Nói đến văn hóa Trung Quốc, người ta nghĩ đến Khổng Tử, nghĩ đến sức ảnh hưởng to lớn của tư tưởng Khổng Tử đối với văn hóa Phương Đông. Nói đến tư tưởng đạo đức Nho gia, người ta nghĩ đến Khổng Tử, nghĩ đến ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của Xã hội Trung Quốc cũng như các nước phương Đông hàng thế kỷ.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Nói đến văn hóa Trung Quốc, người ta nghĩ đến Khổng Tử, nghĩ đếnsức ảnh hưởng to lớn của tư tưởng Khổng Tử đối với văn hóa Phương Đông.Nói đến tư tưởng đạo đức Nho gia, người ta nghĩ đến Khổng Tử, nghĩ đến ảnhhưởng của nó tới sự phát triển của Xã hội Trung Quốc cũng như các nướcphương Đông hàng thế kỷ
Tư tưởng đạo đức của Khổng Tử tập trung chủ yếu trong tác phẩm
“Luận ngữ” Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn các quan điểm về thế giới quan,nhân sinh quan và là một nội dung cốt lõi của triết học phương Đông cổ đại.Những tư tưởng và quan điểm của Khổng Tử về đạo đức trở thành vũ khí sắcbén cho các nhà trị quốc từ thời Tây Hán trở đi và cho đến nay vẫn còn là
“quốc hồn quốc túy” của đất nước Trung Hoa Nó đã cung cấp những nguyêntắc đạo đức căn bản, hướng đạo dân chúng trong suốt chiều dài lịch sử
Tư tưởng của Khổng tử lấy “Nhân” làm trọng tâm, coi trọng nhân cáchđộc lập của cá nhân Chủ trương “vi chính dĩ đức” (làm chính trị bằng đạođức), phản đối dùng hình phạt tùy tiện Khổng Tử cho rằng mỗi người nêntăng cường tu dưỡng đạo đức bản thân, lấy “văn, hạnh, trung, tín, hiếu, đễ…”làm chuẩn mực cơ bản, thực hành theo “Lễ” thì xã hội sẽ trở về thái bìnhthịnh trị Người lãnh đạo phải biết tôn trọng người tài, tuyển chọn người có tàilẫn đức, dùng người phải xét theo năng lực…Quan niệm về đạo đức củaKhổng Tử có nhiều ý tưởng sâu sắc và phong phú Những quan niệm đó thểhiện lòng tin ở tính thiện của con người và chủ trương bồi dưỡng, phát huythiện đức của con người Từ quan niệm về đạo đức, Khổng Tử đi sâu bàn luận
về nhân, lễ làm cơ sở cho đường lối đức trị của mình Các nhà tư tưởng Nhogiáo về sau đều coi tư tưởng đạo đức của Khổng Tử là nền tảng của đường lốiđức trị
Trang 2Quan niệm về đạo đức của Khổng Tử không chỉ có ý nghĩa đối với xãhội cổ đại đương thời mà còn có ý nghĩa đối với xã hội ta ngày nay Trong bốicảnh xã hội đang chịu nhiều tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thịtrường hiện nay, rất cần trở lại với những giá trị đạo đức truyền thống trong
đó có tư tưởng đạo đức của Khổng tử Quan niệm đạo đức là gốc của conngười và thiện đức phải biểu hiện ở hành động củaKhổng Tử ra đời cách đâyhơn hai ngàn năm cho đến nay vẫn có được giá trị đáng để chúng ta nghiêncứu và học hỏi “Ôn cố tri tân” như lời Khổng Tử đã dạy, chúng ta tìm hiểu đểthấy được những hạn chế, những giá trị tích cực, từ đó kế thừa, vận dụngnhững tinh hoa văn hóa quá khứ cho sự phát triển của hiện tại và cho tươnglai ngày càng tốt đẹp hơn
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
Khổng Tử (551 – 479 TCN) tự là Trọng Ni, người ấp Trâu, làng XươngBình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc)
Tương truyền Khổng Tử sinh ra ở đất Khúc Phụ, Sơn Đông thuộc nước
Lỗ thời Xuân Thu Chiến Quốc (722-480 TCN) Khi ông sinh ra, thân phụ làThúc Lương Ngột đã quá lục tuần và đã trải qua hai đời vợ, sinh hạ được thảy
