1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ vận dụng quan điểm của hồ chí minh về kinh tế quân sự quân đội tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế trong thời kỳ mới

20 306 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 126 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chiến tranh, “mạnh được, yếu thua” là một quy luật đã được đúc rút từ hàng ngàn năm trong lịch sử nhân loại. Muốn có sức mạnh thì ngoài yếu tố binh khí, kĩ thuật, tư tưởng, con người... còn phải kể đến một nhân tố có vai trò hết sức quan trọng là hậu phương của cuộc chiến tranh. Sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến là một yếu tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh, vì hậu phương là nơi xây dựng và dự trữ tiềm lực của chiến tranh về cả mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá và khoa học kĩ thuật, là nơi chi viện nhân lực, vật lực, là chỗ dựa tinh thần cho tiền tuyến

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong chiến tranh, “mạnh được, yếu thua” là một quy luật đã được đúc rút

từ hàng ngàn năm trong lịch sử nhân loại Muốn có sức mạnh thì ngoài yếu tố binh khí, kĩ thuật, tư tưởng, con người còn phải kể đến một nhân tố có vai trò hết sức quan trọng là hậu phương của cuộc chiến tranh Sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến là một yếu tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh, vì hậu phương là nơi xây dựng và dự trữ tiềm lực của chiến tranh về

cả mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá và khoa học kĩ thuật, là nơi chi viện nhân lực, vật lực, là chỗ dựa tinh thần cho tiền tuyến Muốn đánh thắng địch ở tuyền tuyến thì phải có hậu phương vững mạnh về mọi mặt, trong đó đặc biệt phải kể đến là kinh tế hậu phương Việc xây dựng hậu phương về kinh tế là một vấn đề có tính chất chiến lược và quyết định sống còn đối với thắng lợi của toàn

bộ cuộc chiến Đó là qui luật của các loại chiến tranh từ xưa đến nay

Nắm vững qui luật đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã tranh thủ mọi thời gian, điều kiện vật chất để chuẩn bị hậu phương cho chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa đánh giặc, vừa xây dựng chế độ mới, xây dựng căn cứ địa hậu phương

là một chủ trương chiến lược đúng đắn, sáng tạo của Đảng, phản ánh một trong những đặc trưng của cách mạng Việt Nam Việc xây dựng, củng cố hậu phương trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ luôn luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng nhìn nhận một cách đúng đắn và đặt lên hàng đầu Đảng đã xây dựng, củng cố hậu phương đặc biệt là kinh tế hậu phương trong mọi tình huống của cuộc chiến, làm cho hậu phương có sức sống và phát triển trong hoàn cảnh gay go, khó khăn

Do vậy, việc nghiên cứu chủ trương xây dựng tiềm lực kinh tế nói chung

và kinh tế quân sự nói riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta để rút ra những bài học kinh nghiệm, phục vụ cho công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong bối cảnh quốc tế và trong nước

có nhiều thuận lợi cũng như khó khăn mới, sẽ góp phần đắc lực vào nhiệm vụ

Trang 2

bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) Với ý nghĩa

đó học viên đi sâu nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó rút ra những vấn đề cần quan tâm trong thực hiện nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội trong giai đoạn mới góp phần xây dựng tiềm lực kinh tế cho nền quốc phòng toàn dân (QPTD)

ở nước ta hiện nay.

NỘI DUNG

I Quan điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế quân sự

1 Mối quan hệ giữa kinh tế với chiến tranh và quốc phòng.

Hồ Chí Minh không có những tác phẩm có tính kinh điển về mối quan hệ kinh tế với chiến tranh và quốc phòng, chưa có điều kiện bàn một cách hệ thống, đầy đủ các vấn đề về lý luận, thực tiễn kết hợp kinh tế với quốc phòng Tuy nhiên, tư tưởng về mối quan hệ kinh tế với chiến tranh và quốc phòng được Người đề cập trong nhiều bài viết, bài nói, trong những thời gian, điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì hết sức sâu sắc và phong phú

