1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn hóa dân gian của người kháng ở than uyên , lai châu

40 260 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 403 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUTừ buổi đầu dựng nước cho đến nay, các dân tộc thiểu số đã đóng gópđáng kể trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng truyền thống lịch sử,văn hoá của đại gia đình các dân tộ

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1.Khái quát về địa bàn và tộc của người Kháng ở Than Uyên , Lai Châu 2

1.1.Khái quát về địa bàn nghiên cứu 2

1.1.1.Đặc điểm về vị trí địa lí và xã hội huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu 2

1.1.2.Lịch sử huyện Than Uyên 3

1.1.3.Kinh tế văn hóa huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu 5

1.2.Khái quát về người Kháng 6

1.2.1.Khái quát về tộc người Kháng 6

1.2.2.Khái quát về kinh tế văn hóa xã hội của người Kháng 7

1.2.3.Khái quát kinh tế văn hóa xã hội cảu người Kháng ở Than Uyên, Lai Châu.11 2.Những giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc kháng 11

2.1.Dân ca 12

2.2 Nhạc cụ 15

2.3.Truyện cổ tích 16

2.4.Múa 16

2.5.Lễ hội 20

2.5.1.Lễ hội Pang Phoóng (Pang dịch ra là lễ, Phoóng là tổ tiên) 20

2.5.2.Lễ hội Xen Pang Ả 21

2.5.3.Lễ hội “Cà tảm mạn” là lễ gọi hồn hay còn gọi là lễ dậy hồn 22

2.6.Câu đố và tục ngữ 25

2.7.Tục bói chén lấy tên người Kháng ở Than Uyên,Lai Châu 25

3.Đánh giá và đề xuất biện pháp để quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị của tộc người Kháng 28

3.2.Đẩy mạnh công tác giáo dục văn hóa, lịch sử văn hóa truyền thống, nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào dân tộc Kháng ở Than Uyên ,Lai Châu hiện nay 29

3.3.Đổi mới chính sách đối với cán bộ làm công tác văn hóa tạo động lực cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Kháng ở Than Uyên, Lai Châu 32

KẾT LUẬN 34

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

PHỤ LỤC ẢNH 37

Trang 3

MỞ ĐẦU

Từ buổi đầu dựng nước cho đến nay, các dân tộc thiểu số đã đóng gópđáng kể trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng truyền thống lịch sử,văn hoá của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.Trong đó, văn nghệ dân gian cácdân tộc thiểu số có những thành tựu độc đáo với những sắc thái riêng biệt Việctìm hiểu Văn nghệ dân gian các Dân tộc thiểu số còn thể hiện đường lối dân tộc

và đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng ta, phát huy truyền thống văn hoá tốtđẹp của các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, nhằm góp phầnvào việc xây dựng nền văn hoá văn nghệ Việt Nam thống nhất và mang tính chấtdân tộc phong phú

Việt Nam với 54 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc, mỗi vùng

miền đều mang trong mình một nét bản sắc văn hóa riêng Cũng nhưng các dân

tộc khác, dân tộc Kháng cũng có một kho tàng văn nghệ dân gian khá phong phúgóp phần xây dựng nền văn hóa việt nam đa màu sắc Trong nghị quyết trungương khóa VIII nêu rõ “xây dựng và phát triển văn hóa Viêt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc” cho thấy văn hóa chuyền thống là tích cấp bách cần đượcgiữ gìn và bảo tồn

Là sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa, trong quá trình học tôi đượctrang bị kiến thức chuyên sâu và hiểu rõ về từng vấn đề của các dân tộc thiểu sốnhư: Kinh tế, trang phục, nhà cửa, ẩn thực, hôn nhân, ma chay, tín ngưỡng, vănnghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xã hội Từ đó cho thấy mỗi dân tộc mỗi vùngmiền lại có một nét văn hóa đặc trưng riêng, giúp tôi hiểu được về đời sống vậtchất cũng như văn hóa tinh thần của người đồng bào các dân tộc thiểu số và đócũng là vốn nền tảng kiến thức để tôi tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về giá trịvăn hóa dân gian của dân tộc Kháng

Người Kháng sống tập trung ở hai tỉnh Sơn La và Lai Châu Bài tiểu luậncủa tôi tập trung làm rõ văn hóa dân gian của người Kháng ở Than Uyên , LaiChâu

Trang 4

NỘI DUNG 1.Khái quát về địa bàn và tộc của người Kháng ở Than Uyên , Lai Châu

1.1.Khái quát về địa bàn nghiên cứu

1.1.1.Đặc điểm về vị trí địa lí và xã hội huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu

Theo Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 30/10/2008 của Chính phủ nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc điều chỉnh địa giới hành chínhhuyện Than Uyên để thành lập huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, kể từ ngày01/01/2009 huyện Than Uyên có tổng diện tích tự nhiên 79.687,6 ha, vị trí địa lýtiếp giáp như sau:

- Phía Đông giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai,Mù Cang Chải tỉnh YênBái

- Phía Tây giáp huyệnQuỳnh Nhai tỉnh Sơn La

- Phía Nam giáp huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái, huyện Mường Latỉnh Sơn La

- Phía Bắc giáp huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu

- Phía Đông Bắc giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai

- Phía Đông Nam giáp huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái

- Phía Tây Nam giáp huyện Mường La tỉnh Sơn La

Dân số huyện Than Uyên tính đến ngày 31/12/2008, tổng số người toànhuyện là: 55.299 khẩu

Huyện Than Uyên có 10 dân tộc anh em:

Trang 5

Dân tộc Cao Lan

Dân tộc Nùng

Huyện Than Uyên có 12 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm cácxã:Hua Nà, Khoen On, Mường Cang, Mường Kim, Mường Mít, Mường Than,Pha Mu, Phúc Than, Ta Gia, Tà Hừa, Tà Mung và thị trấn Than Uyên Đượcchia làm 3 khu vực:

