Chăn nuôi lợn đã có nhiều thay đổi, từ quy mô hộ gia đình chuyển sang hình thức chănnuôi tập trung, trang trại hoặc gia trại mang tính công nghiệp, đáp ứngphần lớn nhu cầu về thực phẩm c
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả điều tra, nghiên cứu trong luậnvăn này là hoàn toàn trung thực, chính xác và chưa hề sử dụng để bảo vệmột học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đã được
cảm ơn.Tôi cam đoan các thông tin trích dẫn trong bài luận văn đều được ghi
rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
Tác giả
Tạ Văn Côn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, với
sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tậntình của nhiều cá nhân và tập thể Nhân dịp hoàn thành luận văn tốt nghiệpkhóa học, cho phép tôi được chân thành cảm ơn tới:
Thầy hướng dẫn khoa học đã trực tiếp chỉ bảo tôi hết sức tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo - Sau Đại học, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi và Thú y - Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Trân trọng cảm ơn Lãnh đạo và các chuyên viên Trung tâm Chẩn đoán thú y quốc gia, Lãnh đạo và các chuyên viên thuộc Chi cục Chăn nuôi & thú y tỉnh Bắc Giang, Trạm Chăn nuôi và thú y các huyện, thành phố và các hộ chăn nuôi trên địa bàn các huyện mà tôi đã tham gia, nghiên cứu để thực hiện đề tài.
Cuối cùng Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
và hoàn thành tốt luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
Tác giả
Tạ Văn Côn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái niệm bệnh và tên gọi 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Tên gọi 4
1.2 Tình hình dịch bệnh 5
1.2.1 Tình hình dịch bệnh trên thế giới 5
1.2.2 Tình hình dịch bệnh tại Việt Nam 7
1.3 Căn bệnh 9
1.4 Truyền nhiễm học 12
1.4.1 Động vật cảm nhiễm 12
1.4.2 Động vật môi giới mang và truyền vi rút PRRS 13
1.4.3 Chất chứa mầm bệnh 13
1.4.4 Đường truyền lây 14
1.4.5 Điều kiện lây lan 16
1.5 Cơ chế sinh bệnh 16
Trang 41.6 Triệu chứng, bệnh tích 18
1.7 Đáp ứng của vật chủ đối với PRRSV 21
1.7.1 Đặc trưng đáp ứng miễn dịch dịch thể với PRRS 21
1.7.2 Đặc trưng đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào của PRRS 22
1.8 Chẩn đoán 22
1.9 Phòng bệnh 23
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.3 Địa điểm nghiên cứu 27
2.4 Nội dung nghiên cứu 27
2.4.1 Tình hình mắc PRRS ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ năm 2014 đến 2016 27
2.4.2 Một số thông số dịch tễ của bệnh: Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết và tỷ lệ tử vong 27
2.4.3 Triệu chứng của lợn mắc bệnh Tai xanh 27
2.4.4 Xác định một số yếu tố nguy cơ làm phát tán lây lan, ảnh hưởng đến tình hình dịch PRRS tại một số huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 27
2.4.5 Xác định sự lưu hành vi rút PRRS gây bệnh 27
2.4.6 Đánh giá hiệu lực của vắc xin BSL.PS 100 do Singgapo sản xuất 27
2.5 Nguyên liệu nghiên cứu 27
2.6 Phương pháp nghiên cứu 28
2.6.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin 28 2.6.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh chứng 29
2.6.3 Phương pháp đánh giá hiệu lực vắc xin BSL.PS 100 do Singgapo sản xuất 30
Trang 5CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Diễn biến tình hình dịch PRRS những năm qua 35
3.1.1 Diễn biến tình hình dịch Tai xanh năm 2014 35
3.1.2 Diễn biến tình hình dịch Tai xanh năm 2015 37
3.1.3 Diễn biến tình hình dịch Tai xanh năm 2016 38
3.1.4 Tổng hợp về tình hình dịch Tai xanh của các năm 2014 - 2016 40
3.1.5 Tỷ lệ mắc PRRS theo mùa vụ từ năm 2014 - 2016 44
3.2 Kết quả xác định một số thông số dịch tễ 45
3.2.1 Tỷ lệ lợn mắc và tỷ lệ chết do bệnh Tai xanh 45
3.2.2 Tỷ lệ tử vong của lợn theo các lứa tuổi 49
3.3 Khảo sát triệu chứng của lợn mắc bệnh tai xanh 51
3.3.1 Triệu chứng của lợn thịt mắc bệnh tai xanh 51
3.3.2 Triệu chứng của lợn nái mắc bệnh 52 3.3.3 Triệu chứng của Lợn con theo mẹ mắc bệnh 54
3.3.4 Triệu chứng của Lợn đực giống mắc bệnh 55
3.4 Kết quả xác định một số nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh 55
3.5 Kết quả phân lập vi rút PRRS từ mẫu bệnh phẩm lợn nghi mắc bệnh Tai xanh tại tỉnh Bắc Giang 59
3.6 Kết quả đánh giá hiệu lực vắc xin BSL-PS 100 của Singapo do công ty Thịnh Á cung ứng 59
3.6.1 Quan sát các triệu chứng lâm sàng của lợn thí nghiệm 60 3.6.2 Kết quả kiểm tra nhiệt độ cơ thể của lợn thí nghiệm sau công cường độc 61
3.6.3 Kết quả kiểm tra biến động số lượng bạch cầu trong máu của lợn thí nghiệm 65
Trang 66 3.6.4 Kết quả kiểm tra kháng thể bằng phương pháp ELISA trong
huyết thanh của lợn thí nghiệm 69
3.7 Đề xuất biện pháp phòng, chống dịch PRRS 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72
1 Kết luận 72
2 Đề nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7PRRS : Porcine Reproductive and Resiratory Syndrome
PRRSV : Porcine Reproductive and Resiratory Syndrome Vi rútRNA : Ribonucleic Acid
RT-PCR : Reverse Transcription - Polymerase Chanin Reaction
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tổng hợp tình hình dịch bệnh Tai xanh năm 2014 36
Bảng 3.2 Tổng hợp tình hình dịch bệnh Tai xanh năm 2015 37
Bảng 3.3 Tổng hợp tình hình dịch bệnh Tai xanh năm 2016 39
Bảng 3.4 So sánh về phạm vi dịch, mức độ dịch Tai xanh các năm 2014 - 201640 Bảng 3.5 Đặc điểm thời gian và độ dài của các đợt dịch Tai xanh 42
Bảng 3.6 Biến động tỷ lệ mắc PRRS theo mùa vụ 44
