1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 ở TP Hà Nội

93 330 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 174,13 KB
File đính kèm Luận Văn.rar (170 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài luận văn thạc sĩ về đề tài Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 ở TP Hà Nội, đề tài thuộc chuyên ngành quản trị nhân sự, trường đại học lao động xã hội, năm hoàn thành 2013.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH) mạnh mẽ, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động cũng theo đó mà thayđổi theo hướng tích cực Những chính sách thu hút đầu tư đang ngày càngđược hoàn thiện, theo đó là hàng loạt diện tích đất nông nghiệp bị chuyển đổimục đích sử dụng thành đất công nghiệp và dịch vụ Các khu công nghiệp và

đô thị được hiện ra cũng là thời điểm người nông dân không còn đất canh tác

Từ đây, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn được chú trọng hơn bao giờhết Bởi lẽ, chỉ khi chất lượng nguồn lao động nông thôn được cải thiện thìnguồn lao động mới có thể đáp ứng được yêu cầu của ngành nghề mới, côngviệc mới nói riêng, và của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nóichung

Để giải quyết vấn đề cấp bách trên, Đảng và Nhà nước đã có những hànhđộng cụ thể mang tính tích cực Nghị quyết số 26/2008/NQ-TW của Ban chấphành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (gọi là Nghị quyếtTam nông) ra đời ngày 5/8/2008, đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để côngtác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được triển khai ở nhiều nơi Cụ thể hơn,ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành

"Chương trình hành động của Chính phủ", trong đó có nêu mục tiêu: "Tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm nhằm nâng cao thu nhập một bước cho người nông dân"[1] Một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong Chương trình hành động của Chính phủ là: "Xây dựng Chương trình quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực nông thôn Tập trung xây dựng kế hoạch và giải pháp đào tạo cho bộ phận con em nông dân đủ trình độ, năng lực vào làm việc ở các

Trang 2

cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ; chuyển nghề; bộ phận nông dân còn tiếp tục sản xuất nông nghiệp về kiến thức và kỹ năng để thực hành sản xuất nông nghiệp hiện đại [1]

Và để cụ thể hóa chủ trương trên, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 phê duyệt đề án đào tạo nghề cholao động nông thôn đến năm 2020 (thường gọi là đề án 1956) với quan điểm :

"Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”.[15] Đây là văn bản quan trọng giúp các địa phương cũng như các bộ

ban ngành có cơ sở để tiến hành đào tạo nghề, nâng cao trình độ cho lao độngnông thôn

Sau 3 năm (2010-2012) thực hiện đề án 1956 của Chính phủ, TP Hà Nội

đã có những đánh giá sơ bộ về kết quả triển khai đề án trên địa bàn TP Tuy đãđạt được một số mục tiêu, chủ trương chính của đề án, nhưng vẫn còn tồn tạinhiều vấn đề chưa đạt yêu cầu Những hạn chế, thiếu sót nói trên do nhiềunguyên nhân khách quan và chủ quan tạo ra Chính vì vậy phải có một nghiêncứu tổng quan về đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 trênđịa bàn TP Hà Nội, từ đó đưa ra được những đánh giá, nhìn nhận khách quan,thực tế, và đề xuất được hệ thống các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng caochất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 Do vậy tôi

đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn

theo đề án 1956 ở TP Hà Nội” để nghiên cứu vấn đề trên Việc lựa chọn đề

tài nghiên cứu là cần thiết, khách quan và xuất phát từ yêu cầu thực tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những năm qua, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhận được

sự quan tâm của nhiều đề tài nghiên cứu trong cả nước Cụ thể:

Trang 3

Tác giả Tăng Minh Lộc - Phó Cục trưởng Cục kinh tế hợp tác và Phát

triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, với bài viết: “Thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Điều chỉnh lại cơ cấu lao động, cách dạy nghề”, đăng trên báo Nông nghiệp Việt Nam Tác giả đã đưa

ra những mặt làm được, thành công của Đề án khi một năm đưa vào triển khaithực hiện, tuy nhiên việc thực hiện Đề án ở khắp các tỉnh, thành phố vẫn cònnhiều khó khăn, bất cập cần được khắc phục, chấn chỉnh và đưa ra các giảipháp nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện Đề án trong giai đoạn tiếp theo.Tác giả Nguyễn Tiến Dũng, Nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục dạy

nghề, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, với bài viết: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong thời kỳ hội nhập quốc tế” đăng trên website của Bộ

Lao động - Thương binh và Xã hội Tác giả đã nêu ra một số kết quả bướcđầu trong công tác đào tạo nghề cho lao động ở nước ta và đề cập đến một sốhướng giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nôngthôn Những giải pháp mà tác giả đưa ra còn mang tính khái quát và chungchung Bài viết có tính chất tham khảo hữu hiệu cho những nghiên cứu về đàotạo nghề cho lao động nông thôn ở từng địa phương cụ thể

Tác giả Nguyễn Văn Đại (2012),Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

Luận án tiến sĩ Đại học KTQD Tác giả đã đánh giá một cách khách quan thựctrạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trongthời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời chỉ ra những giải pháp đểgiải quyết khó khăn, và đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn trongkhu vực này

Trong thời gian tổ chức thực hiện đề án 1956, từ năm 2010 – 2012, đã cónhiều các cuộc hội thảo, đưa ra các báo cáo đánh giá tổng kết tình hình thựchiện đề án trong 3 năm vừa qua Tại các cuộc hội nghị, hội thảo này, các cơquan quản lý Nhà nước đã tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm rất nhiều vấn đề

Trang 4

còn vướng mắc trong quá trình thực hiện Các địa phương thuộc diện đượccấp chỉ tiêu đào tạo cũng có những báo cáo thường niên với cơ quan cấp trên

về quá trình thực hiện đề án Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu nàođánh giá và có những giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho laođộng nông thôn theo đề án 1956 trên địa bàn TP Hà Nội Do vậy, tác giả đã

mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 ở TP Hà Nội” nhằm đánh giá đúng thực

trạng và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho laođộng nông thôn của TP trong thời gian tới

- Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo

đề án 1956 trên địa bàn TP Hà Nội

Từ những phân tích và đánh giá trên đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằmnâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn TP Hà Nội

4 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các đối tượng sau:

- Các vấn đề lý luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

- Các văn bản quy phạm pháp luật chỉ đạo việc thực hiện đề án 1956 vềđào tạo nghề cho lao động nông thôn

- Chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn

TP Hà Nội

5 Phạm vi nghiên cứu.

Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôntheo đề án 1956 trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2012

Trang 5

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê phân tích: phân tích các số liệu thống kê từ sởLao động thương binh và xã hội là cơ quan quản lý công tác đào tạo nghề cholao động nông thôn của TP Hà Nội, và các tư liệu thứ cấp được thu thập từ tàiliệu sách, báo, mạng Internet, tạp chí chuyên ngành Luận văn cũng khai thác,

sử dụng các tài liệu, số liệu đã được công bố, đồng thời cũng sử dụng các kếtquả nghiên cứu trong các đề tài khoa học trước đó

- Phương pháp chuyên gia : phỏng vấn ý kiến các chuyên gia, cán bộchuyên trách quản lý nguồn nhân lực, quản lý hành chính nhà nước ở các cấpkhác nhau về lĩnh vực nghiên cứu

7 Dự kiến đóng góp mới của luận văn

- Về lý luận : Hoàn thiện hệ thống lý luận về đào tạo nghề cho lao độngnông thôn Xây dựng quy trình thực hiện, đưa ra một số mục tiêu mới phùhợp với sự biến đổi của tình hình kinh tế chính trị xã hội thời gian qua

- Về thực tiễn : làm rõ thực trạng chất lượng đào tạo nghề cho lao độngnông thôn TP Hà Nội, so sánh với yêu cầu về chất lượng đào tạo nghề cho laođộng nông thôn mà đề án hướng đến

Chỉ ra các tồn tại và nguyên nhân gây ra chúng

Đề xuất giải pháp giải quyết các vấn đề còn tồn tại

8 Kết cấu luận văn

Luận văn ngoài các phần: mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệutham khảo, bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về đào tạo nghề cho lao động nông thôn.Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn TP

Hà Nội theo đề án 1956

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho laođộng nông thôn TP Hà Nội theo đề án 1956

Trang 6

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO

mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, pháttriển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay do nhu cầu xã hội Mặc dùkhái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thểthấy một số nét đặc trưng nhất định:

Một là: Nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi

lặp lại

Hai là: Nghề là sự phân công là động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.

Ba là: Nghề là phương tiện để sinh sống.

Bốn là: Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi

trong xã hội, đòi hỏi phải có quá trình đào tạo nhất định.[8]

Nghề biến đổi một cách mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triểnkinh tế xã hội của đất nước

Trong phạm vi của luận văn, tác giả sử dụng khái niệm nghề theo giáotrình Kinh tế Lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân: Nghề là mộtdạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, làtoàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện cáchoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định.[9]

Trang 7

1.1.2 Khái niệm đào tạo nghề

Như vậy, Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ

năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm đượcviệc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học.[11]

Năng lực là sự tổng hòa của các yếu tố kiến thức, kỹ năng và thái độ gópphần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người

Kiến thức là những điều hiểu biết có được hoặc do từng trải, hoặc nhờhọc tập Nó gồm 3 yếu tố: kiến thức tổng hợp (những hiểu biết chung về thếgiới), kiến thức chuyên ngành (về một vài lĩnh vực đặc trưng như kế toán, tàichính, ) và kiến thức đặc thù (những kiến thức đặc trưng mà người lao độngtrực tiếp tham gia hoặc được đào tạo)

Kỹ năng của người lao động là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác,động tác, nghiệp vụ trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào đó.Những kỹ năng sẽ giúp cho người lao động hoàn thành tốt công việc quy địnhtính hiệu quả của công việc

Trang 8

Thái độ của người lao động cho thấy cách nhìn nhận của người đó về vaitrò, trách nhiệm, mức độ nhiệt tình, đam mê đối với công việc, điều này sẽđược thể hiện qua các hành vi của họ Một người có kỹ năng tốt nhưng thái độkhông đúng thì hiệu quả đóng góp sẽ không cao.

