thành mộtcon người mới hoàn thiện trong tư thế vững vàng để bước vào cuộc sống.Giáo dục thể chất là một tiền đề quan trọng trong mọi hoạt động học tập, sinhhoạt của học sinh, thông qua đ
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Hiệp
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 3liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bốtrong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Trần Tuấn Hải
Trang 4hướng dẫn khoa học PGS – TS Nguyễn Hiệp, người đã rất tận tình, chu đáo
và đầy trách nhiệm trong quá trình hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này
Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy cô, các phòng, khoa Trường Đại họcTDTT Thành Phố Hồ Chí Minh Trân trọng cảm ơn Ban giám Hiệu, Thầy côgiáo là giảng viên Giáo dục thể chất, các em sinh viên trường Đại học CửuLong – Vĩnh Long đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu vàthực hiện đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 9 tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Tuấn Hải
Trang 5TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Các quan điểm Hồ Chí Minh về giáo dục con người toàn diện 4
1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất trong trường học: 6
1.3.Cơ sở lý luận và thực tiễn của Giáo dục thể chất 13
1.4 Mục tiêu và nhiệm vụ của Giáo dục thể chất trong trường đại học 18
1.4.1 Mục tiêu 18
1.4.2 Nhiệm vụ bảo vệ và nâng cao sức khỏe 18
1.5 Thực trạng công tác GDTC trong trường học 19
1.6 Thể lực người Việt không đáp ứng cường độ làm việc hiện đại 23
1.7 Thực trạng công tác Giáo Dục Thể Chất của trường Đại học Cửu Long.25 1.8 Đặc điểm sinh lý của lứa tuổi học sinh – sinh viên 26
1.8.1 Đặc điểm hình thái: 26
1.8.2 Đặc điểm các tố chất thể lực của học sinh – sinh viên: 29
1.9 Các công trình nghiên cứu có liên quan 32
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 36
2.1 Phương pháp nghiên cứu: 36
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 36
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu: 36
2.1.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 37
2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm: 37
2.1.5 Phương pháp toán thống kê : 41
2.2 Tổ chức nghiên cứu: 43
Trang 62.2.4 Cộng tác viên: 432.2.5 Thời gian nghiên cứu: 44
CHƯƠNG III
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 45
3.1 Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất của trường đại học CửuLong – Vĩnh Long 453.1.1 Đội ngũ giảng viên của nhà truờng: 453.1.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác GDTC ở TrườngĐại học Cửu Long 473.1.3 Chương trình giảng dạy GDTC: 493.1.4 Thực trạng kết quả học tập môn giáo dục thể chất của sinh viênTrường Đại học Cửu Long: 533.1.5 Đánh giá trình độ thể lực của sinh viên Trường Đại học Cửu Long-Vĩnh Long 553.2 Nghiên cứu cải tiến chương trình giáo dục thể chất bằng phương phápđược lựu chon 613.2.1 Khách thể thực nghiệm: 613.2.2 Kế hoạch thực nghiệm: 613.3 Đánh giá hiệu quả cải tiến chương trình giáo dục thể chất Trường Đại họcCửu Long – Vĩnh Long 693.3.1 Kết quả khảo sát sự hứng thú, động cơ và thái độ tập luyện TDTTtrước và sau thực nghiệm của 2 nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng: 69
Trang 7nghiệm và nhóm đối chứng: 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
KẾT LUẬN 81
KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Viết tắt Thuật ngữ tiếng Việt
CLB TDTT Câu lạc bộ thể dục thể thao
ĐH TDTT TPHCM Đại học Thể dục thể thao thành phố Hồ Chí Minh
GD & ĐT Giáo duc và đào tạo
Trang 91 Bảng 3.1: Thực trạng đội ngũ giáo viên Trường Đại học Cửu
5 Bảng 3.5 Nội dung phân bổ chương trình học GDTC của
6 Bảng 3.6 Bảng tổng hợp phiếu phỏng vấn nội dung chương
7 Bảng 3.7: Kết quả học GDTC của sinh viên năm nhất, năm hai
8 Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra thể lực sinh viên nam – nữ lứa tuổi
18 – 19 (năm I, II) Trường Đại học Cửu Long – Vĩnh Long 54
9 Bảng 3.9: Tiêu chuẩn luyện thân thể theo Quyết đính số
53/2008/Đ-BGDĐT của nam và nữ lứa tuổi 17 – 20 tuổi 55
10 Bảng 3.10 kết quả phỏng vấn chương trình thực nghiệm 62
11 Bảng 3 11 Mẫu cấu trúc của giáo án củ và mới 63
12 Bảng 3.12: Kết quả phỏng vấn các tiêu chí đánh giá hiệu quả
13
Bảng 3.13 Kết quả phỏng vấn sự hứng thú, động cơ, thái độ
học tập của sinh viên Trường Đại học Cửu Long – Vĩnh Long
trước và sau thực nghiệm
71
14 Bảng 3.14 Kết quả học tập môn GDTC của sinh viên Trường 74
Trang 10học Cửu Long – Vĩnh Long ở 2 nhóm trước thực nghiệm 77
16 Bảng 3.16 Kết quả kiểm tra thể lực sinh viên nữ Trường Đại
học Cửu Long – Vĩnh Long ở 2 nhóm trước thực nghiệm 7817
Bảng 3.17 Kết quả kiểm tra thể lực của sinh viên nữ Trường
Đại học Cửu Long – Vĩnh Long ở 2 nhóm sau thời gian cải tiến
chương trình
Sau79
18
Bảng 3.18 Kết quả kiểm tra thể lực của sinh viên nam Trường
Đại học Cửu Long – Vĩnh Long ở 2 nhóm sau thời gian ứng
dụng chương trình cải tiên
Sau79
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1: Kết quả học tập của sinh viên năm I và năm II 53
Trang 113 Biểu đồ 3.3: Kết quả học tập nội khóa trước và sau thực nghiệm của
2 nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. 75
4 Biểu đồ 3.4: Kết quả kiểm tra thể lực sinh viên nam Trường Đại học
5 Biểu đồ 3.5 : Kết quả kiểm tra thể lực sinh viên nữ Trường Đại học
Cửu Long – Vĩnh Long ở 2 nhóm trước thực nghiệm. 79
Trang 12Giáo dục thể chất cho học sinh - sinh viên là một trong những nhiệm vụquan trọng nhằm bồi dưỡng sức khỏe, tinh thần, trí thông minh thành mộtcon người mới hoàn thiện trong tư thế vững vàng để bước vào cuộc sống.Giáo dục thể chất là một tiền đề quan trọng trong mọi hoạt động học tập, sinhhoạt của học sinh, thông qua đó rèn luyện cho học sinh về đạo đức, ý thức tổchức kỷ luật, tinh thần tập thể tác phong công nghiệp nhằm tạo những conngười mới trong tư thế sẵn sàng bước vào thế kỷ của khoa học hiện đại.
Ngày 17.04.1993 Liên Bộ Giáo dục - Đào tạo, Tổng cục Thể dục thểthao đã ra Thông tư Liên Bộ 04/04/GDĐT - Thể dục thể thao về việc đẩymạnh và nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong học sinh - sinh viên,phát động phong trào luyện tập rộng khắp trong nhà trường các cấp với mụctiêu: "Mỗi học sinh - sinh viên biết chơi một môn thể thao", đưa hình thứchoạt động ngoại khoá thể dục thể thao vào trong trường học, nâng cao chấtlượng phong trào Hội Khoẻ Phù Đổng ở cơ sở và sức khoẻ của học sinh –sinh viên
Giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp cũng giữ vai trò quan trọngtrong chiến lược phát triển thể dục thể thao Ngày 24/ 3/ 1994 Ban bí thưTrung ương Đảng đã ra chỉ thị số 36 CT/ TW về công tác giáo dục thể dục thể
thao trong giai đoạn mới: “Xây dựng chiến lược phát triển con người là quốc sách hàng đầu để đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển cả về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần và trong sáng về đạo đức”.
