Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan, là một xu hướng không thể lẫn tránh đối với mỗi quốc gia trong thời đại ngày nay. Hội nhập kinh tế đang đưa lại cho Việt Nam nhiều cơ hội cũng như không ít thách thức và khó khăn, quá trình hội nhập không những tác động đến quá trình phát triển nguồn nhân lực nước ta cho phù hợp mà nó cũng tác động đến việc làm và sự di chuyển lao động quốc tế.
Trang 1Từ thực tế nước ta là nước nông nghiệp với gần 70% dân số đang làmviệc trong nông nghiệp, song diện tích đất canh tác nông nghiệp ngày càng bịthu hẹp do ảnh hưởng của qua trình đô thị hoá cũng như việc dân số tăng nhanh.
Ở đồng bằng Bắc bộ bình quân chỉ 360m2/ người, với diện tích đó, một nông dânchỉ làm hết 1/3 số ngày công trong năm dẫn đến lao động trong nước dư thừakhá nhiều Chúng ta có thể rút 10 triệu lao động trong nông nghiệp mà khôngảnh hưởng gì tới sản xuất của khu vực này Số lao động thất nghiệp ở thành thị
là trên 7%/năm Hàng năm nước ta có hơn 1 triệu lao động đến tuổi lao động.Chính vì vậy Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến vấn đề giải quyết việclàm cho người lao động Chúng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằmtạo việc làm như: phát triển nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp, dich vụ, xuấtkhẩu lao động… Xuất khẩu lao động hiện nay là một vấn đề quan trọng củanước ta Xuất khẩu lao động là một nhiệm vụ chính trị, kinh tế có ý nghĩa chiếnlược, là nhu cầu khách quan của nền kinh tế, là xu thế tất yếu trong quá trìnhtoàn cầu hoá, cũng là vấn đề bức xúc trước mắt về lao động việc làm Xuất khẩulao động góp phần làm giàu cho đất nước, cho người lao động Trong nhữngnăm qua chúng ta đã đạt được nhiều kết quả đỏng khích lệ Tuy nhiên bên cạnh
đó vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết như : Giải quyết việc làm chongười lao động khi về nước, tình trạng vi phạm hợp đồng xuất khẩu, tình trạngngười lao động bỏ trốn ra ngoài làm…
Thế kỉ XXI là thế kỉ phát triển nh vũ bão của nền kinh tế tri thức, của quátrình hội nhập, quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, quá trình toàn cầu hoá cạnhtranh gay gắt Vấn đề xuất khẩu lao động ở Việt nam đang đứng trước nhiều cơhội và thách thức trong việc giải quyết việc làm cho người lao động Xuất phát
từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề: “Xuất khẩu lao động-giải pháp tạo việc làm cho người lao động trong quá trình hội nhập” làm chủ đề viết thu hoạch
môn học Kinh tế nguồn nhân lực
Trang 2NỘI DUNG
I XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1 Khái quát về xuất khẩu lao động.
Các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển lẫn các nước kém pháttriển đều tham gia hoạt động xuất khẩu lao động Các nước phát triển xuất khẩulao động co trình độ, tay nghề cao Các nước kém phát triển xuất khẩu lao động
dư thừa, trình độ tay nghề thấp nhằm giải quyết việc làm, cải thiện điều kiệnsống cho gia đình người lao động Xuất khẩu lao động đóng vai trò quan trọngđối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Xuất khẩu lao động là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và
là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, mà hàng hoá đem xuất khẩu là sức lao động của con người, còn khách mua là chủ thể người nước ngoài Nói cách
khác, xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ cung ứng
lao động cho nước ngoài, mà đối tượng là con người.
Hoạt động xuất khẩu lao động ở nước ta chủ yếu diễn ra theo hai hìnhthức sau:
a) Đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, bao gồm: Đi theo
Hiệp định chính phủ kí kết giữa hai nhà nước Hợp tác lao động và chuyên gia;thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, khoán xây dựng công trình, liêndoanh, liên kết chia sản phẩm ở nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài; thông quacác doanh nghiệp Việt Nam làm dịch vụ cung ứng lao động; người lao động trựctiếp kí kết hợp đồng lao động với cá nhân, tổ chức ở nước ngoài
b) Xuất khẩu lao động tại chỗ: Là hình thức các tổ chức kinh tế của Việt
Nam cung ứng lao động cho các tổ chức kinh tế nước ngoài ở Việt Nam baogồm: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; khu chế xuất, khu côngnghiệp, khu công nghệ cao; tổ chức, cơ quan ngoại giao, văn phòng đại diện củanước ngoài đặt tại Việt Nam
Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến các hoạt động dịch vụ liênquan đến việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
2 Những đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động.
2.1 Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế.
