1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn hóa dân gian của người rơ măm tại làng le, xã mô rai, huyện sa thầy, tỉnh kom tum

29 478 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó cho thấy mỗidân tộc mỗi vùng miền lại có một nét văn hóa đặc trưng riêng, giúp tôihiểu được về đời sống vật chất cũng như văn hóa tinh thần của người đồngbào các dân tộc thiểu số v

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trải qua bao thế kỷ, cộng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó với nhautrong suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờcõi, giành tự do, độc lập và xây dựng đất nước Việt Nam với 54 dân tộcanh em cùng chung sống, mỗi dân tộc hầu hết đều có tiếng nói, chữ viết vàbản sắc văn hóa riêng Cũng như các dân tộc khác, dân tộc Rơ Măm cũng

có một kho tàng văn nghệ dân gian khá phong phú góp phần xây dựng nềnvăn hóa việt nam đa màu sắc Trong nghị quyết trung ương khóa VIII nêu

rõ “xây dựng và phát triển văn hóa Viêt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc” cho thấy văn hóa truyền thống mang tính cấp bách cần được giữ gìn

và bảo tồn

Là sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa, trong quá trình học tôiđược trang bị kiến thức chuyên sâu và hiểu rõ về từng vấn đề của các dântộc thiểu số như: Kinh tế, trang phục, nhà cửa, ẩn thực, hôn nhân, ma chay,tín ngưỡng, văn nghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xã hội Từ đó cho thấy mỗidân tộc mỗi vùng miền lại có một nét văn hóa đặc trưng riêng, giúp tôihiểu được về đời sống vật chất cũng như văn hóa tinh thần của người đồngbào các dân tộc thiểu số và đó cũng là vốn nền tảng kiến thức để tôi tìmhiểu và nghiên cứu sâu hơn về giá trị văn hóa dân gian của dân tộc

Rơ Măm

Người Rơ Măm cư trú chủ yếu tại Làng Le, xã Mô Rai, huyện SaThầy, tỉnh Kom Tum ( 96,1%), các tỉnh khác rất ít như TP.HCM, ĐồngNai là cư dân sống lâu đời ở vùng đất này Ðầu thế kỷ XX dân số của tộcnày còn khá đông, phân bố trong 12 làng, ở lẫn với người Gia Lai

Bài tiểu luận của tôi tập trung chủ yếu vào làm rõ văn hóa dân giancủa người Rơ Măm tại Làng Le, xã Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnhKom Tum

Trang 2

Kon Tum là tỉnh thuộc vùng cực bắc Tây Nguyên của Việt Nam, có

vị trí địa lý nằm ở ngã ba Đông Dương, phần lớn nằm ở phía tây dãyTrường Sơn Địa giới tỉnh Kon Tum nằm trong vùng từ 107020'15" đến108032'30" kinh độ Đông và từ 13055'12" đến 15027'15" vĩ độ Bắc PhíaBắc Kon Tum giáp địa phận tỉnh Quảng Nam với chiều dài ranh giới 142

km, phía Nam giáp với tỉnh Gia Lai chiều dài ranh giới 203 km, phía Đônggiáp với tỉnh Quảng Ngãi với chiều dài ranh giới dài 74 km[2], phía Tâygiáp với nước CHDCND Lào (142,4 km) và Vương quốc Campuchia(138,3 km)

1.1.2 Dân số

Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Kon Tum đạt gần 453.200người, mật độ dân số đạt 47 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thịđạt gần 156.400 người, chiếm 36% dân số toàn tỉnh Dân số sống tại nôngthôn đạt 296.800 người, chiếm 64% dân số Dân số nam đạt 237.100người, trong khi đó nữ đạt 216.100 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phântheo địa phương tăng 18,6 ‰

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Kon Tum có 42 dân tộc cùng người nướcngoài sinh sống Trong đó dân tộc kinh có 201.153 người, người Xơ Đăng

có 104.759 người, người Ba Na có 53.997 người, Người Giẻ Triêng có31.644 người, người Gia Rai có 20.606 người, người Mường có 5.386người, Người Thái có 4.249 người, Người Tày có 2.630, cùng các dân tộc

ít người khác như Nùng, Hrê, Brâu, Rơ Măm

1.1.3 Kinh tế - xã hội

Kon Tum có điều kiện hình thành các cửa khẩu, mở rộng hợp tácquốc tế về phía Tây Kon Tum có đường Quốc lộ 14 nối với các tỉnh TâyNguyên và Quảng Nam, đường 40 đi Atôpư (Lào)

Trang 3

Năm 2012, năm thứ hai triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hộiĐảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XIV Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,77%

so với cả nước Trong đó, các ngành nông - lâm - thủy sản tăng 7,3%,ngành công nghiệp - xây dựng tăng 17,49%, ngành dịch vụ tăng 18,34% vàchỉ số giá tiêu dùng tăng 9,88% Thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.632,2 tỷđồng, vượt 0,5% so với kế hoạch Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 38,2%,đồng thời giải quyết việc làm cho khoảng 6.200 lao động, góp phần giảm

tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 5% Thu nhập bình quân đầu người đạt 22,12triệu đồng, và tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 22,77%

Tỉnh Kon Tum hiện đã thực hiện đẩy mạnh phát triển các ngành kinh

tế mũi nhọn và sản phẩm chủ lực của tỉnh như Sâm Ngọc Linh, rau hoa xứlạnh, nuôi cá tầm, cá hồi gắn với tìm kiếm thị trường tiêu thụ

1.2 Khái quát về tộc người Rơ Măm

1.2.1 Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bố dân cư.