Trang 13Ngày 03/05/2001 theo quyết định số 14/2001 QĐ-BGD&ĐT ban hànhquy chế về các hình thức họat động giáo dục thể chất trong trường học baogồm: Hoạt động thể dục thể thao (TDTT) nội khóa và hoạt động TDTT ngoạikhóa theo kế họach của nhà trường.
Trong chỉ thị số 133/TTg của Thủ tương Chính phủ về xây dụng quy
hoạch và phát triển ngành TDTT nêu rõ: “Bộ Giáo dục và Đạo tạo cần đặc biệt coi trọng việc giáo dục thể chất trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh ở các cấp Có quy chế bắt buộc các trường nhất là các trường đại học phải có sân bãi, phòng tập TDTT…mục tiêu cơ bản của công tác TDTT trong trường học là bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho học sinh, sinh viên, góp phần cải tạo đời sống, xây dựng nhân cách, nâng cao dân trí và phát triển thể lực cho thế hệ trẻ, sẳn sàng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đật nước. Chỉ thị 133/TTg của Thủ tướng Chính phủ 21/04/1997, về kế hoạchphát triển sự nghiệp TDTT ngành GD & ĐT thời kỳ 1996 – 2000 và địnhhướng đến năm 2010
Do chương trình đào tạo Giáo dục thể chất của trường chưa đủ so vớinhu cầu hiên nay, số tiết học nội khóa thể dục còn ít (75 tiết ở khối Cao Đẳng
và ở bật Đại học) Sinh viên được tham gia học tập môn thể chất ngắn gọnvào những năm đầu, nên sức khỏe và thể lực của sinh viên phát triển khôngđồng điều và thường bị giảm sút trong quá trình học, nhất là ở năm học cuối,làm ảnh hưởng đến việc học tập các em Đồng thời các em học sinh – sinhviên không có cơ hội bộc lộ năng khiếu, khả năng của mình
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác giáo dục thể chất, cần phải cảitiến chương trình giảng dạy Nếu được như vậy thì ngoài nền tảng thể lực cơbản được trang bị trong giờ học thể dục chính khóa, các em còn có thể biết thêm
và chơi được một số môn thể thao, từ đó sức khỏe sẽ được tăng cường hơn,ngoài ra còn có thể phát triển thêm môt số kỹ năng cần thiết cho cuộc sống
Trang 14Trường Đại học Cửu Long được thành lập theo Quyết định số 04/2000/QĐ-TTg ngày 05 tháng 1 năm 2000 của Thủ tướng chính phủ Trường Đạihọc Cửu Long là trường đại học ngoài công lập đầu tiên của khu vực Đồngbằng sông Cửu Long, qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển không ngừnglớn mạnh, thương hiệu của trường được xã hội đón nhận Trường Đại họcCửu Long là một trong số ít các trường đại học ngoài công lập trên cả nước có
cơ sở vật chất khang trang, hiện đại với diện tích hơn 22 hecta , trường cóchức năng đào tạo con người trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đào tạo các trithức trẻ, thế hệ những nhân tài để đóng góp vào sự thành công chung của đấtnước Trong những năm gần đây, điều kiện cơ sở vật chất của trường đã cónhững cải thiện đáng kể, đồng thời lực lượng giảng viên, huấn luyện viêncũng được đào tạo chính quy, có khả năng đảm đương được việc giảng dạynhững môn thể thao phổ biến Tìm hiểu và xác định nhu cầu tập luyện củahọc sinh - sinh viên ở những môn thể thao cụ thể cũng là một trong những cơ
sở để các hoạt động ngoại khoá về thể dục thể thao thu được kết quả tốt hơn
Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Cải tiến chương trình giảng dạy môn học giáo dục thể chất ở Trường
Đại học Cửu Long”
Mục đích nghiên cứu
Cải tiến chương trình môn học giáo dục thể chất ở Trường Đại họcCửu Long
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất hiện tại
của Trường Đại Học Cửu Long
Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu cải tiến chương trình giáo dục thể chất của
Trường Đại Học Cửu Long
Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiểu quả việc cải tiến chương trình giáo dục thể
chất tại Trường Đại học Cửu Long
Trang 15CHƯƠNG I TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Các quan điểm Hồ Chí Minh về giáo dục con người toàn diện.
Hồ Chí Minh được thế giới công nhận danh hiệu anh hùng giải phóng dântộc và danh nhân văn hóa Lúc sinh thời, Bác luôn quan tâm đến việc rènluyện thể dục coi đó là phương pháp hữu hiệu để nâng cao được sức khỏenhằm hoàn thành tốt công việc và có sức khỏe để chiến đấu Có thể nói, Bác
là hiện thân của sự đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, là người đặt nền móngđầu tiên xây dựng ngành Thể Dục Thể Thao Việt Nam và phát triển phongtrào tập luyện Thể dục thể thao (TDTT) nước nhà Trong hai cuộc khángchiến chống Pháp, chống Mỹ đầy khó khăn , gian khổ, Bác vẫn không quêntập luyện TDTT hằng ngày, và kêu gọi, động viên mọi người tham gia rènluyện sức khỏe Cuộc đời của Bác trải qua nhiều phong ba bão tố, được tiếpxúc với nhiều người, đến được nhiều quốc gia, Bác đã đúc kết và nhìn nhậnđược vai trò của TDTT đối với con người là rất quan trọng Tháng 03 năm
1941 trong chương trình cứu nước của mặt trận Việt Minh, Bác đã nêu rõ: “
Khuyến khích và giúp đỡ nền giáo dục quốc dân, làm cho nòi giống thêm khỏe mạnh”
Vào cuối tháng 3/1946 Người ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục: “Giữgìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần sức khỏemới thành công Mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt mộtphần, mỗi một người khỏe mạnh, tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe .Dân cường thì nước thịnh Tôi mong đồng bào ai cũng gắng tập thể dục Tựtôi ngày nào cũng tập” lời lẽ ngắn ngọn, xúc tích nhưngchứa đựng nhữngquan điểm, chủ trương, đường lối cũng như tình cảm của người với đất nước
và đặt cơ sở nền tảng cho công tác thể dục thể thao nước nhà Với lời kêu gọi
Trang 16của Bác, đã dấy lên phong trào “ Khỏe vì nước” tại nhiều nơi trong cả nước,
người người cùng nhau ra sức tập luyện thể dục thể thao
Tháng 03/1960, Bác đã tự tay viết thư giử hội nghị cán bộ TDTT toànmiền Bắc Người nêu rằng: “ Muốn lao động sản xuất tốt thì cần có sức khỏe,muốn có sức khỏe thì nên thường xuyên tập luyện thể dục thể thao Vì vậy,chúng ta nên phát triển phong trào thể dục thể thao cho rộng khắp” Đồng thờiBác còn căn dặn: “ Cán bộ thể dục thể thao phải học tập chính trị, nghiên cứunghiệp vụ và hăng hái công tác” nhằm phục vụ sức khỏe cho nhân dân Nhoài
ra ngưới còn nhận định vai trò của thể dục thể thao trong xã hội: “ là mộtcông tác trong những công tác cách mạng khác”.
Bác Hồ rất quan tâm đến vấn đề sức khỏe của nhân dân, rèn luyện sứckhỏe đó là bổn phận, vừa là trách nhiệm của mỗi người dân yêu nước Tháng
3 năm 1946, Chủ Tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục
Người dạy “giữ gìn dân chủ, xây dựng nhà nước, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công”.
Ngày 31 tháng 3 năm 1960 Bác Hồ tự tay viết thư gởi Hội nghị cán bộ
thể dục thể thao miền Bắc Người dạy: “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác
và học tập tốt thì cần có sức khỏe Muốn có sức khỏe thì nên thường xuyên tập luyện thể dục thể thao”.
Trong các quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh, Người rất coi trọngđến công tác đối ngoại của TDTT đó là phương tiện quan trọng để giao lưu,đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam và các nước trên thế giới Những tư tươngcủa Bác luôn soi sáng cho xã hội Việt Nam nói chung và ngành thể dục thểthao nói riêng tạo nên bước đi vững chắc trên đà phát triển bền vững, ổn định,góp phần đưa nền thể thao nước nhà hòa nhập với thế giới
Hồ Chủ Tịch là ngọn cờ đầu những quan điểm, đường lối về thể dục.Lời lẽ rất ngắn gọn, dễ hiểu nhưng khái quát cả quan điểm, chủ trương, đường
Trang 17lối, phương châm và đặt nền tảng cho lý luận và thực tiễn công tác thể dục thểthao của nước nhà thích hợp với mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng.