Ở nhiều nước trên thế giới, xuất khẩu lao động đã là một trong những giảipháp quan trọng thu hút lực lượng lao động đang tăng lên của nước họ và thungoại tệ bằng hình thức chuyển tiền về nước của người lao động và các lợi íchkhác Những lợi ích này buộc các nước xuất khẩu phải chiếm lĩnh ở mức caonhất thị trường lao động ở nước ngoài, vmà việc chiếm lĩnh được hay không lạidựa vào quan hệ cung cầu sức lao động - nó chịu sự điều tiết, sự tác động của
Trang 3các quy luật của kinh tế thị trường Bên cung phải tính toán mọi hoạt động củamình làm sao để bù đắp được chi phí và có phần lãi, vì vậy cần phải có cơ chếthích hợp để tăng tối đa về cung lao động Bên cầu cũng phải tính toán kỹ lưỡnghiệu quả của việc nhập khẩu lao động.
2.2 Xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội
Xuất khẩu lao động thực chất là xuất khẩu sức lao động không tách rời khỏingười lao động Do vậy mọi chính sách, pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu laođộng phải kết hợp với chính sách xã hội: phải đảm bảo làm sao để người lao động
ở nước ngoài được lao động như cam kết trong hợp đồng lao động, cũng như đảmbảo các hoạt động công đoàn… Hơn nữa, người lao động xuất khẩu cũng chỉ cothời hạn, do vậy, cần phải có những chế độ tiếp nhận và sử dụng người lao độngsau khi hoàn thành hợp đồng lao động ở nước ngoài và trở về nước
2.3 Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của nhà nước và sự chủ động, tự chịu trách nhiệm của tổ chức xuất khẩu lao động đưa người lao đông đi làm việc ở nước ngoài.
Xuất khẩu lao động thực hiện trên cơ sở hiệp định, thoả thuận nguyên tắccủa các chính phủ và trên cơ sở hợp đồng cung ứng lao động
Nếu như trước đây (giai đoạn 1980-1990), Việt Nam tham gia thị trườnglao động quốc tế, đã xuất khẩu lao động của mình qua các hiệp định songphương, trong đó quy định khá chi tiết về điều kiện ăn ở đi lại, lương, bảo vệngười lao động ở nước ngoài Nghĩa là, về cơ bản Nhà nước vừa quản lý Nhànước về hợp tác lao động, vừa quản lý sự nghiệp hợp tác lao động với nướcngoài, Nhà nước làm thay các tổ chức kinh tế cụ thể Ngày nay, trong cơ chếkinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thì hầu như toàn bộ hoạt động xuất khẩulao động đều do các tổ chức xuất khẩu lao động thực hiện trên cơ sở hợp đồng
đã ký Đồng thời các tổ chức xuất khẩu lao động cũng chịu hoàn toàn tráchnhiệm toàn bộ khâu tổ chức đưa đi và quản lý người lao động tự chịu trách hiệm
về hiệu quả kinh tế trong hoạt động xuất khẩu của mình Và như vậy, các hiệpđịnh, các thoả thuận song phương chỉ có tính chất nguyên tắc, thể hiện vai trò vàtrách nhiệm của nhà nước ở tầm vĩ mô
2.4 Xuất khẩu lao động diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Tính gay gắt trong cạnh tranh của xuất khẩu lao động xuất phát từ hainguyên nhân chủ yếu:
a) Xuất khẩu lao động mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho các nước đang
có khó khăn về giải quyết việc làm Do vậy, đã buộc các nước xuất khẩu laođộng phải cố gắng tối đa để chiếm lĩnh thị trường ngoài nước Nghĩa là, họ phải
Trang 4đầu tư nhiều cho chương trình marketing, cho chương trình đào tạo, tập huấnnhằm tăng giá trị sử dụng của sức lao động.