Bảng 3.7 Tỷ lệ lợn mắc và tỷ lệ chết do bệnh Tai xanh 46
Bảng 3.8 Tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang theo loại lợn48 Bảng 3.9 Tỷ lệ tử vong của lợn theo loại lợn 50
Bảng 3.10 Triệu chứng Lợn thịt mắc bệnh tai xanh 52
Bảng 3.11 Triệu chứng lợn nái mắc bệnh tai xanh 53
Bảng 3.12 Lợn con theo mẹ mắc bệnh tai xanh 54
Bảng 3.13 Lợn đực giống khi mắc Tai xanh 55
Bảng 3.14 Kết quả xác định một số yếu tổ nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch bệnh Tai xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 56
Bảng 3.15 Kết quả xét nghiệm vi rút PRRS từ mẫu bệnh phẩm lợn nghi mắc bệnh Tai xanh tại 04 huyện và thành phố Bắc Giang 59
Bảng 3.16 Các triệu chứng lâm sàng ở lợn thí nghiệm sau khi công cường độc 60 Bảng 3.17 Kết quả kiểm tra nhiệt độ của lợn thí nghiệm 63
Bảng 3.18 Kết quả kiểm tra biến động về số lượng bạch cầu trong máu của lợn sau công cường độc (nghìn/mm3 máu) 66
Bảng 3.19 Tỷ lệ phần trăm bạch cầu trong máu của lợn sau công cường độc (%) 67
Bảng 3.20 Kết quả kiểm tra kháng thể trong huyết thanh của lợn thí nghiệm bằng phương pháp ELISA 69
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Vi rút PRRS xâm nhập và phá hủy tế bào đại thực bào 17
Hình 3.1 Biểu đồ so sánh số hộ có dịch, số lợn chết và tiêu hủy từ năm 2014 - 2016 40
Hình 3.2 Biểu đồ về độ dài của các đợt dịch Tai xanh 42
Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc và tỷ lệ chết do bệnh Tai xanh 46
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh theo loại lợn 49
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ tử vong của lợn theo loại lợn 51
Hình 3.6 Biểu đồ diễn biến nhiệt độ cơ thể của lợn số 6, 7, 8, 9 65
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ngày càng phát triển mạnh
và giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nước ta Chăn nuôi lợn
đã có nhiều thay đổi, từ quy mô hộ gia đình chuyển sang hình thức chănnuôi tập trung, trang trại hoặc gia trại mang tính công nghiệp, đáp ứngphần lớn nhu cầu về thực phẩm cho người dân và đã trở thành nguồn thunhập quan trọng đối với các hộ nông dân; đây là một trong những nghề gópphần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp nước ta
Cùng với sự phát triển của chăn nuôi lợn, sự gia tăng số lượng tổngđàn kèm theo đó là sự gia tăng về tình hình dịch bệnh Đã có rất nhiều dịchbệnh được du nhập vào nước ta, chủ yếu theo con đường lưu thông, vậnchuyển, trong đó có Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcinereproductive and respiratory syndrome - PRRS)
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp, hay bệnh Tai xanh là bệnh truyềnnhiễm cấp tính nguy hiểm ở lợn; bệnh gây ra ở mọi lứa tuổi, lây lan nhanh và
có thể bội nhiễm với nhiều loại mầm bệnh khác như: Dịch tả, Phóthương hàn, Tụ huyết trùng, Liên cầu khuẩn, Suyễn, , làm ốm chết nhiềulứa tuổi của lợn Lợn bệnh có biểu hiện triệu chứng đặc trưng là gây ranhững rối loạn về sinh sản (hiện tượng sảy thai, đẻ non ở lợn nái hay lợncon sinh ra chết yểu, chết non ) và những rối loạn về hô hấp (khó thở,ho )
Bắc Giang là tỉnh có nghề chăn nuôi lợn phát triển đem lại nguồn thunhập cao cho nhiều hộ gia đình, theo thống kê tình hình chăn nuôi củaCục Thống kê tỉnh Bắc Giang, năm 2016 tổng đàn lợn của tỉnh đạt 1.214.541con (trong đó 198.022 lợn nái, 1.044.733 lợn thịt) Toàn tỉnh có 445trang trại chăn nuôi lợn tập trung (quy mô 20 nái và 100 lợn thịt trở lên)đây thực sự là một bước tiến mới trong chăn nuôi lợn của tỉnh, góp phần
Trang 112phát triển chăn nuôi lợn bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn có sức cạnhtranh cao trên thị trường.
Trang 12Tại Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ 17 đã
đề ra, phấn đấu đưa tổng số đàn lợn lên 2 triệu con vào năm 2020 Đểđảm bảo cho chăn nuôi phát triển bền vững và đạt được mục tiêu tăngtrưởng thì công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi luôn cầnđược quan tâm chỉ đạo và đầu tư
Những năm gần đây, dịch lợn Tai xanh thường xảy ra trên địa bàn tỉnhgây những thiệt hại lớn cho người chăn nuôi Theo số liệu tổng hợpcủa Phòng Dịch tễ Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh, năm 2007 bệnh Tai xanhlần đầu tiên xuất hiện ở Bắc Giang đã làm 14.223 lợn mắc bệnh, số chết vàbuộc phải tiêu hủy là 3.610 con; từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2010 trên địabàn tỉnh số lợn mắc bệnh 101.371 con, số chết và phải tiêu hủy 24.171con Do vậy, bệnh Tai xanh đã trở thành một hiểm họa đe dọa thườngxuyên với ngành chăn nuôi Là một bệnh gây thiệt hại về kinh tế rất lớn,việc nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ bệnh, lấy mẫu, hướng dẫn tiêm phòngloại vắc xin cho phù hợp và các biện pháp phòng chống dịch hiện tại chưađạt hiệu quả
Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên, nhằm xây dựng các giảipháp khoa học công nghệ phòng và khống chế bệnh Tai xanh một cáchhiệu quả, đảm bảo an toàn dịch bệnh cho ngành chăn nuôi và nâng caohiểu biết về bệnh Tai xanh, đề ra các biện pháp giải pháp phòng chống dịchthích hợp cho người chăn nuôi và cán bộ thú y cơ sở là cần thiết và cấp bách.Trên cơ sở đó, được sự đồng ý của thầy hướng dẫn khoa học, Chicục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Bắc Giang, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của Hội chứng rối loạn sinh sản, hô hấp ở lợn tại một số huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và đánh giá hiệu lực của vắc xin trong phòng bệnh”.