Trên cơ sở tiếp thu tinh hoa tư tưởng kinh tế quân sự thế giới, trong đó đặc biệt là Kinh tế quân sự Mác - xít Kinh tế quân sự Mác - Lênin luận giải nguồn gốc, bản chất của chiến tranh; mối quan hệ biện chứng kinh tế và chiến tranh, kinh tế và quốc phòng; đề cập một cách toàn diện các vấn đề về kinh tế quân sự: tiềm lực kinh tế, tiềm lực kinh tế quân sự, chuẩn bị và động viên kinh tế cho chiến tranh, kết hợp kinh tế với quốc phòng, đấu tranh kinh tế trong chiến tranh, vai trò quân đội đối với phát triển kinh tế

Trên cơ sở lập trường duy vật biện chứng, Hồ Chí Minh đã sớm đánh giá đúng đắn bản chất, qui luật của chiến tranh, tác động của chiến tranh đến đời sống

xã hội Người cho rằng “Đế quốc chủ nghĩa là nguồn gốc của chiến tranh Đế quốc chủ nghĩa do Mỹ, Pháp, Anh cầm đầu một mặt thì đang thực hiện chiến tranh xâm lược ở Đông Nam Á Châu, một mặt đang chuẩn bị chiến tranh thế giới”1

Khác với C Mác, Ph Ăngghen và Lênin, Hồ Chí Minh không nghiên cứu chung nhất về chủ nghĩa đế quốc mà Người đi vào một tên thực dân đế quốc cụ

1 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.6, tr.123

Trang 3

thể, đó là thực dân Pháp Từ đó Người rút ra kết luận chung nhất Theo Người, cuộc chiến tranh do thực dân Pháp tiến hành ở Việt Nam là cuộc chiến tranh xâm lược Ngược lại cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược là cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền và thống nhất đất nước Để che dấu bản chất xâm lược, bóc lột thuộc địa, thực dân Pháp tuyên truyền rằng, việc hiện diện của Pháp ở Đông Dương là sự “khai hoá văn minh”,

sự bảo hộ của “Mẫu quốc”, thực hiện sứ mệnh bảo đảm công lý,… Nguyễn Ái Quốc Vạch trần bản chất cái gọi là “khai hoá văn minh của thực dân Pháp” chính

là nhằm mục tiêu là bóc lột nhân dân các nước thuộc địa Không chỉ bóc lột về kinh tế bằng nhiều hình thức, biện pháp như cướp bóc, thuế khoá, mua rẻ, bán đắt

mà còn bóc lột bằng cả “thuế máu” thông qua việc bắt lính ở các nước thuộc địa

đi đánh thuê cho thực dân Pháp; đầu độc bằng văn hoá, thuốc phiện, rượu Trong tác phẩm “Chế độ thực dân Pháp và xứ Đông Dương”(1928), Người viết: “Trong khi bóc lột người bản xứ, bọn đế quốc Pháp lại cho là đang đem lại sự giáo dục và dân chủ cho họ”2 Vạch trần mục đích thực sự của việc phát triển giao thông của thực dân Pháp ở các nước thuộc địa là nhằm mục đích quân sự, đàn áp, cơ động quân để đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân bản xứ Người viết: “Thực dân Pháp đánh giá công ơn khai hoá của họ ở Đông Dương bằng những kilômet đường cái mà họ đã đắp bằng tiền và công sức của người An Nam Song, người Pháp cũng chỉ đặt đường xe lửa ở những nơi họ cần dùng để chuyên chở hàng hoá hay quân đội để đàn áp dân chúng; và đường xá đắp không phải để cho người bản

xứ đi, vì những người này không có quyền tự do đi lại ngay cả khi đi từ tỉnh này sang tỉnh khác, mà là để phục vụ cho người Âu”3

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ kinh tế với chiến tranh, kinh tế với quốc phòng, vận dụng vào điều kiện cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng, kinh tế là điều kiện để xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, bảo đảm cho sự thắng lợi của công cuộc kháng chiến, kiến quốc Vai trò đó của kinh tế được thể hiện tập trung ở khả năng bảo

