức vững chắc có

Trang 5

thể biến cuộc chiến tranh kinh tế phõn tỏn hiện nay của cụng nhõn thành một cuộc đấu tranh giai cấp tự giỏc,

Cỏc tỏc phẩm của V I Lờ-nin dạy giai cấp vụ sản thế giới, cỏc đảng cộng sản và cụng nhõn trong tất cả cỏc nước biết cỏch vạch mặt cỏi số đụng đảo bọn xột lại hiện nay, là bọn đang tỡm cỏch lợi dụng phong trào cụng nhõn nhằm phục vụ lợi ớch của giai cấp tư sản

Sau khi nghiờn cứu sơ đồ tỏi sản xuất của Mỏc và phờ phỏn cỏc quan điểm sai trỏi của phỏi dõn tỳy Lờ-nin đó trỡnh bày những thay đổi trong tỏi sản xuất mở rộng do sự tiến bộ kỹ thuật đưa lại và đưa ra kết luận

“Khái niệm "thị trờng" hoàn toàn không thể tách rời khái niệm phân công xã hội đợc, sự phân công này, nh Mác đã nói, là "cơ sở chung của mọi nền sản xuất hàng hoá" [và do đó, chúng tôi xin nói thêm, là cơ sở của nền sản xuất t bản chủ nghĩa] Hễ ở đâu và khi nào có phân công xã hội và sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy, có "thị trờng" Quy mô của thị trờng gắn chặt với trình độ chuyên môn hoá của lao động xã hội”2

"Hàng hoá chỉ mang cái hình thái vật ngang giá chung, đợc xã hội thừa nhận, khi nó ở dạng tiền, mà tiền thì lại ở trong túi kẻ khác Muốn moi đợc tiền ở trong túi ngời khác ra, trớc hết hàng hoá phải là giá trị sử dụng đối với ngời có tiền, và do đó lao động đã đợc tiêu phí để sản xuất hàng hoá đó phải

đợc tiêu phí dới một hình thức có ích cho xã hội, nói một cách khác, lao động

đó phải là bộ phận cấu thành của phân công xã hội Nhng phân công lao động lại là một cơ thể sản xuất đợc hình thành một cách tự nhiên, một cơ thể mà những mô của nó đã và tiếp tục chằng chịt với nhau mà những ngời sản xuất không hay biết Có thể, hàng hoá là sản phẩm của một loại lao động mới, tức

là loại lao động nhằm thoả mãn một nhu cầu mới hoặc do sự ra đời của mình

mà tạo ra nhu cầu mới Một động tác đặc biệt nào đó trong quá trình lao động, hôm qua còn là một trong rất nhiều những chức năng của cùng một ngời sản xuất hàng hoá, thì có thể hôm nay đã tách ra khỏi quá trình đó, đứng riêng ra,

và chính nhờ vậy mà đem đợc cái sản phẩm bộ phận của nó ra thị trờng làm một hàng hoá độc lập" 3

“Cho nên giới hạn phát triển của thị trờng trong xã hội t bản chủ nghĩa là

do giới hạn chuyên môn hoá lao động xã hội quyết định Mà sự chuyên môn hoá đó, xét về bản chất của nó, là vô cùng tận, cũng nh sự tiến bộ kỹ thuật vậy Muốn nâng cao đợc năng suất của lao động con ngời dùng, chẳng hạn, vào việc làm ra một bộ phận nào đó của một sản phẩm toàn bộ, thì phải làm cho việc sản xuất bộ phận đó đợc chuyên môn hoá đi để trở thành một ngành sản xuất riêng

2 Sđd trang 117

3 Sđd trang,118

Trang 6

biệt, sản xuất đợc hàng loạt sản phẩm, và vì lẽ đó có thể (và cần phải) sử dụng máy móc, v.v Đó là một mặt Mặt khác, trong xã hội t bản chủ nghĩa, sự tiến

bộ kỹ thuật là ở chỗ xã hội hoá lao động; mà sự xã hội hoá này tất nhiên đòi hỏi phải chuyên môn hoá các chức năng khác nhau của quá trình sản xuất, phải biến những chức năng đó từ chỗ là phân tán, cá thể, lắp đi lắp lại một cách riêng biệt trong từng doanh nghiệp chuyên về ngành sản xuất ấy, thành những chức năng đợc xã hội hoá, tập trung vào trong một doanh nghiệp mới, và nhằm thoả mãn nhu cầu của toàn thể xã hội” 4