10 người con (9 gái, 1 trai tàn tật) Mẹ Đức Khổng là Nhan Thị Bởi lẽ ônglúc sinh có một cái bướu nhỏ trên đầu, nên cha mẹ đặt tên là Khâu (Khâutrong tiếng Trung Quốc có nghĩa là gò đống), tên chữ là Trọng Ni
Khổng Tử được ba tuổi thì bố mất Là người thông tuệ, lại lớn lên trongthời loạn lạc, các chư hầu luôn gây họa binh đao, tranh giành quyền bính,chiến tranh liên miên hàng thế kỷ khiến trăm họ lầm than, điêu đứng, Khổng
Tử ôm mộng kinh bang, tế thế, lập chí giúp nước cứu đời, thực thi những hoàibão của mình Song tới năm 35 tuổi, Đức Khổng vẫn không được vua cácnước chư hầu tin dùng, ông bèn về quê hương mở trường dạy học theo đúng
lẽ xuất xứ của bậc đại quân tử "Tiến vi quan, đạt vi sư" Tài năng xuất chúng
và đức độ sáng trong của ông đã có ảnh hưởng rất lớn đến các kẻ sĩ đươngthời Học trò từ khắp nơi đến theo học Họ kính cẩn gọi ông là tôn sư, cácmôn sinh đã có lúc lên tới 3000 người, thật là một con số hiếm thấy trong lịch
sử giáo dục thời cổ đại Khổng Tử có bốn năm làm quan tại nước Lỗ với cácchức vụ: Đại tư khấu, Nhiếp tướng sự (như chức Thủ tướng) Nhưng vua Lỗhoang dâm, mê đắm tửu sắc, không màng tới chính sự vì vậy Khổng Tử đãnhìn thấy cái kết cục chẳng có gì tốt đẹp ở nhà vua, ông xin từ quan, dốc sứcvào sự nghiệp dạy học và toàn tâm nghiên cứu, xác định lại các bộ sách đờitrước và viết bộ Xuân Thu nổi tiếng
Trang 4Năm 479 trước CN, Khổng Tử qua đời, thọ 72 tuổi Các đệ tử và đệ tửđời sau nữa tập trung các lời nói của ông soạn thành sách Luận ngữ 20 thiên,tổng cộng 492 chương, gần 12.700 chữ.
“Luận ngữ ” là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của Nho gia và
là cuốn sách biểu hiện tập trung tư tưởng triết học chính trị, luân lý đạo đứccủa Khổng Tử Ở thời Tây Hán, người ta thấy có ba bản Luận ngữ là Cổ Luậnngữ, Tề Luận ngữ, và Lỗ Luận ngữ Cổ Luận ngữ viết bằng cổ văn, gồm 21thiên Tề Luận ngữ do người nước Tề truyền lại, gồm 22 thiên, viết bằng kimvăn Hai bản Luận ngữ trên đều đã thất truyền Hiện nay chỉ còn bản Lỗ Luậnngữ do người nước Lỗ truyền lại, gồm 20 thiên, được sắp xếp theo thứ tựngẫu nhiên, không theo thứ tự nhất định nào, là: Học nhi, Vi chính, Bát dật,
Lý nhân, Công Dã Tràng, Ung dã, Thuật nhi, Thái Bá, Tử Hãn, Hương đảng,Tiên tấn, Nhan Uyên, Tử Lộ, Hiến vấn, Vệ Linh Công, Quý thị, Dương hóa,
Vi Tử, Tử Trương, Nghiêu Viết
Sau đây là những tư tưởng đạo đức cơ bản của Khổng Tử qua bản
“Luận ngữ” theo bản dịch của Đoàn Trung Còn, Nhà xuất bản Thuận Hóa(Huế) tái bản in chung trong tập Tứ thư xuất bản năm 2006
1 QUAN ĐIỂM VỀ “NHÂN”
“Nhân” trong Luận ngữ được nhắc tới 109 lần và có rất nhiều ý kiếnbàn luận về nhân Có người cho rằng, “Nhân” là tư tưởng chủ đạo của Luậnngữ Có ý kiến lại cho rằng, “Lễ” mới là nội dung cơ bản của tác phẩm Cũng
có ý kiến lại khẳng định cả “Nhân” và “Lễ” đều là nội dung cơ bản của tácphẩm Tuy nhiên xuất phát từ thực tiễn lịch sử Trung Quốc lúc bấy giờ, khi
mà chiến tranh là phương thức phổ biến đễ giải quyết mâu thuẫn, quyền lợi vàđịa vị đương thời thì “Nhân” trong Luận ngữ chính là tư tưởng xuyên suốt để
từ đó thể thực hiện các phạm trù đạo đức khác
Trang 5Khổng Tử sống trong thời Xuân Thu đầy biến động, thời đại mà cáctầng lớp thống trị, một mặt, dùng chiến tranh để tranh giành quyền lợi, mặtkhác, sử dụng chiến tranh để lôi kéo kẻ sĩ, sai khiến họ bầy mưu tính kế nhằmthu phục thiên hạ và giành quyền bá chủ cho mình Đứng trước tình hình xãhội như vậy, các kẻ sĩ muốn dùng đạo của mình để cải tạo xã hội và Khổng