Người Rơ Măm là một tộc người ở Việt Nam.Tộc này cư trú chínhtại Làng Le, xã Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum Tiếng nói thuộcnhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), chịu ảnh hưởng nhiềuyếu tố ngôn ngữ của dân tộc Khơ Me và gần gũi với tiếng nói của một sốnhóm trong dân tộc Xơ Ðăng Người Rơ Măm hiện sử dụng thành thạotiếng nói của nhiều dân tộc, trong đó có tiếng phổ thông.Dân tộc Rơ Măm

là cư dân sống lâu đời ở vùng đất này Ðầu thế kỷ XX dân số của tộc nàycòn khá đông, phân bố trong 12 làng, ở lẫn với người Gia Lai Hiện họ chỉsống tập trung trong một làng

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Rơ Măm ởViệt Nam có dân số 436 người, có mặt tại 7 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.Người Rơ Măm cư trú tập trung tại tỉnh Kon Tum (419 người, chiếm96,1% tổng số người Rơ Măm tại Việt Nam), các tỉnh khác có rất ít nhưSài Gòn (9 người), Đồng Nai (3 người)

Đơn vị cư trú của người Rơ Măm là đê (làng), đứng đầu là một ônggià trưởng làng do dân tín nhiệm Làng Le của người Rơ Măm nay chỉ cònkhoảng 10 ngôi nhà ở, có cả nhà rông Mỗi nhà có từ 10 đến 20 người gồmcác thế hệ, có quan hệ thân thuộc với nhau Các cặp vợ chồng dù vẫn sốngchung dưới một mái nhà, nhưng đã độc lập với nhau về kinh tế

Trang 4

1.2.2 Đời sống văn hóa

lễ, cách dựa vào tiếng chim nhạy cảm với thời tiết, cách dựa vào các phảnứng của đồ vật như lưỡi gà để vận hành cuộc sống, cách bảo vệ rừng đầunguồn, sử dụng các loại thuốc nam chữa cảm cúm, đau đầu cách bắt cá,lấy trứng kiến, trồng trọt, chế biến ẩm thực, cách sử dụng nhạc cụ theo cặpđôi Ngoài những món riêng, độc đáo của người Rơ Măm, còn có cơmlam, thịt nướng, tiết dúi mang dấu ấn văn hóa vùng đậm nét Các sảnphẩm thu hái, săn bắn được trong tự nhiên dù ít hay nhiều đều đem chia sẻtrong cộng đồng khá giống cách ứng xử “một miếng giữa làng bằng mộtsàng xó bếp” xưa kia của người Kinh Tuy nhiên, ở đây biểu hiện rất rõ sựchia sẻ, nhường nhịn lẫn nhau, sự phân chia công bằng, phần nhiều chongười có công săn thú, góp rượu, gạo, thịt khi nhà có việc, cho mượn vậtnuôi, cho mượn áo quan Đó chính là bản tính, là sự nhân văn, chia sẻ,đoàn kết trong cuộc sống của đồng bào Rơ Măm Đó là những ứng xử, trithức, tín ngưỡng, bản lĩnh cộng đồng bản sắc văn hóa tộc người, thể hiệnquan điểm thiên địa nhân hòa đồng của cư dân phương Đông

Nhà ở của người Rơ măm đều có hành lang chính giữa, chạy suốtchiều dài sàn, ở trung tâm nhà có một gian rộng là nơi tiếp khách và diễn racác sinh hoạt văn hóa nói chung của các gia đình Ngôi nhà sàn dài truyềnthống không còn, phổ biến hiện tồn là nhà trệt mới xây dựng, sửa chữa donhà nước hỗ trợ Bên cạnh sự biến đổi vật chất bên ngoài, chủ thể gia đình

đã chuyển từ đại gia đình, nhiều thế hệ sinh sống sang gia đình nhỏ, chỉ cómột đến hai thế hệ cùng ở, chung tài sản, chung kinh tế, quyền lợi vật chất,tinh thần Ngọn lửa trong ngôi nhà dài không còn là biểu tượng cho sựsống và bình yên [A3]

Trang 5

Trang phục nam nữ có những nét riêng Nam cắt tóc ngắn ở trần,đóng khố Vạt trước khố dài tới gối, vạt sau dài tới ống chân Khố thườngdùng màu trắng nguyên của vải mộc Lưng được xăm hoa văn kín, nhất lànhững người cao tuổi [A4] Trai gái đến tuổi thành niên phải cưa răng ởhàm trên (4 hoặc 6 chiếc) Phụ nữ thường để tóc dài búi sau gáy Áo là loạicộc tay vai thẳng (không khoét cổ như Brâu), thân thẳng, hình dáng gầnvuông giống áo Brâu Áo màu sáng (màu nguyên của sợi bông) các đườngviền cổ và cửa tay cộc màu đỏ Gấu áo có dải băng trang trí (cao 1/4 thânáo) bằng màu đỏ, hoa văn hình học Váy là loại váy hở màu trắng nguyênsợi bông Bốn mép váy và giữa thân váy có các đường viền hoa văn màu