“ở đây cần phải nói thêm một chút Tất cả những điều nói trên không hề phủ nhận luận điểm cho rằng không có thị trờng bên ngoài thì một nớc t bản chủ nghĩa không thể tồn tại đợc Trong chế độ sản xuất t bản chủ nghĩa, sự thăng bằng giữa sản xuất và tiêu dùng chỉ có đợc sau nhiều sự biến động; sản xuất càng lớn, số ngời tiêu dùng, mà nền sản xuất đó nhằm phục vụ, càng nhiều, thì những sự biến động đó càng mạnh Cho nên dễ hiểu rằng khi nền sản xuất t sản

đã phát triển đến trình độ cao thì nó không thể chỉ đóng khung trong một quốc gia dân tộc đợc nữa: sự cạnh tranh bắt buộc các nhà t bản phải ngày càng mở rộng sản xuất và đi tìm những thị trờng bên ngoài để tiêu thụ đợc thật nhiều sản phẩm của họ” 5

Hiển nhiên là một nớc t bản chủ nghĩa cần phải có thị trờng bên ngoài,

điều đó không trái với quy luật là: trong nền kinh tế hàng hoá, thị trờng chẳng qua chỉ là biểu hiện của sự phân công xã hội và do đó nó có thể phát triển vô cùng tận, giống nh sự phân công vậy, cũng nh những cuộc khủng hoảng không hề trái với quy luật giá trị Sự lo lắng về thị trờng chỉ xuất hiện trên sách báo Nga khi mà nền sản xuất t bản chủ nghĩa của nớc ta trong một số ngành (nh công nghiệp dệt vải chẳng hạn) đã phát triển đầy đủ, đã bao trùm hầu khắp thị trờng trong nớc và đã tạo thành một số ít xí nghiệp lớn Bằng chứng xác đáng nhất để cho ta thấy rằng cơ sở vật chất của những lời bàn bạc

về thị trờng và của những "vấn đề" thị trờng chính là những lợi ích của nền đại công nghiệp t bản chủ nghĩa, bằng chứng đó là:

“Trong các sách báo ở nớc ta, cha có một ngời nào tiên đoán rằng ngành thủ công nghiệp nớc ta sẽ tiêu vong do chỗ "thị trờng" biến đi, mặc dù ngành thủ công nghiệp này đơng sản xuất ra hơn 1 tỷ rúp giá trị và sản xuất cho chính ngay số "nhân dân" đã bị bần cùng hoá ấy Những lời kêu gào rằng nền công nghiệp nớc ta đang tiêu vong vì thiếu thị trờng, chẳng qua chỉ là một thủ

đoạn đợc che đậy vụng về mà các nhà t bản nớc ta dùng để gây áp lực đối với chính trị; họ coi lợi ích túi tiền của họ và lợi ích của "đất nớc" là một (họ nhận một cách khiêm tốn là họ "bất lực") và lại tỏ ra có năng lực đẩy chính

4 Sđd trang 119

5 Sđd trang 120

Trang 7

phủ đi theo con đờng dùng chính sách xâm chiếm thuộc địa, thậm chí lôi kéo chính phủ vào chiến tranh để bảo vệ những lợi ích quốc gia kiểu ấy.” 6

“Sự bần cùng hoá quần chúng nhân dân” đó là câu không thể thiếu trong tất cả các nghị luận của phái dân tuý bàn về thị trờng không những không làm trở ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa t bản, mà trái lại, chính là biểu hiện của sự phát triển đó và chính lại là điều kiện của chủ nghĩa t bản và làm cho chủ nghĩa đó mạnh thêm Chủ nghĩa t bản cần có "công nhân tự do", mà sự bần cùng hoá lại chính là ở chỗ những ngời sản xuất nhỏ biến thành công nhân làm thuê Quần chúng bị bần cùng hoá, một số ít bọn bóc lột thì giàu lên, hai hiện tợng đó đi đôi với nhau; các xí nghiệp nhỏ phá sản và suy sụp, còn các xí nghiệp lớn thì mạnh lên và phát triển, hai hiện tợng đó đi đôi với nhau; cả hai quá trình đó đều thúc đẩy thị trờng mở rộng: ngời nông dân "bị bần cùng hoá" trớc kia sống bằng doanh nghiệp của mình, thì ngày nay sống bằng "đồng lơng" của mình, nghĩa là bằng việc bán sức lao động của mình; hiện nay, họ phải mua những vật phẩm tiêu dùng cần thiết (mặc dầu với số l -ợng ít hơn và chất l-ợng xấu hơn); mặt khác, những t liệu sản xuất mà ngời nông dân đó bị tớc mất, đều tập trung vào trong tay một số ít ngời và biến

thành t bản, và sản phẩm làm ra thì từ nay đợc đa ra thị trờng.