Khu vực I: Là các xã có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi.Chủ yếu là các xã ở vùng thấp, gần trung tâm các huyện, thành phố, giao thông

và các dịch vụ xã hội thuận lợi

Khu vực II: Là các xã có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội khó khăn,phần lớn các xã này nằm ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại còn tương đốikhó khăn; các dịch vụ xã hội cơ bản đã được đáp ứng tương đối tốt

Khu vực III: Là các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các

xã ở vùng sâu, vùng biên giới, xa các trung tâm huyện, thành phố, địa hình bịchia cắt mạnh, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn; các dịch vụ xã hội còn hạnchế

1.1.2.Lịch sử huyện Than Uyên

Than Uyên là vùng đất phát triển lâu dài từ nền văn hóa Hòa Bình đến vănhóa Đông Sơn Sang thời Lý, Than Uyên thuộc mường Tiến Châu Đăng; đời hậu

Lê thuộc châu Chiêu Tấn, phủ An Tây trong thừa tuyên Hưng Hoá; đời Tự Đứctriều Nguyễn, Than Uyên là lỵ sở châu Chiêu Tấn

Ngày 28/6/1909 thực dân Pháp đặt ra châu Than Uyên thuộc tỉnh LaiChâu

Ngày 20/2/1920 châu Than Uyên lại sát nhập tỉnh Yên bái

Sau hoà bình lập lại năm 1955, huyện Than Uyên thuộc khu tự trị Mèo

Thái-Cuối năm 1962 thành lập tỉnh Nghĩa Lộ , Than Uyên là huyện thuộc tỉnhNghĩa Lộ, gồm thị trấn nông trường Tân Uyên và 16 xã: Hố Mít, Hua Nà,Khoen On, Mường Cang, Mường Khoa, Mường Kim, Mường Mít, MườngThan, Nậm Cần, Nậm Sỏ, Pắc Ta, Pha Mu, Ta Gia, Tà Hừa, Tà Mít, Thân Thuộc

Trang 6

Ngày 3/1/1976 Than Uyên là một huyện của tỉnhHoàng Liên Sơn(sau khisát nhập 3 tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Nghĩa Lộ thành Hoàng Liên Sơn)

Từ tháng 10/1991 huyện thuộc tỉnh Lào Cai

Ngày 25 tháng 2 năm 1978 hợp nhất 2 xã Hua Nà và Mường Cang thành

xã Nà Cang

Ngày 15 tháng 11 năm 1991 thành lập thị trấn Than Uyên - thị trấn huyện

lị huyện Than Uyên - gồm phần đất của các xã Nà Cang và Mường Than

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết trong đó chia tỉnhLai Châu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên đồng thời chuyển huyệnThan Uyên của tỉnh Lào Cai về tỉnh Lai Châu mới

Ngày 27 tháng 12năm 2006, thành lập các xã Tà Mung, Phúc Than, PhúcKhoa thuộc huyện Than Uyên Huyện Than Uyên thời điểm này có 169.550 hadiện tích tự nhiên và 87.249 người

Ngày 8 tháng 4năm 2008, thành lập các xã Trung Đồng, Hua Nà, MườngCang và thị trấn Tân Uyên thuộc huyện Than Uyên Huyện Than Uyên lúc này

có 170.000 ha diện tích tự nhiên và 95.559 người

Từ đó, huyện Than Uyên có 2 thị trấn: Than Uyên (huyện lị), Tân Uyên

và 20 xã: Pha Mu, Mường Mít, Phúc Than, Mường Than, Mường Cang, Hua Nà,

Tà Hừa, Ta Gia, Tà Mung, Mường Kim, Khoen On, Mường Khoa, Phúc Khoa,Nậm Sỏ, Nậm Cần, Thân Thuộc, Trung Đồng, Hố Mít, Pắc Ta, Tà Mít

Ngày 30 tháng 10năm 2008, chuyển một phần diện tích và dân số củahuyện Than Uyên để thành lập huyện Tân Uyên Huyện Than Uyên còn lại là79.680,50 ha diện tích tự nhiên và 53.338 người

Ngày14 tháng 10năm 2011, điều chỉnh địa giới một số xã của huyện ThanUyên Huyện Than Uyên thời điểm này có 79.680,5 ha diện tích tự nhiên và57.837 người

Thực hiện Nghị định số: 97/NQ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2011 CủaChính phủ Về việc điều chỉnh địa giới hành chính các xã để thành lập xã, thị trấnthuộc các huyện: Mường Tè, Sìn Hồ, Than Uyên, tỉnh Lai Châu Huyện ThanUyên đã điều chỉnh địa giới xã Pha Mu, Tà, hừa, Mường Mít và Mường Cang

Trang 7

1.1.3.Kinh tế văn hóa huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu

Là vùng đất hợp với các loại cây chè, lúa, ngô, thảo quả, cây lấy gỗ làmnguyên liệu, gỗ trụ mỏ và chăn nuôi gia súc, khai thác đặc sản rừng Than Uyên

có lợi thế hơn so với các huyện khác trong tỉnh là đất đai bằng phẳng, hệ thốnggiao thông thuận tiện vì có quốc lộ 32, 279 chạy qua

Than Uyên là vùng đất có nhiều địa danh gắn với lịch sử đấu tranh giànhđộc lập của dân tộc như di tích đèo Khau Co, nơi nghĩa quân Mường Lay,Mường Khoa chặn đánh thực dân Pháp ngày 20/11/1886 Bản Nà Khoảng, xãMường Kim là căn cứ du kích thời kỳ chống Pháp Ngoài ra, Than Uyên cũng làđịa danh có những thắng cảnh thiên nhiên hấp dẫn như quần thể hang động Che

Bó, xã Mường Than nằm sâu trong lòng núi dài gần 750 km với những dòngsuối trong vắt, có nhiều loại cá và những nhũ đá kỳ ảo, mùa đông ấm áp, mùa hèmát rượi Quần thể thắng cảnh Tà Gia có nhiều hang động và những dãy núi đávôi bạt ngàn với thảm thực vật phong phú…