Tử cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Suốt cuộc đời mình, Khổng Tửluôn quan tâm tới vấn đề này Ông nói: “Ngô thập hữu ngũ, nhi chí vu học;tam thập nhi lập; tứ thập nhi bất hoặc; ngũ thập nhi tri Thiên Mạng; lục thậpnhi nhĩ thuận: Thất thâp nhi tùng tâm sở dục, bất du củ.- Hồi mười lăm tuổi,
ta để tâm chí vào sự học; đến ba mươi tuổi biết tự lập vững chí mà tấn lênđường đạo đức; được bốn mươi tuổi, tâm trí sáng suốt, hiểu rõ việc phải trái,đoạt được sự lý, chẳng còn nghi hoặc; qua năm mươi tuổi biết mệnh trời (biếtđược việc nào sức người làm được, việc nào không làm được); đến sáu mươituổi, lời chi, tiếng chi lọt vào tai ta thì ta hiểu ngay, chẳng cần suy nghĩ lâudài; được bảy mươi tuổi, trong tâm ta dầu có muốn sự chi cũng chẳng hề tráiphép”1 Với một con người suốt đời "học không chán, dạy người không mỏi",
lúc nào cũng chỉ muốn đem cái đạo của mình ra giúp đời và giúp cho đời ổnđịnh thì đó phải là người có lòng nhân rộng lớn biết bao
Trong Luận ngữ, khái niệm “Nhân” được Khổng Tử nhắc tới nhiều lần
và tùy từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà "Nhân" được hiểu theo nhiều nghĩakhác nhau Theo nghĩa sâu rộng nhất “nhân” là một nguyên tắc đạo đức trongtriết học của Khổng Tử Nhân được ông coi là cái quy định bản tính conngười thông qua “Lễ”, “Nghĩa”, quy định quan hệ giữa người và người thông
từ trong gia tộc đến ngoài xã hội “Nhân” có quan hệ chặt chẽ với các phạmtrù đạo đức khác trong triết học Khổng Tử để làm nên một hệ thống triết lýnhất quán, chặt chẽ và do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo
1 Luận ngữ, Vi chính, 4
Trang 6đức trong triết học Khổng Tử như những vòng tròn đồng tâm thì “Nhân” làtâm điểm, bởi nó đã chỉ ra cái bản chất nhất trong bản tính con người.
Khái quát tư tưởng của Khổng Tử về “Nhân” có thể thấy có nhữngnghĩa cơ bản: Một là “người nhân có lòng yêu thương”, hai là “nghiêm khắcvới mình theo lễ và nhân”, ba là “người có lòng nhân mới là nhân”
Trước hết, người có lòng nhân là người có tính tình chân thực và phát
ra hợp lễ Nếu người nào có lời nói khéo léo, nét mặt vờ niềm nở cho vừalòng thiên hạ, đó không phải là tính tình chân thực, nên ít lòng nhân Khổng
Tử nói: “Xảo ngôn, lệnh sắc, tiển hỹ nhân
Tăng Tử viết: Ngô, nhựt tam tỉnh ngô thân: Vi nhơn mưu, nhi bất trunghồ? Dữ bằng hữu giao, nhi bất tín hồ? Truyền bất tập hồ?
Kẻ nào miệng nói lời hoa mỹ; còn mặt mày thì trau chuốt, hình dạngthì kiểu cách, áo quần thì lòe loẹt; kẻ ấy hẳn kém lòng nhân
Ông Tăng Tử học trò cao đệ đức Khổng nói rằng: Hằng ngày ta hay xétmình ba điều này: - Làm việc gì cho ai ta có hết lòng hay chăng? Kết giao vớibằng hữu, ta có giữ tín thật hay chăng? Đạo lý do thầy truyền dạy, ta có họctập hay chăng?”2 những người “Cương, nghị, mộc, nột cận nhân – Ngườicứng cỏi, can đảm, liên tâm quyết chí, chất phác thật thà, ít ăn ít nói thì gầnvới mức nhân”3
“Nhân” trong quan niệm của Khổng Tử cũng có nghĩa là yêu người
“Phàn Trì vấn nhân Tử viết: Ái nhân – Phàn Trì hỏi thế nào là nhân Khổng
Tử nói: Yêu người”4 Nhân lấy sự thông cảm làm gốc, nên yêu người gọi lànhân Có thể nói nhân là yêu người được xem như là điểm cốt lõi cho điềunhân của Khổng Tử, nhưng người nhân cũng phải biết ghét người Với Khổng