đỏ với mô típ hoa văn hình học và sọc ngang Họ thường đeo hoa tai vòng

to, nặng xệ xuống Người khá giả đeo hoa tai bằng ngà voi, người nghèođeo hoa tai bằng gỗ Vòng tay là loại bằng đồng nhiều xoắn Lý do đượcchọn của trang phục Rơ Măm chính là màu sắc và phong cách trang trí áo,váy phụ nữ [A5]

• Văn hóa tinh thần

Trong văn hóa tinh thần, cư dân Rơ Măm cũng như nhiều dân tộckhác, đó là tín ngưỡng vạn vật hữu linh Tất cả các sự vật, hiện tượng đềugắn với thần và ma Các vị thần gọi chung là Yàng, chưa phân định rõràng, thứ bậc nhưng một lòng thờ phụng để cầu xin sự che chở từ đấng siêunhiên dành cho những con người bé nhỏ Quản lý xã hội truyền thống tộcngười chủ yếu là do già làng (chủ làng), hội đồng già làng, nay có thêm hệthống quản lý của Nhà nước Hôn nhân truyền thống đậm nét mẫu hệ, phụ

nữ đi hỏi chồng Nhiều tập tục gia đình vẫn mang tính sơ khai, như người

đẻ phải làm lều riêng Khi cưới vẫn tồn tại hình thức phụ nữ hỏi chồng, cưtrú bên vợ, tuy đã bỏ qua tục cưới chung ở nhà rông về nhà riêng tổ chức,nhưng tục đẻ ngồi vẫn còn phổ biến Nam nữ đến tuổi trưởng thành phải càrăng, căng tai nay đã bỏ hoàn toàn, những đứa trẻ không chôn theo khi mẹchết, nhưng tục chôn chung vẫn rải rác Khi ốm đau lâu ngày vẫn phảicúng ma chữa bệnh Tục chia của, bỏ mả cho người chết phẫn phổ biến đểchia tay với người chết Các lễ nghi nông nghiệp vẫn phổ biến trong cácgia đình riêng, với các lễ vật, chi phí tốn kém, nhưng lễ hội cộng đồng thểhiện sự đoàn kết của con người, sự hoà đồng với tự nhiên Mọi người thamgia lễ hội trong âm vang cồng chiêng và các điệu múa xoang tràn đầy niềmvui hạnh phúc

• Văn hóa xã hội

Trang 6

Bên cạnh các đặc điểm văn hóa chung mang tính chất vùng, người

Rơ Măm có những nét văn hóa riêng, thể hiện bản sắc tộc người Bản sắcriêng được thể hiện cụ thể trong từng lĩnh vực như môi trường riêng, ứng

xử với môi trường, thần linh, con người riêng

Ngày nay, cuộc sống của người Rơ măm đã có nhiều thay đổi, giốngnhư người Kinh, họ cũng làm nhà ở tươm tất, nhà vệ sinh, khoan giếng,mắc điện gia dụng, phát triển chăn nuôi, mua sắm dụng cụ sản xuất, câygiống, phân bón, máy móc, bước đầu tiếp cận với cách sản xuất mới;được làm quen với cách trồng cây công nghiệp, làm vườn, làm ruộng nước;được tiếp cận với những dịch vụ mới trong các lĩnh vực y tế, vệ sinh,truyền thanh, truyền hình, thương nghiệp; được tiếp nhận những tiện íchmới trong sinh hoạt và đạt được nhiều tiến bộ trong đời sống Qua nhiềuthế hệ sinh sống trên vùng đất Đồng Nai, tuy người Rơ Măm chỉ có vàingười nhưng họ cũng đã có những đóng góp tích cực trong tiến trình khaiphá, bảo vệ, xây dựng và phát triển vùng đất này Kho tàng văn hóa cácdân tộc Việt Nam thêm phong phú khi có sự hiện diện của văn hóa dân tộc

Rơ Măm với những nét nổi bật về sự giàu có tri thức dân gian và kinhnghiệm canh tác rẫy

2 MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN VÀ Ý NGHĨA CỦA

NÓ TRONG KHO TẰNG VĂN HÓA DÂN GIAN CỦA NGƯỜI RƠ MĂM

2.1 Loại hình văn nghệ dân gian

2.1.1 Ca dao, dân ca

Ca dao, dân gian của ngườiRơ Măm chủ yếu là tự sáng tác,khi có cảm hứng hay bằng trái tim rung động và truyền miệng cho nhau.Những lời ca mộc mạc có vần điệu rõ ràng, mang nội dung cụ thể ngắngọn, dễ hiểu, dễ thuộc Từ xư đến nay thơ ca vốn là tiếng nói gần gũi củamỗi con người Rơ Măm Trong cuộc sống hằng ngày, trong các lễ hội đồngbào ở đây có thể thiếu áo, váy đẹp, cơm thịt thơm ngon nhưng không thểthiếu được lời ca tiếng hát Tuy nhiên lời những bài ca dao dân ca của dântộc Rơ Măm ngày nay ít còn được đề cập đến trong sách, báo nào