2 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.2, tr 343

3 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.1, tr 392

Trang 4

đảm cơ sở vật chất kỹ thuật, vũ khí trang bị, lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng cho lực lượng vũ trang Người nói: “Cung cấp đủ súng đạn, đủ cơm

áo cho bộ đội, thì bộ đội mới đánh thắng trận, điều đó rất rõ ràng dễ hiểu”4

Theo Hồ Chí Minh, một trong những nguyên nhân dân đến thắng lợi của nhân dân ta trong kháng chiến chống pháp “Là do nơi chúng ta động viên kinh tế được thành công, vì chúng ta có biết động viên kinh tế một cách khôn khéo, thực lực của chúng ta mới được đầy đủ và bền bỉ”5 Trong thư gửi nông dân thi đua canh tác, Người còn chỉ ra rằng: “Muốn đánh thắng thì quân ta phải ăn no Muốn ăn no thì phải có nhiều lương thực , thực túc thì binh cường!”6

Kinh tế giữ vai trò quyết định đối với quốc phòng song đến lượt nó, quốc phòng và chiến tranh lại có sự tác động trở lại đối với kinh tế Sự tác động trở lại đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một khi chiến tranh đã bùng nổ ở nơi nào, ảnh hưởng của nó sẽ lan tràn khắp các nơi khác Chẳng những thế, nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá của toàn xứ Chiến tranh không những chỉ phát động trong địa hạt quân sự ở tiền phương mà còn phát động cả trong địa hạt ở hậu phương”7

Như vậy, mặc dù Hồ Chí Minh không chỉ rõ bản chất của chiến tranh, mối quan hệ kinh tế với chiến tranh, nhưng qua phân tích của người có thể thấy rõ bản chất của chiến tranh, vai trò quyết định của kinh tế đối với chiến tranh

2 Kết hợp kinh tế với quốc phòng.

Tư tưởng về kết hợp kinh tế với quốc phòng được Hồ Chí Minh đề cập trong nhiều bài viết, bài nói, trong những thời gian, điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì hết sức sâu sắc và phong phú Có thể khái quát trên một số nội dung chủ yếu sau:

Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc

Sau cách mạng Tháng Tám, nước ta vừa phải đương đầu với nạn đói, vừa phải chống cả thù trong và giặc ngoài Nền độc lập và sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta lúc này như “nghìn cân treo sợi tóc” Vận dụng sáng tạo tư tưởng của

4 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.6, tr 295

5 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.4, tr 447

6 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.6, tr 178

7 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.4, tr 84

Trang 5

chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế với chiến tranh, kinh tế với quốc phòng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” Người viết: “Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc” Điều đó có nghĩa là vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới về mọi mặt từ kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng, vừa đánh vừa xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, vừa đánh địch ở tiền tuyến, vừa củng cố mở rộng hậu phương, vừa đánh vừa bồi dưỡng sức dân Hồ Chí Minh cho rằng, giữa kháng chiến và kiến quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau: “Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc Kháng chiến có thắng lợi thì kiến quốc mới thành công Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mới mau thắng lợi”8; “Một mặt phá hoại; Một mặt kiến thiết; Phá hoại để ngăn địch; Kiến thiết để đánh địch”9 Đây là luận điểm cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong điều kiện tiến hành chiến tranh giải phóng Tư tưởng đó đã xuyên suốt quá trình tiến hành chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta

Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc được Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển trong điều kiện lịch sử mới Ngay khi chiến tranh kết thúc ở miền Bắc (1954), Người sớm đưa ra chủ trương “Chúng ta phải ra sức khôi phục kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, vận tải để nâng cao dần đời sống của nhân dân” Cùng với chủ trương khôi phục kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sớm đưa ra chủ trương củng cố quốc phòng: “Chúng ta phải ra sức bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình, cho nên chúng ta phải củng cố quốc phòng”10