2 Luận ngữ, Học nhi, 3.4
3 Luận ngữ, Tử Lộ, 27.
4 Luận ngữ, Nhan Uyên, 21.
Trang 7Tử thì chỉ có người có đức nhân mới biết yêu người và ghét người Khổng Tửnói: “Duy nhân giả năng háo nhơn, năng ố nhơn – Duy có bực nhân từ mớibiết thương người và ghét người một cách chính đáng mà thôi”5.
Có người cho rằng, “Nhân” (người) trong “ái nhân” là chỉ con ngườitrong giai cấp thống trị và yêu người trong tư tưởng của Khổng Tử chỉ là yêungười trong giai cấp phong kiến Thực ra, khái niệm “Nhân” (người) màKhổng Tử dùng ở đây là để đối lập với cầm thú Do đó, đi liền với nhân là cáckhái niệm “thiện nhân”, “đại nhân”, “thánh nhân”, “nhân nhân”, “tiểunhân”… Các khái niệm này nhằm chỉ những con người có tính cách khácnhau, trình độ đạo đức khác nhau Thánh nhân là người có đạo đức cao siêu,tiểu nhân là người có đạo đức thấp hèn… “Nhân” ở đây là chỉ con người nóichung và “ái nhân” là yêu người, yêu bất cứ người nào, không phân biệt giaicấp, địa vị xã hội của họ
Coi “Nhân” là “yêu người”, nên Khổng Tử đã dành không ít lời để nói
về đạo làm người Khi Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về nhân, Khổng Tử đã nói:
“Khắc kỷ, phục lễ, vi nhân Nhứt nhựt khắc kỷ, phục lễ, thiên hạ quy nhânyên Vi nhân do kỷ, nhi do nhơn hồ tai? – Làm nhân là khắc kỷ, phục lễ, tức
là chế thắng lòng tư dục vọng niệm của của mình theo về lễ tiết Ngày nào màmình khắc kỷ, phục lễ, ngày đó mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hóa
mà theo đức nhân Vậy làm nhân là do nơi mình chớ há do nơi ai sao?”6.Trọng Cung – một học trò cao đệ của Khổng Tử hỏi về “Nhân”, Khổng Tửcho rằng: “Xuất môn như kiến đại tân; sử dân, như thừa đại tế; kỷ sở bất dục,vật thi ư nhơn Tai bang vô oán, tại gia vô oán – Khi ra khỏi nhà, mình phảigiữ cho nghiêm trang kính cẩn dường như sắp gặp khách quý; Khi sai dân làmciệc công, mình sốt sắng thận trọng dường như thừa hành một cuộc cúng tế
5 Luận ngữ, Lý Nhân, 3.
6 Luận ngữ, Nhan Uyên, 1.
Trang 8lớn Trong nước, chẳng ai oán mình; ở nhà, chẳng ai ghét mình Đó là hạnhcủa người nhân”7 Ông Tư Mã Ngưu, hỏi về đức nhân, Khổng Tử đáp rằng:
“Nhân giả kỳ ngôn giả nhẫn – Người có nhân phải biết nhịn nói”8 Tư MãNgưu lại hỏi tiếp: Chỉ biết nhịn nói đủ thành người có nhân sao? Khổng Tửđáp rằng: “Vi chi nan, ngôn chi đắc vô nhẫn hồ? – Nói là dễ, làm là khó; Vậychẳng nên nhịn nhục ngay trong khi mình muốn nói sao?”9.Còn khi Phàn Trìhỏi về “Nhân”, Khổng Tử giảng giải rằng: “Cư sử cung, chấp sự kính, giữnhơn trung Tuy chi Di địch, bất khả khí giã – Khi ở nhà, mình giữ gìn dungmạo cho khiêm cung; Khi ra làm việc, mình thi hành một cách kính cẩn; khigiao thiệp với người, mình giữ dạ trung thành Dẫu có đi đến các đoàn rợphương Đông và phương Bắc, mình cũng chẳng bỏ ba hạnh cung, kính vàtrung ấy, như vậy là người có đức nhân”10