1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất trong trường học:
Đảng và Nhà Nước ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề sức khỏe cho nhândân Mọi người dân đều khỏe thì năng suất xã hội sẽ nâng lên, đời sống tinhthần vật chất được cải thiện, tạo nên nguồn hạnh phúc to lớn cho mỗi người
và chung cho cả dân tộc Sức khỏe không chỉ nằm trong quyền sở hữu cánhân mà ngày nay được coi như tài sản quốc gia Nhất là đối với thế hệ trẻ,bởi vì các em hôm nay là tương lai đất nước mai sau Và sức khỏe được hìnhthành trên cơ sở quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước về công tác giáodục thể chất Chúng ta cùng khái quát lại tư tưởng Hồ Chí Minh và các vănkiện của Đảng, Nhà nước ta bàn về giáo dục thể chất
Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, tùy vào nhiệm vụ vàtình hình cụ thể, Đảng ta luôn có những Chỉ thị, Nghị quyết lãnh đạo kịp thời,nhằm đẩy mạnh, phát triển phong trào thể dục thể thao Hàng loạt những chỉthị về công tác thể dục thể thao được ban hành như chỉ thị 106/ CT- TW(02/10 /1958), chỉ thị 181/CT-TW (13/ 01/1960), chỉ thị số 5 / TTG (07/ 01/
1966 ), chỉ thị 180/CT-TW (26/08/1970), chỉ thị 227/CT-TW (18/11/1975)đều nhấn mạnh vai trò thể dục thể thao như một nhiệm vụ cách mạng, trong
đó chủ yếu là chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất cho nhân dân, nhất làthanh thiếu niên học sinh – sinh viên
Nghị quyết TW4 khóa VII nêu rõ: Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đếnmục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, trong đó Đức - Trí - Thể - Mỹ được coi
là những vấn đề quan trọng nhằm giáo dục hình thành nhân cách học sinh, sinhviên - những người chủ nhân tương lai của đất nước, có phẩm chất cao về trí tuệ,cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức
Trang 18Chỉ thị 36 CT/TW ngày 24/03/1994 của Ban bí thư Trung ương Đảng
cộng sản Việt Nam nêu rõ “ mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác thể dục thể thao là hình thành nền thể dục thể thao phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt được vị trí xứng đáng trong hoạt động thể thao quốc tế, trước hết là khu vực Đông Nam Á”.
Ngày 23/10/2002 Ban bí thư Trung ương Đảng đã đề ra chỉ thị 17CT/
TW về phát triển thể dục thể thao đến 2010 như sau: Sau 8 năm thực hiện Chỉthị 36CT/ TW của Ban bí thư Trung ương Đảng khóa VII và 4 năm thực hiệnthông tư 03 - TT/ TW của bộ chính trị khóa VII Sự nghiệp thể dục thể thaonước ta đã có bước phát triển đáng khích lệ, góp phần tích cực vào thành tựuchung của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội Thể dục thể thaoquần chúng được mở rộng trong các đối tượng và địa bàn với nhiều hình thứcphong phú đã có 13% dân số thường xuyên tập thể dục thể thao Thể dục thểthao trường học được chú trọng hơn Thành tích các môn thể thao ngày càngđược nâng cao, nhiều môn đạt thứ hạng cao tại các giải khu vực và quốc tế
Những năm đầu thế kỷ XXI, Ban Bí thư Trung Ương Đảng Cộng SảnViệt Nam đã ban hành chỉ thị 17/CT-TW về phát triển TDTT đến năm 2010,
trong đó nhấn mạnh: “Đẩy mạnh hoạt động TDTT ở trường học Tiến tới bảo đảm mỗi trường học đều có giáo viên thể dục chuyên trách và lớp học thể dục đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao giáo dục thể chất, xem đây là một tiêu chí xét công nhận trường chuẩn quốc gia”.
Xuất phát từ các quan điểm và cũng nhằm mục đích hành động củangành thể dục thể thao có thể kết luận rằng: Ngay từ lúc chưa có chính quyềnđến khi lãnh đạo toàn dân đánh giặc ngoại xâm giành được độc lập và thốngnhất đất nước Hiện nay đang chuyển sang thời kỳ phát triển mới đẩy mạnhcông nghiệp hóa Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta trước sau như một rất quan
Trang 19tâm đến việc chăm lo sức khỏe của nhân dân “sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tái sản xuất trí tuệ và vật chất cho xã hội” Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm
của toàn xã hội nói chung, của ngành thể dục thể thao nói riêng Đó cũng là mụctiêu cơ bản, quan trọng nhất của giáo dục thể dục thể thao nước ta
Trong xu thế hội nhập toàn cầu, tăng cường thể chất và bảo vệ sức khỏe
là nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng đối với Đảng và nhà nước ta trong việcphát triển công tác thể dục thể thao trong thời kỳ đổi mới Điều này thể hiệnqua các văn bản của Đảng và nhà nước
Thể dục thể thao có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ, tăng cường sứckhỏe, phát triển và hoàn thiện thể chất cho con người, góp phần tích cực vàoquá trình bồi dưỡng và phát triển nguồn nhận lực, xây dựng đời sống văn hóa
tinh thần phong phú, lối sống lành mạnh nhằm thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh”.
Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của vai trò sức khỏe con ngườiđối với vận mệnh đất nước, cũng như đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc,xây dựng tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đãluôn chú trọng đến việc tăng cường, mở rộng các hoạt động TDTT và đặc biệt
là công tác giáo dục thể chất cho thanh niên
Đường lối, quan điểm của Đảng về công tác TDTT, được hình thànhngay từ những năm đầu của cách mạng nước ta, đã từng bước được bổ sung,hoàn chỉnh phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng vàluôn luôn là kim chỉ nam cho sự phát triển của ngành TDTT nước nhà
Ngay từ những năm 1941, chương trình Việt Minh đã chỉ rõ: “Cần khuyến khích nền thể dục quốc dân, làm cho nòi giống ngày càng thêm mạnh”.
Trang 20Cách mạng tháng tám thành công, sau khi giành được chính quyền,ngày 31 tháng giêng năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 14,thành lập Nha Thể dục Trung ương thuộc Bộ Thanh niên, tiền thân của ngànhTDTT ngày nay [16]
Tháng 3 năm 1946, trong lúc chính quyền cách mạng còn non trẻ đang
gặp vô vàn khó khăn, trong bài báo “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết : “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công Mỗi một người dân yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần; mỗi một người dân khỏe mạnh, tức là góp phần cho cả nước khỏe mạnh Vậy nên tập luyện thể dục, bồi bổ sức khỏe, tức là góp phần cho cả nước khỏe mạnh Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người dân yêu nước Việc
đó không tốn kém, khó khăn gì, gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được Mỗi người lúc ngủ dậy, tập ít phút thể dục, ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ Như vậy là sức khỏe Dân cường thì Nước thịnh Tôi mong đồng bào ai cũng cố gắng tập thể dục Tự tôi ngày nào cũng tập.”[16]
Hưởng ứng lời khuyên của Bác, phong trào thể dục với khẩu hiệu
“Khỏe Vì Nước” đã nhanh chóng phát triển khắp thành thị, nông thôn Kể từ
đó đến nay, lời khuyên tập thể dục của Bác Hồ vẫn giữ nguyên giá trị và trởthành cương lĩnh hành động của TDTT nước ta
Đảng ta luôn khẳng định rõ vị trí quan trọng của TDTT trong chínhsách kinh tế - xã hội nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người tạo rasức mạnh và động lực phát triển đất nước qua các chỉ thị nghị quyết từ trướcđến nay:
- Chỉ thị 112/CT 1989 của hội đồng Bộ trưởng về công tác TDTT:
“ đối với học sinh sinh viên, trước hết nhà trường phải thực hiện nghiêm túc
Trang 21việc giảng dạy và học môn thể dục theo chương trình quy định, có biện pháp
tổ chức, hướng dẫn các hình thức tập luyện và thể thao ngoại khóa ngoài giờhọc.” [4]
- Hiến pháp năm 1992 nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
điều 41 ghi rõ: “Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển TDTT, quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong Trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các thành tích TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện để không ngừng mở rộng các hoạt động TDTT quần chúng, chú trọng hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao” [9]
- Bộ giáo dục và đào tạo trong quyết định 931/QĐ-29/4/1993 ban hànhquy chế về công tác giáo dục thể chất trong nhà Trường các cấp (điều 1chương I; điều 2, 5, 6 chương II; điều 8 chương III) [20]
- Chỉ thị 36/CT/1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mới nêu rõ:
“Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho Trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các Trường học ”.