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định các thông số về tình hình dịch bệnh và một số đặc điểm dịch
tễ của bệnh Tai xanh ở lợn tại Bắc Giang;
Trang 13- Xác định được vi rút gây bệnh;
- Đánh giá hiệu lực của vắc xin trong phòng bệnh;
- Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Từ việc nghiên cứu về một số đặc điểm dịch tễ và qua các thông số
đo lường về dịch tễ đối với bệnh Tai xanh tại Bắc Giang sẽ cung cấp, hoànthiện thêm các thông tin về bệnh Tai xanh ở lợn, đánh giá đặc trưng về dịch
tễ của bệnh tại Bắc Giang
- Dựa vào đặc điểm dịch tễ và đánh giá hiệu lực sử dụng vắc xin trongphòng bệnh, đề xuất biện pháp phòng chống dịch, giúp cho các nhà quản lý
và người chăn nuôi đưa ra các giải pháp phòng chống dịch có hiệu quả, đặcbiệt là đưa loại vắc xin tiêm phòng tại địa bàn cho phù hợp, góp phần từngbước khống chế bệnh Tai xanh ở lợn đạt hiệu quả
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm bệnh và tên gọi
1.1.1 Khái niệm
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (Porcine reproductive andrespiratory syndrome - PRRS) còn gọi là “Bệnh Tai xanh”, là một bệnh truyềnnhiễm nguy hiểm đối với lợn; bệnh có tốc độ lây lan nhanh, trong vòng 3 - 5ngày cả đàn có thể bị nhiễm bệnh, thời gian nung bệnh khoảng 5 - 20ngày Lợn ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, nhưng tập trung chủ yếu ởlợn nái mang thai và lợn con theo mẹ Đặc trưng của bệnh là viêm đường
hô hấp rất nặng như: sốt, ho, thở khó và ở lợn nái là các rối loạn sinh sảnnhư: sẩy thai, thai chết lưu, lợn sơ sinh chết yểu, giảm tỷ lệ đẻ; ở lợn con trước
và sau cai sữa có tỷ lệ tử vong cao
Căn bệnh là vi rút PRRS, có đặc điểm là rất thích hợp với đại thực bào,đặc biệt là đại thực bào ở vùng phổi Vi rút nhân lên ngay bên trong đạithực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%) Đại thực bào
bị giết chết nên sức đề kháng của lợn mắc bệnh bị suy giảm nghiêmtrọng Lợn nhiễm bệnh Tai xanh thường bị kế phát các bệnh như: Dịch tả,Phó thương hàn, Tụ huyết trùng, liên cầu khuẩn,… đây là nguyên nhân kếphát gây chết nhiều lợn bệnh, gây ra những tổn thất lớn về kinh tế chongười chăn nuôi
1.1.2 Tên gọi
Vào cuối những năm 80, những báo cáo về một bệnh còn chưabiết nguyên nhân đã bắt đầu ở Mỹ và khởi đầu chỉ nói đến triệu chứng lâmsàng của bệnh Lúc đó, những nhà thú y và người nghiên cứu cho rằng hộichứng này khác thường vì tính trầm trọng, kéo dài, kết hợp triệu chứng rốiloạn sinh sản, hô hấp và không biết được những trường hợp ở thể ẩn tính
Trang 15Rất nhanh chóng, năm 1988 bệnh lan sang Canada và vào tháng 11 năm
1990, một hội chứng
Trang 16tương tự đã được báo cáo ở Munster - Đức Sau đó, những thông tin vềbệnh này ở Châu Âu bắt đầu tăng lên nhanh chóng (OIE, 2005)[30]: ở HàLan, Tây Ban Nha, Bỉ, Anh năm 1991 và 1992 ở Pháp Năm 1998, bệnhđược phát hiện ở Châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản.
Lúc đầu do căn nguyên chưa được biết nên hội chứng được đặt tên
là “bệnh thần bí ở lợn” (Mistery swine Disease - MSD) Về sau, bệnh lantrên toàn thế giới và được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Hội chứng hô hấp
và vô sinh của lợn (Swine infertility and respiratory disease - SIRS) Bệnhthần bí của lợn được dùng nhiều ở Mỹ Ở Châu Âu phổ biến dùng tên: “Hộichứng hô hấp và sảy thai ở lợn (Porcine Endemic abortion and Respiratorysyndrome - PEARS); “Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn” (Porcinerespiratory and reproductive syndrome- PRRS) và “Bệnh Tai xanh của lợn”(Blue Ear disease - BED)
Đến năm 1992, tại Hội nghị Quốc tế về hội chứng này tổ chức tạiMinesota (Mỹ), tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã thống nhất tên gọi là Hộichứng rối loạn sinh sản và hô hấp (Porcine reproductive andrespiratory syndrome - PRRS) Kể từ đó cho đến nay, tên này đã trở thànhtên gọi chính thức của bệnh (William T.Christianson, 2001)[37]
1.2 Tình hình dịch bệnh
1.2.1 Tình hình dịch bệnh trên thế giới
Từ năm 2005 trở lại đây, 27 nước và vùng lãnh thổ thuộc tất cả cácchâu lục (trừ châu Đại dương) trên thế giới đã báo cáo cho Tổ chức Thú ythế giới (OIE) khẳng định phát hiện có PRRS lưu hành (Cục Thú y, 2008)[3].Con số thực tế sẽ còn khác rất nhiều
Tại Trung Quốc, theo báo cáo của đoàn chuyên gia quốc tế và chuyêngia của Trung Quốc được phát hành vào tháng 12/2007, kể từ năm 2006,đàn lợn của Trung Quốc đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi Hội chứng sốtcao ở lợn do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là vi rút PRRS và các loạimầm
Trang 17bệnh khác gồm: vi rút Dịch tả lợn, PCV-2 chiếm 96,5% Trong vòng hơn 3tháng của năm 2006, dịch đã lây lan ở hơn 10 tỉnh phía Nam làm hơn 2triệu lợn ốm, trong đó có hơn 400.000 lợn mắc bệnh đã chết (Kegong Tian,2007)[29] Những nguyên nhân này làm hàng triệu lợn bị ốm, chết và phảitiêu huỷ Kết quả nghiên cứu toàn diện của Trung Quốc đã khẳng định chủng
vi rút PRRS gây bệnh tại nước này là chủng độc lực cao, đặc biệt có sự biếnđổi của vi rút (thiếu hụt 30 acid amin trong gen) Năm 2007, các tỉnh Anhui,Hunan, Guangdong, Shandong, Liaoning, Jilin và một số tỉnh khác bị ảnhhưởng nặng buộc Trung Quốc phải tiêu huỷ tới 20 triệu lợn để ngăn chặndịch lây lan
Trước diễn biến phức tạp của dịch PRRS, Bộ Nông nghiệp Trung Quốcđang thực hiện chương trình phòng chống bệnh rất quy mô, riêngchương trình nghiên cứu, sản xuất vắc xin đã được cam kết chi khoảng 280triệu nhân dân tệ tương đương với 36,5 triệu USD
Tại Hồng Kông và Đài Loan đã xác định có cả hai chủng Châu Âu vàBắc Mỹ cùng lưu hành, đặc biệt trong cùng một con lợn ở Hồng Kông đã xácđịnh nhiễm cả hai chủng nêu trên; dịch PRRS cũng được thông báo ở TháiLan từ các năm 2000 - 2007 Thông báo cho biết, các virrus gây bệnh PRRSđược phân lập từ nhiều địa phương thuộc nước này gồm cả chủng dòngChâu Âu và chủng dòng Bắc Mỹ Trong đó, số vi rút thuộc chủng dòngChâu Âu chiếm 66,42% còn các vi rút thuộc chủng dòng Bắc Mỹ chiếm33,58% Phần lớn ở những quốc gia này hiện đang lưu hành vi rút gâybệnh PRRS chủng Châu Âu hoặc Bắc Mỹ là những chủng vi rút cổ điển độclực thấp
Thông tin dịch bệnh PRRS trên thế giới năm 2013-2015 (OIE): Belarusxuất hiện một ổ bệnh với 40.058 con nghi mắc; 3.260 con mắc; 2.458 conchết Mongolia xuất hiện một ổ bệnh với 337 con nghi mắc; 293 con mắc; 44con chết; 293 con tiêu hủy Mexico xuất hiện 83 ổ bệnh Thụy Sỹ xuất hiện 3
ổ bệnh với 5099 con nghi mắc; 19 con mắc
Trang 181.2.2 Tình hình dịch bệnh tại Việt Nam