Sự thay thế kinh tế tự nhiên bằng kinh tế hàng hoá và sự thay thế kinh tế hàng hoá bằng kinh tế t bản chủ nghĩa đã có ảnh hởng nh thế nào đối với thị tr-ờng Cho nên trong sơ đồ, sự tích luỹ đã không đợc tính đến Nhng trên thực tế, xã hội t bản chủ nghĩa không thể tồn tại đợc nếu không tích luỹ, vì sự cạnh tranh bắt buộc mỗi nhà t bản phải mở rộng sản xuất, nếu không sẽ bị phá sản

Nh vậy dĩ nhiên là chia sự phát triển của chủ nghĩa t bản thành sự phát triển về bề rộng và sự phát triển về bề sâu là không đúng: toàn bộ sự phát triển của chủ nghĩa t bản đều là do sự phân công; giữa hai mặt phát triển đó không có sự khác nhau về "căn bản" Còn về sự khác nhau thật sự giữa hai mặt phát triển đó thì chung quy chỉ là sự khác nhau giữa những giai đoạn khác nhau của tiến bộ kỹ thuật ở những giai đoạn phát triển thấp của kỹ thuật t bản chủ nghĩa, hợp tác giản đơn và công trờng thủ công thì cha có sản xuất t liệu sản xuất để chế tạo t liệu sản xuất: chỉ đến giai đoạn cao, giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, ngành sản xuất đó mới xuất hiện và phát triển rất mạnh

2 Kinh tế thị trường và những đặc trưng của kinh tế thị trường.

Về phương diện kinh tế cú thể khỏi quỏt rằng, lịch sử phỏt triển của sản xuất và đới sống xó hội của nhõn loại đó và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế thớch ứng với trỡnh độ phỏt triển của lực lượng sản xuất và phõn cụng lao động xó hụị, hai thời đại kinh tế khỏc hẳn nhau về chất Đú là: thời đại

6 Sđd trang 120

Trang 8

kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp và thời đại kinh tế hàng hoá mà giai đoạn cao của nó được gọi là kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng, là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản Đó là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại, nó đã từng tồn tại và phát triển qua những phương thức sản xuất khác nhau Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, cũng đã trải qua giai đoạn phát triển Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trường Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát triển kinh

tế thị trường tự do Đặc trưng quan trọng của giai đoạn này là sự phát triển kinh tế diễn ra theo tinh thần tự do Nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh tế Giai đoạn thứ ba là giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại Đặc trưng của giai đoạn này là Nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài Sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường thông qua việc xây dựng các hình thức sở hữu Nhà nước, các chương trình khuyến khích đầu tư và tiêu dùng, cùng với việc sử dụng các công cụ kinh tế như tài chính, tín dụng, tiền tệ, … để điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô Sự phối hợp giữa Chính phủ và thị trường trong một nền kinh tế hỗn hợp nhằm bảo đảm sự phát triển có hiệu quả của những nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh

Mặc dù sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá tự phát sẽ “hàng ngày, hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản” (nói theo cách nói của VI.Lê-nin) và

sự phát triển của kinh tế thị trường trong lịch sử diễn ra đồng thời với sự hình thành và phát triển cuả chủ nghĩa tư bản, nhưng tuyệt nhiên kinh tế thị trường không phải là một chế độ kinh tế - xã hội Kinh tế thị trường là hình thức và phương pháp vận hành kinh tế Các quy luật của thị trường chi phối việc phân

bổ các tài nguyên, quy định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai Đây là một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất Nó là phương thức sinh hoạt kinh tế của sự phát triển Sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường theo quy luật giá trị đòi hỏi các chủ thể sản xuất kinh doanh không ngừng đổi mới ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh Quá trình hình thành và phát triển