2.1.2 Truyền thuyết

Trang 7

Truyền thuyết của người Rơ Măm gắn liền với đời sống văn hóa,tâm linh của chính họ Nổi tiếng phải kể đến là truyền thuyết về chiếc ngàvoi hóa thạch thần bí của người Rơ Măm [A6]

Vào một ngày nọ ông A Nghe (người đi săn) đã mang theo một conchó và một số vật dụng cá nhân như cơm lam, muối ớt, xgạc, nỏ, tẩuthuốc… đi săn thú, đi mãi mà vẫn không săn được con thú nào Lúc nàymặt trời đã gần khuất ngọn núi và ông đã quay về, bỗng thấy con chó củamình sủa dữ dội vào một lùm cây, ông nghi có con thú ẩn nấp và ông tiếnđến lùm cây rồi chỉa nỏ bắn thì bất ngờ thấy một hòn đá nên ông bế conchó của mình quay về, đi được một đoạn thì thả nó ra và lập tức nó chạytới lùm cây lần trước sủa tiếp, ông quay lại không thấy con thú mà thấyhòn đá lần trước, lần này ông quyết định lấy hòn đá đó bỏ vào gùi (bếp)đem về nhà rông và gọi chủ làng (già làng) đến và kể lại sự việc hòn đá đócho chủ làng biết Sau đó ông chủ làng đã mang cục đá đưa lên nhà rôngcất, tối hôm đó hai ông nằm ngủ đều mơ thấy hòn đá dặn dò “tôi khôngthích ở rừng một mình nữa mà tôi muốn về làng với bà con” (làng le bâygiờ) Khoảng một tháng sau chủ làng triệu tập tất cả dân làng và phân côngmột số người qua bên Lào mua một con trâu về làm lễ cúng ông đá, sốngười khác được phân công ở nhà chuẩn bị làm cây nêu và các món ăntruyền thống để cúng ông đá Các lễ nghi, lễ vật để cúng ông như sau: Lấymột ít máu (máu trong quả tim), tim, gan của các con vật hiến sinh như:Trâu, dê, heo, gà và được đựng trong cái tô và trộn lẫn với rượu ghè Trướckhi cúng ông đá mỗi hộ gia đình đều phải mang một ghè rượu đến nhàrông để rửa cho ông đá, trong quá trình làm lễ già làng (đại diện chủ làng)rửa thì cũng cầu xin ông đá phù hộ cho dân làng được khoẻ mạnh làm ăngặp nhiều may mắn, xua tan được dịch bệnh trong làng Sau khi rửa xong,ông đá được đựng trong một cái gùi nhỏ và gác lên phía đầu hồi bên phảitheo hướng nam bên trong của nhà rông Sau khi rửa xong ông đá, chủ lễmang tiết hỗn hợp rửa ông đá đi đổ ở cuối làng theo hướng mặt trời mọcrồi quay về nhà rông làm lễ cuối cùng, lúc này chủ làng kêu gọi toàn bộchủ hộ (nam giới) tập trung vào ghè rượu của mình được đặt ở giữa sânvòng quanh cây nêu, tay cầm một cây nhỏ mang tính trượng trưng chỉ vàomiệng ghè rượu và khẩn (lời khẩn cầu xin Yang phụ hộ cho gia đình làm ănđược mùa, lúa đầy kho không bị đau ốm…) và từ đây hòn đá trở thànhmột thần hộ mệnh (Yang) của người Rơ Măm

Trang 8

Người Rơ Măm gọi chiếc ngà voi hóa thạch là Yang PLút, xem nónhư báu vật bất khả xâm phạm của dân tộc mình Chiếc ngà voi thần bí nàyđược thờ tại một căn nhà rông giữa làng Le, xã Mô Rai, Huyện Sa Thầy,Kon Tum Đó là chiếc ngà voi hóa thạch dài chừng 0,5m, to như bắp đùingười trưởng thành.

2.1.3 Âm nhạc dân gian

Âm nhạc là thành quả sáng tạo và trở thành vốn quý của con người

Nó giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần, tình cảm của mỗi cánhân cũng như của cả cộng đồng Con người sáng tạo ra âm nhạc, tổ chứcsinh hoạt, thỏa mãn nhu cầu của chính mình trong các điều kiện lao độngsản xuất, tín ngưỡng, biểu cảm tình yêu với thiên nhiên và đồng loại

Nếu nhìn từ ngoài, âm nhạc được chia lâm hai: có nhạc hát và nhạcđàn Nhạc hát có ở mọi lứa tuổi (đồng dao, giao duyên, khấn, khóc, ru, háttập thể, hát kể…)