Người nhân trong quan niệm của Khổng Tử còn là người phải có nămđức tính đó là: Nghiêm trang, đại lượng, trung thực, nhiệt tình và tử tế Đồngthời người nhân phải làm cho năm điều đức hạnh đó được phổ cập trong thiên
hạ Điều này được thể hiện rõ khi Tử Trương hỏi Khổng Tử về cách làmnhân, Khổng Tử trả lời: "Cung, khoan, tín, mẫn, huệ Cung tắc bất vũ; khoantắc đắc chúng; tín tắc nhơn nhậm yên; mẫn tắc hữu công; huệ tắc túc dĩ sửnhơn - Ấy là tự mình nghiêm trang tề chỉnh, có lòng rộng lượng, có đức tínthật, mau mắn siêng năng, thi ân bố đức Nếu mình có lòng rộng lượng, thìmình thâu phục lòng người Nếu mình có đức tín thật, thì người ta tin cậymình Nếu mình mau mắn siêng năng thì làm được công việc hữu ích Nếumình thi ân bố đức, thì mình sai khiến được người”11 Không chỉ thế, ngườinhân theo Khổng Tử còn là người mà “Nhân giả tiên nan; nhi hậu hoạch; khả
7 Luận ngữ, Nhan Uyên, 2
8 Luận ngữ, Nhan Uyên, 3
9 Luận ngữ, Nhan Uyên, 3
10 Luận ngữ, Tử Lộ, 19
11 Luận ngữ, Dương hóa, 6
Trang 9vị nhân hỹ – Người nhân trước phải làm những việc khó; sau thì thu hoạchcuộc thành tựu của mình; như vậy mới có thể gọi là nhân”12, và người cứngcỏi, can đảm, kiên tâm, quyết chí, chất phác thật thà, ít nói thì gần với nhân.Với Khổng Tử, chỉ có người nhân mới có thể có cuộc sống an vui lâu dài vớilòng nhân của mình và dẫu có ở hoàn cảnh nào cũng có thể yên ổn, thanhthản Do vậy, theo ông: “Phú dữ quý, thị nhơn chi sở dục giã: Bất dĩ kỳ đạođắc chi, bất xử dã Bần dữ tiện, thị nhơn chi sở ố giã; Bất dĩ kỳ đạo đắc chi,bất khử giã Quân tử khử nhân, ố hồ thành danh? Quân tử vô chung thực chigian vi nhân, Tháo thứ tất ư thị, điên bái tất ư thị – Giàu với sang ai lại chẳngmuốn? Nhưng nếu chẳng phải đạo mà được giàu sang, thì người quân tửchẳng thèm Nghèo với hèn, lại lại chẳng ghét? Nhưng nếu chúng đến vớimình mà mình chẵng lỗi đạo, thì người quân tử chẳng từ bỏ Là vì nếu ngườiquân tử bỏ mất lòng nhân thì làm sao được gọi là quân tử? Người quân tửkhông bao giờ lìa bỏ điều nhân, dẫu cho trong khoảng một bữa ăn! Ngườiquân tử không bao giờ ở sai điều nhân; dẫu trong cơn vội vàng, trong lúcngửa nghiêng, người cũng ở theo điều nhân”13.
Như vậy, có thể nói trong quan niệm của Khổng Tử, “Nhân” không chỉ
là yêu người, thương người mà còn là đức hoàn thiện của con người, và dovậy, “Nhân” chính là đạo làm người – sống với mình và sống với người Đứcnhân là cái bền vững như núi sông Với ông, nếu thịnh đức của trời – đất làsinh thành, bắt nguồn từ đạo trung hoà, trung dung thì cái gốc của đạo lý conngười là "trung thứ" và đạo đức, luân lý con người là "Nhân", người có đạonhân là bậc quân tử, nước có đạo nhân thì bền vững như núi sông
Để được là người đức nhân, Khổng Tử có quan niệm về phương phápthực hành điều nhân Trong cuộc đối thoại với Tử Cống: “Tử Cống viết: Như