- Ngày 7/3/1995 Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị số 133/TTg về việc xâydựng quy hoạch phát triển ngành TDTT và giáo dục đào tạo Về giáo dục thể
chất Trường học đã ghi rõ: “ Bộ giáo dục và đào tạo cần đặc biệt coi trọng việc giáo dục thể chất trong nhà Trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khóa, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn về rèn luyện thân thể cho học sinh các cấp học, có quy chế bắt buộc đối với công tác giáo dục thể chất trong các nhà Trường ”[5]
- Pháp lệnh thể dục thể thao được ủy ban thường vụ quốc hội khóa X
thông qua ngày 25 tháng 9 năm 2000, tại điều 14 chương III quy định “Thể dục thể thao trường học bao gồm giáo dục thể chất và hoạt động ngoại khóa
Trang 22cho người học Giáo dục thể chất trong trường học là chế độ giáo dục thể chất bắt buộc, nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng nhu cầu giáo dục toàn diện cho người học Nhà nước khuyến khích thể dục thể thao ngoại khóa trong nhà trường”.
- Liên Bộ Giáo dục và Ðào tạo cùng Ủy ban Thể dục Thể thao đã rathông tư liên tịch số 34/2005/TTLT- BGD&ĐT-UBTDTT ngày 29 tháng 12năm 2005 về việc hướng dẫn phối hợp quản lý và chỉ đạo công tác thể dục thểthao trường học giai đoạn 2006 - 2010 đã chỉ rõ:
Thể dục thể thao trường học là bộ phận đặc biệt quan trọng trong việcnâng sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí, giáo dục nhâncách cho học sinh, sinh viên góp phần đáp ứng công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Thể dục thể thao trường học là môi trường thuận lợi và giàu tiềmnăng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước
Phát triển giáo dục thể dục thể thao trường học phải theo hướng đổimới và nâng cao chất lượng giờ học thể dục nội khóa, đa dạng hóa các hìnhthức hoạt động ngoại khóa, đồng thời tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra tiêuchuẩn rèn luyện thân thể đối với người học
Tăng cường sự phối hợp liên ngành Giáo dục và Thể dục Thể thao,đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa và chuyên nghiệp hóa, tranh thủ từ các nguồnlực xã hội để xây dựng và phát triển Thể dục Thể thao trường học
Tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về Thể dục Thể thao trường học,góp phần nâng cao vị thế của Thể thao Việt Nam trong khu vực và thế giới
Để đảm bảo cho công tác TDTT phát triển đúng hướng, cần tạo sựquản lý thống nhất của Nhà nước, xúc tiến quá trình xã hội hoá TDTT trongcác tổ chức và cơ sở hoạt động, nhất là trong mạng lưới rộng lớn các trườnghọc từ mẫu giáo đến đại học
Trang 23Dạy học thực chất là quá trình tổ chức nhận thức cho người học Mọihoạt động dạy học chỉ có kết quả khi người học ý thức được mục đích họctập một cách tự giác, tích cực học tập với sự nỗ lực tối đa về trí tuệ và thểlực, tự điều chỉnh và điều khiển hoạt động của mình một cách tối ưu.
Do sự phát triển của xã hội về mọi mặt dẫn đến vừa tạo điều kiện chocon người phát triển, vừa đòi hỏi con người muốn tồn tại và phát triển trong
xã hội ấy phải năng động, tự chủ, sáng tạo để có thể thực sự làm chủ bảnthân, làm chủ xã hội Nhiệm vụ của giáo dục phải hướng đến quá trình bồidưỡng cho người học những phẩm chất và năng lực đó
Muốn vậy giáo dục phải lấy học sinh làm hạt nhân, làm trung tâm trongmọi hoạt động giáo dục Nếu không, sản phẩm đào tạo sẽ không đáp ứngđược nhu cầu của xã hội và không thể thích nghi với điều kiện xã hội mới
(Chủ trương về việc đổi mới phương pháp giảng dạy trong giai đoạn hiện nay của Bộ Giáo dục và Đào tạo) [5]
- Luật giáo dục được quốc hội khóa IX nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam thông qua năm 2005 quy định “ Nhà nước coi trọng Thể dục Thể thao trường học, nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng Giáo dục thể chất là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên, được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ mầm non đến đại học”.
Vì vậy công tác GDTC trong Trường hoc với mục tiêu đào tạo học sinhtrở thành người công dân tốt, có kiến thức toàn diện, có sức khỏe và đủ phẩmchất, năng lực góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Muốn con người Việt Nam phát triển toàn diện thì ngày càng phải coitrọng công tác giáo dục thể chất
Trang 241.3.Cơ sở lý luận và thực tiễn của Giáo dục thể chất.
Theo Matveep L.P., Novicop A.D khái niệm rằng “Giáo dục thểchất(GDTC) là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục – giáodưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệuchung của quá trình sư phạm, hoặc là được thực hiện dưới quá trình hình thức
Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn nêu: “GDTC là một loại hình giáodục mà nội dung chuyên biệt là dạy vận động (động tác) và phát triển có chủđịnh các tố chất vận động của con người”
Đào Hùng, Nguyễn Mậu Loan khái niệm “GDTC là một quá trình giáodục mà đặc trưng của nó biểu hiện ở việc giảng dạy các động tác và giáo dụccác tố chất thể lực của con người”
Vũ Đức Thu, Nguyễn Xuân Sinh, Lưu Quang Hiệp, số tác giả khác đãđưa ra khái niệm: “GDTC là một quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạothế hệ trẻ toàn diện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc vàtuổi thọ của con người”
Về GDTC có nhiều khái niệm ở những cách nhìn khác nhau, song nói chungđều nêu lên hai mặt của một quá trình GDTC “giáo dục và giáo dưỡng”
- Thể chất: PGS.TS Nguyễn Toán cho rằng: “Thể chất là chỉ chất lượngthân thể con người Đó là đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chứcnăng của cơ thể, được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều
Trang 25kiện sống (trong đó có giáo dục và rèn luyện) Thể chất bao gồm thể hình, khảnăng chức năng thích ứng”.
- Trạng thái thể chất: Chủ yếu nói về trạng thái cơ thể qua một số dấuhiệu về thể trạng được xác định bằng các cách đo đơn giản như chiều cao, cânnặng, vòng ngực, chân tay… tại một thời điểm nào đó
- Phát triển thể chất: Là quá trình biến đổi và hình thành các tố chất tựnhiên về hình thái và chức năng cơ thể trong đời sống tự nhiên và xã hội Haynói cách khác, phát triển thể chất là một quá trình hình thành biến đổi tuần tựtheo quy luật trong cuộc đời từng người về hình thái, chức năng kể cả những
tố chất thể lực và năng lực vận động Phát triển thể chất phụ thuộc nhiều vàoyếu tố tạo thành và sự biến đổi của nó diễn ra theo quy luật di truyền và cácquy luật phát triển sinh học tự nhiên theo lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,phương pháp và biện pháp giáo dục cũng như môi trường sống
- Năng lực thể chất: Năng lực thể chất chủ yếu liên quan tới những khảnăng chức năng của hệ thống cơ quan trong cơ thể và biểu hiện chủ yếu quahọat động vận động Năng lực thể chất bao gồm kỹ năng vận động kết hợpvới tố chất thể lực Nói một cách ngắn gọn năng lực thể chất bao gồm: Hìnhthái, khả năng chức năng và khả năng thích ứng
- Hoàn thiện thể chất: Vũ Đức Thu cho rằng:“Hoàn thiện thể chất làphát triển thể chất lên một trình độ cao, nhằm đáp ứng một cách hợp lý cácnhu cầu của họat động lao động, xã hội, chiến đấu và kéo dài tuổi thọ sáng tạocủa con người”
Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn cũng đưa ra khái niệm: “Hoàn thiệnthể chất là mức tối ưu (tương đối) với một giai đoạn lịch sử nhất định củatrình độ chuẩn bị thể lực toàn diện và phát triển thể chất cần thiết khác trongđời sống; Phát huy cao độ, đầy đủ những năng khiếu bẩm sinh về thể chất của
Trang 26từng người; Phù hợp với những quy luật phát triển toàn diện nhân cách và giữgìn, nâng cao sức khỏe để hoạt động tích cực lâu bền và có hiệu quả”.