Nhạc đàn phần lớn do tự chế tác từ nguyên liệu sẵn có trong rừngnhư gỗ tre, nứa, vỏ bầu, dây rừng… Thậm chí nhờ cá vào nước, vào gió.Chẳng thiếu loại gì, nếu như ta lấy thước đo âm nhạc bác học mà soi rọi:nào là dây kéo, hơi lúa, hơi lưỡi gà, búng, gẩy, gõ, tự thân vang… Mà chắcchắn là phong phú, đa dạng hơn âm nhạc bác học nhiều, bởi vì còn có cáiriêng của mỗi sắc tộc và bản sắc vùng miền Nước cho suối đàn (Tờ rưng),gió cho cồng chiêng (gió) Có loại chỉ chơi trên chòi rẫy, có loại chỉ dùngtrong đám chết, đám tang, bỏ mả Có loại chỉ dùng trong gia đình, có loạichỉ chơi trên Nhà Rông và mỗi loại lễ hội, cũng là nhạc khí đó nhưng lạichi trình diễn một loại bài bản Có nhạc khí dành riêng cho phụ nữ, chocon gái chưa chồng, có loại đánh tập thể, âm lượng rất lớn, có loại lại chỉđơn lẻ, thì thầm như những lời tâm tình Quả thật là tinh tế tài hoa, tất cảgần như được chắt lọc từ thiên nhiên bao la hùng vĩ, từ bao đời nay

Người Rơ Mămcó hình thức diễn tấu đàn T’rưng 3 dùi khá độc đáo.Đàn T'rưng được chế tác từ những khúc gỗ bóc vỏ phơi khô hoặc nhữngống nứa vót một đầu, chặt theo những độ dài khác nhau để tạo nên những

âm vực ưng ý sau đó được đem treo song song lên một cái giá đủ trở thànhmột cây đàn gõ "phím" cho một hoặc hai người diễn tấu bằng cách cầmnhững dùi tre gõ vào phím này Đàn T'rưng có khả năng diễn tấu phongphú và đa dạng Với nguồn âm thanh bất tận khi êm nhẹ theo giai điệu trữtình của một khúc hát giao duyên, khi hoà cùng dàn nhạc tấu lên bản hợptấu của núi rừng hùng vĩ

Trang 9

Mang trong mình âm thanh độc đáo , đặc sắc, tiếng đàn T'rưngkhông chỉ lôi cuốn làm say đắm tâm hồn các dân tộc anh em trên đất Việt,

mà còn vượt qua khỏi biên giới để ngân vang đến tận những vùng đất xaxôi và được các bạn bè khắp năm châu, bốn bể nhiệt tình đón nhận

2.2 Nhạc cụ dân gian

2.2.1 Cồng chiêng

Làng Le là địa bàn cư trú của 120 hộ dân với khoảng 460 nhân khẩungười Rơ Măm, đây là 1 trong 2 dân tộc ít người nhất của tỉnh, nhưng ởđây người dân lại lưu giữ, bảo tồn được số lượng cồng chiêng lớn Cùngvới đó là không gian văn hóa cồng chiêng cũng được dân trong làng giữgìn và phát triển

Theo đánh giá của Phòng Văn hóa - Thể thao huyện Sa Thầy, xã MôRai là địa phương có số lượng cồng chiêng nhiều nhất trong huyện với 189

bộ chiêng, riêng làng Le đã có gần 100 bộ, trong đó có 80 bộ chiêng Hoăn

và 20 bộ chiêng Lào

Cùng với việc gìn giữ cồng chiêng, người dân làng Le còn biết bảoban nhau học tập, truyền dạy lại cho lớp trẻ cách đánh cồng chiêng, nhất lànhững bài chiêng dùng trong các lễ hội của dân tộc Rơ Măm Nếu có dịpđến làng Le vào những ngày cuối tuần hay kỳ nghỉ hè, mọi người sẽ dễdàng thấy cảnh lũ trẻ say sưa học đánh cồng chiêng; người già thì nhiệttình truyền dạy Lớp trước dạy lớp sau, cứ thế, bao đời nay, người dân làng

Le đã giữ gìn khá tốt văn hóa cồng chiêng

Có một thời gian, nhiều địa phương đã bị dòng chảy của đời sốngvăn hóa hiện đại tràn đến, người dân bị cuốn theo, ngày càng thờ ơ với giátrị văn hóa truyền thống và vì thế tình trạng “chảy máu” cồng chiêng diễn

ra tràn lan, âm thanh của cồng chiêng vắng dần trong đời sống văn hoá,tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số Không ít gia đình, thôn làng đãbán đi những bộ chiêng quý; một bộ phận giới trẻ không còn quan tâm tớivăn hoá cồng chiêng và những nét phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộcmình

Thế nhưng ở Làng Le, cả làng còn giữ được gần 100 bộ chiêng[A7], dù cuộc sống còn khó khăn, rất nhiều người cũng đã lân la đến hỏimua, nhưng dân làng không ai bán những bộ chiêng quý cả Cồng chiêng

là linh hồn của các lễ hội, gắn liền với đời sống văn hoá, tâm linh của dân

Trang 10

tộc, nên các gia đình trong làng đều một lòng gìn giữ; đồng thời tiếp tụcduy trì những lễ hội, phong tục, tập quán tốt đẹp để tạo “đất” cho cồngchiêng tiếp tục sống.