Ở Việt Nam, lần đầu tiên được phát hiện lợn có huyết thanh dươngtính với bệnh PRRS vào năm 1997 Sau đó các kết quả điều tra huyết thanhhọc tại một số trại lợn giống phía Nam đã phát hiện có sự lưu hành PRRS
do chủng vi rút cổ điển độc lực thấp gây ra, nhưng đến trước tháng3/2007 chưa có ổ dịch nào được báo cáo chính thức trong phạm vi cả nước.Nguyễn Văn Tiến (2011)[18] diễn biến tình hình dịch bệnh qua các năm
2008, 2009 và 2010 như sau:
* Năm 2008: Dịch PRRS xảy ra thành hai đợt chính tại 956 xã, phường
thuộc 103 huyện của 26 tỉnh, thành phố Tổng số lợn mắc bệnh là309.586 con, trong đó số lợn chết và buộc phải tiêu huỷ là 300.906 con
- Đợt 1: Dịch tái phát ngày 23/08/2007 tại một số tỉnh miền Trung
như: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, sau đó dịch lây lan và xuất hiện ở 825
xã, phường của 61 huyện, quận của 10 tỉnh gồm Thái Nguyên, Thái Bình,Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, TT-Huế, Quảng Nam,Lâm Đồng làm chết 271.654 con lợn mắc bệnh, trong đó đã tiêu huỷ270.608 con Những tỉnh bị ảnh hưởng nặng là Thanh Hoá, Hà Tĩnh, TT-Huế,Nghệ An và Thái Bình
- Đợt 2: Dịch xuất hiện tại 131 xã, phường của 42 huyện, quận thuộc
19 tỉnh, thành phố: Bà Rịa-Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Định, Cà Mau,Gia Lai, Hà Nam, Hải Dương, Lào Cai, Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Nam,Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Tây Ninh, Thừa Thiên-Huế, Trà Vinh,Vĩnh Long Tổng số gia súc mắc bệnh là 37.932 con, trong đó số con chết vàtiêu huỷ là 30.298 con Dịch xuất hiện rải rác khắp 3 miền, trong đó tỉnh bịảnh hưởng nặng nề là Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Bà Rịa-Vũng Tàu
* Năm 2009: Dịch PRRS xảy ra tại 69 xã thuộc 26 huyện của 13 tỉnh,
thành phố là Bà Rịa-Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bến Tre, Bắc Giang, Bình Dương,Đắc Lắc, Đồng Nai, Gia Lai, Hưng Yên, Quảng Ninh, Quảng Nam, TiềnGiang và Vĩnh Long với 7.030 lợn mắc bệnh và 5.847 lợn buộc phải tiêu huỷ
Trang 19* Năm 2010: Trong năm 2010 dịch PRRS có nhiều diễn biến phức tạp,
dịch xảy ra trên diện rộng từ miền Bắc - Trung - Nam dịch xảy ra hai đợt dịchlớn:
- Đợt 1/2010 (miền Bắc): Dịch PRRS xảy ra từ ngày 23/3/2010 tại Hải
Dương Tính đến hết tháng 6/2010, toàn quốc ghi nhận các ổ dịch tai xanhtại 461 xã, phường, thị trấn của 71 quận, huyện thuộc 16 tỉnh, thành phốgồm Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, TháiNguyên, Lạng Sơn, Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Nghệ An, Quảng Ninh, HòaBình, Cao Bằng, Sơn La Tổng số lợn mắc bệnh là 146.051 con trong đó số tiêuhủy là 65.911 con
- Đợt 2/2010 (miền Trung và miền Nam): Đợt dịch này bắt đầu từ ngày
11/6/2010 tại Sóc Trăng Sau đó dịch xuất hiện tại Tiền Giang (ngày 19/6),Bình Dương (ngày 27/6), Long An (ngày 15/7), Lào Cai (11/7), Quảng Trị(01/7) Trong đợt dịch này, toàn quốc ghi nhận các ổ dịch tai xanh tại 42.080
hộ chăn nuôi của 1.517 xã, phường, thị trấn thuộc 215 quận, huyện của
36 tỉnh, thành phố là Sóc Trăng, Quảng Trị, Tiền Giang, Lào Cai, Long An, BìnhDương, Bạc Liêu, Quảng Nam, Đồng Nai, Bình Phước, Đà Nẵng, Vĩnh Long,Khánh Hòa, Đắc Lắc, Hậu Giang, Bà Rịa Vũng Tàu, Lâm Đồng, Tây Ninh,Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Kiên Giang, Bến Tre, Cà Mau, Kon Tum,Đắc Nông, Gia Lai, Trà Vinh, Bình Thuận, Quảng Ninh, Ninh Thuận, PhúYên, Sơn La, Nam Định, Thanh Hóa và Hà Tĩnh Tổng số lợn trong đàn mắcbệnh là 970.857 con, số mắc bệnh là 717.830 con, trong đó số chết, tiêuhủy là 413.540 con
* Năm 2011: Dịch PRRS tạm lắng xuống, xảy ra với mức độ lẻ tẻ, tính
từ đầu năm đến cuối tháng 6 dịch đã xảy ra tại 114 xã, phường, thị trấn của
20 huyện, thị xã, thành phố thuộc 07 tỉnh là: Nghệ An, Quảng Trị, Hà Tĩnh,Thái Bình, Bắc Ninh, Hải Dương và Bình Dương Tổng số lợn mắc bệnh là14.009 con, số chết và phải tiêu huỷ là 13.510 con
Trang 20Hiện nay, vi rút lưu hành rộng rãi trên đàn lợn mắc bệnh đã khỏi vềtriệu chứng lâm sàng và tiếp tục được bài thải, phát tán ở nhiều địaphương Do
Trang 21chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, không áp dụng các biện pháp an toàn sinhhọc, chưa quản lý tốt việc vận chuyển, buôn bán lợn nên nguy cơ dịch tái
nổ ra ở bất cứ địa phương nào, ở bất cứ thời điểm nào là rất lớn, đặc biệtkhi thời tiết thay đổi tạo thuận lợi cho vi rút gây bệnh Tai xanh và các mầmbệnh khác phát triển gây bệnh
Năm 2012:
Dịch xảy ra bắt đầu từ tháng 1 cho đến tháng 6 năm đó tại 123
xã, phường, thị trấn của 27 quận, huyện thuộc 11 tỉnh với số lợn mắc33.778 con và số lợn tiêu hủy là 21.708 con
Tính trong cả năm 2012, cả nước có 28 tỉnh, 95 huyện, 453 xã có các ổ dịch.Tổng số lợn bị bệnh 90.688 con, tiêu hủy 51.761 con (Bộ NN và PTNT, 2012)[1]
Năm 2013:
Dịch Tai xanh ở lợn đã xảy ra tại 168 xã, phường của 46 huyện, quậnthuộc 13 tỉnh; tổng số lợn mắc bệnh 38.532 con; số lợn tiêu hủy là18.452 con So với năm 2012, số tỉnh có dịch giảm 43,5%; số huyện códịch giảm gần 40%; số xã có dịch giảm 42,4%; số gia súc mắc bệnh, chết vàphải tiêu hủy giảm 42,6% Tại Nam Định, dịch PRRS đã lây lan ra 17 xãcủa cả 2 huyện Xuân Trường và Trực Ninh làm gần 11.000 con lợn bị ốm(Nguyễn Hồng Vân, 2015)[19]
1.3 Căn bệnh
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn do vi rút thuộc họArteriviridae, giống Nidovirales có cấu trúc vỏ bọc dạng chuỗi đơn ARN.Dựa vào phân tích cấu trúc gen người ta đã xác định được hai nhóm virút Nhóm I gồm các vi rút thuộc chủng Châu Âu (tên gọi phổ thông là virút Lelystad) gồm nhiều phân nhóm đã được xác định Nhóm vi rút nàyđược Wensvoort và cộng sự - Viện thú y Trung ương - Lelystad - Hà Lanphân lập được bằng tế bào đại thực bào phế nang của lợn và được đặt
Trang 22tên là vi rút Lelystad - LV Nhóm II gồm các vi rút thuộc dòng Bắc Mỹ (vớitên gọi là VR
Trang 23- 2332) Nhóm này được Collins và cộng sự - Mỹ phân lập được vào năm
1992 Về mặt di truyền và tính kháng nguyên, hai nhóm vi rút này hoàntoàn khác nhau Sự khác nhau về cấu trúc chuỗi nucleotide của vi rútthuộc hai chủng là khoảng 40% (Han, Wang, 2006)[27], do đó ảnh hưởngđến đáp ứng miễn dịch bảo hộ chéo giữa 2 chủng
Qua nghiên cứu giải mã gen của vi rút tại Mỹ, Trung Quốc cho thấy, cácmẫu vi rút gây PRRS tại Việt Nam có mức tương đồng về amino acid từ 99 -99,7% so với chủng vi rút gây bệnh thể độc lực cao ở Trung Quốc và đều bị mất
30 axít amin Điều này cho thấy, chủng vi rút gây PRRS ở nước ta hiện naythuộc dòng Bắc Mỹ, có độc lực cao giống Trung Quốc (Cục thú y, 2008)[3]
* Cấu trúc vi rút.