b) Xuất khẩu lao động đang diễn ra trong môi trường suy giảm kinh tếtrong khu vực Nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động nước ngoài nhưHàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan… cũng đang phải đối đầu với tỉ lệ thất nghiệpngày càng gia tăng Điều này hạn chế rất lớn tới việc tiếp nhận lao động nướcngoài trong thời gian 5-10 năm đầu thế kỉ XXI
2.5 Phải đảm bảo lợi ích của ba bên trong quan hệ xuất khẩu lao động.
Trong lĩnh vực xuất khẩu lao động lợi ích kinh tế của nhà nước là khoảnngoại tệ giữa người lao động gửi về, các khoản thuế Lợi ích của các tổ chứcxuất khẩu lao động là các khoản thu được chủ yếu là các loại phí giải quyết việclàm ngoài nước Còn lợi ích người lao động là khoản thu nhập thường cao hơnnhiều so với lao động ở trong nước Chính vì vậy chạy theo lợi ích mà các tổchức xuất khẩu lao động đi làm việc ở nước ngoài rất dễ vi phạm quy định củaNhà nước, nhất là việc thu các loại phí dịch vụ từ chỗ các quyền lợi của ngườilao động bị vi phạm sẽ khiến cho việc làm ở nước ngoài không thật hấp dẫnngười lao động
Ngược lại, cũng vì chạy theo thu nhập cao mà người lao động rất dễ viphạm hợp đồng đã ký, như hiện tượng “chân ngoài dài hơn chân trong”, hoặc là
bỏ hợp đồng ra làm bên ngoài… Do vậy, các chính sách, chế độ phải tính toánsao cho đảm bảo được sụ hài hoà lợi ích của các bên, trong đó phải thật chú ýđến lợi ích trực tiếp của người lao động
2.6 Xuất khẩu lao động là hoạt động đầy biến động.
Hoạt động xuất khẩu lao động phụ thuộc rất nhiều vào nước có nhu cầunhập khẩu lao động, do vậy cần phải có sự phân tích toàn diện các dự án ở nướcngoài đang và sẽ được thực hiện để xây dựng chính sách đào tạo và chương trìnhđào tạo giáo dục, định hướng phù hợp và linh hoạt Chỉ có những nước nàochuẩn bị được đội ngũ công nhân với tay nghề thích hợp mới có điều kiện thuậnlợi hơn trong việc chiếm lĩnh thị phần ở nước ngoài Và cũng chỉ có nước nàonhìn xa, trông rộng, phân tích đánh giá và dự đoán đúng tình hình mới không bịđộng trước sự biến đổi của tình hình, đưa ra chính sách đón đầu trong hoạt độngxuất khẩu lao động
3 Những nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu lao động.
Khi bàn về thị trường lao động quốc tế, đại diện 11 nước ChâuÁ tham dựHội thảo tổ chức tại Nhật Bản đầu năm 2004 cho rằng: thị trường lao động Quốc
tế đang tiếp tục mở rộng Tuy nhiên xu thế phát triển đang có chiều hướng thayđổi Một số nước vẫn là nước xuất khẩu lao động như Philippin, Inđônêxia,Việt
Trang 5Nam… Một số nước vừa xuất khẩu vùa nhập khẩu lao động như Malaysia,Trung Quốc, Thái Lan… và một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc… vẫn cầnnhập khẩu lao động.
Hiện nay, Trung Quốc đã đưa được hơn 300 nghìn lao động phổ thông đilàm việc ở nước ngoài và có hơn 220 nghìn chuyên gia quốc tế tới làm việc tạinước này Đài Loan tiếp nhận 400 nghìn lao động nước ngoài tới làm việc trong
đó có 300 nghìn lao động phổ thông Malaysia tiếp nhận 900 nghìn lao độngnước ngoài, Hàn Quốc tiếp nhận 220 nghìn lao động; Có hơn 400 nghìn laođộng Inđônêxia đi làm lao động ở nước ngoài, chủ yếu là lao động phổ thông và
có tới hơn 23 nghìn chuyên gia nước ngoài tới Inđônêxia làm việc; Philippin có
700 nghìn lao động làm việc ở nước ngoài; còn ở Việt Nam, chỉ tính từ năm
2001 đến tháng 12 năm 2003 ta cũng đã đưa đi được 157 nghìn lao động ra làmviệc ở nước ngoài, cụ thể: năm 2001: 36000 người; năm 2002: 46000 người;năm 2003: 75000 người