Cùng với việc gìn giữ cồng chiêng, người dân làng Le còn biết bảoban nhau học tập, truyền dạy lại cho lớp trẻ cách đánh cồng chiêng, nhất lànhững bài chiêng dùng trong các lễ hội của dân tộc Rơ Măm “Nếu có dịpđến làng Le vào những ngày cuối tuần hay kỳ nghỉ hè, mọi người sẽ dễdàng thấy cảnh lũ trẻ say sưa học đánh cồng chiêng; người già thì nhiệttình truyền dạy Lớp trước dạy lớp sau, cứ thế, bao đời nay, người dân làng

Le đã giữ gìn khá tốt văn hoá cồng chiêng

2.2.2 Trống, sáo

Trống và sáo của người Rơ Măm thường được làm bằng vật liệu cósẵn trong tự nhiên như gỗ, tre, nứa,vầu Những loại nhạc cụ này thườngđược người dân sử dụng trong dịp cưới hỏi hay lễ hội

2.3 Lễ hội của người Rơ Măm

Người Rơ Măm trước đây vốn có rất nhiều tục lệ; nhưng ngày nay,đời sống văn hoá ngày càng phát triển, người Rơ Măm cũng đã từng bước

từ bỏ những hủ tục và chỉ lưu giữ những tục lệ, nét văn hoá đẹp, độc đáocủa dân tộc Dưới đây là một số lễ hội chính của dân tộc Rơ Măm

2.3.1 Lễ mở cửa kho lúa ( còn gọi là Tết cơm mới)

Người Rơ Măm luôn chú tâm lưu giữ những lễ hội văn hóa đặc sắccủa dân tộc mình, trong đó có 3 lễ hội quan trọng nhất liên quan vòng đờicủa cây lúa rẫy là: chọc tỉa, cúng mừng lúa lên đòng và cúng lúa mới Theoquan niệm của người Rơ Măm, lúa rẫy là món quà của trời ban, chỉ cầnchọc lỗ bỏ hạt xuống mà không cần bón phân, nhọc công chăm sóc, vậy

mà lúa vẫn tốt, vẫn mang về những mùa bội thu nuôi sống người dân, thếnên từ lúc tra hạt đến khi thu hoạch họ đều làm lễ tạ ơn Yang Plút (tức thầnNgà voi), theo dân làng thì đây vị thần đã mang may mắn đến cho làng

Lễ hội chọc tỉa được diễn ra khi các gia đình chuẩn bị cho vụ sảnxuất mới Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nhà mà có thể làm lễ tohay nhỏ, nhà khá giả thì đập một trâu hay một con heo, nhà khó khăn thìgiết một con gà, cốt yếu là ở tấm lòng cúng thần, cầu mong một năm mưathuận gió hòa để cây lúa phát triển tốt, cho nhiều hạt.Đến khi lúa chuẩn bị

Trang 11

trổ bông, các gia đình cũng làm một cái lễ đơn giản để cúng Yang Plút,cảm ơn thần đã phù hộ để cây lúa lên xanh tốt và cầu mong thần tiếp tụcphù hộ để một vụ mùa bội thu.Lễ ăn lúa mới [A9] là lễ to nhất, quan trọngnhất trong các lễ hội của người Rơ Măm, nó được diễn ra khi mùa lúa rẫy

đã kế thúc, lúa đã được phơi khô và cất vào kho, đây cũng được coi là tếtcủa người Rơ Măm

Lễ hội Mở cửa kho lúa diễn ra trong 3 ngày, nhưng người ta phảichuẩn bị các điều kiện vật chất, tinh thần trước đó cả tháng Khi ngày giờ

đã được ấn định, tất cả các gia đình bắt tay vào chuẩn bị rượu cần, gạo,trâu, bò, heo, gà Đàn ông "lên dây chiêng", sửa lại đàn; đàn bà con gáikhẩn trương dệt nốt những bộ váy áo đẹp cho mình và người thân trong giađình để kịp mặc trong ngày hội Thanh niên trai tráng vào rừng tìm cây tregià thẳng ngọn, cây lồ ô giữa bụi để làm cây nêu; những người khác xuốngsông ra núi bắt nhiều con cá to, lấy nhiều đọt cây ngọt, mây đắng cho ngàyhội thêm nồng đây là một lễ thức để tạ ơn trời đất, tạ ơn các vị Giàng đầyhuyền bí đã trợ giúp cho con người có được mùa màng bội thu, đồng thờicũng là kỳ nghỉ ngơi, vui chơi của cộng đồng người Rơ Măm sau một nămvất vả với công việc mùa màng nặng nhọc, để hưởng thụ các giá trị sản vậtmình làm ra, vừa là không gian ''thiêng'' của tín ngưỡng, nhưng cũng làkhông gian vui vẻ, thân thiện, đoàn kết- không gian văn hóa của cộngđồng

2.3.2 Lễ Bỏ mả

Trong Lễ bỏ mả thức ăn được chế biến không chỉ để ăn cho no bụng

mà đó còn mang những nét văn hóa riêng biệt trong một không gian diễn

ra lễ bỏ mả Thức ăn được chế biến từ những con vật hiến sinh, sau khiđược cúng tế thần linh và cúng con ma, họ sẽ tiến hành chọc tiết, mổ thịt