- Thể lực: là sức lực của con người Theo Nguyễn Mạnh Liên: “ thểlực là một nội dung nằm trong định nghĩa chung về sức khỏe” Tác giả chorằng, để đánh giá thể lực cần các chỉ tiêu về hình thái, giải phẩu và sinh lý cònngười, trong đó có 2 chỉ tiêu cơ bản là chiều cao đứng và cân nặng
- Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khái niệm sức khỏe như sau: “Sức khỏe
là một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơnthuần là không có bệnh tật, cho phép mọi người thích ứng nhanh chóng vớicác biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động
có hiệu quả” Sức khỏe gồm có sức khỏe cá nhân, sức khỏe gia đình, sứckhỏe cộng đồng và sức khỏe xã hội Sức khỏe phụ thuộc vào yếu tố môitrường, quá trình nuôi dưỡng, quá trình rèn luyện, những vấn đề chung củatừng nước và cộng đồng thế giới
Vai trò và vị trí của công tác giáo dục thể chất (GDTC) đối với sinh viên:
GDTC là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước
ta, và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân GDTC được hiểu là: “Quá trình
sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người” [54]
GDTC cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm vớiđầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạtđộng của nhà sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sư phạm GDTCchia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất)
và giáo dục tố chất thể lực Trong hệ thống giáo dục nội dung đặc trưng củaGDTC gắn liền với giáo dục, trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động
Trang 27GDTC là một lĩnh vực thể dục thể thao (TDTT) xã hội với nhiệm vụ là:
“Phát triển toàn diện các tố chất thể lực, và trên cơ sở đó phát triển các nănglực thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khoẻ, hình thành theo
hệ thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỹ năng và kỹ xảoquan trọng cho cuộc sống” Đồng thời chương trình GDTC trong các trườngĐại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp nhằm giải quyết các nhiệm
vụ giáo dục đó là: “Trang bị kiến thức, kỹ năng và rèn luyện thể lực cho họcsinh sinh viên”
Để phát triển con người toàn diện và cân đối phải chú ý đến sự thốngnhất giữa các mặt giáo dục Mối tương quan của GDTC và các mặt giáo dụckhác là mối tương quan hỗ trợ lẫn nhau Cùng với GDTC, người học cần tiếpthu các mặt giáo dục khác và đồng thời thông qua GDTC các mặt khác cũngđược phát hiện Không thể tách rời GDTC với tinh thần của con người
Nội dung chương trình GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng vàTrung học chuyên nghiệp được tiến hành trong cả quá trình học tập của sinhviên trong nhà trường bằng các hình thức:
Giờ học thể dục thể thao chính khoá:
Là hình thức cơ bản nhất của GDTC được tiến hành trong kế hoạch họctập của nhà trường Vì việc đào tạo cơ bản về thể chất, thể thao cho học sinhsinh viên (HSSV ) là nhiệm vụ cần thiết, nên trước hết phải có nội dung thíchhợp để phát triển các tố chất thể lực và phối hợp vận động cho HSSV Đồngthời, giúp các em có trình độ nhất định để tiếp thu được các kỹ thuật động tácTDTT
Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao trongtrường học là: “Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thểchất và thể thao của HSSV, phát triển các tố chất thể lực, phát triển năng lực
Trang 28tâm lý, tạo ý thức tập luyện TDTT thường xuyên, giáo dục được đức tính cơbản và lòng nhân đạo cho học sinh”
Bản thân giờ học GDTC có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt đối với việcquản lý và giáo dục con người trong xã hội Việc học tập các bài tập thể dục,các kỹ thuật động tác là điều kiện cần thiết để con người phát triển cơ thể mộtcách hài hoà, bảo vệ và củng cố sức khoẻ, hình thành năng lực chung vàchuyên môn
Giờ học ngoại khoá - tự tập:
Là nhu cầu và ham thích trong khi nhàn rỗi của một bộ phận HSSV vớimục đích và nhiệm vụ là góp phần phát triển năng lực, thể chất một cách toàndiện, đồng thời góp phần nâng cao thành tích thể thao của HSSV Giờ họcngoại khoá nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học chính khoá và được tiếnhành vào giờ tự học của HSSV, hay dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT.Ngoài ra còn các hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học bao gồm:Luyện tập trong các CLB, các giải thi đấu trong và ngoài trường được tổ chứchàng năm, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng nhưgiờ tự luyện tập của HSSV, phong trào tự tập luyện RLTT Hoạt động ngoạikhoá để động viên lôi kéo nhiều người tham gia tập luyện các môn thể thaoyêu thích, góp phần nâng cao sức khoẻ phục vụ học tập và sinh hoạt
Tác dụng của GDTC và các hình thức sử dụng TDTT có chủ đích ápdụng trong các trường học là toàn diện, là phương tiện để hợp lý hoá chế độhoạt động, nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động, họctập của HSSV trong suốt thời kỳ học tập trong nhà trường, cũng như đảm bảochuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị thể lực chuyên môn phù hợp với nhữngđiều kiện của nghề nghiệp trong tương lai
Trang 291.4 Mục tiêu và nhiệm vụ của Giáo dục thể chất trong trường đại học.
1.4.1 Mục tiêu.
Mục tiêu của giáo dục thể chất trong nhà trường góp phần cùng với cáclĩnh vực khoa học khác nhằm đào tạo người sinh viên trở thành những ngườicông dân tốt, người cán bộ tốt, chiến sĩ tốt trong tương lai có kiến thức toàndiện, có đủ sức khỏe, có đủ phẩm chất và năng lực để phục vụ cho sự nghiệpcủa đảng và nhân dân Bên cạnh đó, giáo dục thể chất giúp cho học sinh sinhviên hoàn thiện phẩm chất, nhân cách, đạo đức của con người góp phần chuẩn
bị về mặt tinh thần cho sinh viên sau khi ra trường Đó là phương hướngchiến lược quan trọng nhất của giáo dục đại học
Phấn đấu đưa việc dạy và học thể dục vào nề nếp trong các trường Đạihọc, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp, nâng cao từng bước chất lượnggiản dạy trong giờ học nội khóa và ngoại khóa nhằm phát triển thể lực toàndiện và nâng cao thành tích thể thao trong sinh viên
Cải tiến phương pháp, các hình thức giản dạy, phấn đấu tạo điều kiện đảmbảo tối thiểu cho giáo dục thể chất về đạo tạo các bộ, cơ sở vật chất, kinh phí
và chế độ đãi ngộ cho giáo viên TDTT.
1.4.2 Nhiệm vụ bảo vệ và nâng cao sức khỏe.
Phát triển bền vững các tố chất vận động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền,khả năng phối hợp vận động …)và năng lực vận động cơ bản (đi, chạy, nhảy,leo chèo, mang vác …) nâng cao khả năng làm việc về trí lực và thể lực Pháttriển toàn diện các năng lực thể chất hệ thống tim mạch, hô hấp…
Phát triển thể chất làm sức đề kháng của cơ thể tăng lên khả năng chịuđựng với những ảnh hưởng bất lợi của mọi trường bên ngoài với cơ thể tăng,giúp phòng chóng được bệnh tật
Thân thể và tinh thần, trí tệ của con người không tách rời nhau Thể chấtcường tráng tinh lực xung mãng, sức sống dồi dào có ảnh hưởng to lớn đến
Trang 30trạng thái tinh thần của con người và ngược lại Vì vậy để nâng cao sức khỏecũng cần chú ý gắn kết “khí quyết lưu thông” và “tinh thần minh mẫn” vớinhau.