Như vậy, nói đến năng lực của người lao động là nói đến cả ba yếu tố:kiến thức, kỹ năng và thái độ Ở đây, thái độ là yếu tố hàng đầu quyết định sựthành công của người lao động với công việc Một người có thể có kiến thứcsâu rộng, kỹ năng chuyên nghiệp nhưng thái độ bàng quan với cuộc sống, vôtrách nhiệm với xã hội thì chưa chắc đã làm tốt công việc

1.1.2.2 Chất lượng đào tạo nghề:

Chất lượng đào tạo nghề là khái niệm đa chiều, không thể trực tiếp đođếm và cảm nhận được và luôn luôn biến đổi theo thời gian và theo khônggian

Chất lượng đào tạo nghề phản ánh trạng thái đào tạo nghề nhất định vàtrạng thái đó thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố tác động đến nó Sẽ không thểbiết được chất lượng đào tạo nếu chúng ta không đánh giá thông qua một hệthống các chỉ tiêu và các yếu tố ảnh hưởng Chất lượng của công tác đào tạonghề sẽ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của người lao động saukhi học nghề, chính là sản phẩm của công tác đào tạo nghề

Khái niệm chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng của công tác đàotạo nghề cho người lao động trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, theo mụctiêu và kế hoạch đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau,biểu hiện một cách tổng hợp nhất ở mức độ hoàn thành của kế hoạch và chấpnhận của thị trường lao động, của xã hội đối với kết quả đào tạo Đồng thờichất lượng đào tạo nghề còn phản ánh cả kết quả đào tạo của các cơ sở đàotạo nghề và hệ thống đào tạo nghề

Trang 9

1.1.3 Khái niệm lao động nông thôn

1.1.3.1 Nguồn lao động:

Trước hết, chúng ta biết lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiệnthực, là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sảnphẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội Theo đó, có nhiều cáchhiểu khác nhau về nguồn lao động

Nguồn lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động, cókhả năng lao động

Theo pháp luật lao động Việt Nam hiện hành, độ tuổi lao động của ngườiViệt Nam được quy định như sau:

Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi

Nữ từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi.[12]

Như vậy, chúng ta cần phân biệt nguồn lao động với dân số trong độ tuổilao động Cả hai thuật ngữ đều giới hạn độ tuổi lao động theo quy định, nhưngnguồn lao động chỉ bao gồm những người có khả năng lao động trong khi dân

số trong độ tuổi lao động còn bao gồm bộ phân dân số trong độ tuổi lao độngnhưng không có khả năng lao động như tàn tật, mất sức lao động bẩm sinhhoặc do các nguyên nhân như chiến tranh, tai nạn giao thông, tai nạn laođộng… Do vậy, nguồn lao động là một bộ phận của dân số trong độ tuổi laođộng

Lực lượng lao động là một bộ phận của nguồn lao động bao gồm nhữngngười trong độ tuổi lao động, đang có việc làm và những người chưa có việclàm nhưng có nhu cầu làm việc

Từ năm 1996, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam ra quyết định tiếnhành điều tra Lao động - Việc làm hàng năm ở khu vực thành thị và nông thôntrên phạm vi cả nước Trong các cuộc điều tra này, khái niệm lực lượng laođộng được sử dụng như sau:

Trang 10

“Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) bao gồmtoàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc đang tìmkiếm việc làm Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (hay còn gọi là dân

số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động) bao gồm những người trong độtuổi lao động (nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi; nữ từ đủ 15 tuổi đến hết 55tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm (thất nghiệp) nhưng có nhucầu làm việc và sẵn sàng làm việc”.[8]

1.1.3.2 Lao động nông thôn:

Trên cơ sở những phân tích trên, khái niệm lao động nông thôn đượchiểu như sau:

Lao động nông thôn gồm những người đủ 15 tuổi trở lên thuộc khu vực

nông thôn đang làm việc trong các ngành: nông, lâm, ngư nghiệp, côngnghiệp và xây dựng, dịch vụ và những người trong độ tuổi lao động có khảnăng lao động nhưng vì lí do khác nhau hiện tại chưa tham gia hoạt động kinh

tế Những người trong độ tuổi lao động nông thôn có khả năng lao độngnhưng hiện tại chưa tham gia lao động do các nguyên nhân như đang thấtnghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ gia đình, không có nhu cầu làm việc, vànhững người thuộc tình trạng khác.[20]

Như vậy, nguồn lao động nông thôn là một bộ phận của lực lượng laođộng quốc gia, thuộc khu vực nông thôn và là nguồn lực quan trọng tronghoạt động phát triển kinh tế - xã hội nông thôn

1.1.3.3 Các đặc điểm của nguồn lao động nông thôn

Do lao động nông thôn sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngànhnông, lâm, ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên tácgiả đưa ra một số đặc điểm của người lao động nông thôn như sau:

Trang 11

Một là: LĐNT có tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có thời kỳ nhàn rỗi.

Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu trong từng thời kỳ; đời sống sản xuất và thunhập của lao động nông nghiệp

Hai là: do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành

nên tâm lý hay thói quen làm việc một cách không liên tục, thiếu sáng tạo củaLĐNT

Ba là: LĐNT nước ta vẫn còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông,

sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động

Bốn là: LĐNT có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có trình độ rất

khác nhau Hoạt động sản xuất nông nghiệp được tham gia bởi nhiều người ởnhiều độ tuổi khác nhau trong đó có cả những người ở ngoài độ tuổi lao động

Năm là: thu nhập của người LĐNT còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt

là tại vùng ven biển, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số

Sáu là: trình độ của LĐNT thấp khả năng tổ chức sản xuất kém, ngay

thực tế cả những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so vớilao động trong các ngành kinh tế khác

1.1.4 Khái niệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Kết hợp từ khái niệm về đào tạo nghề và khái niệm LĐNT như đã trìnhbày ở trên tác giả xin đưa ra khái niệm về đào tạo nghề cho LĐNT như sau:Đào tạo nghề cho LĐNT là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyềnđạt những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết đối với một nghề nào đó chongười lao động ở khu vực nông thôn, từ đó tạo ra năng lực cho người laođộng đó có thể thực hiện thành công nghề đã được đào tạo

1.2 Mục tiêu của đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất,dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạođức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức

Trang 12

khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năngtìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầucủa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.[11]

Với định hướng nhằm đáp ứng đòi hỏi sự phát triển kinh tế - xã hội; cùngvới các hệ thống giáo dục, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thônhướng đến các mục tiêu chủ yếu, quan trọng trong vấn đề đào tạo nhân lựccho khu vực kinh tế nông thôn Theo đánh giá của tác giả, có một số mục tiêuchính cụ thể hơn như sau:

Một là, đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải nâng cao chất lượng

nguồn nhân lực nông thôn về kiến thức và kỹ năng, đáp ứng được nhu cầu thịtrường lao động trong nước, khu vực và trên thế giới

Hai là, đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải tạo sự chuyển biến

trong chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triểnkinh tế đất nước

Ba là, đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải trang bị cho người lao

động những kiến thức kỹ năng cần thiết để người lao động có thể tự giải quyếtviệc làm, qua đó thúc đẩy phát triển ngành nghề mới ở nông thôn Giải quyếtviệc làm cho người lao động là một trong những chủ trương lớn của Đảng vàNhà nước nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực phục vụ cho

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, trong điều kiệnhiện nay, vấn đề giải quyết việc làm còn gặp nhiều khó khăn, đa số lực lượnglao động hiện nay có kiến thức và chuyên môn thấp, khó có thể tìm kiếmđược việc làm Để tháo gỡ vấn đề này, phát triển công tác đào tạo nghề sẽ làmột biện pháp hữu hiệu nhằm đào tạo đội ngũ lao động nông thôn, giúp họ cóthể tham gia thị trường lao động Đối với bộ phận lao động nông thôn, thôngqua các lớp đào tạo nghề sẽ có thể bằng những nghề mình học mà tạo lậpnghề nghiệp ngay trên quê hương mình Đây không chỉ là vấn đề giải quyết

Trang 13

lao động dư thừa tại chỗ mà còn là điều kiện để phát triển ngành nghề mới ởnông thôn.

Bốn là, tạo nguồn lao động đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động Ngoài

việc nâng cao chất lượng tay nghề, chuyên môn cho người lao động, đào tạonghề còn góp phần nâng cao ý thức, tăng tính tổ chức kỷ luật Đây là một điềukiện thuận lợi cho bộ phận nhân lực đã qua đào tạo khi ra nước ngoài laođộng Vì vậy, phát triển dạy nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động, hòanhập thị trường lao động quốc tế là góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnhxuất khẩu lao động khu vực nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, từngbước đưa kinh tế nước nhà lên một tầm cao mới

Năm là, nâng cao chất lượng nguồn lao động để thúc đẩy tăng năng suất

lao động, tăng sức cạnh tranh cho khu vực kinh tế nông thôn, thúc đẩy pháttriển kinh tế nông thôn Đối với những lao động nông thôn được đào tạo, chắcchắn họ sẽ thay đổi nhận thức, tư duy về vấn đề nghề nghiệp, lao động Từ đó

có những bước cải tiến công việc cũng như quá trình sản xuất kinh doanh hiệntại Nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn do các lao động có kiến thức và kỹnăng làm chủ đương nhiên sẽ có nhiều khả năng cạnh tranh hơn, thúc đẩyphát triển kinh tế mạnh mẽ

Sáu là, làm tăng thu nhập cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội.