Là một thung lũng lớn khép kín giữa hai núi Phan Xi Păng và PúngLuông, thiên nhiên kiến tạo cho Than Uyên một hệ thống sông suối chằng chịt,

độ dốc lớn tiêu biểu là sông Nậm Mu chảy qua huyện với chiều dài 160 km, lànguồn năng lượng vô tận thuận lợi cho việc phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ ởđịa phương Hiện nay huyện có 2 thủy điện lớn là Bản Chát (công suất 220 MW)

và Huổi Quảng (công suất 560 MW) Ngoài ra, Than Uyên có diện tích đất nôngnghiệp và đồng cỏ khá lớn gần 40.000 ha, nhất là cánh đồng Mường Than - mộttrong 4 cánh đồng màu mỡ nổi tiếng khu Tây Bắc “nhất Thanh, nhì Lò, tamThan, tứ Tấc” là tiềm năng không nhỏ cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp.Thấy được ưu thế đó, huyện đã xây dựng kế hoạch phát triển những cây trồngmũi nhọn của địa phương như lương thực, chè và chăn nuôi gia súc

Bên cạnh đó, Than Uyên còn có rất nhiều địa danh lịch sử như Bản Lướt,Bản Nà Khoảng (xã Mường Kim), đèo Khau Co Nhiều điểm du lịch như HangChe Bó (xã Mường Than) là một quần thể hang động nằm sâu trong lòng núi dàigần 750 km không chỉ có suối chảy trong vắt thú vị, mùa đông thì ấm áp, hè đếnthì mát rượi mà còn nhiều nhũ đá, tượng bụt kỳ ảo; dòng sông Nậm Mu trong

Trang 8

xanh cùng với hang động Tà Gia tạo nên bức tranh “Sơn thuỷ hữu tình” Với 10dân tộc anh em, Than Uyên là điểm đến cho những ai muốn khám phá văn hóa

đa sắc màu của bản làng người Thái cổ truyền với mái nhà sàn độc đáo, đắmmình trong các lễ hội Xên Mường người Thái, bắt cá người Kháng, cầu mưa ténước người Lự, bảo vệ hồn lúa người La Ha…Tất cả những truyền thống đó làtiềm năng ẩn chứa cho việc phát triển du lịch sinh thái và văn hoá dân gian

Những năm qua, phát huy được những tiềm năng lợi thế của mình, huyện

đã có nhiều bước tiến vượt bậc trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhóa, giáo dục y tế chung tay góp sức cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.Nhằm ghi nhận những nỗ lực của cán bộ và nhân dân trong toàn huyện, tháng10/ 2003 huyện Than Uyên vinh dự được Nhà nước trao tặng Danh hiệu Anhhùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp Trong thờigian tới, tiếp tục phát huy những truyền thống quý báu đó, Đảng bộ, nhân dâncác dân tộc Than Uyên sẽ cùng nhau quyết tâm xây dựng Than Uyên ngày cànggiàu đẹp

1.2.Khái quát về người Kháng

1.2.1.Khái quát về tộc người Kháng

Trong cộng đồng 54 dân tộc ở Việt Nam, có một cộng đồng tộc người tựnhận mình bằng tên riêng “Mơ Kháng”,“Háng”,“Brển ” hay “Xá” nghĩa làNgười Kháng

Người Kháng, còn gọi là Xá Khao, Xá Xúa, Xá Đón, Xá Dâng, Xá Hộc,

Xá Aỏi, Xá Bung, Quảng Lâm,

Người Kháng Cư chú ở Bắc Việt Nam và Lào.Tại việt Nam người Kháng

cư trú ở Sơn La và Lai châu Ở nước ta, người Kháng cư trú chủ yếu ở Sơn La,Lai Châu và Điện Biên Theo tổng điều tra dân số năm 1999, người Kháng có10.272 người Mười năm sau, 2009, lên tới 13.840 người Tỷ lệ tăng như thế làvừa phải trong chủ trương kế hoạch hóa gia đình của nước ta Nói Điện Biên,Sơn La, Lai Châu là địa bàn cư trú gốc của người Kháng, còn ngày nay, họ đãphân bố ở 25 tỉnh và thành phố do nhu cầu đời sống riêng tư, công việc làm ăn

và công tác được phân công Người Kháng còn cư trú ở bên Lào, các tỉnh sát

Trang 9

biên giới, gần cận với các địa bàn gốc của họ tại Điện Biên, Sơn La, Lai Châu.Tại đây, họ cũng được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Phong-Kniang, Pong 3,Khaniang, Keniang, Lao Phong, với dân số khảong 1.000 người

Người Kháng cư trú tập trung tại các tỉnh:Sơn la(8.582 người, chiếm62,0% tổng số người Kháng tại Việt Nam),Điện biên(4.220 người, chiếm 30,5%tổng số người Kháng tại Việt Nam),Lai Châu (960 người)

Người Kháng nói tiêng kháng, là ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).Tuy nhiên vị trí của nó trong nhánh Môn-Khmer chưađược xác định rõ ràng, Tiếng Kháng được cho là thuộc Chi khơ mú hoặc Ngữchi palaung Họ có thể nói thành thạo tiếng thái Người Kháng là một trong sốcác dân tộc cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc nước ta

-Nằm trong sự quản lý của các mường Thái trước đây, Người Khángkhông có tổ chức xã hội riêng Chức dịch cao nhất trong bản là: quan cai gầnnhư Tạo bản người Thái Trong các bản người Kháng đã có sự phân hoá giàunghèo

Tiểu gia đình phụ quyền chiếm ưu thế trong bản Bên cạnh đó cũng tồn tạimột số tàn dư của chế độ mẫu hệ: tục ở rể, vai trò ông cậu Trưởng họ vẫn cóvai trò nhất định

Những làn điệu dân ca của người Kháng thường phản ánh đời sống sinhhoạt hàng ngày Nhiều người biết hát các bài hát, áng thơ của người Thái, thuộcnhiều tục ngữ cao dao

Ở huyện Than Uyên người Kháng số hộ 39; số dân 161 người,chiếm 0,03% dân số toàn tỉnh ( Theo số liệu năm 2008)

1.2.2.Khái quát về kinh tế văn hóa xã hội của người Kháng

Đặc điểm kinh tế: Phần lớn người Kháng trồng lúa, ngô trên rẫy với công

cụ sản xuất thô sơ (dao, nu, gậy chọc lỗ) Một số nhỏ cày, bừa, trồng lúa nước.Ngoài ra còn săn bắt, hái lượm Đồng bào chăn thả trâu, lợn, gà Nghề thủ côngđược phát triển là đan lát (hòm, bem, mâm, gùi )

Hoạt động sản xuất:Nương rẫy là hình thái kinh tế chủ đạo vớicách thức phát đốt, chọc lỗ tra hạt Có thể phân thành 3 nhóm:

Trang 10

Nhóm sống du canh du cư: làm rẫy.