1.5 Thực trạng công tác giáo dục thể chất(GDTC) trong trường học
Cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, việc thực hiện giảng dạyGDTC trong trường học đã ngày một nâng lên, việc rèn luyện thể chất trởthành “món ăn tinh thần” của học sinh sinh viên(HSSV) Phong trào rèn luyệnTDTT của HSSV nói riêng và của toàn xã hội nói củng được phát triển sâurộng, ngày càng nâng cao chất lượng và hiệu quả
Tại các trường cao đẳng, đại học, công tác GDTC có thể nói được cáccấp lãnh đạo khá quan tâm, thể hiện qua việc thường xuyên đổi mới, nâng caotrang thiết bị cơ sở vật chất, sân bãi dụng cụ và cả đội ngũ GV; một số trường
đã đầu tư cải tạo và xây dựng nhiều công trình TDTT mới to lớn và hiện đại,
đã và đang phục vụ tốt cho công tác giảng dạy nội khóa, hoạt động ngoạikhóa, phong trào hoạt động thể thao quần chúng và các giải thi đấu thể thaosinh viên Nhưng thực tế công tác GDTC và thể thao học đường ở nhiềutrường Đại học và Cao đẳng còn bộc lộ nhiều hạn chế và chưa đáp ứng đượcyêu cầu mục tiêu giáo dục đào tạo đã đề ra Tại các trường đại học, điều vẫn
dễ nhận thấy nhất là cơ sở vật chất vẫn còn thiếu và lạc hậu, thậm chí cótrường còn không có mà phải đi thuê các cơ sở khác hay thậm chí tập ngoàicông viên
Tuy nhiên xét trên khía cạnh chuyên môn, viện thực hiện công tácGDTC trong nhà trường còn chưa được quan tâm đúng mức, hiện tượng cắtgiảm giờ và nội dung chương trình còn xảy ra nhiều, môn GDTC còn bị xemnhẹ nên việc GDTC chưa thật sự phát huy hết được vai trò và mục địch củamôn học Việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật được thực hiện nhỏ giọt, trangthiết bị cũ kỹ, thiếu sân bãi tập luyện chưa đáp ứng được điều kiện môn học
Trang 31nên việc tổ chức giảng dạy gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó là ý thức tự giáctrong học tập, rèn luyện thể chất của học sinh sinh viên chưa cao.
Trong vài năm gần đây cơ sở vật chất, sân bãi tập luyện, nhà thi đấu,phương pháp giảng dạy môn GDTC đã được nâng lên rõ rệt Tuy nhiên, nhậnthức về GDTC của không ít nơi vẫn còn hạn chế, nhiều nơi gần như bỏ ngỏ.Trong các trường học tại thành phố lớn, chỉ bậc học lớn mới có đủ giáo viên(GV) thể dục chuyên trách, cấp tiểu học vẫn còn thiếu nhiều Một số quận,huyện GV chủ nhiệm dạy luôn GDTC nên chất lượng môn học không đảmbảo
Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao sinh viên trong quá trình học tập phần lớnchỉ tập trung vào các môn học có liên quan trực tiếp đến những môn họ sẽ racông tác sau này mà thờ ơ, coi nhẹ việc học môn giáo dục thể chất Điều gìchi phối thái độ của các em đối với môn học GDTC và làm thế nào để nângcao hứng thú, tích cực của sinh viên trong giờ học GDTC Chính là trong suynghĩ của các em chỉ coi môn học GDTC là môn phụ Khi môn chuyên ngànhđược tập trung một cách tối đa như vậy thì đồng nghĩa với việc những mônhọc phụ bị xem nhẹ
Tố chất thể lực yếu, ra tập sợ người khác chê cười, luyện tập vất vả,chưa ý thức được tác dụng của môn học, điều kiện thời tiết xấu, ý thức rènluyện thể dục thể thao chưa cao, điều kiện cơ sở vật chất để tổ chức tập luyệncòn thiếu thốn, hay nội dung môn học còn nghèo nàn là những nguyên nhândẫn tới sự thiếu hứng thú của sinh viên đối với giờ học GDTC
Ngoài ra, nhiều ý kiến nêu lên là cần phải quan tâm hơn tới công tácđào tạo, bồi dưỡng giao viên giáo dục thể chất nhằm chuẩn hoá và nâng caochất lượng đội ngũ này thông qua các hình thức đào tạo nâng cấp, bồi dưỡngnghiệp vụ thường xuyên ở Trung ương (T.W) và địa phương; đổi mới nộidung, giáo trình, chương trình GDTC phù hợp với thực tiễn… Bởi mục tiêu
Trang 32của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đến năm 2015 là phải chuẩn hoá GVdạy GDTC, không còn GV trình độ trung cấp và sơ cấp; đến năm 2020 đảmbảo 100% các trường phổ thông có GV chuyên trách phụ trách môn GDTCtốt nghiệp chuyên ngành GDTC Bên cạnh đó, các địa phương cần dần chuẩnhoá các điều kiện trang thiết bị, dụng cụ TDTT, từng bước đảm bảo trang bịđược cho các bậc học, đặc biệt là bậc tiểu học, nhằm phục vụ tốt cho công tácgiảng dạy và các hoạt động ngoại khoá Vấn đề bồi dưỡng giờ dạy thực hành
và chế độ trang phục đối với GV, giảng viên TDTT theo Quyết định 51, bướcđầu đã được đảm bảo, được cán bộ, GV đánh giá cao Tuy nhiên, lãnh đạonhiều Sở GD&ĐT cũng chỉ ra một số vướng mắc trong việc căn cứ trả tiềncông cho GV làm công tác huấn luyện các đội tuyển HS… Do vậy, thời giantới Bộ GD&ĐT cần có hướng dẫn cụ thể để các địa phương triển khai thựchiện, mang tính ổn định và lâu dài…
Cần nhận thức đúng về tầm quan trọng môn GDTC: Vụ trưởng Vụ Cácvấn đề xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương) Đào Ngọc Dũng cho rằng, cầnquán triệt sâu sắc những quan điểm GD&ĐT của Đảng và Nhà nước, nhậnthức rõ về tầm quan trọng của GDTC và sức khoẻ HS trong hệ thống nhàtrường phổ thông để các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý có sự chỉ đạo và quyếtsách thực tế hơn Ngoài ra, cần không ngừng đổi mới hình thức, nội dung vàcác biện pháp GDTC cho HS ngày càng sinh động, phong phú, sáng tạo, thiếtthực để xã hội đồng tình, các thầy cô giáo, các em HS ủng hộ và tham gia tíchcực Tranh thủ sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, nhằmtạo sức mạnh tổng hợp giải quyết các vấn đề đặt ra cho công tác GDTC trongtrường học Đặc biệt, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xã hội hoá giáo dục,huy động mọi nguồn lực trong công tác TDTT, đầu tư xây dựng cơ sở vật chấttrường học nhằm phục vụ tốt hơn nữa nhằm đáp ứng được yêu cầu mục tiêucủa môn học
Trang 33Một số văn bản hướng dẫn của Nhà nước về thực hiện chương trìnhgiảng dạy còn chung chung, nặng nề về nội dung so với điều kiện thực tế củacác trường cho nên khó có thể áp dụng đúng theo yêu cầu của chương trìnhhọc Trên cơ sở chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, Bộ GD & ĐT có nhiều vănbản, chỉ thị hướng dẫn các trường học đẩy mạnh hơn nữa công tác GDTCtrong nhà trường và đưa ra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể nhằm đánh giá sứckhỏe hàng năm của HSSV Trong đó quy định giờ học chính khóa mônGDTC trong trường trung học phổ thông là 2 tiết/tuần Cuối học kỳ HSSVthực hiện kiểm tra để lấy điểm cộng và điểm trung bình chung Giờ học ngoạikhóa tùy vào tình hình các trường về cơ sở vật chất và tùy vào từng địaphương để áp dụng cho hợp lý Tuy nhiên trong thực tế các trường thực hiệncác tiết học mang tính hình thức mà không quan tâm đến chất lượng thực tế.