12 Luận ngữ, Ung dã, 20.
13 Luận ngữ, Lý Nhân, 5.
Trang 10hữu bác thí ư nhân, nhi năng tế chúng, hà như? Khả vị nhân hồ?” Tử viết: “Hà
sự ư nhân? Tất giã Thánh hồ Nghiêu, Thuấn kỳ do bệnh chư! Phù, nhân giả,
kỷ dục lập nhi lập nhơn; kỷ dục đạt nhi đạt nhơn; năng cận thủ thí; khả vịnhân chi phương dã dĩ – Ông Tử Cống hỏi đức Khổng Tử rằng: Ví như cóngười thi ân bố đức cho khắp cả dân gian, lại hay cứu tế cho đại chúng, thìnên nghĩ cho người ấy ra thế nào? có nên gọi là người nhân chăng?” ĐứcKhổng Tử đáp: “Sao chỉ gọi là người nhân thôi? Ắt gọi là bực thánh mớixứng vua Nghiêu, vua Thuấn cũng khó mà làm xong những việc ấy Nầy,người nhận hễ muốn tự lập lấy mình thì cũng lo mà thành lập cho người, hễmuốn cho mình thông đạt thì cũng lo làm cho người được thông đạt; hễ xửvới mình thế nào thì cũng xử với người chung quanh mình thế ấy Đó lànhững phương pháp phải thi hành để trở nên người nhân đức vậy”14 Phươngpháp thực hành điều nhân là suy bụng ta ra bụng người Từ lòng ham muốncủa mình mà suy ra lòng ham muốn của người; mình muốn tự lập thì cũngthành lập cho người, muốn thành công thì cũng giúp người thành công Đócũng gọi là “trung” – là làm hết sức mình “Vi nhân mưu nhi bất trung hồ -Làm việc gì cho ai có hết lòng không?”15 Cái gì mình không muốn kẻ khácgây ra cho mình thì mình đừng làm điều đó cho họ “Kỷ sở bất dục vật thi ưnhân”16, thế cũng gọi là “thứ” Thực hành “Trung thứ” là thực hành nhân vậy
Khổng Tử nói: “Sâm hồ! Ngô Đạo nhứt dĩ quán chi Tăng Tử viết: Duy– Tử xuất, môn nhơn vấn viết: Hà vĩ giã? Tăng Tử viết: Phu Tử chi Đạo:Trung, thứ nhi dĩ hỹ – “Sâm ơi! Đạo ta là do nơi một lẽ mà suốt thông tất cả”.Ông Tăng Tử đáp: Dạ Khi đức Khổng Tử ra rồi, chư môn đệ của ngài bèn hỏiông Tăng Tử rằng: “Thầy dạy như vậy là nghĩa gì?” Ông Tăng Tử đáp: “Đạocủa Thầy chỉ gom vào hai cái đức trung và thứ thôi”17 Đạo thông suốt của
14 Luận ngữ, Ung dã, 28.
15 Luận ngữ, Học Nhi, 4.
16 Luận ngữ, Vệ Linh Công, 23.
17 Luận ngữ, Lý Nhân, 15.
Trang 11Khổng Tử tức là “Trung” và “Thứ”, cũng là “Nhân” Cách thực hành nhângiản dị như thế cho nên Khổng Tử nói: “Nhân viễn hồ tai? Ngã dục nhân, tưnhân chí hỹ – Điều nhân có phải ở xa ta chăng? Nếu ta muốn điều nhân, thìđiều nhân ấy đến liền nơi ta vậy”18.
Để hiểu rõ hơn về tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử cần so sánh nó với
tư tưởng Kiêm ái của Mặc Tử, tư tưởng Từ bi của đạo Phật Nếu tư tưởng
Kiêm ái của Mặc Tử coi ai cũng như mình, người thân của người cũng làngười thân của mình, không phân biệt riêng tư thì "Nhân" phân biệt mình vàngười, lấy mình làm khởi điểm để phân biệt từ thân đến sơ, từ gần tới xa,phân biệt người tốt, kẻ xấu Người Nhân trong quan niệm của Khổng Tử coitrọng đạo đức, chú ý phần thiện trong bản tính con người thì người Kiêm áichỉ chú trọng đến sự cứu giúp vật chất, chú ý đến “giao tương lợi” Tư tưởng
"Nhân" của Khổng Tử cũng khác xa tư tưởng Từ bi của đạo Phật Phật thươngngười và thương cả vạn vật Lòng thương của Phật có một nỗi buồn vô hạn,buồn cho sự mê muội của sinh linh, tìm cách giải thoát mọi sinh linh ra khỏivòng sinh, lão, bệnh, tử Còn đạo Khổng tìm mọi cách giúp cho con ngườisống một cuộc sống vui vẻ hơn, có nghĩa lý hơn và tìm kiếm hạnh phúc ngaytrên cõi trần chứ không phải ở trên cõi niết bàn Chính vì vậy, ngay cả khi tưtưởng từ bi, cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo du nhập và có chỗ đứng trong đờisống tinh thần của con người Đông Á thì nó cũng không thể thay thế được vaitrò của đạo Khổng Có thể nói "Nhân" của Khổng Tử là tư tưởng nhân đạochủ nghĩa tiêu biểu nhất trong lịch sử các nước ở phía đông của Châu Á này
Tuy nhiên, trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã có nhiều họcthuyết phê phán chữ "Nhân" (yêu người) của Khổng Tử Có người cho đó làgiả dối, có người cho đó là nói suông, có người lại cho đó là nguồn gốc củabất nhân, bất nghĩa Thế nhưng không phải vì thế mà tư tưởng "Nhân" của