Nhóm du canh bán định cư: làm rẫy kết hợp làm ruộng

Nhóm định canh định cư: làm ruộng kết hợp làm rẫy Tập quán trồng lúanếp kết hợp trồng ngô, sắn, vừng Chăn nuôi khá phát triển: lợn, gà, vịt, trâu,

bò Nghề phụ nổi tiếng là đan lát đồ gia dụng (hòm, ghế mây, mây, gùi ) NgườiKháng giỏi đóng và đi thuyền độc mộc, thuyền đuôi én Thuyền của họ đóngđược các dân tộc anh em ưa mua dùng

Kinh tế chủ yếu của người Kháng là làm rẫy theo lối chọc lỗ tra hạt Đây

là phương thức làm nông nghiệp nương rẫy cổ xưa nhất có từ thời văn hóa ĐôngSơn mà những dấu ấn của tục thờ thần Mặt trời, quan niệm về vũ trụ thông quacác bước chuyển động của người nông dân khi chọc lỗ tra hạt từ các nương rẫy

đã toát lộ quan niệm ấy – điều mà tôi đã giới thiệu về người Mãng Ư, có lốicanh tác tương đồng, cũng trong tạp chí này cách đây không lâu Ngoài lối canhtác ấy, người Kháng còn làm ruộng nước theo phương thức cày bừa, gieo cấytrên các thửa ruộng bậc thang hẹp, nhưng không phổ biến Người Kháng cũngchăn nuôi gia súc và gia cầm (gà, lợn, trâu) và họ cũng làm đồ đan lát (ghế, rổ,

rá, nia, hòm, gùi), làm mộc (thuyền độc mộc kiểu đuôi én) được người Thái ưadùng Đó là những công việc nông nhàn, phục vụ cho đời sống tự túc, tự cấptrong các bản làng của họ Nếu có chăng, không phải là tự túc, tự cấp thì thươngmại của họ cũng là hàng đổi hàng Họ trồng bông rồi đem bông đổi lấy vải và đồdệt của người Thái – một dân tộc cư trú liền kề, có truyền thống về dệt thổ cẩm

và làm chăn đệm bông (Phà Thái) Họ cũng đổi thuyền đuôi én cho người Thái

để lấy những nông thổ sản của dân tộc này phục vụ cho đời sống thường nhật Ăn: Người Kháng thích ăn xôi và các món có vị chua, cay như: cá ướp chua,dưa lá củ ráy ngứa, món hỗn hợp gồm lá lốt, thịt, ớt, tỏi, rau thơm hoà trộn, đồchín Người Kháng quen uống rượu trắng, rượu cần, hút thuốc lá và hút thuốclào.Người Kháng thường ăn cơm nếp, ngô, sắn đồ Đặc biệt, có tục uống bằngmũi (Tu mui), đổ nước cay vào mũi là nét văn hóa độc đáo của họ

Ở: Người Kháng sống thành từng bản nhỏ có nơi ở xen kẽ với người Thái.Nhà sàn lợp gianh, có mái khum mui rùa, có cửa ra vào ở hai đầu hồi.Nhà ở có 2

Trang 11

dạng: nhà tạm bợ và nhà kiên cố Nhà sàn gồm 1 mái và 2 mái, không phủ nóc,không có chái, có cửa chính thông suốt từ đầu này sang đầu kia, thông với cầuthang nên xuống.

Phương tiện vận chuyển:Gùi có dây đeo qua trán, thuyền độc mộc làphương tiện vận chuyển chính

Cưới xin: Ngày xưa, việc lấy vợ, lấy chồng của người Kháng vừa tự dovừa phải qua nhiều nghi thức Sau bốn năm đêm tìm hiểu ngủ lại nhà người congái, nếu đôi trai gái ưng ý nhau thì tiến hành ăn hỏi và rất nhiều nghi thức màđôi trẻ và hai bên nhà trai nhà gái phải thực hiện Sau 3 năm ở rể, đôi vợ chồngtrẻ phải làm lễ ra mắt hai họ, nhà trai mới tổ chức đón dâu Ðây là lễ quan trọngnhất

Ma chay: Người Kháng có tục chia của cho người chết gồm: chăn, đệm,dao, bát, đĩa, hòm đựng quần áo, ống nước, giỏ xôi và những gì khi còn sốngngười quá cố thường dùng Tất cả những lễ vật này được đặt phía trên đầu mộ ởphía đầu mộ còn chôn một cái cột cao, trên đó buộc treo một hình con chimbằng gỗ và một cái áo mà người chết thường mặc Sau khi chôn xong, về đếnnhà, anh em, bà con phải đứng dưới gầm sàn để ông cậu cắt một nhúm tóc bỏvào bát nước lã đựng trứng, cá sấy khô rồi đem vứt ở vệ đường vào bãi tha ma

để hồn người chết không về quấy rối con cháu, người thân

Thờ cúng: Họ tin rằng con người có 5 hồn Một hồn chính ở trên đầu bốnhồn ở tứ chi Khi chết, hồn chính biến thành ma lành phù hộ con cháu, bốn hồncòn lại biến thành ma dữ hay quấy nhiễu vòi "ăn" Người ta còn tin nhiều loại

ma khác như: ma suối, ma bản Người Kháng thờ ma bố và có tục thờ ma mẹ.Việc cúng bố mẹ được tiến hành 3 năm một lần Ðây là lễ vui nhất, gia đìnhthường mời anh em, bà con trong bản tới dự bữa cơm, sau đó xoè, múa thâuđêm

Lễ tết:Người Kháng ăn tết Nguyên đán, tết cơm mới và thực hiện cácnghi lễ liên quan đến nông nghiệp nương rẫy

Văn nghệ: Những làn điệu dân ca của người Kháng thường phản ánh đờisống sinh hoạt hàng ngày Nhiều người biết hát các bài hát, áng thơ của người

Trang 12

Thái, thuộc nhiều tục ngữ cao dao.