Dưới kính hiển vi điện tử, vi rút PRRS là loại có vỏ bọc, hình cầu, cókích thước từ 45-80 nm, chứa nhân nucleocapsid 25-35nm, trên bề mặt cógai nhô ra rõ, có vỏ là lipit (William T.Christianson, 2001)[37]
Là ARN vi rút với bộ gen là một phân tử ARN sợi đơn dương, có nhữngđặc điểm chung của nhóm Arterivi rút Sợi ARN này có kích thước khoảng 15kilobase, có 9 ORF (open reading frame) mã hoá cho 9 protein cấu trúc Tuynhiên, có 6 phân tử protein chính có khả năng trung hoà kháng thể bao gồm
4 phân tử glycoprotein, 1 phân tử protein xuyên màng (M) và 1 proteinnucleocapsid (N) (Tô Long Thành, 2007)[14]
* Đặc tính hạt vi rút:
Hạt vi rút có đường kính 50-70 nm, chứa nucleocapsid cùng kích thước
có cấu trúc đối xứng 20 mặt, đường kính 35 nm, được bao bọc bên ngoài bởimột lớp vỏ bọc dính chặt với cấu trúc bề mặt giống như tổ ong Bộ gen baogồm 1 phân tử đơn chuỗi dương là 1 ARN kích thước từ 13- 15 kb Sợi ARN virút có 1 cổng 5’ và 1 dải cổng đầu 3’ Gen ARN polymeraza chiếm khoảng 75%đầu 5’ của bộ gen, gen mã hoá cho các protein cấu trúc của vi rút nằm ở đầu3’
Hạt vi rút bao gồm 1 protein nucleocapsid N với khối lượng phân tử1.200, 1 protein màng nonglycosylate hình cầu M với khối lượng phân tử
Trang 2416.000, 2 protein peplomer N - glycosylate là GS có khối lượng phân tử25.000 và GL có khối lượng phân tử 42.000 (Nguyễn Bá Hiên, 2007)[5].
* Đặc tính sinh học của vi rút.
Vi rút rất thích hợp với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động
ở vùng phổi Vi rút nhân lên ngay bên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ
và giết chết đại thực bào (tới 40%) Đại thực bào bị giết chết nên sức đềkháng của lợn mắc bệnh bị suy giảm nghiêm trọng Do vậy lợn bị bệnhthường dễ bị nhiễm khuẩn thứ phát
Gần đây, tại Trung Quốc các nhà nghiên cứu với quy mô rộng lớn nhất
từ trước đến nay đã khẳng định là có sự biến đổi về độc lực của vi rút PRRS,hậu quả lợn nhiễm vi rút PRRS có tỷ lệ chết rất cao, trên 20% trong tổng sốnhiễm bệnh (Kegong Tian, 2007)[29]
Vi rút không gây ngưng kết với các loại hồng cầu gà, dê, thỏ, chuột,hồng cầu type O của người Phát triển tốt trên môi trường tế bào đại thựcbào phế nang lợn, trên tế bào dòng CL 2621, tế bào MA 140 với bệnh tíchphá huỷ tế bào, sau 2-6 ngày tế bào co tròn, tập trung thành cụm dày lên,nhân co lại cuối cùng bong ra (William T.Christianson, 2001)[37]
* Sức đề kháng của vi rút.
Vi rút có thể tồn tại 1 năm ở nhiệt độ lạnh từ -20 đến -700C, trongđiều kiện 40C, vi rút có thể sống 1 tháng, với nhiệt độ cao cũng như các vi rútkhác PRRSV đề kháng kém: ở 370C chịu được 48 giờ, 560C bị giết sau 1 giờ, virút thích hợp ở pH 5 - 7
Với các chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axits, vi rút
dễ dàng bị tiêu diệt Ánh nắng mặt trời, tia tử ngoại vô hoạt vi rút nhanhchóng
* Những vi rút liên quan.