Ở bậc đại học, do tính chất đặc thù công tác GDTC, các học phần gồm
cả lý thuyết và thực hành kỹ thuật Các giờ giản dạy lý thuyết chung và cácgiờ giảng dạy kỹ thuật được quy đổi thành giờ chuẩn Giờ học GDTC chínhkhóa của hệ đại học là 150 tiết (05 đơn vị học trình), chia thành 5 học phần,mỗi học phần gồm 1 đơn vị học trình tương đương 30 tiết và phân ra làm 2giai đoạn: Giai đoạn 1: 90 tiết và Giai đoạn 2: 60 tiết
Ở bậc cao đẳng, được quy định 90 tiết (03 đơn vị học trình) và 60 tiết(02 đơn vị học trình) đối với hệ trung cấp Toàn bộ chương trình được quyđịnh được quy định bao gồm phần bắt buộc và phần tự chọn Phần bắt buộcbao gồm các nội dung điền kinh và thể dục Phần tự chọn gồm các môn bóng,
võ thuật, cầu lông, tùy vào điều kiện thực tế của từng trường, tường địaphương mà áp dụng các môn học cho phù hợp Cuối mỗi học kỳ hay kết thúchọc phần HSSV phải kiểm tra lý thuyết và thực hành Bênh cạnh đó HSSVphải kiểm tra trình độ thể lực theo tiêu chuẩn quy định Sinh viên được cấpchứng chỉ GDTC sau khi kết thúc môn học, khi điểm trung bình chung môn
Trang 34học đạt từ 5 điểm trở lên Chứng chỉ GDTC là một trong những điều kiện đểxét tốt nghiệp đại học, cao đẳng.
Tóm lại, GDTC có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao sứckhỏe, thể lực cho mọi người nói chung và cho học sinh nói riêng Đó chính làmục tiêu quan trọng nhất và là kim chỉ nam xuyên suốt từ tiểu học đến hếtTHPT và Cao đẳng, Đại học Vì vậy, việc xây dựng chương trình môn họcGDTC phải luôn có tính khả thi, phù hợp với chương trình khung của BộGiáo dục và Đào tạo quy định, phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi,giới tính, sức khỏe và thể lực của HSSV, đồng thời mở rộng quyền chủ động,sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương trong quá trình thựchiện
1.6 Thể lực người Việt không đáp ứng cường độ làm việc hiện đại
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh nêu thựctrạng báo động về tầm vóc và thể lực của người Việt Nam Chiều cao trungbình của nam thanh niên là 1,61m, nữ 1,53m; lần lượt thấp hơn mức mứcchuẩn là hơn 8 và 9 cm Trong 30 năm qua, chỉ số chiều cao của người Việttăng không đáng kể
“Thể lực người Việt Nam ở mức trung bình thấp, không chịu nổi khi ta tiếnvào công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh nói Ông đềnghị đề án đổi mới giáo dục phải góp phần làm sao trong 10, 20 năm tới cảithiện tốt hơn chiều cao và thể lực người Việt
Hoàn thiện thể chất – một nội dung quan trọng của nền giáo dục đạihọc Việt Nam:
GDTC xuất hiện cùng với xã hội, mang bản chất xã hội và do đó tuântheo các quy luật của xã hội Trình độ phát triển của nền văn hóa nhân loạicàng cao thì vấn đề GDTC càng đươc nâng lên nhằm đáp ứng nhu cầu xã hộicủa con người làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ chính bản thân
Trang 35mình GDTC đồng thời cũng là một quá trình sư phạm với đầy đủ những tínhchất và đặc điểm cuả nó Đó là loại hình giáo dục mà nội dung bao gồm 2 mặtchuyên biệt:
Dạy học vận động: là sự truyền thụ và tiếp thu có hệ thống những cáchthức điều khiển hợp lý sự vận động của con người, qua đó sẽ hình thànhnhững kỹ năng vận động cơ bản cần thiết và những tri thức có liên quan
Tác động có chủ đích đến sự phát triển theo định hướng các tố chất thểlực nhằm nâng cao khả năng vận động của con người
Giảng dạy GDTC và tổ chức các hoạt động TDTT trong các trường đạihọc, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp là một hoạt động mang tính nhân vănnhằm thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý,kinh tế và văn hóa xã hội, phát triển con người hài hòa về mọi mặt Đức – Trí– Thể - Mỹ, có năng lực chuyên môn cao, năng động và sáng tạo đáp ứngđược yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thông qua các hoạtđộng TDTT giúp cho người học phát triển cơ thể hoàn chỉnh, cân đối, bảo vệ
và tăng cường sức khỏe phòng chống bệnh tật, nâng cao hiệu quả học tập vàlao động sáng tạo GDTC còn góp phần hình thành phẩm con người như nângcao ý chí, lòng dũng cảm, tính tự tin, khả năng vượt qua gian khó Bên cạnh
đó, các hoạt động TDTT củng góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội, tạo môitrường giao lưu lành mạnh và xây dựng nếp sống văn hóa
GDTC góp phần duy trì và củng cố sức khỏe của HSSV, phát triển cơthể một cách hài hòa, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thóiquen xấu, RLTT đạt những chỉ tiêu thể lực quy định cho từng đối tượng vànăm học trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi Hiện nay, hầuhết các trường từ bậc tiểu học đến đại học đều thực hiện tốt chủ trương củaĐảng, nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong trường học Mỗi trường đềuđưa vài môn thể thao thích hợp với điều kiện cụ thể của trường mình cho
Trang 36HSSV tự chọn một môn yêu thích để tập luyện thường xuyên cả ngoại khóalẫn chính khóa.
1.7 Thực trạng công tác Giáo Dục Thể Chất của trường Đại học Cửu Long.
Giáo dục thể chất là hoạt động thể dục thể thao trong trường học cáccấp, một trong những nhân tố cơ bản góp phần hiện mục tiêu giáo dục toàndiện cho học sinh Nó thực sự có vị trí quan trọng trong việc giáo dục thế hệtrẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và thể chất của họcsinh – sinh viên, phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướctrong tương lai
Trong những năm qua, được sự quan tâm, chỉ đạo của Ban Giám Hiệunhà trường đã nâng cao chất lượng đội ngũ GV, cơ sở vật chất để phục vụ chocông tác giáo dục thể chất trong nhà trường Qua đánh giá chung thì hiện nay
cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên thể chất của nhà trường đã đáp ứng đượcyêu cầu của việc dạy học nói chung và đáp ứng được nhu cầu tập luyện ngoạikhóa nói riêng của học sinh – sinh viên
Trường Đại học Cửu Long đã có trên 15 năm hình thành và phát triển (2000 – 2016); nhiều năm gần đây được đánh giá là một trong nhiều trường đạt chất lượng cao với tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp hàng năm đạt khoảng 80%; đạt danh hiệu “ Biểu tượng vàng, nguồn nhân lực Việt Nam” vào ngày 30 thang 09 năm 2011.
Do ở vùng Đồng Bằng nên diện tích trường có trên 200.000.000 m2 cóvườn thực vật, khu hoạt động thể thao thông dụng, sân bóng đá, bãi tập Vớiđội ngũ 6 giảng viên tốt nghiệp Đại Học TDTT phụ trách môn giáo dục thể
chất cộng với sự quan tâm của BGH Nhà Trường đã đưa trường Đại học Cửu
Long là một trong những trường luôn dẫn đầu về hội khỏe phù đổng cấp tỉnh,khu vực trong nhiều năm
Trang 37Quan điểm của Ban Giám hiệu trường:
Ban Giám hiệu nhà trường đã khẳng định: “Trong bối cảnh hội nhập, giáo dục sinh viên có đầy đủ tố chất : Đức, Trí, Thể, Mỹ là một yêu cầu mà giảng viên toàn trường phải chú trọng” Để nâng cao hiệu quả của công tác
giáo dục thể chất, ngoài việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị Ban giámhiệu Nhà trường không ngừng đòi hỏi thay đổi phương pháp cũng như thờilượng chương trình giảng dạy nhằm tạo tất cả những điều kiện tốt nhất chosinh viên tập luyện
Thực hiện chương trình :
Thực trạng của trường chúng tôi đã đáp ứng gần như yêu cầu của BộGiáo Dục và Đào Tạo về công tác giáo dục thể chất, như đảm bảo đượcchương trình theo quy định, ngoài ra còn tham gia giảng dạy chương trìnhTDTT ngoại khóa nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, tập luyện của học sinh –sinh viên
Căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chật và tình hình nhu cầu học tập củasinh viên, chúng tôi tiến hành giảng dạy theo nhu cầu của các em
1.8 Đặc điểm sinh lý của lứa tuổi học sinh – sinh viên.