Trình độ dân trí thấp, cùng với việc sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ sẽdẫn đến một bộ phận lao động nông thôn dễ sa ngã vào các tệ nạn xã hội : matúy, cờ bạc, rượu chè ảnh hưởng đến xã hội nói chung và gia đình, bản thân

họ nói riêng Vì vậy, nếu lao động nông thôn được qua đào tạo nghề một cáchbài bản và khoa học sẽ giúp họ nâng cao tầm nhận thức của mình và mở racho họ cơ hội tìm kiếm việc làm mới nhằm nâng cao thu nhập, từ đó giúp chođời sống kinh tế của họ được ổn định, các chế độ phúc lợi và an sinh sẽ đượcđảm bảo và phát triển hơn

Trang 14

1.3 Nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn

1.3.1 Xác định nhu cầu đào tạo

Đây là nội dung quan trọng đầu tiên trong đào tạo nghề cho lao độngnông thôn Để đáp ứng được yêu cầu đa dạng của thị trường cũng như đảmbảo hiệu quả sau đào tạo nghề trong việc giải quyết việc làm và tự tạo việclàm đối với lao động nông thôn, cần thiết phải xác định nhu cầu đào tạo Trước hết, phải hiểu, xác định nhu cầu đào tạo là quá trình thu thập thôngtin và phân tích thông tin, để làm rõ hơn khoảng cách giữa những kiến thức và

kỹ năng lao động hiện có so với mục tiêu cần đạt đến

Để có thể xác định được nhu cầu đào tạo, một biện pháp phổ biến thườngđược sử dụng đó là điều tra khảo sát trên các đối tượng có liên quan Mà cụthể trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, ta cần khảo sát nhucầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn, nhucầu học nghề của người lao động tại địa phương

Đồng thời, cũng cần quan tâm tới các yếu tố quan trọng, có ảnh hưởngđến nhu cầu đào tạo, đó là yếu tố:

- Định hướng, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương

- Các xu thế phát triển của thị trường lao động địa phương, cácngành nghề đang có tiềm năng phát triển trong tương lai

- Thế mạnh của địa phương so với các địa phương khác về mộtngành nghề, hay một sản phẩm đặc trưng

- Các ngành nghề truyền thống hiện có tại địa phương

Như vậy, xác định nhu cầu đào tạo là một công tác cần thiết để địaphương, cũng như cơ sở đào tạo nghề định hướng nghề nghiệp cho người laođộng Đồng thời có những thông tin cần thiết về nhu cầu học nghề của laođộng địa phương về ngành nghề đào tạo, trình độ đào tạo, thời gian đào tạo…

để lập kế hoạch đào tạo phù hợp

1.3.2 Xây dựng kế hoạch đào tạo

Trang 15

Lập kế hoạch là quá trình xác lập mục tiêu, thời gian, biện pháp, dự báotrước và quyết định phương thức để thực hiện mục tiêu đó Nói cách khác lập

kế hoạch là xác định trước xem phải làm gì, làm như thế nào, khi nào làm và

ai làm Căn cứ thực trạng ban đầu và căn cứ vào mục tiêu cần phải hướng tới

để cụ thể hoá bằng những nhiệm vụ của tổ chức trong từng thời kỳ, từng giaiđoạn Từ đó tìm ra con đường, biện pháp đạt được mục tiêu

Vậy có thể hiểu, xây dựng kế hoạch đào tạo là xác định các mục tiêu,thời gian, biện pháp, cách thức thực hiện và nhân sự thực hiện công tác đàotạo nghề để đạt được mục tiêu đã đề ra Dựa trên nhu cầu đào tạo nghề, cầnxác định mục tiêu đào tạo nghề và các yếu tố cần thiết để đảm bảo người laođộng sau khi được đào tạo sẽ đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động.Những yếu tố đảm bảo được vấn đề trên chính là số lượng đào tạo, ngànhnghề đào tạo, đối tượng đào tạo, thời gian đào tạo và trình độ đào tạo củangười lao động

Xây dựng kế hoạch đào tạo có nhiều loại, nhưng ta có thể chia ra làm 2loại chính:

- Kế hoạch vĩ mô, là loại kế hoạch mang tính định hướng, tổng quát,loại kế hoạch này thường do cơ quan quản lý nhà nước tiến hành xâydựng

- Kế hoạch vi mô, là loại kế hoạch mang tính cụ thể, chi tiết, loại kếhoạch này thường do các cơ sở lên kế hoạch để thực hiện

Các cơ quan quản lý của Nhà nước xây dựng kế hoạch đào tạo dựa vàocác yếu tố về mặt mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch, khả năng đầu tư của ngân sáchtrong từng kì thực hiện Từ đó sẽ có thể đưa ra những chỉ đạo phù hợp cho các

cơ sở đào tạo lập kế hoạch đào tạo cụ thể

Các cơ sở đào tạo dựa trên các yếu tố về nhu cầu đào tạo đã khảo sátđược, cùng với các điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất, chương trình đào tạo,đội ngũ giảng viên giáo viên sẽ lập kế hoạch chi tiết về tính khả thi của từng

Trang 16

lớp học Bước này cần có sự phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước, cũngnhư sự chuẩn bị kĩ lưỡng cả cơ sở đào tạo nghề.

1.3.3 Tổ chức đào tạo

Sau khi đã xây dựng được kế hoạch đào tạo, tổ chức chương trình đàotạo là nội dung quan trọng thứ ba trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn.Trong giai đoạn này, bộ phận phụ trách đào tạo thực hiện các nhiệm vụ: tổchức các lớp đào tạo bằng các hình thức, phương pháp đào tạo khác nhau.Phương thức đào tạo rất đa dạng, căn cứ vào nhu cầu, mục tiêu cũng như đặcđiểm của ngành nghề, đối tượng học nghề để lựa chọn và xác định phươngthức đào tạo phù hợp Đa số các hình thức đào tạo đều sử dụng chung phươngpháp đào tạo trực tiếp, đó là Nghe/đặt câu hỏi kết hợp với Xem xét/thực hành

để áp dụng Sự khác nhau giữa các lớp học và giữa các cơ sở dạy nghề chính

là ở hình thức đào tạo, một số hình thức đào tạo phổ biến:

- Đào tạo tại các trung tâm, cơ sở dạy nghề

- Kèm cặp trong sản xuất, tại địa điểm tập trung trong địa phương:

- Đào tạo tại doanh nghiệp

Có thể có nhiều mô hình tổ chức dạy nghề khác, trong quá trình thựchiện cần có sự đánh giá kết quả để điều chỉnh mô hình và nhân rộng những

mô hình có hiệu quả

Ngoài phương thức đào tạo ra, một số vấn đề quan trọng khác trong khâu

tổ chức đào tạo cũng cần được chú ý, đó là các thiết bị phục vụ cho đào tạo,kinh phí cho đào tạo, đội ngũ giảng viên, giáo viên, các hình thức theo dõi nộidung và tiến độ đào tạo, định kỳ gặp gỡ người dạy và người học để nắm bắttình hình và các phát sinh, nắm bắt kết quả từng bước trong quá trình đào tạo

để có thể phối hợp và điều chỉnh kịp thời…đảm bảo điều kiện và sự phục vụtốt nhất cho quá trình đào tạo

1.3.4 Quản lý hoạt động đào tạo

Quản lý hoạt động đào tạo chính là quá trình theo dõi, kiểm tra, đánh giákết quả hoạt động đào tạo Kết quả đào tạo phản ánh kiến thức, kỹ năng, thái

độ học viên lĩnh hội được sau đào tạo Điều này có đáp ứng được mục tiêu

Trang 17

đào tạo và các yêu cầu thực tiễn sản xuất và nhu cầu của thị trường haykhông? Và thường được đánh giá một cách toàn diện như sau: sự phản ứngcủa người học đối với chương trình đào tạo, các kết quả thu nhận được củangười học, công tác tổ chức của chương trình đào tạo và tỷ lệ học viên sửdụng nghề đào tạo sau đào tạo, khả năng tạo việc làm sau đào tạo của ngườihọc có giúp họ cải thiện thu nhập, ổn định đời sống hay không?…

Đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo có ý nghĩa quan trọng trongđào tạo nghề cho lao động nông thôn Thông qua đó sẽ rút ra được những ưuđiểm và hạn chế của chương trình cũng như hình thức đào tạo để có kinhnghiệm đào tạo hiệu quả hơn nữa cho các chương trình đào tạo lần sau

1.4 Các yêu cầu đối với chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

1.4.1 Các yêu cầu đối với chất lượng đào tạo nghề.

TP Hà Nội đang trong quá trình đô thị hóa một cách nhanh chóng Hơnbao giờ hết, thủ đô cần phải khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế cảnước; do đó, TP Hà Nội cần phải có những chiến lược cùng với những hướng

đi phù hợp với điều kiện kinh tế của mình Một trong những vấn đề cần đượcquan tâm và giải quyết một cách nhanh chóng, kịp thời và đúng đắn chính làphát triển nguồn nhân lực, tức là chúng ta cần phải quan tâm đến vấn đề nângcao chất lượng đào tạo nghề cho lao động hiện nay Không thể phủ nhận nhữngkết quả có được ngày hôm nay nhờ vào nguồn nhân lực dồi dào Tuy nhiên, vớitình hình phát triển hiện nay của TP Hà Nội cũng như trên cả nước thì chất lượngnguồn nhân lực cần được quan tâm hơn nữa

Quá trình phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi chất lượng lao động phải caokhông những để đáp ứng nhu cầu lao động trong nước mà còn để đáp ứngnhu cầu xuất khẩu lao động, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Xuất khẩu laođộng là chiến lược lâu dài, thường xuyên của các quốc gia phát triển Đối với

Trang 18

nước ta, xuất khẩu lao động không những vừa giải quyết việc làm cho laođộng, tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho bản thân giađình người lao động, mà còn tiếp thu học tập chuyên môn kỹ thuật hiện đạicủa các nước có nền công nghiệp phát triển.