Hầu hết các nước đều thiếu lao động có trình độ và đang tìm cách cảithiện chính sách nhằm thu hút lao động có tay nghề cao Việc tiếp nhận lao độngphổ thông tiếp tục có nhu cầu lớn Tuy nhiên, việc sử dụng lao động phổ thôngtrên thị trường quốc tế có nhiều hạn chế và kém hiệu quả: do thu nhập thấp, khảnăng tiếp nhận công nghệ mới còn rất hạn chế, điều kiện làm việc kém, bị đối xửthiếu bình đẳng, khả năng cạnh tranh thấp Rõ ràng, xuất khẩu lao động là mộthoạt động kinh tế đối ngoại, có nét đặc thù và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốkhác nhau, bị tác động bởi các nền kinh tế và các chính sách phát triển của cácnước, đồng thời nó cũng tác động trở lại đối với nền kinh tế và xã hội của cảnước nhập và xuất khẩu lao động Qua nghiên cứu và tổng kết ta thấy quá trìnhxuất khẩu lao động của mỗi quốc gia trong điều kiện nền kinh tế thị trường chịuảnh hưởng của một số yếu tố cơ bản sau đây:
3.1 Yếu tố cạnh tranh
Xuất khẩu lao động được thực hiện trong sự cạnh tranh gay gắt giữa cácquốc gia xuất khẩu lao động Ngày càng có nhiều nước tham gia vào lĩnh vựcxuất khẩu lao động, trong hiện thời và trước mắt các nước nhập khẩu lao độngchỉ muốn tiếp nhận lao động có kỹ năng cao, thích ứng với công nghệ mới, đặcbiệt là công nghệ thông tin, siết chặt chính sách nhập cư và có xu hướng quản lýlao động nhập cư thông qua các hợp đồng lao động tạm thời và các chính sáchquản lý lao động nhập cư Đồng thời, các nước cũng thông qua tổ chức lao độngquốc tế (ILO) và tổ chức di dân quốc tế (IOM) để giải quyết vấn đề di dân vànhập cư lao động một cách toàn diện, phục vụ lợi ích của các quốc gia, ngườilao động và toàn xã hội
Trang 63.2 Quan hệ cung - cầu về lao động trên thị trường thế giới
Các nước kinh tế phát triển có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng tốc độ tăngdân số thấp, dẫn đến thiếu hụt nguồn nhân lực, có nhu cầu về nhập khẩu laođộng, trong khi các nước chậm phát triển hoặc đang phát triển cần đầu tư mởrộng sản xuất, tạo việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp, bổ sung nguồn thu ngânsách và nguồn thu nhập cho người lao động, rất cần đưa lao động ra nước ngoàilàm việc Cung cầu lao động trên thị trường lao động phụ thuộc rất nhiều vào sựphát triển và các chính sách kinh tế của các nước như: thu nhập, đầu tư, thuế, lãisuất… của nền kinh tế khu vực và thế giới Khi cung cầu lao động mất cân đốinghiêm trọng do nhu cầu tìm việc làm trong nước quá lớn nhưng khả năng xâmnhập, khai thác thị trường lao động quốc tế còn hạn chế, cạnh tranh gay gắt sẽđẩy chi phí khai thác thị trường lên quá cao, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợingười lao động
sự của cả nước xuất cư và nhập cư Hệ thống pháp luật và chính sách hỗ trợ choxuất khẩu lao động đòi hỏi bổ sung và hoàn thiện
3.4 Chất lượng nguồn lao động
Các nước nhập khẩu lao động truyền thống đang đổi mới đầu tư và hiệnđại hoá công nghệ sản xuất, chuyển dịch đầu tư tư bản sang các nước có giá trịnhân công, dịch vụ thấp, có nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài cú trình độchuyên môn, kỹ thuật cao, tăng dần tỷ trọng lao động chất xám cao trong tổng sốlao động nhập cư
Theo thống kê của ILO, tính đến năm 2001, có khoảng 60 nước di cư và
đi lao động nước ngoài, với tống số gần 120 triệu người, trong đó các nướcChâu Á chiếm 50% Hầu hết các nước trên thế giới đều có lao động nước ngoàilàm việc, ILO ước tính, khoảng 200 nước trên thế giới tiếp nhận lao động nướcngoài, nhưng chủ yếu tập trung ở các nước phát triển, khoảng 1/3 ở Châu Âu,20% ở Bắc Mỹ, 15% ở Châu Phi, 12% ở các nước A rập, tất cả các khu vựcĐông Bắc Á, Đông Nam Á, Trung và Nam Mỹ chiếm chưa đến 10%
Trang 7Với tính chất phức tạp, nhạy cảm và tính chất quốc tế cao của xuất khẩulao động, sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động với tư cách hỗ trợ, quản lý,giám sát và định hướng cho công tác xuất khẩu lao động là cần thiết Ứng vớimỗi giai đoạn phát triển kinh tế của mỗi nước, phải có một phương thức tổ chức
và quản lý xuất khẩu lao động riêng, trong đó quản lý tài chính xuất khẩu laođộng là một khâu quan trọng để đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội
4 Những thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam
4.1.Thị trường Trung Đông
Thị trường lao động ở Trung Đông có một số nét đáng chú ý:
Nhu cầu lao động ở Trung Đông sẽ ổn định ở mức cao trong nhưng nămtới, mặc dù tình hình chính trị còn tiềm ẩn dấu hiệu chưa ổn định Nhu cầu ở đâyrất đa dạng, gồm nhiều ngành nghề: xây dựng, công nghiệp, dịch vụ… và đòihỏi phải có trình độ lành nghề nhất định
Trung Đông là thị trường nhận lao động của nhiều nước Đông Nam Á vàNam Á Sự cạnh tranh về giá nhân công sẽ trở nên gay gắt hơn, khi mà các nướcxuất khẩu lao động trong khu vực Châu Á đều tập trung hướng về Trung Đông
Mức lương của lao động nước ngoài ở Trung Đông không cao như khuvực Đông Á, song nó vẫn là thị trường tiềm năng chấp nhận lượng lao động lớncủa các nước xuất khẩu lao động đang hướng tới
Từ năm 1980, nước ta đã đưa lao động và chuyên gia sang Irắc, năm
1990, đưa lao động sang Libia theo thảo thuận song phương của Chính phủ Từnăm 1992 trở lại đây, theo cơ chế mới các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đãđưa lao động sang các nước: Cô oét, Li băng và các tiểu vương quốc A rậpthống nhất theo các hình thức: cung ứng trực tiếp cho các công ty địa phương,cung ứng lao động cho các đối tác nước thứ ba, trúng thầu, nhận thầu công trìnhxây dựng Hiện có khoảng 4 nghìn lao động đang làm việc tại các nước
4.2 Thị trường Đài Loan
Đài Loan đã thực hiện nhập khẩu lao động từ năm 1989, hiện tại, lao độngnước ngoài có mặt tại Đài Loan như Thái Lan khoảng 14 vạn, Philippin khoảng11,3 vạn người, Inđônêxia khoảng 4,5 vạn người Trong tổng số lao động nướcngoài, có khoảng 80% làm việc trong các ngành xây dựng và trong nhà máy, sốcòn lại làm trong các ngành phục vụ cá nhân, phục vụ xã hội
Từ năm 1994, Việt Nam đã quan tâm đến xuất khẩu lao động sang ĐàiLoan Qua một thời gian dài bàn bạc, khơi thông ngày 6/5/1999, một thoả thuận
về nhận và tiếp nhận lao động Việt Nam sang Đài Loan làm việc đã được ký kếtgiữa văn phòng kinh tế - văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc và văn phòng kinh tế -văn hoá Đài Bắc tại Hà Nội Với Việt Nam là thị trường tiếp nhận nhiều lao
Trang 8động trong đó một số lớn là lao động giúp việc gia đình và khán hộ công (chămsóc người già, bệnh nhân…) bước đầu đã giới thiệu 15 doanh nghiệp cung ứnglao động sang Đài Loan làm việc Đến tháng 6/2000 ta đã đưa được trên 2600lao động sang làm việc tại thị trường này, trong đó, có 1115 lao động nữ laođộng giúp việc gia đình và khán hộ công.
Từ khi mở thị trường xuất khẩu lao động sang Đài loan, vào cuối năm
1999 đến nay, Việt Nam đã đưa hàng chục ngàn lao động sang nước này làmviệc, năm sau bao giờ cũng cao hơn năm trước Tuy nhiên, ĐàiLloan là thịtrường có những đặc thù riêng, đặc biệt là tình trạng lao động các nước bỏ trốn
đã đến mức báo động Theo Uỷ ban lao động Đài Loan, trong số trên 12 nghìnlao động nước ngoài bỏ trốn chưa bị bắt, Việt Nam đứng đầu trong năm nước có
số lao động bỏ trốn trên 5000 người, chỉ tính riêng tháng 3/2004, có tới 651 laođộng Việt Nam trong tổng số 1067 lao động nước ngoài bỏ trốn, lĩnh vực có tỷ
lệ lao động bỏ trốn cao là thuyền viên đánh cá, tiếp theo là giúp việc nhà vàkhán hộ công Với tình trạng lao động Việt Nam bỏ trốn như vậy nên một sốchuyên gia xuất khẩu lao động đã dự báo về nguy cơ mất thị trường Đài Loan
4.3 Thị trường Malaixia
Đây là thị trường mới đưa vào khai thác năm 2002 nhưng đầy tiềm năng.Mỗi năm, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt nam đưa hàng chục ngànlao động Việt Nam sang Malaixia làm việc Hiệu quả kinh tế thể hiện rõ bằng sốtiền lao động gửi về nước hàng năm