Họ Arteriviridae chỉ có một giống duy nhất, chứa tất cả 4 thành viên: virút gây đông sữa ở chuột (Lactat dohydrogenase vi rút - LDV), vi rút viêmđộng mạch ngựa (Equine arteritis vi rút - EAV), vi rút sốt xuất huyết khỉ
Trang 25(Simian hemorrhagic fever vi rút - SHFV) và vi rút PRRS Các thành viêntrong hộ Arteriviridae có cấu trúc và sự nhân lên giống với vi rút họ
Trang 26Coronaviridae (William T.Christianson, 2001)[37] Sự khác biệt giữa hai họ
vi rút này chính là bộ gen của Arteriviridae chỉ bằng ½ bộ gen củaCoronaviridae và nét giống nhau đặc trưng của chúng là bản sao mãgiống nhau đặc trưng của lớp Nidoviral Trong nhóm vi rút này, vi rút PRRS cóquan hệ gần nhất với LDV dựa trên tính đồng đẳng
Bên cạnh sự giống về tổ chức và cấu trúc gen, vi rút PRRS còn có chungcác đặc tính khác với vi rút LDV, EAV và SHFV Đại thực bào là tế bào mụctiêu cho tất cả 4 vi rút này Vi rút PRRS, EAV và SHFV nhân lên trong đạithực bào phế nang, LDV nhân lên hoàn toàn nghiêm ngặt trong phần lớn
tế bào đại thực bào màng bụng chuột nhắt Sự phân giải diệt tế bào củacác đại thực bào bị bệnh nhanh chóng là chung đối với mỗi loại vi rút
Hơn nữa để phát triển trong đại thực bào 4 vi rút này đều có thể sinh
ra bệnh không có triệu chứng, dai dẳng
Sự biến đổi chủng là tính tương tự khác của nhóm vi rút này Có nhữngbiến chủng của LDV, EAV và SHFV khác nhau về độc lực cũng như tính gâymiễn dịch (William T.Christianson, 2001)[37]
1.4 Truyền nhiễm học
PRRS có những đặc điểm dịch tễ không như những bệnh dịch khác ở giasúc Bệnh được ghi nhận là có tốc độ lây lan rất nhanh, mạnh (bão dịch)trên phạm vi rộng, nhiều địa phương trong cùng 1 thời điểm Thiệt hại dobệnh có thể tới từ 10-20% tổng đàn lợn của địa phương có bệnh
1.4.1 Động vật cảm nhiễm
Lợn ở các lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm vi rút Các cơ sở chăn nuôicông nghiệp với quy mô lớn, bệnh thường lây lan rộng tồn tại lâu dàitrong đàn nái, rất khó thanh toán
Lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai, gây sảy thai, thai chếtlưu và lợn chết yểu với tỷ lệ cao
Trang 27Cho đến nay kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Âu đều chothấy virut gây PRRS không cảm nhiễm cho các loại thú khác và người Tuynhiên,
Trang 28từ thực nghiệm các nhà khoa học đã chứng minh một số loại gia cầmchân có màng như vịt trời (mallard duck) rất mẫn cảm với PRRSV, vi rút
có thể nhân lên ở loài vịt này Vì thế việc phát tán PRRSV trên diện rộng
là khó tránh khỏi
1.4.2 Động vật môi giới mang và truyền vi rút PRRS
Trong tự nhiên, lợn đực và lợn nái mang vi rút, đây là nguồn tàng trữ vàtruyền bá mầm bệnh cho lợn nhà Lợn rừng bị nhiễm vi rút không cóbiểu hiện lâm sàng cũng đóng vai trò làm lây truyền vi rút cho lợn nhà vàngược lại, lợn nhà cũng truyền mầm bệnh cho lợn rừng
Trong thực nghiệm, người ta cũng truyền được vi rút trực tiếp cho một
số loài chuột và từ chuột nhiễm mầm bệnh sang chuột khoẻ (vi rút bệnhPRRS dòng châu Âu)
1.4.3 Chất chứa mầm bệnh
Khi đã nhiễm vi rút, lợn có thể thải vi rút trong dịch họng, nước bọt,nước tiểu, phân đến ít nhất 28 ngày sau khi nhiễm vi rút; vi rút có rất íttrong phân và chúng cũng bị bất hoạt nhanh chóng khi ở trong phân Tuynhiên, việc bài thải vi rút qua phân là một vấn đề còn gây tranh cãi, một sốnghiên cứu báo cáo rằng PRRSV có trong phân từ ngày 28 đến 35 sau khi gâynhiễm thực nghiệm, trong khi đó một số các nghiên cứu khác lại không pháthiện được vi rút trong các mẫu phân (Yoon và cs, 1993)[41], (Will và cs, 1997a)[38]
Lợn đực có thể thải vi rút qua tinh dịch trong 43 ngày Bằng phươngpháp RT-PCR, các nhà nghiên cứu đã phát hiện được ARN của PRRSV trongtinh dịch 92 ngày sau khi lợn bị nhiễm vi rút (Swenson và cs, 1994)[35],(Christopher-Hennings và cs, 1995)[25]
Lợn nái nhiễm vi rút có thể truyền sang cho bào thai từ giai đoạn giữatrở đi và cũng thải qua nước bọt và sữa
Trong cơ thể lợn nhiễm vi rút:
- Từ 2 - 4 ngày sau khi nhiễm đã có thể phân lập được vi rút ở phổi,hạch lympho, hạch amidan, tuyến Thymus, lách và máu Lượng vi rút nhiều
Trang 29nhất ở hạch amidan và phổi ở 14 ngày sau khi nhiễm, ở hạch lympho sau 3ngày.
Trang 30- Ở hạch amydan, hạch lympho và tuyến Thymus vẫn có thể phânlập được vi rút sau 21 ngày, ở phổi là sau 35 ngày.
- PRRSV thường cư trú ở phế nang, vùng trung tâm hạch lympho và lách
Ở những con nái có chửa vi rút có thể qua được nhau thai, tuy nhiên khảnăng qua nhau thai của vi rút này hiện còn nhiều tranh cãi Vi rút cũng cóthể xâm nhập vào thận, não, gan, khí quản, tủy xương và đám rối màng treoruột
Vi rút có thể xâm nhập vào đại thực bào vùng phổi, hạch amidan,hạch lympho, lách nhưng không xâm nhập được vào các đại thực bào ởgan, thận, tim và các tế bào tiền thân của đại thực bào như bạch cầu đơnnhân trung tính, tế bào tủy xương Tế bào đích chủ yếu của vi rút là đại thựcbào phế nang, tại đây vi rút nhân lên một cách mạnh mẽ nhất, tuy nhiên chỉ
có 2% đại thực bào phế nang bị vi rút xâm nhập
1.4.4 Đường truyền lây
* Truyền lây trực tiếp: Các đường lây truyền trực tiếp của PRRSV trong
và giữa các quần thể lợn bao gồm các lợn nhiễm bệnh và tinh dịch bị nhiễm
vi rút PRRSV được phát hiện từ nhiều loại chất tiết và các chất thải từ lợnbao gồm máu, tinh dịch, nước bọt, dịch họng, phân, nước tiểu, hơi thở ra,sữa và sữa đầu (Yoon và cs, 1993)[41], (Rossow và cs, 1994)[34], (Swenson
và cs, 1994)[35], (Will và cs, 1997b)[39], (Wagstrom và cs, 2001)[36]
Sự truyền lây theo chiều dọc xảy ra trong suốt giai đoạn giữa đến giaiđoạn cuối của thời kỳ mang thai (Christianson và cs, 1993)[24] Tuy nhiên,khả năng qua nhau thai của vi rút phụ thuộc vào giai đoạn mang thai củanái khi vi rút xâm nhập vào cơ thể chúng Nếu vi rút xâm nhập vào con náiđang chửa kỳ 1 hoặc kỳ 2 thì khả năng qua nhau thai của vi rút là rất thấp,thể hiện ở đàn con sinh ra tỷ lệ chết thấp, tỷ lệ thai chết lưu cũng thấp, cócon non còn hầu như không có triệu chứng bệnh Nếu vi rút xâm nhập vàonhững con nái đàn chửa kỳ 3 (92 ngày trở lên) thì khả năng qua đượcnhau thai là rất cao Chúng thường gây chết lợn mẹ, hoặc tăng tỷ lệ thaichết lưu, đẻ non, con non chết yểu nhiều, tỷ lệ cai sữa thấp… Hiện tượng
Trang 31này được giải thích là do tính thấm của nhau thai ở các giai đoạn khác nhaucủa thai kỳ là khác nhau.