Vấn đề cấp bách hiện nay là phải khẩn trương bồi dưỡng về mọi mặt cho

số công nhân, số lao động chưa qua đào tạo đầy đủ, tăng nhanh về qui mô vớichất lượng cao Và chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thônphải đạt được một số yêu cầu chính như sau:

Một là, công tác chỉ đạo và lập kế hoạch phải sát với thực tế, phù hợp với

các đặc điểm của đối tượng là lao động nông thôn, cụ thể là kết quả công tácxác định nghề đào tạo và nhu cầu đào tạo

Hai là, quá trình đào tạo phải chú trọng tính hiệu quả, dạy thật học thật.

Người lao động phải thực sự tiếp thu được kiến thức và kỹ năng sau quá trìnhđào tạo, đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động

Ba là, kết quả đào tạo phải hướng tới các mục tiêu của đào tạo nghề cho

lao động nông thôn và sát với các kế hoạch đặt ra Đào tạo phải gắn liền với

bố trí việc làm một cách bền vững

1.4.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn TP Hà Nội.

Để có thể đánh giá công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề

án 1956 có đạt được những yêu cầu trên không, ta có thể dựa vào một số tiêuchí định lượng như sau:

- Tiêu chí thứ nhất là số lượng học viên đã đào tạo được so với số lượngtrên kế hoạch của TP

- Tiêu chí thứ hai là số lượng người lao động có việc làm sau quá trìnhđào tạo

Trang 19

- Tiêu chí thứ ba là tiêu chí về năng lực của học viên sau khi được đàotạo.

Để có thể đánh giá được hai tiêu chí trên thì Sở có thể kiểm tra được,nhưng với tiêu chí thứ ba cần có sự đánh giá của giáo viên tham gia giảngdạy, của chính bản thân người học nghề, và của những đơn vị nhận lao độngsau đào tạo vào làm việc Một vài tiêu chí kể trên sẽ đánh giá tương đối chínhxác chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo kỹ năng nghề của người học nghề

đã tốt chưa, có đáp ứng được các yêu cầu của thực tế hay không Cùng vớiviệc mở rộng qui mô đào tạo, nâng cao chất lượng dạy nghề là một đòi hỏikhách quan, cấp bách để thực hiện được mục tiêu của công tác đào tạo nghềcho lao động nông thôn

Trang 20

1.5 Kinh nghiệm trong nước và quốc tế về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

1.5.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề tại một số nước trên thế giới

* Kinh nghiệm của Trung Quốc:

Trung Quốc là một nước thực hiện hiện đại hóa, công nghiệp hóa kháthành công Với dân số đông nhất thế giới, lên tới hàng tỉ người, hàng năm cóTrung Quốc có hàng chục triệu người bước vào độ tuổi lao động, một nửatrong số đó là lao động khu vực nông thôn Quá trình đô thị hóa, công nghiệphóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng, tại nhiều vùng nông thôn diện tíchcanh tác ngày càng thu hẹp, dẫn tới hàng trăm triệu lao động nông thôn không

có việc làm Trước tình hình đó, Chính phủ Trung Quốc rất coi trọng công tácđào tạo nghề cho nông thôn để tạo việc làm cho lao động nông thôn ngay tạiđịa phương, các kinh nghiệm chính của Trung Quốc trong đào tạo nghề cholao động nông thôn là:

- Đào tạo nhân lực phục vụ cho phát triển công nghiệp hương trấn, thựchiện phương châm “ly nông bất ly hương” Đẩy mạnh các doanh nghiệphương trấn, sử dụng lao động địa phương Đặc điểm sử dụng lao động củadoanh nghiệp hương trấn là lấy hiệu quả làm đầu, tự chủ sản xuất kinh doanh,hoạt động theo cơ chế thị trường, rất coi trọng vấn đề phát triển nguồn nhânlực Chính phủ có chính sách hỗ trợ, phát triển hệ thống các lớp, cơ sở dạynghề, ở các vùng nông thôn, nhằm đáp ứng cho phát triển doanh nghiệphương trấn Biện pháp đào tạo mà doanh nghiệp hương trấn sử dụng là dùngcác lao động nông thôn có chuyên môn kỹ thuật, dám nghĩ, dám làm, trưởngthành từ thực tiễn, để đào tạo tay nghề cho những người vừa tốt nghiệp cáccấp trung học phổ thông Tuy nhiên, khó khăn của doanh nghiệp hương trấn làthiếu lao động chuyên môn kỹ thuật cao để có thể nâng cao năng suất laođộng, chất lượng sản phẩm và tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh

Trang 21

nghiệp Hệ thống đào tạo ở nông thôn chưa cung ứng được đầy đủ lao độngchuyên môn kỹ thuật cao cho doanh nghiệp hương trấn

- Chính phủ có các chính sách khuyến khích các cơ sở đào tạo, dạy nghề,tích cực đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật cho các khu vực đô thị hóanhanh để tạo điều kiện cho lao động nông thôn chuyển sang làm việc tại cácdoanh nghiệp FDI, khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, các cụm kinh tếmở…đây là điều kiện để thu hút nguồn lao động nông thôn đến với các vùng

đô thị hóa nhanh chóng và các ngành công nghiệp dịch vụ đang trên đà pháttriển

- So với các nước khác, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thìTrung Quốc đã thực hiện chính sách kiểm soát được ở mức độ nhất định dòng

di chuyển lao động đến các thành phố lớn, tuy nhiên hạn chế của chính sáchnày là làm giảm khả năng cạnh tranh lao động trên phạm vi lớn của thị trườnglao động bao gồm cả thành thị và nông thôn Do đó, ở mức độ nhất định đãlàm giảm tính kích thích lao động nông thôn tham gia đào tạo học nghề Đểkhắc phục tình trạng này, Chính phủ Trung Quốc có chính sách phát triển các

đô thị loại vừa và nhỏ ở nông thôn để phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch

vụ, thúc đẩy đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn trong quá trình đô thịhóa Ngoài ra, Chính phủ còn có chính sách khuyến khích các doanh nghiệpnông thôn hợp tác với các doanh nghiệp nhà nước để đào tạo lao động chuyênmôn kỹ thuật cao đáp ứng nhu cầu đổi mới lao động trong các trường hợp tiếpnhận công nghệ sản xuất mới

* Kinh nghiệm Hàn Quốc

Hàn Quốc là con rồng Châu Á đã đạt được những thành tựu huyền diệutrong công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Trong các năm 1960-1970,tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc thuộc loại cao nhất thế giới, GNPbình quân đầu người của Hàn Quốc tăng trung bình 6,7%/năm Quá trình

Trang 22

chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đã đặt ra nhiệm vụ lớn choChính phủ Hàn Quốc là phải tăng cường đào tạo nguồn nhân lực nông thôn đểđáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp và dịch vụ Có thể nói, Hàn Quốc

là nước thành công trong việc kết hợp được hài hòa giữa chính sách chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông thôn với chính sách phát triển nguồn nhân lực nôngthôn Thành tựu trong vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở HànQuốc phải kể tới vai trò của việc tập trung đầu tư cho giáo dục, đảm bảo chomọi người dân, trong đó có dân cư khu vực nông thôn được giáo dục đào tạovới quy mô lớn, ở tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế

Trong những năm đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thịhóa, Chính phủ Hàn Quốc phát triển hệ thống đào tạo, thu hút lao động nôngthôn vào đào tạo các ngành nghề hàm lượng lao động cao như dệt, may, giày

da, đồ chơi, công nghiệp chế biến, nhà hàng, … Các thời kì sau, công nghiệpphát triển mạnh mẽ , lao động nông thôn được đào tạo với quy mô lớn trongcác lĩnh vực sắt thép, hóa chất, đóng tàu, xây dựng công nghiệp, … Sự pháttriển mạnh của các ngành công nghiệp xuất khẩu đã giải quyết được việc làmcho lao động nông thôn mất việc làm trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh

tế và cơ cấu lao động

Chính phủ Hàn Quốc có chính sách khuyến khích các công ty tham giađào tạo nghề, hướng dẫn thực tập nghề nghiệp cho người lao động, đặc biệt làlao động nông thôn tham gia học nghề ban đầu, để đảm bảo nguồn cung ứngcho nhu cầu của các ngành công nghiệp có tốc độ phát triển nhanh Chính phủcũng khuyến khích phát triển hình thức tín dụng, giảm thuế và trợ cấp, nhằmtạo điều kiện cho lao động nghèo, lao động nông thôn có thể tham gia cáckhóa đào tạ học nghề, học đại học Trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu côngnghiệp hướng vào phát triển các ngành kinh tế có hàm lượng tri thức và côngnghệ cao hơn, Hàn Quốc đã có chính sách tăng cường quy mô giáo dục phổ

Trang 23

thông kể cả ở nông thôn, để đảm bảo cơ sở cho đào tạo nhân lực trình độ cao,đáp ứng giai đoạn phát triển của các ngành kinh tế Trong đó đặc biệt là nhânlực ngành công nghệ thông tin, dược phẩm, chế tạo ôtô, điện tử cao cấp, viễnthông, chế tạo máy móc chính xác, tự động hóa, công nghệ sinh học….[20]

1.5.2 Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở một số địa phương

Những năm qua, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đượcquan tâm chú trọng ở khắp các địa phương trên cả nước Theo đó, nhiều địaphương đã có những mô hình đào tạo nghề hiệu quả và đáng được học hỏi,nhân rộng

Thứ nhất, mô hình liên kết “3 nhà” trong đào tạo nghề cho lao động

nông thôn ở tỉnh Nam Định

Mô hình liên kết “3 nhà” (nhà nông - người lao động, nhà trường - cơ sởđào tạo, nhà sử dụng lao động - doanh nghiệp) được xem là hướng đi hiệu quả

để Nam Định thực hiện được mục tiêu dạy nghề gắn với việc làm theo "Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020".