Đầu năm 2003, Bộ lao động thương binh xã hội vừa cấp phép cho 25doanh nghiệp xuất khẩu lao động sang Malaixia, nâng tổng số công ty đượcphép đưa lao động sang thị trường này lên 71 Cho đến nay sau 2 năm đưa laođộng Việt Nam sang làm việc tại Malaixia đã có hơn 70000 người lao động sangthị trường này làm việc Thị trường Malaixia là thị trường khá dễ tính và chi phí
đi làm việc thấp, khoảng 1200 USD/người, nhưng lương bình quân tại thị trườngnày chỉ khoảng 200 USD/tháng Đầu tháng tư năm 2004, Việt Nam có khoảng
72000 lao động làm việc tại Malaixia Ngành xây dựng là ngành thu hút nhiềulao động xuất khẩu ở Việt Nam sang Malaixia với thu nhập 500 USD/tháng
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, việc lao động Việt Nam bỏ trốn quánhiều ở thị trường này đã gây ra rất nhiều vấn đề và Malaixia đã phải tạm ngừngviệc tuyển lao động nước ngoài một thời gian, nhưng đến ngày 28/2/2004 lạitiếp tục mở của với một số ngành nghề Thị trường Malaixia được các cấp lãnhđạo đánh giá là một thị trường đầy tiềm năng và mới được khai thác
Trang 94.4 Thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là nước công nghiệp phát triển và có mức thu nhập bình quânđầu người rất cao trên thế giới Vì vậy, Nhật Bản là một thị trường lao độngnhiều tiềm năng nhưng đòi hỏi lao động phải cú trình độ cao Chính vì vậy ViệtNam thường đưa vào Nhật Bản dưới hình thức tu nghiệp sinh Việt Nam và NhậtBản đ ã có chương trình hợp tác tu nghiệp sinh từ năm 1992, cho đến nay, đã cógần 20000 tu nghiệp sinh Việt Nam sang tu nghiệp tại các xí nghiệp vừa và nhỏcủa Nhật Bản, theo nhiều ngành nghề khác nhau như: dệt, may, điện tử, cơ khí,chế biến Số lượng tu nghiệp sinh Việt Nam được phái cử sang tu nghiệp tạiNhật Bản từ năm 2000 đến 2004 là 9353 người, trong đó năm 2004 là trên 2000người Tổng số tu nghiệp sinh đang có mặt làm việc tại Nhật B ản là trên 8000người Ngoài tu nghiệp sinh Việt Nam cũng đã đưa trên 500 lao động có taynghề cao sang làm việc tại Nhật Bản Thu nhập của tu nghiệp sinh Việt Nam tạiNhật Bản tương đối cao so với các thị trường khác, bình quân 10000 yên/tháng(tương đương 680 USD) trong năm thứ nhất và khoảng 18000 yên/tháng (tươngđương 980 USD) năm thứ hai, thứ ba Hàng năm tu nghiệp sinh gửi về nướckhoảng 84 triệu USD Đây là một khoản tiền không nhỏ tăng thu ngoại tệ chođất nước và góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm trong nước
4.5 Thị trường Hàn Quốc
Hơn ba thập kỷ qua, nền kinh tế Hàn Quốc đã có những bước phát triểnvượt bậc, trở thành quốc gia phát triển có thu nhập bình quân đầu người khá cao,bình quân 11000 USD/năm Nhiều ngành công nghiệp của Hàn Quốc như sảnxuất ô tô, thép, điện tử, đóng tàu, công nghệ thông tin đã chiếm lĩnh hàng đầutrong khu vực và trên thế giới Cũng như các quốc gia phát triển khác, ngoài lựclượng lao động khác, thị trường Hàn Quốc có nhu cầu lớn với lao động nướcngoài làm việc trong một số lĩnh vực khác nhau, từ lao động phổ thông làm việctrong các ngành công nghiệp chế tạo, xây dựng, nông nghiệp, thuỷ sản đến laođộng có tay nghề cao như chuyên gia làm việc trong các ngành công nghệ thôngtin, sinh học, vật liệu mới công nghệ cao, điện tử kỹ thuật số Hàn Quốc có bahình thức cấp phép cho lao động nước ngoài, bao gồm:
- Chương trình tu nghiệp sinh công nghiệp
- Chương trình cấp phép lao động với người lao động phổ thông nước ngoài
- Chương trình tiếp nhận lao động lành nghề và chuyên gia nước ngoài(“chương trình thẻ vàng”)
Chương trình thẻ vàng là chương trình thu hút hỗ trợ nguồn nhân lực kỹthuật cao cho các lĩnh vực thuộc các ngành kinh tế đang phát triển mạnh củaHàn Quốc Trước khi có hệ thống thẻ vàng, Việt Nam và Hàn Quốc đã có sự
Trang 10hợp tác một cách chặt chẽ trong lĩnh vực xuất khẩu lao động Từ năm 1993 đếnnay, có khoảng 32000 lao động Việt Nam sang làm việc và tu nghiệp sinh chocác doanh nghiệp vừa và nhỏ của Hàn Quốc.