Trang phục:Trang phục người kháng giống với người thái Nữ mặc áongắn có hàng cúc bạc, váy đen, đội khăn piêu Nam mặc quần áo chàm, đôi khicũng đội khăn Người Kháng không có truyền thống dệt vải, họ chủ yếu trồnghỏng và đổi bông cho người Thái để lấy quần áo hoặc vải vế may trang phục.Tuy vậy, cách cắt may y phục của phụ nữ.Khung ở vùng Tây Bắc Việt Nam thểhiện khá rõ sắc thái văn hóa truyền thống của mình Trang phục thường ngày củaphụ nữngườikháng gồm có: Khăn, áo, yếm, váy, thắt lưng, xà cạp, trâm cài tóc,

xà tích, túi đeo

Khăn đội đầu (khan hăng hua)là loại khăn dài được dùng khá phổ biếntrongcuộc sống hàng ngày cũng như trong cưới xin lễ hội Khăn dược làm bằngvải đen nhuộm chàm, hai góc ở đầu khăntrang trí hai bông hoa bốn cảnh thêubằng chỉ xanh, đỏ, vùng Người kháng gọi loại hoa văn này là ba piêu(lá rau bợ,một loại cây mọc ờ ruộng có thể hái lá nấu canh ăn) Hai đầu khăn có đính cáctua chỉ hay tua len trang trí

Ngoài ra, nhiều phụ nữ Kháng còn sử dụng khăn piêu Khăn có hình thứcgiống khăn piêu của người Thái Đen Loại khăn này họ có thể mua của ngườiThái về dùng nhưng phần lớn phụ nữ Kháng thường mua vải về tự làm và thêuhoa văn theo sở thích của mình Khăn được làm bằng vải sợi bông nhuộm chàm,dài 188cm, rộng 35cm Ở hai đầu khăn (xâu pièu) trang trí hoa văn bằng loại chỉthêu là sợi tơ tằm (đái mon) được nhuộm thành nhiều màu khác nhau như: xanh

lá cây, đỏ thẫm, tím, vàng, hồng, trắng Nguyên tắc cải hoa văn là rút luồn sợichỉmàu đan vào nền vải đen Khi thêu khăn, người ta bắt đầu thêu từ mảng hoavăn chủ đạo ở giữa đồ án rồi mới thêu dần ra xung quanh Sau khi thêu xongtoàn bộ hoa văn mới đính “cút piêu”, “cóp piêu” và “hu piêu” Cách làm của họcùng giống cách làm của người Thái Cách trang trí này đã làm tăng thêm vẻ đẹpcủa chiếc khăn và làm nổi bật đồ án hoa văn ở hai đầu khăn Hoa vàn chủ đạotrên hai đầu khăn là hình hoa ba piêu(lá rau bợ), hình răng cựa

Đời sống văn hóa: Người Kháng có nhiều truyện kể dân gian, có múa xòe,chơi sáo trong ngày lễ, cả những khi cúng bố mẹ

Trang 13

1.2.3.Khái quát kinh tế văn hóa xã hội cảu người Kháng ở Than Uyên, Lai Châu

Phương thức canh tác: Làm rẫy phát đốt chọc lỗ tra hạt, trồng nhiều lúanếp làm lương thực chính, nay nhiều nơi chuyển sang cày bừa đất, gieo hạt, córuộng bậc thang nhưng không nhiều Họ chăn nuôi gà, lợn, trâu là phổ biến Đồđan: ghế, rổ, rá, nia, hòm, gùi Người Kháng thường dùng loại gùi một quai,đeo qua trán Họ trồng bông rồi đem bông đổi lấy vải và đồ mặc của người Thái

Tục cưới: Trải qua các lễ thức sau: dạm hỏi, xin ở rể, cưới Lễ cưới lầnđầu được tổ chức cho chàng trai đi ở rể Lễ cưới lần hai, đưa dâu về nhà chồng

để gây dựng gia đình riêng Người cậu có vai trò đặc biệt trong việc dựng vợ gảchồng cho cháu

Tang ma: Theo phong tục người chết được chôn cất chu đáo, trên mộ cónhà mồ, có các đồ vật tùy táng dành cho người chết: hòm đựng quần áo, giỏcơm, ống hút rượu, bát, đũa phía đầu mộ chôn một cột cao 4-5 mét, trên đỉnh

có con chim gỗ và treo chiếc áo của vợ hay chồng người chết Người Kháng cóquan niệm mỗi người có 5 hồn, hồn chính trên đầu và 4 hồn kia ở tứ chi

Nhà ở: Người Kháng ở nhà sàn Nhà thường có 3 gian 2 chái, mái kiểu

mu rùa và hai cửa ra vào ở hai đầu nhà, 2 cửa sổ ở hai vách bên Trước kia, mái

ở hai đầu hồi thường được làm thẳng, hiện nay nhiều nơi đã làm mới hình máirùa như nhà người Thái Đen Mỗi nhà có hai bếp lửa (một bếp để nấu ăn hằngngày, còn một bếp để sưởi và để nấu đồ cúng khi bố mẹ chết)

Trang phục: Người Kháng không có nghề dệt vải, nên họ thường dùngsản phẩm đan lát và các sản phẩm khác để trao đổi lấy vải và quần áo của ngườiThái, nên trang phục của họ giống trang phục của người Thái

2.Những giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc kháng

Người Kháng vốn có nền nghệ thuật diễn xướng dân ca của họ khá phongphú, gồm nhiều loại, mỗi loại có nhiều bài, điệu khác nhau, đặc biệt các hìnhthức hát giao duyên nam nữ là sinh hoạt sôi nổi và hấp dẫn

Người Kháng có nhiều truyện cổ tích, thơ ca, tục ngữ, đồng dao, phongsao, câu đố, văn hóa dân gian truyền thống của dân tộc Kháng rất phong phú và

Trang 14

đậm tính nhân văn.