Đặc biệt là, khi miền Bắc được giải phóng tiến hành xây dựng chủ nghĩa

xã hội, thì ở miền Nam phải sống trong sự thống trị của chính quyền tay sai và

đế quốc Mỹ xâm lược Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục kế thừa và phát triển tư tưởng “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” trong cuộc kháng chiến

chống Pháp trước đây, đề ra đường lối đúng đắn tiến hành đồng thời hai nhiệm

8 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.4, tr 99

9 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.4, tr 432

10 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.7, tr 429

Trang 6

vụ chiến lược: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà

Từ tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân Tình hình đó đòi hỏi có đường lối, chủ trương, biện pháp chỉ đạo phát triển và bảo vệ nền kinh tế trong điều kiện mới Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng chỉ đạo sáng tạo, trong đó nổi lên là chủ trương:

vừa sản xuất vừa chiến đấu Người nói: “Nắm vững tay cày tay súng, đẩy mạnh

quốc phòng, trật tự trị an, củng cố tốt dân quân tự vệ, luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu”11; “Chúng ta vừa chiến đấu vừa sản xuất…Kế hoạch phải ăn khớp với tình hình chiến tranh bây giờ”12; Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, không quân, hải quân Mỹ tập trung đánh phá các cơ sở kinh tế, hệ thông giao thông, thông tin liên lạc của ta Để hạn chế thiệt hại, nâng cao sức sống của nền kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo làm tốt công tác sơ tán, phân tán các cơ sở sản xuất, kinh tế về những địa điểm an toàn để duy trì sản xuất Người nói: “Việc sơ tán là một bộ phận cần thiết trong việc phòng không”13; “Những nơi có lệnh phân tán, phải tích cực phân tán những xí nghiệp

và kho tàng Các thành phố, thị xã, thị trấn phải sơ tán người già, trẻ em và những cơ quan không trực tiếp chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu đi nơi khác để tránh máy bay địch bắn phá”14

Tóm lại, đường lối “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” là nội dung cốt lõi, bao trùm nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp kinh tế với quốc phòng, là

sự vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ kinh tế với chiến tranh, kinh tế với quốc phòng trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam tiến hành chiến tranh nhân dân giải phóng

3 Xây dựng căn cứ địa và hậu phương

Thấm nhuần tư tưởng của V.I Lênin về vai trò to lớn của hậu phương trong chiến tranh và kế thừa những kinh nghiệm quí báu trong lịch sử giữ nước

11 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.11, tr 396

12 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.12, tr 20

13 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.12, tr.105

14 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.12, tr.18

Trang 7

của dân tộc ta, Hồ Chí Minh sớm nhận ra ý nghĩa quan trọng của căn cứ địa và hậu phương đối với hoạt động của lực lượng vũ trang, quân đội ngoài tiền tuyến Theo Hồ Chí Minh, căn cứ địa và hậu phương là “nơi đứng chân làm cơ sở” cho lực lượng vũ trang hoạt động, nơi “đội du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập”15 Người cho rằng, tiền tuyến và hậu phương là những lĩnh vực, địa bàn hoạt động hoàn toàn khác nhau, mỗi lĩnh vực có những đặc điểm riêng, tuân theo những quy luật đặc thù nhất định, song giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, “Hai bên công việc khác nhau, nhưng thật ra là hợp tác”16, phải “hợp tác” chặt chẽ với nhau “thi đua” lẫn nhau nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp, đủ sức để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược Người đã chỉ ra rằng: “Muốn thắng quân địch, chỉ trông vào sức chiến đấu ở tiền phương thì chưa đủ , muốn kháng chiến lâu dài để tới thắng lợi cuối cùng, cần phải động viên hết thảy mọi lực lượng mới mong đi tới thắng lợi cuối cùng”17