4.6 Thị trường Anh
Trong tình xuất khẩu lao động gặp nhiều khó khăn nhất là ở hai thị trườngĐài Loan và Malaixia, các doanh nghiệp đã chuyển hướng mở thị trường Anh.Đây là một thị trường tiềm năng và hấp dẫn, mở thêm nhiều cơ hội cho lao động
đi nước ngoài làm việc Nước ta có ba doanh nghiệp ký hợp đồng với khách sạnOmni, đó là trung tâm đào tạo lao động ngoài nước và dịch vụ (TCL) thuộc tổngcông ty ô tô Việt Nam Tháng 10/2003 ở Hà Nội, trung tâm dịch vụ du lịch vàxuất khẩu lao động thuộc công ty du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam (OSCVN)tháng 10/2003 ở thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm hợp tác lao động với nướcngoài thuộc tổng công ty thép Việt Nam (VSC) 26/2/2004 ở Hà nội
Cả ba doanh nghiệp đều ký hợp đồng trong lĩnh vực khách sạn và đến nay
đã có hàng trăm lao động sang Anh làm việc với thu nhập khoảng từ 1300 USDđến 1800 USD/tháng
Các doanh nghiệp Việt Nam đang cố gắng phấn đấu để lao động ViệtNam đáp ứng được yêu cầu của thị trường Anh, nhằm mục đích tăng số lượnglao động của Việt Nam sang Anh
Ngoài ra còn một số thị trường khác như Châu Phi, Bắc Âu, Bắc Mỹ…
II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM
1.Tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam
1.1 Các giai đoạn xuất khẩu
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu lao động đi làm việc có thời hạn ở nướcngoài từ năm 1980 Từ đó đến nay, cùng với sự đổi mới về cơ chế quản lý kinh
tế chung của đất nước, cơ chế xuất khẩu lao động cũng đã có nhiều thay đổi phùhợp với tình hình phát triển của đất nước và quan hệ quốc tế trong từng thời kỳ.Xuất khẩu lao động góp phần tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội củađất nước
Hoạt đông xuất khẩu lao động của Việt Nam được chia làm hai giai đoạn sau:
a) Giai đoạn từ 1980-1990
Trong giai đoạn này, hoạt động xuất khẩu lao động dựa trên cơ sở quan hệhợp tác sử dụng lao động ở Việt Nam với các nước thông qua các Hiệp địnhchính phủ, thoả thuận ngành với các ngành
Số lượng lao động Việt Nam được đưa đi làm việc ở nước ngoài tronggiai đoạn này là gần 300000 người, trong đó: Đi lao động ở 4 nước xã hội chủnghĩa cũ (Liên xô cũ, CHDC Đức, Tiệp Khắc cũ, Bungari) là 244186 người; đilàm chuyên gia ở Châu Phi là 7200 người; đi làm xây dựng ở Trung Đông
Trang 11khoảng 18000 người; ngoài ra còn 23713 người thực tập sinh và học sinh hocnghề tại các nước Đông Âu đã chuyển sang lao động trong những năm 80.