18 Luận ngữ, Thuật Nhi, 29.
Trang 12Khổng Tử không đi vào lòng của nhiều người đương thời, gây cho họ biết bao
sự xúc động và làm cơ sở cho hành động nhân đạo của họ Thực tế cho chúng
ta thấy, từ đời Hán trở đi, suốt trên hai nghìn năm đạo Khổng được độc tôn,Vua Chúa đời nào cũng ráng áp dụng nó, mặc dầu không đúng Nó thực tế
hơn đạo Mặc, đạo Lão, nhân bản hơn thuyết của Pháp gia Cũng cần phải nói thêm rằng, trong Luận ngữ, tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử còn bao gồm
nhiều đức khác, như: Trực (ngay thẳng, không giả dối), Kính (nghiêm trang,cẩn trọng, cẩn thận trong công việc), Nghĩa, Lễ
Có thể nói, chế độ phong kiến Đông Á kéo dài được mấy nghìn nămmột phần là nhờ tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử Nhờ có đường lối "nhânnghĩa" của Khổng - Mạnh mà xã hội đó được ổn định, con người với conngười có quan hệ hòa hợp, còn xã hội trở thành một khối bền vững Sự trì trệcủa xã hội phong kiến đó ở giai đoạn sau là do nguyên nhân khác, chứ khôngphải do nguyên nhân ở tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử
Ngày nay, chế độ xã hội đã khác trước Con người ngày nay cần mộtthứ nhân đạo chủ nghĩa phù hợp với thời đại mình Nhưng không phải vì vậy
mà tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử không còn có ý nghĩa Xã hội ngày nayvẫn còn những người nghèo khó, đói rét, cô đơn, bất hạnh, những con ngườinày rất cần đến sự quan tâm, thông cảm, giúp đỡ của người khác và của cảcộng đồng Do vậy, tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử vẫn còn có thể phát huytác dụng
Xã hội là một cộng đồng của những con người, giữa họ có nhiều mốiquan hệ Nếu mỗi người chỉ biết xuất phát từ lợi ích của mình để đối xử vớingười khác, nếu chỉ nghĩ đến lợi ích của mình mà không thấy được quyền lợicủa người khác thì xã hội sẽ có biết bao thảm kịch xảy ra Một khi mỗi conngười đều biết quan tâm, nhường nhịn và hỗ trợ người khác thì không những
Trang 13họ thấy cuộc sống của bản thân yên ấm, hạnh phúc, mà cả cộng đồng của họcũng có sự gắn bó, bền vững và có nhiều điều kiện để khắc phục những tainạn do khách quan đưa lại Điều này không những đúng với xã hội ngày xưa,
mà còn đúng với cả xã hội ngày nay Khi xã hội loài người đang trong quátrình toàn cầu hoá, phấn đấu để thế giới trở thành "ngôi nhà chung", khôngcòn có cộng đồng lớn hay nhỏ đứng ngoài "ngôi nhà chung" ấy, thì chúng tacàng cần phải xích lại gần nhau, tạo ra những tiền đề cơ bản để có thể xâydựng một ngôi nhà chung mang một sắc thái mới, đó là: đa sắc tộc, đa tínngưỡng, đa văn hoá và trên hết là có một tinh thần bao dung
Có thể nói, phạm trù "Nhân" của Khổng Tử đã ra đời trong thời đạiphong kiến, mang sắc thái của xã hội phong kiến, có những điều không cònphù hợp với ngày nay, nhưng việc tìm hiểu và rút ra được “hạt nhân hợp lý"của nó vẫn là việc chúng ta nên làm, cần làm
2 QUAN ĐIỂM VỀ “LỄ”
Trong Luận ngữ, khái niệm “Lễ” được Khổng Tử nhắc đến rất nhiều,
74 lần.Có thể nói, trong mỗi chương đều có nhiều đoạn bàn về lễ, có khi chủđộng giảng giải, có khi thụ động trả lời câu hỏi của các đồ đệ liên quan tới lễ