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng xác định nhiệm vụ của đồng bào ở hậu phương trong cuộc kháng chiến: “Chiến sĩ đánh trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương nên làm việc gì ? …Làm ra gạo thóc cho chiến sĩ ăn, làm ra vải vóc cho chiến sĩ mặc Đều nhờ nơi đồng bào ở hậu phương Muốn giúp cho chiến sĩ ăn mặc đầy đủ, thì phải ra sức tăng gia sản xuất, nuôi nhiều gà vịt, lợn, bò, giồng nhiều lúa, khoai, ngô, đậu Hậu phương thắng lợi, thì chắc tiền phương thắng lợi”18; “Chiến sĩ hy sinh xương máu để giữ nước Bụng có no, thân có ấm mới đánh được giặc Làm ra thóc gạo cho chiến sĩ ăn, làm ra vải cho chiến sĩ mặc đều nhờ nơi đồng bào ở hậu phương ”19

Khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cùng với

sự chỉ đạo, động viên toàn dân phát triển sản xuất đáp ứng nhu cầu dân sinh và cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng hệ thống căn cứ địa và hậu phương cho cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước Theo Người căn

15 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.3, tr.504

16 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.4, tr.114

17 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.4, tr.84

18 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.4, tr.486

19 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.4, tr.485

Trang 8

cứ địa trong cuộc kháng chiến có các cấp độ khác nhau: căn cứ địa của cả nước, căn cứ địa từng vùng, từng hướng chiến lược, từng khu, liên khu, chiến khu; căn

cứ địa của liên tỉnh, thành phố, huyện, liên huyện, xã,…Người chỉ đạo mỗi chiến khu được chọn những vùng có thế chiến lược lợi hại, tiến có thể đánh, lui

có thể giữ để xây dựng thành căn cứ địa làm chỗ đứng chân cho các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, xây dựng lực lượng chính trị vũ trang và giải quyết vấn đề hậu cần, nuôi dưỡng và tiếp tế cho lực lượng vũ trang

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định miền Bắc là hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam, miền Bắc vững mạnh là cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà Quân và dân miền Bắc đã ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội ngay trong điều kiện cả nước có chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hoá, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đánh bại chiến tranh phá hoại của địch, làm cho miền Bắc ngày càng vững mạnh, chi viện sức người, sức của ngày càng nhiều cho miền Nam

Phát triển kinh tế đối ngoại nhằm mục tiêu phát triển kinh tế và tăng cường sức mạnh quốc phòng

Vấn đề thực hiện đan cài, đan xen lợi ích và tận dụng quan hệ kinh tế đối ngoại để phát triển kinh tế, tăng cường tiềm lực kinh tế quân sự, qua đó tăng cường sức mạnh quốc phòng của đất nước, đã được Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu chủ trương hợp tác kinh tế đối ngoại nhằm phá vỡ thế biệt lập ở Việt Nam Theo Người, mở cửa kinh tế đối với nước ta vừa là nhu cầu, vừa là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế Nước ta còn nghèo, sản xuất chưa phát triển, cơ

sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, trong khi đó nhiều tiềm năng chưa được khai thác, nhiều tiềm lực chưa được phát huy Chỉ có thông qua hợp tác và phân công lao động quốc tế, gắn kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, chúng ta mới nhanh chóng khắc phục được những mặt non yếu của nền kinh tế và khai thác tốt hơn những tiềm năng to lớn sẵn có của nước ta Người chủ trương “chuộc lại dần dần” những cơ sở người Pháp đã bỏ vốn ra gây dựng ở nước ta từ trước đến

Trang 9

giờ, “nếu xét ra cần thiết cho nền kinh tế quốc gia Việt Nam”; “hoan nghênh những người Pháp đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác”, “mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết nước nhà”20 Như vậy, hợp tác kinh tế quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát huy các nguồn lực

và lợi thế bên trong, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để kiến thiết nước nhà

Trong thư gửi Liên hiệp quốc tháng 12-1946, Người tuyên bố với nhân dân và chính phủ các nước chính sách mở cửa, hợp tác vì hoà bình, phát triển của Việt Nam: “Nước Việt Nam giành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kinh tế của mình Sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán

và quá cảnh quốc tế ”21 Như vậy, chính Người đã khẳng định một cách rõ ràng chủ trương thu hút đầu tư, hợp tác kinh tế với bên ngoài ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng

Thực hiện thêm bạn bớt thù, Hồ Chủ tịch không chỉ coi trọng mở rộng hợp tác kinh tế với các nước dân chủ, các nước xã hội chủ nghĩa, mà Người còn chú trọng phát triển quan hệ kinh tế với cả những nước hiện đang còn là kẻ thù của dân tộc Để thực hiện quan điểm trên đây, người đòi hỏi phải phân biệt rõ ràng những tên thực dân tàn ác với nhân dân Pháp yêu chuộng hoà bình; qua đó

có chính sách thích hợp phân hoá triệt để kẻ thù, tranh thủ tình cảm của nhân dân và các nhà đầu tư Pháp Quan điểm này cho thấy tính nguyên tắc trong việc tìm cách để mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế ở Hồ Chí Minh

Đường lối trên đây cũng được thể hiện trong quan hệ với Mỹ Theo Hồ Chí Minh, Mỹ là một nước lớn, kỹ thuật của họ cao, kỹ thuật của Việt Nam thấp, họ

có thể giúp ta Ngược lại, chúng ta cũng có những cái có thể giúp người Mỹ Trong các cuộc tiếp xúc với người Mỹ, Hồ Chủ tịch luôn bày tỏ mong muốn tăng cường quan hệ với Mỹ, trong đó nhấn mạnh quan hệ hợp tác về kinh tế

20 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.4, tr.74

21 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.4, tr.470

Trang 10

Tuy nhiên, Người tuyệt nhiên không chủ trương mở cửa kinh tế với bên ngoài bằng mọi giá, mà phải trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng, hai bên cùng có lợi Theo Người, bất kỳ nước nào thật thà muốn đưa tư bản đến kinh doanh ở Việt Nam với mục đích làm lợi cả hai bên thì sẽ được Việt Nam hoan nghênh Ngược lại, bất kỳ nước nào mong muốn đưa tư bản đến ràng buộc, chế áp Việt Nam thì Việt Nam sẽ kiên quyết cự tuyệt Người khẳng định: “Trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chúng tôi sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao và thương mại với tất cả các nước”22 Người cho rằng đầu tư nước ngoài là cần thiết, nhưng phải được đặt dưới sự tồn vong của quốc gia, dân tộc

Đó là hai mặt của vấn đề không thể tách rời, là điểm xuất phát và cũng là mục tiêu cơ bản trong mọi hoạt động quốc tế Theo Người, độc lập chủ quyền là tiền

đề chính trị, là cơ sở pháp lý để thực hiện nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi

4 Vai trò của quân đội tham gia lao động sản xuất và làm kinh tế.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, và trong điều kiện tiến hành cuộc kháng chiến kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh đã sớm có chủ trương sử dụng quân đội vào tăng gia sản xuất, xây dựng kinh tế Người nhắc nhở: “bộ đội cũng phải tăng gia sản xuất”23 Tuy nhiên, trong điều kiện kháng chiến, Người đã chỉ rõ bộ phận, lực lượng có nhiệm vụ này chứ không phải tất cả bộ đội: “Cố nhiên những bộ đội ở trước mặt trận, phải luôn lo việc đánh giặc, không có thì giờ đâu mà làm việc khác Song bộ đội ở hậu phương thì cần làm, và quyết làm cho kỳ được”24 Theo Hồ Chí Minh đó là việc làm thiết thực để khắc phục sự bao vây, phong toả của kẻ thù đối với nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ; đồng thời làm giảm bớt phần nào gánh nặng của nền kinh tế trong việc đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi của cuộc kháng chiến, thông qua việc thực hành tự cấp, tự túc đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi cơ quan, đơn vị trong quân đội Trong Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất (1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Các cơ quan trong quân đội phải cố sức trồng trọt chăn nuôi để tự túc phần nào, để giảm bớt gánh nặng của nhân dân Tuy công

22 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.8, tr.160

23 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.5, tr.103

24 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.5, tr.103

Ngày đăng: 11/04/2018, 08:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w