Trang 32Truyền lây theo chiều ngang cũng đã được báo cáo qua tiếp xúc trựctiếp giữa lợn bệnh và lợn cảm nhiễm (Bierk và cs, 2001)[23], cũng như sự lâytruyền qua tinh dịch của những lợn đực nhiễm bệnh (Yaeger và cs, 1993)[40].
Nhiễm trùng kéo dài: Nhiễm bệnh dai dẳng là một đặc trưng của nhóm Arterivi rút (Plagemann and Moennig, 1992)[33] Sự tồn tại dai
dẳng của PRRSV gây ra lây nhiễm “âm ỉ”, vi rút hiện diện ở mức độ thấptrong cơ thể và giảm dần theo thời gian (Wills và cs, 1997b)[39] Cơ chế mà
vi rút sử dụng để tấn công vào hệ thống miễn dịch của cơ thể chưa đượclàm rõ Thời gian tồn tại của vi rút được công bố trong nhiều nghiên cứu,nhưng kết quả rất khác nhau Sử dụng phản ứng khuếch đại gen (PCR) ARNcủa vi rút đã được phát hiện ở lợn đực hậu bị (6-7 tháng tuổi) cho tới
120 ngày sau khi gây nhiễm (Batista và cs, 2002)[21] và sự bài thải vi rútsang động vật chỉ báo mẫn cảm được báo cáo là đến 86 ngày (Bierk và cs,2001)[23]
Về sự tồn tại dai dẳng của PRRSV ở mức độ quần thể trong một khoảngthời gian nhất định, PRRSV đã được phát hiện trong 100% trong số 60 lợn 3tuần tuổi được gây bệnh thực nghiệm cho đến 63 ngày sau khi gây nhiễm
và 90% trên cùng đàn lợn nói trên lúc 105 ngày sau khi gây nhiễm (Horter và cs,
2002)[28].Vius nhiễm vào các bào thai trong tử cung trong khoảng 85-90 ngàycủa giai đoạn mang thai làm lợn mắc bệnh bẩm sinh ngay khi mới sinh ra, vớiARN của PRRSV được phát hiện trong huyết thanh vào ngày 120 sau khi đẻ(Benfield và cs, 1997)[22] Cuối cùng, sự tồn tại dai dẳng của PRRSV trongtừng cá thể dao động trong khoảng thời gian từ 154 đến 157 ngày sau khinhiễm đã được báo cáo (Albina và cs, 1994)[20], (Otake và cs, 2002a)[32]
* Truyền lây gián tiếp
Một số đường truyền lây gián tiếp qua các dụng cụ, thiết bị đã đượcxác định Nguy cơ lây truyền qua những đường này có thể được giảm thiểuqua áp dụng các bảng nội quy, nghĩa là thay giày dép, quần áo, rửa tay,
Trang 33tắm, tạo những khoảng thời gian nghỉ khoảng 12 giờ giữa những lần tiếpxúc với lợn (Otake, 2002)[31].
Trang 34Các phương tiện vận chuyển cũng là một cách làm lây lan PRRSV cơhọc tiềm năng Sử dụng một mô hình tỷ lệ 1:150, lợn mẫn cảm đã thunhận PRRSV qua tiếp xúc ở bên trong mô hình vận chuyển vấy nhiễm vớiPRRSV Các loại côn trùng như muỗi và ruồi nhà được theo dõi thườngxuyên trong phương tiện, thiết bị dùng cho lợn trong suốt các tháng mùa
hè và đã cho thấy có lan truyền PRRSV bằng cơ học từ lợn nhiễm bệnh sang
lợn mẫncảm trong điều kiện thực nghiệm (Otake, 2002)[31]
Hiện nay, sự truyền lây PRRSV qua bụi lơ lửng trong không khí giữa cáctrang trại với nhau vẫn còn gây nhiều tranh cãi
1.4.5 Điều kiện lây lan
Ở các cơ sở có lưu hành bệnh, môi trường bị ô nhiễm, bệnh lâylan quanh năm nhưng tập trung vào thời kỳ có nhiều lợn nái phối giống vàbệnh phát sinh thành dịch, với tỷ lệ cao, lợn nái có hội chứng rối loạnsinh sản, trong khi lợn con bị viêm đường hô hấp phổ biến
Bệnh có thể lây từ nước này sang nước khác qua việc xuất lợn có mangmầm bệnh mà không được kiểm dịch chặt chẽ Một số nước đang pháttriển nhập lợn giống có phẩm chất và năng suất cao từ các nước Bắc Mỹ
và Tây Âu, do không thực hiện tốt công tác kiểm dịch nên đã mang bệnh vàonước mình Thực tế cho thấy, trong khoảng gần hai thập kỷ qua, bệnh Tai xanh
đã thâm nhập và trở thành dịch địa phương ở nhiều nơi trên thế giới Chỉ cóAustralia, New Zealand, Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sỹ tuyên bố làsạch bệnh (Drew và cs, 2008)[26]
Ngoài ra, một nghiên cứu ở Đức đối với 150 đàn bị nhiễm cho thấy có95% hoặc là đã mua giống dưới 4 tuần trước ổ dịch hoặc là trong vòng 5 kmcách đàn bị bệnh
Trang 35Hình 1.1 Vi rút PRRS xâm nhập và phá hủy tế bào đại thực bào
Lúc đầu, PRRSV có thể kích thích các tế bào này, nhưng sau 2 hoặc 3ngày vi rút sẽ giết chết chúng, các virion được giải phóng và ồ ạt xâm nhiễmsang các tế bào khác Ở giai đoạn đầu của quá trình xâm nhiễm của PRRSV,dường như hiệu giá kháng thể kháng lại các loại vi rút và vi khuẩn kháckhông liên quan trong cơ thể của lợn tăng cao do sự kích hoạt của đạithực bào trong hệ thống miễn dịch Điều này rất dễ gây ra sự nhầm lẫntrong việc đánh giá mức độ miễn dịch đối với các bệnh truyền nhiễm ở cơthể lợn
Khi tế bào đại thực bào bị vi rút phá huỷ, các phản ứng miễn dịchkhông xảy ra được, lợn nhiễm bệnh rơi vào trạng thái suy giảm miễn dịch và
dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát, điều này có thể thấy rõ ở nhữngđàn lợn vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm PRRSV sẽ có sự tăng đột biến
về tỷ lệ viêm phổi kế phát do những vi khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp.Lợn chửa kỳ cuối thì nhu cầu oxy tăng cao vì phải nuôi thai, ở thời kỳcuối thai tăng trưởng rất nhanh nên nhu cầu về oxy tăng gấp bội, vìvậy lượng thiếu hụt oxy càng nghiêm trọng, nên thai hay sảy vào kỳ cuối.Sau sảy thai tế bào nội mạc tử cung bị thoái hóa, hoại tử nên làm chậmcác quá trình sinh lý khác (Trương Quang, 2009)[10]
Trang 361.6 Triệu chứng, bệnh tích
Theo ghi nhận của nhiều nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng ở lợnmắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho thấy, lợn bệnh thường cócác triệu chứng đầu tiên là sốt cao, bỏ ăn, mẩn đỏ da, thở khó, táo bónhoặc ỉa chảy và một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từngloại lợn:
* Lợn nái:
Các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai
gỗ hàng loạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ thai chếttăng lên theo độ tuổi của thai: Thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thaitrên 2,5 tháng tỷ lệ chết là 93,75% (Phạm Ngọc Thạch, 2007)[11]
Lợn nái trong giai đoạn nuôi con thường lười uống nước, viêm vú, mấtsữa, viêm tử cung âm đạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc ỉa chảy, viêmphổi
* Lợn đực giống:
Triệu chứng chủ yếu là viêm dịch hoàn, bìu dái nóng đỏ, (chiếm95%), dịch hoàn sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm tính hưng phấn giaophối (Lê Văn Năm, 2007)[8]
Lợn đực giống giảm hưng phấn hoặc mất tính dục, lượng tinh dịch
ít, chất lượng tinh dịch kém, thể hiện: nồng độ tinh trùng (C)thường dưới 80.106; hoạt lực của tinh trùng (A) dưới 0,6; sức khángcủa tinh trùng (R) dưới 3000; tỷ lệ kỳ hình (K) tăng trên 10%; tỷ lệsống của tinh trùng giảm xuống còn dưới 70% và độ nhiễm khuẩntăng cao trên
20.103 Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản của mình (Nguyễn Văn Thanh, 2007)[13]
* Lợn con theo mẹ: Thể trạng gầy yếu, triệu chứng phát ra đột
ngột, đường huyết hạ thấp do không bú mẹ, mí mắt sưng, có dử màu nâu,trên da xuất hiện những đám phồng rộp (Phạm Ngọc Thạch, 2007)[11]
Trang 37Lợn con thường tiêu chảy hàng loạt và rất nặng, phân dínhđầy xung quanh hậu môn Đây là triệu chứng đặc trưng của PRRS ở lợncon
Trang 38chưa cai sữa, biểu hiện này không phổ biến ở lợn lớn Phát ban đỏ
là biểu hiện phổ biến thứ 2 và xảy ra ngay sau khi bệnh bắt đầu xuấthiện Chảy nước mắt, mắt có rỉ và mí mắt sưng húp là biểu hiện phổbiến thứ 3, kết hợp với triệu chứng lạc giọng, khản tiếng, thở khó, thởthể bụng, chảy nước mũi, khớp đau, sưng nên chân thường choãi ra,
đi lại khó khăn, tỷ lệ tử vong cao (Lê Văn Năm, 2007)[8]
* Ở lợn con sau cai sữa và lợn thịt:
Ở lợn thịt, các triệu chứng tập trung chủ yếu ở đường hô hấp Lợn
bị viêm phổi nặng, ho nhiều, thở rất khó khăn, thở dốc, thở thể bụng, cócon ngồi thở như chó ngồi, có con tựa vào tường để lấy sức thở, hắt hơi,chảy nước mắt Do phổi bị viêm nặng nên hiện tượng da xanh (đặc biệt làtai xuất hiện sớm), điển hình và chiếm tỷ lệ lớn ở loại lợn này
Ở lợn con sau cai sữa, mí mắt thường sưng húp, có màu đỏ thâm,làm cho mắt lõm sâu tạo nên một quầng thâm xung quanh mắt nên nhìn lợngiống như được “đeo kính râm” Tỷ lệ táo bón ở lợn loại này rất cao nhưng tỷ
lệ tiêu chảy thấp hơn lợn con theo mẹ (Lê Văn Năm, 2007)[8]
Nghiên cứu bệnh tích là một trong những khâu quan trọng để xácđịnh các tổn thương do bệnh nguyên gây ra Kết quả nghiên cứu về bệnhtích đại thể và bệnh tích vi thể ở các nhóm lợn bệnh của nhiều tác giả chothấy:
* Lợn nái chửa: Đặc biệt là lợn nái chửa kỳ 2 thường bị đẻ non hoặc đẻ
chậm Trường hợp đẻ non (sảy thai) thì thấy nhiều thai chết, trên cơ thể thaichết lưu thường có nhiều đám thối rữa Trường hợp đẻ muộn thì số thai chếtlưu ít hơn nhiều so với đẻ non Song số lợn con sinh ra rất yếu, nhiều con chếttrong lúc đẻ do thời gian đẻ kéo dài Mổ khám thấy bệnh tích tập trung ở phổi,phổi bị phù nề, viêm hoại tử và tích nước, cắt miếng phổi bỏ vào bát nướcthấy phổi chìm
Trang 39* Lợn nái nuôi con, lợn choai và lợn vỗ béo: Bệnh tích tập trung ở
phổi Các ổ viêm thường gặp ở thuỳ đỉnh, song cũng thấy ở các thuỳ khácnhưng hầu như các ổ viêm áp xe đó không xuất hiện đối xứng Các ổ viêm, áp
Trang 40xe thường có màu xám đỏ, rắn, chắc Khi cắt đôi đám phổi có biến đổi thấy
có mủ chảy ra, mô phổi cũng lồi ra và có màu đỏ xám loang lổ như tuyến ứcnhư đá granit Trong một thuỳ phổi có nhiều đám biến đổi như mô tả Cắtmiếng phổi biến đổi bỏ vào nước thấy miếng phổi chìm, chứng tỏ phổi đã bịphù nề tích nước nặng
Những lợn bị táo bón thì ruột chứa nhiều phân cục rắn chắc, niêmmạc ruột bị viêm nhưng ở những lợn bị tiêu chảy thì thành ruột mỏng trên
bề mặt có phủ một lớp màu nâu
* Lợn con theo mẹ: Xác gầy, da trùng, ruột chứa nhiều nước, đôi khi
thấy có một số cục sữa vón không tiêu, thành ruột mỏng, loét van hồimanh tràng Hạch màng treo ruột xuất huyết, gan sưng và tụhuyết.Thận xuất huyết lấm tấm đầu đinh ghim, não xung huyết, hạchhầu, họng, amidan sưng, sung huyết (Phan Đăng Kỳ và cs, 2007)[6].Khi quan sát bệnh tích vi thể ở phổi, nhiều tác giả kết luận Thường thấydịch thẩm xuất và hiện tượng thâm nhiễm, trong phế nang chứa đầy dịchviêm và đại thực bào, một số trường hợp hình thành tế bào khổng lồnhiều nhân Một bệnh tích đặc trưng nữa là sự thâm nhiễm của tế bàophế nang loại II (pneumocyse) làm cho phế nang bị nhăn lại, thường bắtgặp đại thực bào bị phân huỷ trong phế nang (Nguyễn Văn Thanh, 2007)[13]
Viêm phổi kẽ là bệnh tích chắc chắn thấy ở PRRS Bệnh tích này có thểquan sát được ở lợn mọi lứa tuổi, ở những lợn nhỏ hơn cũng ít bị chekhuất bởi bệnh tích các bệnh kế phát (William T.Christianson, 2001)[37].Ngoài ra còn thấy một số bệnh tích khác ở đàn lợn đang phát triển như:Viêm mũi đặc trưng bởi mất lông nhung biểu mô, tế bào biểu mô bịsưng lên hoặc chứa khí, bong vẩy trên bề mặt biểu mô
Viêm não không gây mủ đặc trưng bởi tập trung tế bào đơn nhân ởmạch máu ngoại vi đôi khi được quan sát trên toàn bộ não