Được đánh giá là một trong những đơn vị triển khai thành công đề án dạynghề của tỉnh Nam Định, ngay khi bắt đầu thực hiện, huyện Hải Hậu đã khảosát nhu cầu học nghề của bà con Kết quả cho thấy người lao động ở các xãven biển muốn học nghề dệt lưới; dân ở các xã vùng nội đồng muốn học dệtcói xuất khẩu, móc sợi, trồng nấm, nghề mộc Riêng nghề may, tất cả các xã,thị trấn trong huyện đều có lao động có nhu cầu học do đặc thù lao động ởkhu vực nông thôn đa dạng về đối tượng, độ tuổi, khả năng tiếp thu, điều kiệnhọc tập khác nhau nên việc tổ chức dạy nghề theo hình thức tập trung sẽkhông phát huy hiệu quả Hơn nữa muốn kéo nông dân đi học, không chỉtuyên truyền kêu gọi mà điều quan trọng là phải có mô hình điểm hiệu quảcho người dân nhìn, có thế họ mới hăng hái tham gia học nghề Nếu dạy nghề

Trang 24

mà không tạo thu nhập cho nông dân thì không đầy một tuần bà con sẽ nghỉhết

Để khắc phục những "cái khó" trên, Trung tâm Dạy nghề huyện Hải Hậu

đã xây dựng chương trình đào tạo gồm 12 nghề, trong đó: hàn điện, máy côngnghiệp, đan, thêu, móc là các nghề thị trường lao động có nhu cầu cao; tổchức dạy nghề ngay tại địa bàn khu dân cư, dạy nghề gắn với sản xuất, vừahọc vừa làm, đồng thời xây dựng đội ngũ cộng tác viên ở địa phương lànhững người có tay nghề, nghiệp vụ sư phạm làm công tác tuyên truyền nghề,dạy nghề Nhờ đó, hầu hết học viên sau khi tốt nghiệp đều được các doanhnghiệp, tổ hợp sản xuất trên địa bàn tiếp nhận vào làm việc Một số học viênsau khi được học nghề còn mạnh dạn vay vốn đầu tư mở cơ sở sản xuất, tạoviệc làm cho nhiều lao động khác

Với phương châm đào tạo nghề theo hướng "cầm tay chỉ việc", "học điđôi với hành", các doanh nghiệp trên địa bàn đã tạo cho học viên tay nghềvững, tiếp cận dễ dàng với công việc Cùng với việc dạy nghề, những nămqua các doanh nghiệp đã huy động thêm vốn của Ngân hàng Chính sách xãhội và nhiều "kênh" khác đầu tư mở rộng nhà xưởng, tổ chức sản xuất thêmcác sản phẩm may mặc bên cạnh sản phẩm mây tre đan truyền thống Việclàm này đã góp phần tạo thêm việc làm cho lao động nông nhàn tại 18 xãtrong huyện Hoạt động thu mua bẹ chuối, bèo tây của doanh nghiệp cũnggián tiếp tạo việc làm cho nhiều lao động nông thôn khác trên địa bàn.[6]

Có thể thấy, sự phối hợp nhịp nhàng “3 nhà” trong đào tạo nghề cho laođộng nông thôn như trên thực sự đem lại hiệu quả đào tạo rất cao Đây là một

mô hình kinh nghiệm cho các địa phương khác áp dụng rất hữu ích và khảquan Và các cách tỉnh Nam Định thực hiện trong công tác đào tạo nghề rấtđáng học hỏi để phát triển hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại

TP Hà Nội

Trang 25

Thứ hai, mô hình dạy nghề gắn với thực hành tại chỗ ở tỉnh Bắc Kạn

Ở tỉnh Bắc Kạn các lớp nghề đào tạo chủ yếu là kỹ thuật trồng nấm,trồng rau, sản xuất phân vi sinh, các loại cây ăn quả, sửa chữa máy nôngnghiệp Tại đây học viên được tham gia học lý thuyết và thực hành tại chỗ Chẳng hạn, tại thôn Pá Danh, xã Huyền Tụng (thị xã Bắc Kạn) đang triểnkhai lớp sản xuất phân vi sinh với 30 học viên tham dự Học xong lý thuyết,mỗi học viên đóng góp nguyên, vật liệu thực hành tại chỗ Phương pháp ủphân vi sinh rất đơn giản, chủ yếu dùng các đồ phế thải bỏ đi, không nhữngtiết kiệm chi phí mua phân bón hoá học mà còn giúp cải tạo đất, đảm bảo sứckhoẻ cho người sử dụng, hạn chế tác động xấu đến môi trường.[10]

Đây là một mô hình gần gũi và rất phù hợp để áp dụng thực hiện trongđào tạo nghề cho lao động nông thôn TP Hà Nội

Thứ ba, mô hình đào tạo nghề theo địa chỉ ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa

Bình

Huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình hiện có hơn 21 nghìn người trong độ tuổilao động Trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chiếm hơn 30% Hiệnnay, huyện có 2 Khu Công nghiệp mới thành lập và trên 60 doanh nghiệp đã

và đang hoạt động với nhiều ngành nghề khác nhau

Xuất phát từ thực tế đó, đào tạo nghề, cung ứng lao động cho các doanhnghiệp ngay trên địa bàn nhằm giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao độngđang là mục tiêu mà huyện hướng đến Để thực hiện được mục tiêu đó, từnhiều năm nay huyện đã xác định gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm,trong đó, đặc biệt chú trọng đào tạo nghề theo địa chỉ

Ngay từ đầu năm, huyện đã triển khai điều tra, khảo sát tại 85 thôn, xóm

để nắm được số liệu cụ thể về người lao động, đồng thời, tiến hành điều tra, ràsoát nhu cầu sử dụng lao động tại 42 doanh nghiệp đang hoạt động trên địabàn Qua đó, nắm được chính xác nhu cầu lao động của các DN để có kếhoạch đào tạo cụ thể Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả dạy nghề, đặc biệt, để

Trang 26

đảm bảo việc làm cho lao động, huyện đã chủ động ký kết với các doanhnghiệp trực tiếp hướng dẫn và truyền nghề cho lao động bằng hình thức học

và thực hành ngay tại xưởng Với việc doanh nghiệp trực tiếp đứng ra giảngdạy theo hình thức thực hành tại chỗ, người lao động vừa nắm vững đượckiến thức, đồng thời vừa đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng Chính vìvậy, tỷ lệ lao động qua đào tạo có việc làm thường đạt từ 85 - 90%

Ngoài ra, huyện cũng đã phối hợp với ngân hàng CSXH huyện triển khaithực hiện hiệu quả nguồn vốn vay từ quỹ quốc gia về việc làm.[21]

Chính nhờ các giải pháp đồng bộ trong công tác đào tạo nghề, đặc biệt làđào tạo nghề theo địa chỉ, huyện đã tạo được nguồn lao động dồi dào, có taynghề cho các DN, đơn vị đầu tư trên địa bàn tỉnh.[19]

1.5.3 Bài học kinh nghiệm

Từ những căn cứ trên, kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn

ở các địa phương và các nước bạn cho thấy việc xác định đúng nhu cầu đàotạo cũng như đào tạo các nghề phù hợp với địa phương, và có sự phối hợpchặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và người lao động là hướng đihiệu quả trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong giai đoạn hiện nay.Một số các vấn đề chính cần lưu ý, đó là:

- Cần có chính sách phát triển hệ thống đào tạo nghề tại các vùng nôngthôn Các nghề phải gắn với nhu cầu của thị trường lao động

- Đào tạo nhân lực nông thôn đáp ứng cho các khu chế xuất, khu côngnghiệp cần chú ý tới các ngành nghề có hàm lượng tri thức cao, có giá trị giatăng lớn

- Đào tạo nghề truyền thống để phát triển các làng nghề sẵn có

- Đào tạo nghề để đưa lao động đi xuất khẩu lao động

- Đào tạo nghề để lao động nông thôn nâng cao năng suất và hiệu quả laođộng sản xuất

Trang 27

Đặc biệt, sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cấp chính quyền với

cơ sở đào tạo, người lao động và doanh nghiệp cho thấy nhận thức đúng đắncủa họ về ý nghĩa của công tác đào tạo nghề và sự nhiệt tình khi thực hiệncông tác này một cách đầy nhiệt huyết và hiệu quả

Qua những phân tích trên, tác giả nhận thấy, công tác đào tạo nghề cholao động nông thôn cần được đầu tư và quan tâm hơn nữa tới các yếu tố banđầu như xác định nhu cầu của thị trường lao động, nhu cầu học tập của ngườilao động Đứng trước những yêu cầu của sự phát triển cũng như được sự chỉđạo của cấp trên, TP Hà Nội đang mở rộng và triển khai chương trình đào tạonghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 Tuy nhiên, công tác thực hiệncòn chậm và hiệu quả chưa cao, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn và bất cập

Do vậy, tác giả nghiên cứu vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại TP

Hà Nội, nhằm đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiệncông tác này trong những năm tới

Trang 28

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG

NÔNG THÔN TP HÀ NỘI THEO ĐỀ ÁN 1956

2.1 Giới thiệu chung về đề án 1956 của Chính phủ và nguồn lao động nông thôn thành phố Hà Nội

2.1.1 Tóm tắt đề án 1956

Với quan điểm, đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp củaĐảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượnglao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn;ngày 27 tháng 11 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số

1956/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Với bản đề án này, công tác đào tạo nghề sẽ được đổi mới và phát

triển theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuậnlợi để lao động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn,điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình

Mục tiêu tổng quát của bản đề án: Bình quân hàng năm đào tạo nghề chokhoảng 1 triệu lao động nông thôn, trong đó đào tạo và bồi dưỡng 100.000lượt cán bộ, công chức xã; nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghềnhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn, góp phần chuyểndịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH nôngnghiệp, nông thôn

Bản đề án chia làm ba giai đoạn với những mục tiêu cụ thể:

Giai đoạn 2009 – 2010:

Tiếp tục dạy nghề cho khoảng 800.000 lao động nông thôn theo mục tiêucủa Dự án “ Tăng cường năng lực dạy nghề” thuộc Chương trình mục tiêuquốc gia Giáo dục – Đào tạo đến năm 2010; Thí điểm các mô hình dạy nghềcho lao động nông thôn với khoảng 18.000 người, 50 nghề đào tạo và đặt

Trang 29

hàng dạy nghề cho khoảng 12.000 người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộcthiểu số, lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế.

Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề theo các mô hình này tối thiểu đạt 80%

 Giai đoạn 2011 – 2015:

Đào tạo nghề cho 5.200.000 lao động nông thôn, trong đó: khoảng4.700.000 lao động nông thôn được học nghề (1.600.000 người học nghềnông nghiệp; 3.100.000 người học nghề phi nông nghiệp) Tỷ lệ có việc làmsau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 70%

Giai đoạn 2016 – 2020:

Đào tạo nghề cho khoảng 6.000.000 lao động nông thôn, trong đó:Khoảng 5.500.000 lao động nông thôn được học nghề (1.400.000 người họcnghề nông nghiệp; 4.100.000 người học nghề phi nông nghiệp) Tỷ lệ có việclàm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 80%

Với những mục tiêu rõ ràng và phân theo từng giai đoạn cụ thể; cùng vớinhững nỗ lực không ngừng nghỉ trong quá trình triển khai thực hiện của cáccấp, các ngành, đoàn thể; hy vọng công tác đào tạo nghề thực sự mang lạinhững kết quả khả quan, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hộichung của cả nước, đồng thời mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc chongười lao động, đặc biệt là bộ phận lao động nông thôn – nguồn nhân lựcquan trọng cho sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn.[15]

2.1.2 Các đặc điểm nguồn lao động nông thôn thành phố Hà Nội

2.1.2.1 Đặc điểm vị trí địa lý của TP Hà Nội

Hà Nội là thủ đô của Việt Nam từ năm 1946 đến hiện nay, là thành phốđứng đầu Việt Nam về diện tích sau đợt mở rộng địa giới hành chính với3.324,92 km2 Hiện nay, thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là đô thịloại đặc biệt của Việt Nam

Trang 30

Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sôngHồng, địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tâysang Đông nhờ phù sa bồi đắp, 75% diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồngbằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sôngkhác Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, QuốcOai, Mỹ Đức.

Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trởthành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sửViệt Nam Năm 1010, Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của nhà Lý, quyết địnhxây dựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng Long Năm 1902, HàNội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xâydựng, quy hoạch lại Trải qua hai cuộc chiến tranh, Hà Nội là thủ đô của miềnBắc rồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho tới ngày nay

Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiệnnay gồm 10 quận, 1 thị xã và 18 huyện ngoại thành Hiện nay, Hà Nội vàThành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm kinh tế - xã hội đặc biệt quan trọngcủa Việt Nam Hà Nội cũng là một trung tâm văn hóa, giáo dục với các nhàhát, bảo tàng, các làng nghề truyền thống, những cơ quan truyền thông cấpquốc gia và các trường đại học lớn.[19]

2.1.2.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế xã hội của TP Hà Nội

Vị thế trung tâm kinh tế của Hà Nội đã được thiết lập từ rất lâu trong lịch

sử Tên những con phố như Hàng Bạc, Hàng Đường, Hang Than đã minhchứng cho điều này Tới thế kỷ gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của Thànhphố Hồ Chí Minh và khu vực Nam Bộ, Hà Nội chỉ còn giữ vị trí quan trọngthứ hai trong nền kinh tế Việt Nam

Sau một thời gian dài của thời kỳ bao cấp, từ đầu thập niên 1990, kinh tế

Hà Nội bắt đầu ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ

Trang 31

Ngành công nghiệp của Hà Nội tập trung vào 5 lĩnh vực chính là cơ–kimkhí, điện–điện tử, dệt–may–giày, chế biến thực phẩm và công nghiệp vật liệu.Bên cạnh đó, nhiều làng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng, may ở CổNhuế, đồ mỹ nghệ Vân Hà cũng dần có sự phục hồi và phát triển.

Hà Nội là một trong những địa phương nhận được đầu tư trực tiếp từnước ngoài nhiều nhất, tính trên cả tổng vốn đầu tư cũng như số lượng dự án.Các doanh nghiệp tư nhân của Hà Nội cũng phát triển mạnh, thu hút mộtlượng lớn lao động, đóng góp rất lớn vào ngân sách của thành phố các nămqua

Kinh tế Hà Nội năm 2012 duy trì tăng trưởng, nhưng thấp hơn kế hoạch

và mức tăng trưởng của cùng kỳ năm trước: Tổng sản phẩm trên địa bàn(GRDP) tăng 8,1%; vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng 13,2%; tổng mứcbán hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng 18,8%; kim ngạchxuất khẩu tăng 5,3% Chỉ số sản xuất công nghiệp cộng dồn cả năm 2012 tăng5,1% so cùng kỳ Nếu cơ cấu năm 2008 là: dịch vụ 52,1%; công nghiệp-xâydựng 41,4%; nông nghiệp 6,6%, thì năm 2012, cơ cấu các ngành tương ứnglà: 52,6%; 41,8% và 5,6%

Năm 2012, Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn thành phố Hà Nội ước năm

2012 đạt 232.658,5 tỷ đồng, tăng 13,2% so với năm 2011 Đối với các dự án

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Ước đạt khoảng 41.348,4 tỷ đồng, tăng

10,8% so với năm 2011

Năm 2012, Hà Nội cấp phép mới và bổ sung tăng vốn đầu tư cho 283 dự

án đầu tư nước ngoài với vốn đầu tư đăng ký 985 triệu USD (so với năm 2011bằng 80,6% về số dự án và bằng 51,6% về số vốn đầu tư đăng ký), trong đó:cấp mới 222 dự án với vốn đầu tư đăng ký 775 triệu USD; bổ sung tăng vốn

61 dự án với 210 triệu USD vốn đầu tư đăng ký

Trang 32

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong năm 2012 là 15 nghìndoanh nghiệp, với số vốn đăng ký là 83 nghìn tỷ đồng, bằng 90% về số doanhnghiệp và 70% về vốn đăng ký so với năm trước

Tổng mức và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội cả năm 2012 tăng18,8% so với cùng kỳ, trong đó, bán lẻ tăng 18,3%

Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu tăng 5,3% so cùng kỳ năm trước, trong

đó xuất khẩu địa phương tăng 6,8% so cùng kỳ Kim ngạch nhập khẩu giảm

3% so cùng kỳ, trong đó, nhập khẩu địa phương tăng 2% [3]

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo sự chuyển dịch về cơ cấu laođộng Số doanh nghiệp thành lập mới luôn có xu hướng tăng nhanh chóng đòihỏi một lượng lớn lao động phục vụ Sự chuyển dịch này đòi hỏi phải đào tạonghề cho người lao động đang hoạt động trong những lĩnh vực nông, lâm, ngưnghiệp chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụmới đáp ứng được yêu cầu của công việc Điều này sẽ thúc đẩy công tác đàotạo nghề cho lao động nông thôn phát triển mạnh

Với những điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội vô cùng thuận lợi nhưvậy, TP Hà Nội có đủ những yếu tố cần thiết để đảm bảo cho công tác thựchiện đề án 1956 được thành công tốt đẹp

2.1.2.3 Đặc điểm nguồn lao động nông thôn TP Hà Nội

Ước tính dân số toàn thành phố đến tháng 12 năm 2012 là 6.924.700người tăng 2,2% so với năm 2011, trong đó dân số thành thị là 2.943.500người chiếm 42,5% tổng số dân và tăng 2,2% so với năm 2011; dân số nôngthôn là 3.981.200 người tăng 2,1%

Tỷ lệ thất nghiệp năm 2012 là 4,8%, trong đó, tỷ lệ thất nghiệp khu vựcthành thị là 7,8% So với năm 2011 tỷ lệ thất nghiệp tăng 0,3% Số lao độngđược giải quyết việc làm toàn Thành phố là 133 nghìn người, bằng 95% kếhoạch

Trang 33

Về giáo dục, Thành phố đã triển khai xây mới 22 trường công lập, trong

đó có 11 trường mầm non, 6 trường tiểu học, 4 trường trung học cơ sở, 1trường trung học phổ thông Chất lượng giáo dục đào tạo tiếp tục được nângcao Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 98,5%, tăng 0,4% so với năm

2011 (năm 2011 là 98,1%); tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 99,1%.[3]

Từ những số liệu kể trên, ta có thể nhận thấy được nguồn lao động của

TP Hà Nội nói chung, và nguồn lao động nông thôn của TP Hà Nội vô cùngdồi dào Nguồn lao động này có các điều kiện về giáo dục, y tế khá tốt Kếthợp với những điều kiện về tự nhiên, kinh tế xã hội hiện có, chính là điều kiện

vô cùng thuận lợi để TP Hà Nội thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo nghềcho lao động nông thôn theo đề án 1956

Tuy nhiên, có một số hạn chế chính, là điều kiện kinh tế xã hội của HàNội, chỉ tập trung phát triển ở khu vực nội thành, còn các khu vực ngoạithành, nhất là các huyện thuộc tỉnh Hà Tây, Hòa Bình, Vĩnh Phúc cũ thì cònrất nhiều khó khăn Nguồn lao động thuộc khu vực nông thôn có chất lượngchưa cao Ý thức tổ chức kỉ luật theo tác phong công nghiệp là chưa có

2.1.3 Các văn bản hướng dẫn thực hiện đề án 1956 của TP Hà Nội

Những đường lối và chủ trương, chính sách của Đảng nếu đúng và phùhợp sẽ là điều kiện rất thuận lợi để phát triển công tác đào tạo nghề

Nghị quyết số 26/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn (gọi là Nghị quyết Tam nông) ra đời ngày 5/8/2008,

đã xác định rõ vai trò và tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân và nôngthôn Theo đó, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn được quan tâm vàtriển khai mạnh mẽ trên phạm vi cả nước Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành

Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP về "Chương trình hành động của Chính phủ", trong đó có nêu mục tiêu: "Tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giải

Trang 34

quyết việc làm nhằm nâng cao thu nhập một bước cho người nông dân" Cụ thể,

ngày 27/11/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1956/QĐ-TTg về

phê duyệt đề án“Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956) Đề án nêu rõ quan điểm: "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”.[15] Bên cạnh đó, ngày

31/8/2012 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 1201/2012/QĐ-TTg

về phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012- 2015” Mục tiêu của Chương trình nêu rõ: “ Hỗ trợ phát triển đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng cường xuất khẩu lao động và phát triển thị trường lao động đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế nhất là ở khu vực nông thôn giai đoạn 2012-2015”.[16] Có thể

nói, đây là những căn cứ pháp lý quan trọng, đẩy mạnh phát triển công tácđào tạo nghề cho lao động nông thôn trong giai đoạn hiện nay

Để cụ thể hóa những quan điểm chung từ TW, UBND Thành phố đã banhành các văn bản chỉ đạo thực hiện gồm:

- Năm 2010: Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 15/01/2010; Kế hoạch số100/KH-UBND ngày 13/7/2010 triển thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTgtrên địa bàn thành phố năm 2010; Quyết định số 2323/QĐ-UBND ngày25/5/2010 Quyết định về việc thành lập Ban chỉ đạo của thành phố Hà Nộithực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg; Quyết định số 6127/QĐ-BCĐHNngày 13/12/2010 của Ban chỉ đạo thực hiện Quyết đính số 1956/QĐ-TTgthành phố Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của ban chỉ đạo thành phố

Hà Nội thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg; Quyết định số UBND ngày 17/7/2010 về tổ chức điểu tra, khảo sát nhu cầu đào tạo nghề cholao động nông thôn thành phố Hà Nội; Quyết định số 4150/QĐ-UBND ngày

Trang 35

3658/QĐ-25/8/2010 bố trí kinh phí thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nôngthôn trong năm 2010 trên địa bàn thành phố Hà Nội; Quyết định số 5304/QĐ-UBND ngày 26/10/2010 về phân bổ kế hoạch vốn năm 2010 (đợt 1) thực hiệnQuyết định số 1956/QĐ-TTg; Quyết định số 5972/QĐ-UBND ngày02/12/2010 về việc phân bổ kinh phí năm 2010 (đợt 2);

- Năm 2011: Quyết định số 1904/QĐ-UBND ngày 26/4/2011; Quyếtđịnh số 1893/QĐ-UBND ngày 25/4/2011 về quy định mức chi phí đào tạonghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg giai đoạn 2011-

2015 (đợt1); Quyết định số 6113/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2011 vềquy định mức chi phí đào tạo nghề và mức hỗ trợ chi phí học nghề cho laođộng nông thôn (đợt 2); Quyết định số 3441/QĐ – UBND ngày 25 tháng 7năm 2011 Quyết định phê duyệt phương thức đặt hàng, giao nhiệm vụ thựchiện đối với hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn theo quyết định số1956/QĐ-TTg; Kế hoạch số 150/KH-UBND ngày 26 tháng 12 năm 2011 về

Kế hoạch Đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạonghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” trên địa bàn thành phố Hà Nội,giai đoạn 2011 -2015;

Liên Sở: Lao động – Thương binh và Xã hội Hà Nội và Tài Chính HàNội đó ra Văn bản số: 813/HD-LS ngày 24/5/2011 hướng dẫn triển khai côngtác dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết số 1956/QĐ-TTg;

- Năm 2012: Quyết định số 2960/QĐ-UBND ngày 29 tháng 6 năm 2012Quyết định về việc giao mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch vốn thực hiện cácchương trình mục tiêu quốc gia và một số mục tiêu thành phố Hà Nội năm2012; Kế hoạch số 112/KH-UBND ngày 24 tháng 8 năm 2012 về Kế hoạchđào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg trênđịa bàn thành phố Hà Nội năm 2012;

Trang 36

Bên cạnh hệ thống văn bản do UBND Thành phố ban hành, hàng nămcân cứ vào tình hình thực tế và nhiệm vụ, Sở Lao động Thương binh và Xãhội đã có các Công văn hướng dẫn, đôn đốc thực hiện.

Với những văn bản đã ban hành như trên, ta có thể thấy được sự quantâm sát sao của UBND thành phố đối với công tác thực hiện đề án 1956

2.2 Thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn TP Hà Nội theo

đề án 1956.

2.2.1 Xác định nhu cầu đào tạo

Trên cơ sở chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Lao động –Thương binh và Xã hội, Cục Thống Kê thành phố, Quận Hà Đông, thị xã SơnTây và các huyện đã hoàn thành 3 cuộc điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầuhọc nghề của lao động nông thôn, nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo nghềcủa doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và điều tra nănglực đào tạo của các cơ sở dạy nghề trên địa bàn Công tác điều tra, khảo sátđược thực hiện từ các thôn, bản, tới từng hộ gia đình, cơ sở dạy nghề…

- Kết quả cụ thể :

+ 100% địa phương đã hoàn thành công tác điều tra nhu cầu học nghềcủa 867.794 hộ gia đình với 2.129.469 lao động nông thôn trên địa bàn 20huyện, quận Hà Đông, thị xã Sơn Tây, trong đó 131.185 người có nhu cầu họcnghề;

+ Theo thông kê kết quả điều tra nhu cầu bổ sung lao động qua đào tạonghề giai đoạn 2011 – 2015 của 8.320 công ty, doanh nghiệp, cơ sở sản xuấtkinh doanh dịch vụ trên địa bàn các huyện, quận Hà Đông, thị xã Sơn Tây là311.106 người, tỉ lệ được thể hiện trong hình 2.1 sau:

Trang 37

tiểu thủ công nghiệp

(Nguồn kế hoạch đào tạo Số: 150/KH-UBND)

Với những cuộc khảo sát và kết quả như trên, TP Hà Nội cũng đã nắmđược tương đối cụ thể nhu cầu nguồn nhân lực cần đáp ứng Và trong kếhoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn của mình, TP đã lên danh sáchđược 170 ngành nghề cần đào tạo Đây là những ngành nghề hiện tại thịtrường đang có nhu cầu về lao động Chi tiết các nghề đào tạo được thể hiện ởbảng 2.1

Trang 38

Bảng 2.1 DANH MỤC NGHỀ ĐÀO TẠO

(nguồn Kế hoạch Số: 150/KH-UBND Hà Nội, ngày 26 tháng 12 năm 2011)

1 Kỹ thuật pha chế đồ uống 35 Tin học viễn thông ứng

dụng

69 Sửa chữa thiết bị tự động hóa

103 Dịch vụ chăm sóc gia đình

137 Lắp đặt điện nước công trình

2 Đào tạo giáo viên 36 Kỹ thuật trực tổng đài 70 Cơ điện tử 104 Xây trát dân dụng 138 Ốp lát tường và sàn

3 Sư phạm mầm non 37 Điện nước 71 Vận hành máy xúc 105 Sản xuất gạch Ceramic 139 Kỹ thuật điêu khắc gỗ

4 Thủ công mỹ nghệ 38 Công nghệ kỹ thuật điện 72 Vận hành máy ủi 106 Sản xuất sứ xây dựng 140 Dịch vụ chăm sóc trẻ em

5 Chăm sóc sức khỏe người

già

39 Vận hành thiết bị xếp dỡ hàng hóa

73 Vận hành và sửa chữa trạm bơm điện

107 Trồng hoa hồng, hoa cúc

141 Chọn và nhân giống cây trồng

6 Chạm khắc đá 40 Sản xuất động cơ điện 74 Sản xuất đồng hồ đo điện 108 Trồng cây công nghiệp 142 Quản trị lữ hành

7 Trồng cây ăn quả (cam,

bưởi, nhãn)

41 Công nghệ sản xuất sản phẩm công nghiệp

75 Vận hành sửa chữa máy nông nghiệp

109 Kỹ thuật trồng và chế biến thuốc nam

143 Vận hành máy nông nghiệp

8 Kim hoàn 42 Sản xuất sản phẩm gốm 76 Vận hành máy xây dựng 110 Gia công đá quý 144 Quản trị khách sạn

9 Đồ gốm mỹ thuật 43 Đúc 77 Vận hành cầu trục 111 Hướng dẫn du lịch 145 Nghiệp vụ lễ tân

11 Kỹ thuật khảm trai 45 Hàn 79 Kỹ thuật viên dược 113 Trồng hoa ly 147 Nghiệp vụ bàn

12 Sản xuất chổi chít 46 Tiện 80 Chế biến thực phẩm 114.Sản xuất sản phẩm kính 148 Dịch vụ nhà hàng

13 Thêu ren 47 Nguội chế tạo 81 Chế biến lương thục 115 Kỹ thuật trồng chè 149 Kỹ thuật làm bánh

14 Sản xuất hàng mây tre đan 48 Lắp ráp ô tô 82 Chế biến rau quả 116 Thi công nhôm kính 150 Khuyến nông

15 Móc sợi 49 Chế tạo thiết bị cơ khí 83 Quản lý nhà hàng 117 Vệ sỹ 151 Sư phạm dạy nghề

16 Đúc, dát đồng mỹ nghệ 50 Lắp ráp cơ khí 84 Chế biến chè 118 Bảo vệ thực vật 152 Kỹ thuật cắt uốn tóc