Nguyên vật liệu để chế biến các món ăn trong lễ bỏ mả thường vànhững con bò, con heo, gà sau khi được cúng thần linh sẽ được mang mổthịt và chế biến thành nhiều món ăn khác nhau phục vụ cho buổi lễ Nhữngcon vật này được người ta nuôi trong nhà, họ chỉ sử dụng khi tiến hành cácnghi lễ của gia đình trong năm Thịt của các con vật cúng thần linh đượcchế biến thành nhiều món ăn đa dạng và phong phú và được phân ra thànhtừng món có chức năng khác nhau Cũng từ những chất liệu mà thườngngày người Rơ Măm vẫn thường dùng như gạo, đọt chuối, rau, thịt,…nhưng ở lễ bỏ mả, những nguyên liệu thường dùng này được chế biến

Trang 12

thành nhiều dạng món ăn tinh tế, đa dạng hơn với nhiều kỹ thuật chế biếnkhác nhau nướng, luộc Cũng như phong tục bỏ mả của dân tộc Bah Narhay Ja Rai, nghi lễ bỏ mả của người Rơ Măm cũng mang tính cộng đồng

và cộng cảm lớn được thể hiện rõ nét trong các hoạt động diễn ra trong lễ,trong đó có các bữa ăn bỏ mả Trong những bữa ăn bỏ mả không chỉ có sựđóng góp của người sống mà người chết cũng có sự đóng góp bằng nhữngcon vật mà người sống chia của cho họ, ở đây thể hiện sự công bằng Sau

lễ cúng cho người chết xong, các mâm thức ăn được trải bằng lá chuốiđược dọn ra xung quanh khu vực nhà mả, mọi người từng tốp, từng tốpngồi chụm lại quanh ghè rượu và mâm thức ăn cùng nhau ăn uống và tròchuyện vui vẻ với nhau, những người thân trong gia đình của người chếtthì mang thức ăn vào nhà mả ăn cùng người chết

Nghi lễ cúng vật hiến sinh trong lễ bỏ mả

Theo quan niệm của người Rơ Măm, người chết đi là bắt đầu sống ởmột thế giới khác, một thế giới đối lập với thế giới của người đang sống,đêm là ngày, ngày là đêm, lành là vỡ, đẹp là xấu,… người chết đi sẽ sốngtrong làng mới của họ ở thế giới bên kia đối lập với thế giới của ngườiđang sống, họ cũng sống, làm việc, như khi đang còn sống, chính vì vậytrước khi sang thế giới bên kia những người còn sống sẽ tiến hành mộtnghi lễ bỏ mả, nghi lễ tiễn đưa người chết Trong Lễ bỏ mả, các nghi lễcúng đóng một vai trò quan trọng, các nghĩ lễ cúng thông qua những bàicúng của người chủ gia đình vừa thể hiện những lời tâm sự, lời nhắn gửicủa người sống với người chết trước khi bỏ vĩnh viễn, lễ cúng vừa biểuhiện truyền thống mang tính ma thuật về tang ma, vừa mang mục đích giaotoàn bộ mọi thứ thuộc về người chết cho họ mang theo và cắt đứt mọi ràngbuộc của người chết với thế giới người sống

"Thế là mối quan hệ của chúng ta đã hết, hôm nay gia đình và dânlàng làm lễ bỏ mả, từ nay về sau chúng ta không còn mối quan hệ gì vớinhau nữa, nếu có chuyện gì không hay xảy ra với người ở thế giới bên kiathì hãy tự chịu lấy, chúng tôi đã làm trọn bổn phận với người rồi đừng vềquấy rầy chúng tôi nữa"

Hay nghi thức cúng người chết lần cuối “Hôm nay, chúng tôi cúngghè rượu, cúng thịt mời ông bà lên uống, nếu có thương con, thương cháuthì uống, uống xong rồi thì hãy đi luôn, đừng về làm phiền con cháu nữa”

Trang 13

Những lời cúng tại lễ bỏ mả còn ý nghĩa làm cho linh hồn của ngườichết sang thế giới bên kia một cách thanh thản, dễ dàng, không còn lưuluyến với thế giới của người sống, làm phiền cuộc sống hiện tại của ngườicòn sống nữa Những lời cúng đó còn là những lời tâm sự, dãi bày củangười còn sống với người đã chết, đó còn là sự mong muốn những điều tốtđẹp mà người chết sẽ gặp được khi sang thế giới bên kia với tổ tiên họ Lờicúng còn có mục đích giao toàn bộ mọi thứ đã chia cho người chết đem đi

và cắt đứt vĩnh viễn mọi ràng buộc của người sống với người chết

Các nghi lễ cúng được thực hiện trong lễ bỏ mả đều mang nhiều ýnghĩa thiêng liêng, biểu hiện sự thành kính của con cháu, biểu hiện sự bìnhđẳng giữa người sống và người chết, biểu hiện sự cộng cảm của cả mộtcộng đồng làng đối với người đã chết, một sự chia tay không có đau khổ,