2.1.Dân ca

Hát trong lễ hội Pang Á: Lễ hội Pang Á là lễ hội lớn nhất của ngườiKháng Lễ hội này thường được được tổ chức vào tháng 10, sau thời kỳ thuhoạch Lễ hội Pang Á do thầy mo đứng ra tổ chức tại nhà riêng Khi ấy thầy mo

cử người trong gia đình đi mời những người bị ốm đau đã được ông chữa trị chokhỏi bệnh đến dự lễ hội Những người này được gọi là con nuôi của thầy mo.Khi đến lễ hội các con nuôi phải mang theo lễ vật Nếu con nuôi là người ốmnặng thì lễ vật phải mang theo là 1 con lợn, 1 vò rượu, 1 chai rượu Nếu connuôi là người ốm bình thường thì lễ vật mang theo chỉ là 1 con gà, 1 chai rượu

và 1 sải khăn đến để múa Ngoài những bệnh nhân đến tạ ơn thầy mo còn có rấtnhiều người từ bản gần, bản xa cũng về dự lễ hội

Bà Lò Thị Phấu kể rằng: “Khi biết tin bản nào tổ chức lễ hội Pang Á thìcho dù họ đang ở xa xôi, đang phát nương, rẫy cỏ, họ cũng bỏ cuốc, bỏ dao đểđến với lễ hội Bởi vì lễ hội này rất vui và đây cũng là dịp để thanh niên nam nữgặp nhau hát múa giao duyên, tỏ tình”

Đêm hội, trai gái tỏ tình với nhau bằng những khúc hát đối đáp Lời hátđược ngẫu hứng tùy theo diễn biến tình cảm của hai bên nam nữ, tùy theo hoàncảnh, khung cảnh cụ thể, mà người ta hát ứng tác cho phù hợp Cuộc hát kéo dàiđến gần sáng mới chia tay nhau ra về

Lời hát có đoạn:

Từ bản gần bản xa

Cùng nhau đến xòe Pang Á

Chớ để dứt tiếng trống, tiếng chiêng

Cùng nhau hát giao duyên

Đến tờ mờ sáng mới về

Ai ơi hãy nhớ đừng quên nhé

Cho dù ta có đi đâu

Tâm hồn ta linh cảm rằng mãi mãi bên nhau

Rồi lễ hội năm sau ta lại gặp gỡ

Trang 15

Chớ vội quên nụ cười

Chớ vội quên ánh mắt đêm nay

Ai ơi, cho dù hạnh phúc bao nhiêu

Hãy nhớ mãi không quên đêm hội Pang Á này

Xòe (múa) trong lễ hội Pang Á có 4 điệu và được đệm bằng âm nhạc củatrống, chiêng, cơ dơng và bẳng ỏng tệnh (dỗ ống)

Hát Tang Lo: Tang Lo là bài hát cổ kể về câu chuyện tình dang dở củađôi trai gái Họ yêu nhau nhưng không lấy được nhau nên người đi lấy vợ kẻ đilấy chồng nhưng tình cảm, tâm hồn của họ vẫn dành cho nhau Vì vậy, mỗi khinghe tiếng hót buồn bã của con chim Tang Lo, họ lại nhớ đến nhau Họ nghĩrằng người yêu đã chết và biến thành con chim Tang Lo bay về để tâm sự Khi

ấy họ gác mọi chuyện để hát đối với con chim Tang Lo:

Chim ơi! Giữa bầu trời đầu xuân đẹp

Chim bay từ phương nào đến đây

Sao giọng chim buồn thế!

Chim có phải hồn người mà tôi yêu quý năm xưa?

Nếu phải thì hãy hót mãi nghe chim

Kể lại những tháng năm của tuổi còn son ấy

Ông trời không xe duyên thành lứa, thành đôi vợ chồng

Hôm nay đây, tại nơi này chỉ mỗi mình tôi

Chim hãy hót và hót mãi nghe chim

Khi nào chim hót mệt, chim hãy bay đi

Và mong chim giữ lời hứa năm xưa mà hai ta đã hò hẹn

Cho dù đi ở phương trời nào

Cho dù sống hay chết

Lời hẹn đó ta sẽ không quên, phải vậy không chim?

Hãy trả lời ta đi

Chim ơi sao buồn thế!

Ước gì ta hóa thành chim

Cùng chim bay đến phương trời nào đó để xây tổ ấm

Trang 16

Nhưng giờ đây quá muộn rồi phải không chim?

Chính tiếng hót này người không còn sống nữa phải không?

Chỉ là linh hồn đến chào vĩnh biệt?