b) Giai đoạn từ 1991 đến 2001
Tình hình và nhu cầu thực tiễn cùng với việc cơ chế quản lý kinh tế ViệtNam đang trong thời kỳ đổi mới dẫn đến những thay đổi về cơ chế hoạt độngxuất khẩu lao động từ phía chính quyền Ngày ngày 9 tháng 11 năm 1991, Nghịđịnh về đưa người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài ra đời Cụ thể, các tổchức doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động thôngqua hợp đồng ký với nước ngoài Cơ chế này đã đẩy mạnh hoạt động xuất khẩulao động Việt Nam, mở rộng thị trường xuất khẩu Số lao động đưa đi nướcngoài tăng đều mỗi năm Tổng lao động xuất khẩu trong giai đoạn này gần160.000 người
Có sự thay đổi về thị trường trong giai đoạn này Ban đầu, Việt Nam xuấtkhẩu công nhân xây dựng sang một số nước Trung Đông (chủ yếu là Iraq), CácTiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Kuwait Năm 1992, Việt Nam kí cáchợp đồng xuất khẩu thuyền viên với Đài Loan, Hàn Quốc
c) Giai đoạn 2001 đến nay
Từ năm 2006 đến 2008, trung bình mỗi năm có hơn 83.000 lao động xuấtkhẩu sang nước ngoài, chiếm khoảng 5% tổng số lao động được giải quyết việclàm trong cả nước Đến năm 2009 đã có khoảng 500.000 lao động Việt Nam làmviệc ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề khác nhau.Vào thời điểm năm 2011, xét về lượng tiếp nhận thì lao động Việt Nam nhiềunhất tại Đài Loan, sau đó là Hàn Quốc, Malaysia, Nhật Bản, Ả Rập Saudi, Lào,Campuchia, Trong số đó lao động nữ chiếm gần 50%, chủ yếu làm trongngành phục vụ cá nhân và xã hội và công nghiệp
Một số thị trường khác như Brunei, Singapore, Các Tiểu vương quốc ẢRập Thống nhất cũng đang được mở rộng Các quốc gia phát triển có thu nhậpcao như Úc, Mỹ, Canada, Phần Lan và Ý cũng là mục tiêu xuất khẩu lao độngViệt Nam hướng đến
Năm 2008, Hàn Quốc nhận thêm 12.000 lao động Việt Nam mới và táituyển dụng 6.000 lao động, tăng số lao động Việt Nam tại quốc gia này lên gần50.000 lao động Đến năm 2011, Việt Nam có khoảng 60.000 lao động tại HànQuốc và 85.650 tại Đài Loan - giữ vị trí thứ 2 về tổng số lao động nước ngoài tạiĐài Loan
Không giống với Đài Loan và Malaysia được xem là thị trường truyềnthống ít đòi hỏi, Nhật Bản được đánh giá là thị trường có nhiều đòi hỏi cao Tuynhiên, theo những chính sách và chương trình hợp tác tạo nhiều thuận lợi, lượng
Trang 12tu nghiệp sinh Việt Nam sang Nhật làm việc ngày càng tăng Với con số 35.000
tu nghiệp sinh theo thống kê năm 2011, Việt Nam đứng thứ 2 trong tổng số 14nước có tu nghiệp sinh làm việc tại Nhật Bản (sau Trung Quốc) Chất lượng laođộng cũng được tín nhiệm
Năm 2011, tổng số lao động Việt Nam xuất khẩu sang nước ngoài theo sốliệu từ Cục Quản lý Lao động Ngoài nước là 81.475 người Theo thống kê củaHiệp hội Xuất khẩu Lao động Việt Nam, con số này là 88.298 người Riêng sốlao động Việt Nam đang có mặt tại bốn thị trường lớn nhất là Đài Loan,Malaysia, Hàn Quốc và Nhật Bản là hơn 200.000 người (40% tổng số lao độngViệt Nam tại nước ngoài)
Năm 2013 con số người Việt Nam lao động ở ngoại quốc tăng lên hơn88.000, vượt con số chỉ tiêu của nhà nước Đài Loan tiếp tục là nơi mướn nhiềungười Việt nhất, chiếm hơn 46.000 người Nhật Bản và Malaysia là hai quốc gia
kế bảng hạng hai và hạng ba
1.2 Các đối tượng xuất khẩu lao động
a) Xuất khẩu lao động chuyên gia:
Đây là hoạt động xuất khẩu mà người tham gia là những người tham gia
là những người có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học; họ làm các chuyêngia tư vấn, điều hành và quản lý Loại lao động này thường có mức thu nhập caonhưng chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số lao dộng xuất khẩu Hiện nay xảy
ra hiện tượng chảy máu chất xám: chủ yếu do họ được mời sang hoặc nhữngnghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp ở lại làm việc tại đó Đây là vấn đề mà nhiềunước than phiền do công sức đào tạo của họ không được sử dụng ở nước mình
b) Xuất khẩu lao động kỹ thuật:
Đối tượng này bao gồm những người đã qua đào tạo ở các trường trunghọc chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật Họ là những thợ lành nghề hoặc có trình
độ chuyên môn kỹ thuật nhất định, có thể làm việc ở những nhà máy có trình độ
cơ khí hoá cao, máy móc hiện đại, thu nhập tương đối cao và ổn định
c) Xuất khẩu lao động phổ thông
Là những lao động tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông
Họ chủ yếu làm trong các nhà máy, xí nghiệp đòi hỏi yêu cầu chuyên mônkhông cao, hoặc làm giúp việc gia đình Loại lao động này đang chiếm tỷ lệ lớntrong số lao động xuất khẩu
2 Những kết quả đạt được
2.1 Thị trường XKLĐ của nước ta được mở rộng
Những năm 1980-1990 nước ta chủ yếu xuất khẩu lao động sang cácnước Đông Âu, với số lượng khá khiêm tốn Năm 1991 chỉ có 12 nước và vùng