17 Vẽ tranh 51 Nguội lắp ráp cơ khí 85 Sản xuất bánh kẹo 119 Làm vườn cây cảnh 153 Kỹ thuật chăm sóc da

18 Trang trí nội thất 52 Sửa chữa máy cơ khí 86 Công nghệ sợi 120 Chăn nuôi lợn 154 Kỹ thuật làm móng

19 Dệt len 53 Sửa chữa ô tô 87 Chế biến sữa 121 Quản lý cây xanh đô thị 155 Trang điểm

20 Văn thư hành chính 54 Sửa chữa thiết bị may 88 Sản xuất hàng dệt may 122 Trồng rừng 156 Vận tải đường thủy

21 Quản trị doanh nghiệp

vừa và nhỏ

55 Sửa chữa thiết bị điện dân dụng

89 Chế biến thực phẩm đông lạnh

123 Trồng và chăm sóc cây cảnh

157 Lái phương tiện thủy nội địa

22 Sửa chữa thiết bị điện tử

24 Thống kê doanh nghiệp 57 Kế toán doanh nghiệp 91 Chăn nuôi bò thịt 125 Chăn nuôi gà, vịt 159 Thiết kế đồ họa

25 Mua bán giao nhận hàng 58 May veston 92 May công nghiệp 126 Chăn nuôi bò sữa 160 Thủy thủ tàu thủy

26 Bán hàng siêu thị 59 Sửa chữa máy xây dựng 93 May và thiết kế thời trang 127 Nuôi cá (chép, trắm) 161 Khai thác máy tầu thủy

27 Lắp ráp máy vi tính 60 Sửa chữa xe máy 94 Cắt may dân dụng 128 Nuôi cá rô phi 162 Lái xe ôtô con

28 Mộc dân dụng 61 Điện dân dụng 95 Sản xuất giày da 129 Nuôi cá điêu hồng 163 Lái xe ô tô hành khách

29 Sửa chữa máy vi tính 62 Điện công nghiệp 96 Mộc mỹ nghệ 130 Nuôi ba ba 164 Lái xe vận tải

30 Quản trị mạng 63 Điện tử dân dụng 97 Sản xuất đồ mộc 131 Nuôi tôm 165 Bảo vệ

30 Công nghệ thông tin (Ứng

dụng phần mềm)

64 Công nghệ sản xuất ván nhân tạo

98 Kỹ thuật sửa chữa và lắp ráp máy vi tính

132 Kỹ thuật chế biến món ăn

166 Kỹ thuật trồng rau an toàn

31 Tin học văn phòng 65 Quản lý điện nông thôn 99 Điện tử công nghiệp 133 Quản lý Trang trại 167 Bảo vệ trên tàu hỏa

32 Quản trị cơ sở dữ liệu 66 Cốp pha - giàn giáo 100 Cốt thép - hàn 134 Chăn nuôi thú y 168 Chế biến thức ăn gia súc

33 Thợ máy phương tiện

thủy nội địa

67 Kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí

101 Vận hành sửa chữa thiết

bị điện lạnh

135 Kỹ thuật viên dân số công tác xã hội

169 Kỹ thuật trồng lúa chất lượng cao

34 Thương mại điện tử 68 Cơ điện nông thôn 102 Nề hoàn thiện 136 Y học 170 Điều dưỡng viên.

Trang 39

Tuy nhiên, như Bảng 2.1 thể hiện, do danh sách ngành nghề quá đadạng như trên, khiến cho các địa phương gặp khó khăn trong việc lựa chọnngành nghề để ưu tiên đầu tư đào tạo Chính vì thế tổng số ngành nghềđào tạo sau 3 năm trên toàn thành phố chỉ đạt 46 ngành nghề, chưa đápứng được về yêu cầu hiệu quả đối với chất lượng công tác đào tạo nghề.Hơn nữa, trong các bản kế hoạch cũng như các công văn chỉ đạo của thànhphố không nêu rõ các địa phương nào, nên đầu tư đào tạo ngành gì Nếumuốn thì địa phương lại phải điều tra thêm một lần nữa, hoặc là sẽ do cán

bộ lãnh đạo địa phương quyết định

2.2.2 Xây dựng kế hoạch đào tạo

2.2.2.1 Xác định đối tượng đào tạo

Đối tượng theo đề án 1956 bao gồm các đối tượng là lao động nông thôntrong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cầnhọc Trong đó ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện đượchưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cậnnghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác.Đối tượng khác cần đào tạo là cán bộ chuyên trách đảng, đoàn thể chínhtrị - xã hội, chính quyền và công chức chuyên môn xã; cán bộ nguồn bổ sungthay thế cho cán bộ, công chức xã đến tuổi nghỉ công tác hoặc thiếu hụt do cơhọc có độ tuổi phù hợp với quy hoạch cán bộ đến năm 2015 và đến năm 2020.Còn theo kế hoạch của thành phố: Bao gồm 3 nhóm đối tượng:

Nhóm 1: Lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãingười có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật,người bị thu hồi đất canh tác (các đối tượng này được xác định theo quy địnhhiện hành)

Nhóm 2: Lao động nông thôn thuộc diện hộ cận nghèo

Nhóm 3: Lao động nông thôn khác

Trang 40

Lao động thuộc đối tượng trên phải đáp ứng được các điều kiện sau:

- Trong độ tuổi lao động (nữ từ 16 đến 55 tuổi; nam từ 16 đển 60 tuổi),

có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học Riêng nhữngngười không biết đọc, viết có thể tham gia học những nghề phù hợp thông quahình thức kèm cặp, truyền nghề ;

- Có nhu cầu học nghề;

- Hộ khẩu thường trú tại Hà Nội;

- Chưa được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hoặc từ ngân sách thành phố

để học nghề; Trường hợp lao động nông thôn trong độ tuổi lao động đã đượcngân sách nhà nước hoặc thành phố hỗ trợ học nghề, nhưng bị mất việc làm

do nguyên nhân khách quan thì tiếp tục được hỗ trợ học nghề để chuyển đổinghề nghiệp, tạo việc làm nhưng không quá 3 lần

So sánh như vậy, ta có thể thấy được theo kế hoạch đào tạo của thànhphố vẫn chưa có đầy đủ các đối tượng được nêu trong đề án 1956 Điều nàydẫn tới việc một bộ phận lao động nông thôn bị mất quyền lợi Mà cụ thể ởđây là cán bộ công chức xã

2.2.2.2 Xây dựng chương trình đào tạo

Theo báo cáo của Sở LĐTBXH Thành phố, thì thành phố đã tổ chức xâydựng được 03 bộ chương trình, giáo trình phục vụ công tác đào tạo nghề cholao động nông thôn là nghề Kỹ thuật chế biến món ăn cơ bản, Nghề phay, bào

cơ bản; Nghề sửa chữa động cơ ô tô bằng nguồn ngân sách Thành phố; và dựatrên cơ sở Thông tư 31/TT-BLĐTBXH đã chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị xâydựng chương trình phục vụ công tác dạy nghề

Vậy có thể thấy là các chương trình nghề khác phụ thuộc hoàn toàn vàochương trình đào tạo hiện có của các cơ sở dạy nghề Điều này làm chochương trình dạy nghề không có sự thống nhất, mỗi người học viên họcchương trình của những cơ sở khác nhau sẽ có kiến thức cũng như kỹ năng

Ngày đăng: 10/04/2018, 21:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Hoàng Oanh (2012), Những chuyển biến từ công tác đào tạo nghề cho nông dân, Báo điện tử tỉnh Bắc Cạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chuyển biến từ công tác đào tạo nghề chonông dân
Tác giả: Hoàng Oanh
Năm: 2012
6. Mỹ Bình, Hiệu quả mô hình liên kết “3 nhà” đào tạo nghề cho nông dân, http://www.molisa.gov.vn, ngày cập nhật 16/8/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 3 nhà
7. Nguyễn Tiệp, Giáo trình Nguồn nhân lực (2011), Nxb Lao động - xã hội 8. Nguyễn Văn Đại (2012), Đào tạo nghề cho người lao động nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án Tiến Sỹ - Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nguồn nhân lực
Tác giả: Nguyễn Tiệp, Giáo trình Nguồn nhân lực (2011), Nxb Lao động - xã hội 8. Nguyễn Văn Đại
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội8. Nguyễn Văn Đại (2012)
Năm: 2012
9. PGS. TS Trần Xuân Cầu và PGS. TS Mai Quốc Chánh (2011), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhKinh tế nguồn nhân lực
Tác giả: PGS. TS Trần Xuân Cầu và PGS. TS Mai Quốc Chánh
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2011
14. Tăng Minh Lộc (2011), “Thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Điều chỉnh lại cơ cấu lao động, cách dạy nghề” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao độngnông thôn: Điều chỉnh lại cơ cấu lao động, cách dạy nghề
Tác giả: Tăng Minh Lộc
Năm: 2011
15. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày27/11/2009 về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đếnnăm 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2009
16. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 1201/2012/QĐ-TTg về phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012- 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số "1201/2012/QĐ-TTg về phêduyệt
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2009
18. Nguyễn Tiến Dũng (2011), “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong thời kỳ hội nhập quốc tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trongthời kỳ hội nhập quốc tế
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2011
3. Báo cáo tình hình kinh tế Thủ đô năm 2012 http://vienktxh.hanoi.gov.vn/tabid/161/Entry/207/Default.htm. truy cập ngày 22/8/2013 Link
10. Phương Linh, Đào tạo nghề theo địa chỉ - Kinh nghiệm hay từ huyện Kỳ Sơn, http://www.baohoabinh.com.vn, ngày cập nhật 16/8/2013 Link
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 24/2008/NQ-TW ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X Khác
2. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam, Nghị quyết số 26- NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác
4. Báo cáo Sơ kết 3 năm thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn và sự kiến kế hoạch 2013-2015 của Thành phố Hà Nội Khác
11. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006) Luật dạy nghề Khác
12. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012) Luật lao động Khác
13. Sở LĐTBXH TP Hà Nội, Báo cáo Sơ kết 03 năm (2010-2012) thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn và dự kiến kế hoạch 2013-2015 trên địa bàn TP Hà Nội Khác
17. UBND TP Hà Nội, Kế hoạch Số: 150/KH-UBND của UBND TP Hà Nội ngày 26/12/2011 Kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 trên địa bàn TP giai đoạn 2011-2015 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w