Thì tôi xin viếng người bằng tiếng hát tiễn đưa

Tôi xin mang cả tâm hồn năm xưa đến viếng người

Hẹn kiếp sau gặp lại, sẽ đem hạnh phúc trọn đời nghe chim

Hát ru:

Bố mẹ đi nương đi rẫy

Ông ở nhà trông con

Cho bố mẹ yên tâm đi làm

Ông bà ở nhà có việc nhà việc cửa

Ru con ngủ, con ngủ cho ngon

Để ông bà làm các việc trong nhà, quét dọn

Nấu cơm nấu canh chờ bố mẹ đi nương đi rẫy

Bố mẹ về con mới dậy đón mẹ đón bố

Bố mẹ về mang hoa quả về cho con

Hát giao duyên: Khi tỏ tình, nam nữ thanh niên Kháng thường dùng lời

ca tiếng hát để thể hiện tình cảm của mình Họ hát ở mọi nơi, mọi chỗ, hát khi đilàm nương, khi đi chợ, khi đến lễ hội, khi đi chơi buổi tối

Bà Lò Thị Phấu kể rằng: “Mang tiếng đi làm nương, làm rẫy nhưng khilên đồi trai gái gặp nhau là hát đối đáp trêu nhau, tán nhau có khi chẳng đượcnhát cuốc nhát xẻng nào”

Thời điểm hát giao duyên nhiều nhất là vào khoảng tháng 9, tháng 10, khimùa màng đã gặt hái xong, mọi người đều nhàn rỗi Vào những đêm trăng sáng,đẹp trời, thanh niên nam nữ tổ chức vui chơi ở dưới sân nhà một cô gái nào đó.Nam nữ hát đối đáp giao duyên với nhau đến khoảng nửa đêm Nếu đôi trai gáinào yêu nhau, cô gái sẽ rủ người mình yêu lên nhà chơi và cùng nói chuyện Sau

đó, người con gái xin phép người yêu đi ngủ trước và người con trai cứ ngồi đóchơi thêm một lúc rồi trốn bố mẹ người yêu để vào chỗ ngủ của người con gái

và tâm sự đến 2 -3 giờ sáng người con trai mới trở về nhà mình

Trang 17

Thí dụ hai khổ đối đáp nam, nữ:

Nam hát:

Tôi ở xa nhìn thấy lửa,

Ở xa nhìn thấy nước

Nhìn thấy áo chàm đen, lòng muốn mặc

Nhìn thấy người má hồng, lòng muốn hỏi thăm

Nữ hát:

Hôm nay, giờ đẹp, ngày đẹp mới gặp anh

Ta gặp nhau thì vui chơi với nhau

Nếu anh có vợ rồi thì xin nói chuyện với chồng người khác

Đừng để cho vợ anh biết, vợ anh sẽ đánh, sẽ chửi em…

2.2 Nhạc cụ

Theo lời của các nghệ nhân thì người Kháng có các nhạc cụ như trống,chiêng, pí tam lay, biếng tóng (đàn môi), cơ dơng, bẳng ỏng tệnh nhưng tại thờiđiểm khảo sát thì trong bản không còn một nhạc cụ nào Mặc dù, chúng tôi đãtạo điều kiện để cho nghệ nhân phục hồi lại nhạc cụ nhưng họ cũng chỉ phục hồiđược 2 loại nhạc cụ đó là: cơ dơng và bẳng ỏng tệnh

Cơ dơng có cấu tạo tương tự như nhạc cụ đao đao của người Khơ mú Cơdơng được làm từ một ống nứa có đường kính khoảng 3,5 cm, dài khoảng 60

cm Cơ dơng là nhạc cụ gõ, chủ yếu do con gái sử dụng Cơ dơng có thể dùng đểđộc tấu, hòa tấu với biếng tóng hoặc làm đạo cụ, nhạc cụ đệm cho điệu múa củangười Kháng

Bẳng ỏng tệnh được làm từ một ống tre có đường kính khoảng 5 cm,chiều dài khoảng 110 cm Đầu mặt dưới cùng của ống tre được giữ lại còn cácđầu mặt trong lòng ống được đục thủng để tạo cột hơi Khi chơi, người diễn tấucầm vào phần trên của ống nứa và dỗ phần có đầu mặt xuống một tấm gỗ Nhạc

cụ này chỉ được sử dụng để hòa tấu cùng với trống chiêng trong điệu múa củangười Kháng

Còn các nhạc cụ khác, chúng tôi chỉ có thể mô tả theo lời kể của nghệnhân:

Trang 18

Biếng tóng (đàn môi) là loại nhạc cụ bằng đồng nhỏ và dùng khoangmiệng để điều chỉnh âm thanh, nhưng cách chơi đàn môi của người Khángkhông giống với cách chơi đàn môi của một số tộc người sống ở vùng Tây Bắc,Việt Nam Chẳng hạn, người Hmông và người Thái dùng ngón tay cái gảy trựctiếp vào một đầu của nhạc cụ còn người Kháng sử dụng một sợi dây để kéo (mộtđầu dây buộc vào nhạc cụ, một đầu quấn vào tay để kéo).

Trống, chiêng, pí tam lay của người Khángcó cấu tạo tương tự như củangười Thái

2.3.Truyện cổ tích

Trong những thể loại văn học dân gian quan trọng và được phổ biến rộngrãi Khái niệm “truyện cổ tích” có một nội dung khá rộng, thường dùng để chỉnhiều loại truyện khác nhau về đề tài và cả về phương pháp sáng tác Khác nhau

về đề tài như các truyện về loài vật, truyện về các nhân vật dũng sĩ hoặc cácnhân vật có những khả năng phi thường về trí tuệ, về sức khỏe, truyện về sốphận các nhân vật có địa vị thấp kém trong gia đình và xã hội, Khác nhau vềphương pháp sáng tác như các loại truyện thần kì, truyện hiện thực Vì vậy đã cókhó khăn trong việc xác định cho khái niệm “truyện cổ tích” một nội dung thậtchặt chẽ Trong hàng loạt định nghĩa đã có về truyện cổ tích, có thể nêu lên mấynội dung nói chung ít nhiều đã có sự thống nhất

Các câu truyện thần thoại giúp ta có thể hình dung được về bức tranh lịch

sử của dân tộc Kháng Các câu truyện cổ tích mang nội dung đấu tranh giữa cáithiện và cái ác, giữa người nghèo và kẻ giàu, giữa người lao động trí tuệ và kẻngồi mát ăn bát vàng, và kết quả bao giờ cũng khẳng định sự toàn thắng củayếu tố thiện và người lao động chăm chỉ

Ngoài ra người Kháng còn rất giỏi tiếng Thái đen và rất thân thiết nên họ

có thể kể cả chuyện người thái như chuyện Khun Lú – Náng Ủa (Chàng Lú –Nàng Ủa) cũng được một số tài liệu nói là của người Kháng và người Thái đennhưng không có tài liệu cụ thể nào chứng minh của dân tộc nào