Quá trình phát triển thể chất là quá trình phát triển về hình thái và chứcnăng của cơ thể con người
Đặc điểm hình thái và thể lực của lứa tuổi là căn cứ quan trọng để tiến hànhgiáo dục thể chất, chỉ có dựa vào giải phẩu sinh lý và tuân theo những quyluật cơ thể thì công tác giáo dục thể chất mới phát huy được tác dụng to lớnđến việc nâng cao năng lực vận động của cơ thể
1.8.1 Đặc điểm hình thái:
Ở lứa tuổi này, cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các
bộ phận vẫn tiếp tục lớn lên, nhưng chậm dần, chức năng sinh lý đã tương đối
Trang 38ổn định, khả năng hoạt động của các cơ quan, bộ phận của cơ thể cũng đượcnâng cao hơn ở bậc trung học cơ sở, cơ thể các em phát triển theo chiều caonhiều hơn, đến bậc trung học phổ thông lại phát triển theo chiều ngang nhiềuhơn, tuy chiều cao vẫn phát triển nhưng chậm dần Và phát triển theo 2 hướnghoạt động sinh lý khác nhau, sự khác nhau ấy càng rõ rệt về tầm vóc, sức chịuđựng và tâm lý.
Hệ cơ:
Lứa tuổi học sinh – sinh viên có khối lượng cơ tăng dần để đáp ứng cáchoạt động thể lực Quá trình hình thành và phát triển các tố chất thể lực cóquan hệ chặt chẽ với sự hình thành các kỹ năng kỹ xảo vận động và mức độphát triển các cơ quan của cơ thể Hoạt động thể lực ở lứa tuổi này diễn ramột cách thuận lợi so với các lứa tuổi khác, tập luyện thể dục thể thao cũnggóp phần thúc đẩy sự phát triển và duy trì các tố chất thể lực
Hệ cơ phát triển mạnh và bền vững, số lượng và chất lượng các sợi cơ tănglên đạt tới 43-45 khối lượng chung, độ bền vững các sợi cơ hoàn thiện hơnnên năng lực vận động của các em được nâng cao
Người trưởng thành, hệ thần kinh có hơn 10 tỷ nơron Các tế bào thầnkinh không sản sinh ra mới mà chỉ suy thoải theo thời gian, nhưng mỗi ngườitrong đời không ai có thể sử dụng hết nguồn vốn trí tuệ của mình Đối với
Trang 39sinh viên năm thứ 3 hệ thần kinh trung ương đã hoàn thiện về cơ chế tế bào.Hưng phấn chiếm ưu thế, khả năng phân tích tổng hợp thông tin cao và sâusắc, dễ thành lập phản xạ và cũng khó phai mờ, hệ thần kinh thực vật hoạtđộng mạnh, tình cảm, tâm lý, cảm xúc thể hiện rõ nét trước và sau thi đấuthể thao.
Trong huấn luyện thể thao, thường dùng các chỉ tiêu tâm lý như: Loạihình thần kinh, thời gian phản xạ, khả năng trí tuệ, khả năng xử lý thông tin,khả năng chú ý… để tuyển chọn, đánh giá trình độ tập luyện của vận độngviên Theo các nhà tuyển chọn thể thao Trung Quốc, thì chỉ số về hoạt độngcủa hệ thần kinh có hệ số di truyền khá cao, khoảng 84-90% [10, 11, 23]
Hệ tuần hoàn:
Mạch đập: Tim của Nam mỗi phút đập 60-80 lần, của Nữ 70-80 lần.Trong tập luyện nhất là các hoạt động điền kinh như chạy tốc độ, chạy cự lytrung bình, và các bài tập thể lực, phương pháp bắt mạch dùng kiểm tra chứcnăng của hệ tim mạch, đánh giá được tình trạng cơ thể và lượng vận động
Huyết áp: Bình thường huyết áp tối đa từ 100mmHg – 130mmHg, dưới100mmHg là huyết áp thấp, trên 130mmHg là huyết áp cao Đối với ngườiViệt Nam bình thường lấy mức trên 140mmHg là huyết áp cao Huyết áp tốithiểu từ 65mmHg – 85mmHg là trung bình.Chỉ số huyết áp là chỉ số tươngđối ổn định, trong quá trình huấn luyện thể thao thì chỉ số huyết áp ít thay đổi
Hệ tim mạch là bộ phận cấu thành của hệ thống oxy, bao gồm: tim,động mạch, tĩnh mạch và mao mạch Ngoài chức năng vận chuyển vậnchuyển oxy đáp ứng cho nhu cầu của tế bào, hệ tim mạch còn vận chuyển vàcung cấp các dinh dưỡng như: hoc mon, vitamin, nguyên tố vi lượng, khoángchất, nước… hệ tim mạch còn đảm bảo nhiệm vụ đào thải chất cặn bã sau quátrình chuyển hóa, trao đổi chất tại tế bào
Người trưởng thành tim nặng khoảng 270 gram, mỗi lần co bóp máu
Trang 40vào khoảng 60-70ml Vận động viên chạy cư ly dài nhịp tim chậm, lưu lượngkhoảng 100-120ml Lưu lượng máu phụ thuộc vào kích thước của tim vàtrạng thái cơ thể (lưu lượng máu khi nằm lớn hơn khi ngồi) Độ lớn của lưulượng máu phụ thuộc vào trình độ tập luyện thể dục thể thao Theo Farphen-Kot, lưu lượng máu của vận động viên ưu tú có thể đạt 170- 190ml Ở trạngthái nghỉ ngơi, một người bình thường có lưu lượng máu qua tim khoảng 3-6lít/phút, trong khi đó ở vận động viên đại lượng này ít hơn do tiêu thụ oxythấp và tiết kiệm năng lượng khoảng 10% Trong tập luyện thể dục thể thao,lưu lượng máu/phút tỉ lệ với cường độ vận động, đại lượng này có thể lên đến30-32 lít/phút nhưng không vượt quá 37 lít/phút [10, 11, 23]
Hệ hô hấp:
Vòng ngực của lứa tuổi này nam trung bình 67,30 cm – 72,22 cm.Dung tích tiếp xúc không khí của phổi khoảng 100 – 120 m2 gần bằng lứa tuổitrưởng thành Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng, khả năng trao đổi chấtcủa phổi tăng lên rõ rệt Tần số thở của tuổi học sinh bậc trung học phổ thông
cơ bản giống người lớn khoảng 10 – 20 lần/ 1phút
Tuy nhiên các cơ thở vẫn còn yếu, cho nên sức co giãn của lồng ngực
ít, học sinh chủ yếu thở bằng bụng Trong tập luyện cần chú ý thở bằng ngực,thở sâu chậm để tăng cường cơ năng cơ quan hô hấp
Về mặt tâm lý các em luôn chứng tỏ mình là người lớn, muốn để chomọi người trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năngphân tích tổng hợp hơn, muốn hiểu nhiều, biết rộng, ưa hoạt động có nhiềuhoài bão, song lại có nhiều nhược điểm đó là thiếu kinh nghiệm trong cuộcsống, bồng bột, nông nổi
1.8.2 Đặc điểm các tố chất thể lực của học sinh – sinh viên:
Tố chất thể lực của con người là tổng hòa các chất, lượng của cơ thể,biểu hiện trong điều kiện cụ thể của đời sống, lao động và hoạt động thể dục