Trang 9

kinh tế thị trường là quá trình mở rộng phân công lao động xã hội phát triển khoa học công nghệ mới và ứng dụng chúng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh Sự phát triên của kinh tế thị trường gắn liền với quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại, của khoa học kỹ thuật, của lực lượng sản xuất Nhiều học giả đã khẳng định rằng: giai đoạn kinh tế hàng hoá giản đơn gắn liền với nền văn minh nông nghiệp và kỹ thuật thủ công; giai đoạn kinh tế thị trường tự do gằn liền với nền văn minh công nghiệp và kỹ thuật cơ khí; giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại gắn liền với nền văn minh trí tuệ và kỹ thuật điện tử tin học

Do kinh tế thị trường là sự phát triển cao của nền kinh tế hàng hoá và mọi yếu tố của sản xuất đều được thị trường hoá cho nên kinh tế thị trường có những đặc trưng chủ yếu sau:

Một là, tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao, các chủ thể kinh tế tự

bù đắp những chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh của mình, được tự do liên kết, tự do kinh doanh theo luật định Kinh tế hàng hoá không bao dung hành vi bao cấp nó đối lập với bao cấp và đồng nghĩa với tự chủ năng động

Hai là, hàng hoá trên thị trường rất phong phú, phản ánh trình độ cao của

năng suất lao động xã hội, trình độ phân công lao động xã hội, sự phát triển của sản xuất và thị trường

Ba là, giá cả được hình thành ngay trên thị trường, vừa chịu tác động của

quan hệ cạnh tranh, quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ

Bốn la, cạnh tranh là một tất yếu của nền kinh tế thị trường, có nhiều

hình thức cạnh tranh phong phú vì mục tiêu lợi nhuận

Năm là, kinh tế thị trường là kinh tế mở.

3 Những yêu cầu của nền kinh tế thị trường.

Nền kinh tế thị trường khác hẳn với nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp Nghiên cứu dưới góc độ quân điểm toàn diện chúng ta nhận thấy rằng một mặt kinh tế thị trường làm cho cạnh tranh kết thúc đẩy khoa học phát triển, tiếp thu được những công nghệ và bí quyết mới Nhưng mặt khác cũng làm cho hàng loạt các xí nghiệp, doanh nghiệp bị phá sản

Trang 10

Về mặt tích cực.

Kinh tế thị trường tạo ra được những con người năng động, quyết đoán

có được kinh nghiệm sau những lần cạnh tranh thắng lợi hay thất bại của mình nhằm

+ Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nâng cao năng suất lao động xã hội + Đẩy mạnh quá trình xã hội hoá lực lượng sản xuất

+ Đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất

+ Kích thích nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, hàng hoá dịch vụ dồi dào và luôn được cải tiến

+ Tăng tính năng động và điều chỉnh của nền kinh tế

+ Thúc đẩy tiêu dung đổi mới công nghệ

+ Nâng cao năng lực quản lý

Về mặt tiêu cực và hạn chế.

+ Phân hoá giầu nghèo- phân hoá giai cấp

+ Sự phát triển ồ ạt của các doanh nghiệp riêng lẻ tất yếu dẫn đến khủng hoảng chu kỳ, triệt tiêu lẫn nhau và thất nghiệp

+ Động cơ săn đuổi lợi nhuận tối đa luôn gắn liền với những thủ đoạn không lành mạnh: đầu cơ, buôn lậu và lối sống duy vật chất xem thường truyền thống và các chuẩn mực đạo đức xã hội

+ Giá cả hình thành tự do trên thị trường tự nó không phải lúc nào cũng phản ánh đúng quan hệ giá trị do: độc quyền của những doanh nghiệp lớn và nước lớn trong việc khống chế mức lưu thông và giá cả, đầu cơ nâng cao giá hoặc bán phá giá

+ Đạo đức và bản sắc dân tộc

4 Kinh tế thị trường định hướng XHCN và Sự cần thiết tồn tại kinh

tế thị trường định hướng XHCN

* Kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Định hướng XHCN trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường đã được báo cáo chính trị qua các kỳ Đại hội chỉ rõ với các nội dụng sau:

Một là, thực hiện nhất quán lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế

hàng hoá nhiều thành phần lấy việc giải phóng sức sản xuất động viên tối đa

Ngày đăng: 11/04/2018, 08:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w