2.4.Múa

Một số điệu múa truyền thống dân tộc Kháng tỉnh Than Uyên ,Lai Châu

Trang 19

Tăng bu – Điệu múa truyền thống của người Kháng, Than Uyên ,Lai Châu

Lễ hội Pang Phoóng dân tộc Kháng Tỉnh Than Uyên ,Lai Châu

Lễ hội Xen Pang Ả dân tộc Kháng (trích)

Lễ hội “Cà tảm mạn” của dân tộc Kháng

Phong tục hôn nhân của dân tộc Kháng

Độc đáo tục bói chén đặt tên trẻ của người Kháng, Lai Châu

Đặc trưng nhà sàn của dân tộc Kháng

Múa tăng bu (Xek Pang) là điệu múa truyền thống rõ nét nhất của dân tộcKháng Bằng cách nghệ thuật hóa động tác chọc lỗ tra hạt trong lao động sảnxuất vào điệu múa, những động tác tưởngchừng như khô khanNgoài ra, đây còn

là tiết mục vui chơi thu hút được rất nhiều người tham gia, nhất là các thanh niênnam, nữ cứng nhắc nay trở nên uyển chuyển mềm mại và có nhịp điệu hơn.Nhân dịp lễ hội, họ rủ nhau từ các làng bản khác cùng về đây tham gia múa cùngdân bản Nhiều người đứng nối nhau xếp thành vòng tròn lớn, một tay bám lênvai người đi trước, một tay cầm cây tăng bu

Cây tăng bu được làm bằng một đoạn thân cây nứa, có đường kính thânkhoảng 4- 6cm, dài khoảng từ 1,4m- 1,6m tùy theo mỗi người Sau một nhịpdẫn, tất cả mọi người cùng vỗ mạnh cây tăng bu xuống sàn gỗ, tạo nên một dàn

âm thanh cộng hưởng Dàn âm thanh này luôn được giữ nhịp rất đều, nhữngngười tham gia múa vừa phải đảm bảo tạo ra âm thanh, vừa bước uyển chuyểntheo nhịp điệu và giữ nhịp cho đều Sau mấy vòng múa lại xoay chiều di chuyểnmột lần, cứ như thế vòng múa tăng bu tạo cho người tham ra một cảm giác đầm

ấm, đoàn kết, vui vẻ như không hề biết dừng lại

Nếu có một thành viên nào muốn nghỉ sẽ tự rời khỏi vòng và lập tức cóthành viên khác thay thế, vòng múa không bị gián đoạn Có thể nói phần múatăng bu trong chuỗi các tiết mục văn nghệ thể dục thể thao, các trò chơi dân giandiễn ra trong lễ hội của người Kháng là phần chơi hấp dẫn và kéo dài nhất Đặcbiệt các bạn trẻ nam nữ thanh niên tham gia rất đông vui và kéo dài cho tới tậnđêm khuya

Ngày nay, phương thức canh tác theo hình thức chọc lỗ tra hạt vẫn còn

Trang 20

phổ biến trong đồng bào các dân tộc thiểu số, vì vậy điệu múa tăng bu mô tảhình ảnh chọc lỗ tra hạt vẫn còn tồn tại trong đời sống văn hóa văn nghệ củađồng bào Nó như một sản phẩm kết tinh từ sự sáng tạo của đồng bào trong quátrình lao động với một nền tảng âm nhạc dân gian phong phú, đặc sắc Như vậy,múa tăng bu không còn chỉ hạn chế trong một gia đình hay dòng họ mà nó làngày hội chung của cả bản, cả vùng

Múa sạp (Xek Loong) của dân tộc Kháng có nét khác so với điệu múasạp của một số dân tộc khác với nhịp điệu rất sôi động, nhanh, mạnh mẽ Ngườimúa khéo léo và uyển chuyển để không bị vấp vào sạp Múa sạp là một tiết mụckhông thể thiếu trong các lễ hội và cũng là phần lôi cuốn nhiều người tham gia.Từng tốp, từng tốp các chàng trai cô gái trong trang phục truyền thống nắm taynhau, chân nhún nhẩy nhịp nhàng, đều đặn theo nhịp âm thanh của điệu múa.Tuy là tiết mục được đông người tham gia, nhưng không gian giành cho múa sạpkhông cần phải quá rộng như tung còn hay múa xòe Múa sạp thường được diễn

ra ở ngoài trời hoặc cũng có thể tổ chức ở trong nhà hay gầm sàn…

Đạo cụ dùng trong múa sạp tương đối đơn giản gồm từ 2 đến 4 cây trehoặc gỗ to, dài, thẳng dùng để kê hai bên; cần từ 4 đến 8 cây tre nhỏ hơn, thẳng

và nhẹ làm thanh vỗ nhịp; 4 đến 8 người cầm hai đầu thanh vỗ nhịp Như vậy là

đã có thể có một hội múa sạp như ý Số người tham gia múa sạp không hạn chế,không phân biệt nam hay nữ, già hay trẻ Múa sạp là một điệu nhảy dân gianquen thuộc của nhiều dân tộc và ngày nay đã được các nghệ sĩ đưa lên sân khấubiểu diễn như một loại hình nghệ thuật Vì vậy, múa sạp đã, đang tồn tại và sẽcòn sống mãi trong đời văn hóa của dân tộc Kháng nói riêng và dân tộc ViệtNam nói chung

Múa tầm đao (Tỏi Điểng) là một loại nhạc cụ dân gian đặc trưng của một

số dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me như dân tộc Kháng, Khơ Mú,Xinh Mun đang sinh sống trên đất Điện Biên.Tầm đao là loại nhạc cụ chỉ dànhriêng cho phụ nữ, được làm từ thân cây nứa nhỏ, đường kính từ 3-4 cm, dài từ50- 60cm

Để chế tác loại nhạc cụ này, những người phụ nữ Kháng phải vào rừng

Ngày đăng: 11/04/2018, 01:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w