mà sự chia tay trong vui vẻ, thanh thản

Tượng nhà mả và nhà mả truyền thống

Nhà mả của người Rơ Măm thường dài 2m rộng 1,5m được làmhoàn toàn bằng gỗ, xưa kia người Rơ Măm lợp mái nhà mả bằng tranh, tuynhiên ngày nay họ lợp mái nhà mả bằng tôn để che mưa che nắng tốt hơncho căn nhà mả Nhà mả của người Rơ Măm được dựng lên với ý nghĩa lànơi ở của người chết sau khi sang thế giới bên kia và còn có tác dụng chemưa che nắng cho người thân của người chết đến thăm Chính vì vậy cănnhà mả họ làm theo mô hình căn nhà của người sống (không phải dạng nhàsàn) có vách che 4 bên được ghép bằng những tấm ván gỗ, có mái lợp, cócửa ra vào và được dựng một cách kiên cố trên nền đất đã được san phẳng,phía trên phần mộ của người chết

Bên cạnh nhà mồ[A10], tượng nhà mồ của người Rơ Măm cũng làmột nét văn hóa truyền thống đặc sắc, tượng nhà mồ tôn vinh những nghệnhân điêu khắc gỗ dân gian, những người thợ đẽo những bức tượng nhà mồchỉ với những kỹ thuật đẽo đơn sơ như rựa, rìu, đục, Tượng nhà mồ vừa

là những vật trang trí dùng để tô điểm cho nhà mồ thêm đẹp, thêm vuinhộn, tượng còn mang ý nghĩa là những người bảo vệ, là những người bầubạn với người chết khi họ cô đơn

Tượng phải được làm thật công phu, thật đẹp nếu không sẽ khôngvừa lòng người đã chết Tượng của người Rơ Măm dài 2,5 m, đường kính

30 - 35 cm, được gọt sạch vỏ bề mặt Những bức tượng nhà mả của người

Rơ Măm bao giờ cũng có tượng người nam và tượng người nữ với những

Trang 14

biểu hiện khác nhau trên khuôn mặt tùy theo sở thích của người thợ điêukhắc gỗ Sở dĩ vậy vì người Rơ Măm quan niệm người chết đi thường côđơn, họ làm tượng người nam và tượng người nữ một mặt để bảo về ngườichết khỏi tà ma, một mặt để bảo vệ nơi ở của người chết tránh người ngoàixâm phạm, những bức tượng này còn mang một ý nghĩa lớn hơn là để làmbầu bạn với người chết Tượng nhà mả nào cũng có 2 ngà voi phía trêntượng, vì người Rơ Măm coi Yang ngà voi (giàng Blút) là yang quan trọngnhất trong hệ thống thần linh của họ, yang Blút thể hiện sức mạnh của conngười, họ quan niệm rằng con voi khi chết đi nhưng cái ngà voi sẽ còn mãi,trường tồn cùng với họ.

Nghệ thuật truyền thống trong lễ bỏ mả

Tại nhà mả, người ta sẽ cùng ăn uống cùng đánh chiêng, múa soang,cùng nói chuyện vui chơi với nhau, không tồn tại tâm trạng tang thương,đau đớn như ngày diễn ra đám ma Người Rơ măm cũng có quan niệmrằng, lễ bỏ mả là lễ chia tay người chết, để họ về bên thế giới bên kia, sốngcuộc sống mới cũng như họ hiện đang sống trong ngôi làng phía đông mặttrời Vì quan niệm như vậy nên trang ngày diễn ra lễ bỏ mả, họ cùng nhauvui đùa, uống rượu, nói chuyện hòa đồng với nhau, tạo ra tâm lý thoải mái

để tiễn người chết về làng mới của họ Tiếng chiêng trong lễ bỏ mả cũngkhác biệt, người Rơ Mă đánh bài chiêng Tangtao (có nghĩa là chia buồnvới gia đình, mừng cho linh hồn siêu thoát Bài chiêng có tiết tấu lúcnhanh, lúc chậm, lúc trầm lúc bổng, tạo nên không khí khi thì sâu lắng khithì vui vẻ của những người tham gia lễ bỏ mả Trong nghi thức tiễn đưangười chết dàn chiêng và đội múa soang đi quanh nhà mả, mọi người chậmrãi múa tiễn đưa linh hồn nguời chết ra đi trong tiếng cồng chiêng ảm đạm,lưu luyến Những người thân trong gia đình của người chết sẽ ngồi trongnhà mả trong sự lưu luyến, buồn thương với người đã khuất Đám rướctrong lễ bỏ bả thường diễn ra vào đêm của ngày thứ hai, đây cũng đuợc coi

là ngày lễ chính thức

Sau nghi lễ tiễn đưa người chết đi, tại thời điểm này gia đình củanguời chết được hòan toàn giải phóng khỏi mọi ràng buộc với người chết.Cũng từ lúc này lễ bỏ mả dường như bước sang một không khí mới, khôngkhí của sự vui vẻ, già trẻ, trai gái thỏa sức múa soang, đánh chiêng, ănuống trong đêm hội tiếng chiêng, tiếng trống vang lên trong đêm tối giữakhu nhà mả như đánh thức các hồn ma, thúc dục họ đừng lưu luyến gì vớithế giới của người sống nữa mà hãy về với thế giới của tổ tiên

Ngày đăng: 11/04/2018, 01:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w