Lễ không phải là những điều luật hình thức như phép xã giao Khổng
Tử xem chữ “Lễ” vừa là luật lệ, vừa là mục đích để biểu lộ chữ “Nhân” Tựgiữ mình theo “Lễ” tức là làm vì lòng nhân Không nhìn, không nghe, khônglàm những gì đi ngược với lễ Có vậy thế giới này mới chan hòa lòng nhân
“Lễ” được bắt nguồn từ nhà Hạ Khổng Tử nói: “Hạ lễ, ngô năng tônchi, Kỷ bất túc trưng giã Ân lễ, ngô năng ngôn chi, Tống bất túc trưng giã.Văn hiến bất túc cố giã Túc tắc ngô năng trưng chi hỹ – Ta có thể giảng lễnhà Hạ Nhưng dòng dõi nhà Hạ hiện nay là vua chư hầu nước Kỷ chẳng còngiữ Lễ ấy nữa, nên không có thể chứng chắc lời giảng của ta Ấy vì văn thơ và
Trang 14người hiền không còn nữa Phải còn đủ thì ta lấy đó mà làm bằng chứng”19.Khổng Tử cho rằng lễ nhà Chu là kế thừa lễ nhà Hạ và lễ nhà Thương, pháttriển đến đời nhà Chu thì đến mức hoàn mỹ Lễ nhà Chu phong phú và chitiết, bao hàm mọi mặt trong cuộc sống xã hội, từ thiên tử đến bề tôi, cha mẹ,con cái, tuyển quan tấn tước, tế thần khấn trời, hôn nhân, tang sự, ăn ở, không
có việc gì thực hiện theo lễ
Quan điểm về “Lễ” trong Luận ngữ có nội dung rất sâu sắc và có nhiềunghĩa, nhưng Khổng Tử nói về Lễ không phải là lễ vật mà người ta thường đibiếu xén nhau mà là lễ nghĩa “Tử viết: “Lễ vân lễ vân, ngọc bạch vân hồ tai?Nhạc vân nhạc vân, chung cổ vân hồ tai – Khổng Tử nói rằng: Người ta bàn
về lễ, người ta luận về lễ; đó là họ kể số ngọc quí và lụa tốt chớ gì? Người takhen nhạc, người ta gợi nhạc; đó là họ nói chuông, trống rình ran chớ gì?”20
Trước hết, lễ là một phương cách biểu tả hòa khí, và như vậy nó có thểgiúp tề gia, trị quốc Hữu Tử, một đồ đệ của Khổng Tử nói: “Lễ chi dụng, hòa
vi quý Tiên vương chi đạo, tư vi mỹ; tiểu đại do chi Hữu sở bất hành Trihòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành giã - Trong việc giữ lễ, cóniềm hòa khí là quí trọng Đạo của những vị vua xưa rất tốt là ở chỗ đó: từnhững việc lớn cho chí những việc nhỏ, các ngài dùng niềm hòa khí mà phổcập vào lễ Nhưng có việc này chẳng nên làm: biết rằng hòa là quí, rồi trongmoi việc, cứ dùng lấy hòa, chớ chẳng dùng lễ mà kiềm chế, như vậy là phóngđãng, xí xóa quá Đó là việc không nên làm”21
Thứ hai, Lễ là biểu hiện chính nền đạo đức Theo Khổng Tử, căn bảncủa lễ không có chi khác hơn là chính nền đạo đức Ðạo nhân, đạo nghĩa (nhưthấy sau này nơi Mạnh Tử), đạo tín (tức chân thành)… là những đức tính cănbản của lễ “Tử viết, "Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như
19 Luận ngữ, Bát dật, 9.
20 Luận ngữ, Dương Hóa, 11.
21 Luận ngữ, Học nhi, 20.
Trang 15nhạc hà? – Khổng Tử nói rằng: “Người ta mà chẳng có lòng nhân, làm sao màthi hành lễ tiết? Người ta mà chẳng có lòng nhân làm sao mà thi hành âmnhạc?”22 Ông Lâm Phỏng, người nước Lỗ hỏi về gốc của Lễ, đức Khổng Tửkhen rằng: “Đại tai vấn! Lễ dữ kỳ xa giã, ninh kiệm; tang, dữ kỳ dị giã, ninhthích – Người biết tìm gốc mà bỏ ngọn Ý nghĩa câu hỏi đó lớn thay! Trongcuộc lễ vui, nếu xa hoa thái quá, thì kiệm ước còn hơn Trong việc tang khó,nếu lòe loẹt thái quá, thì lòng đau xót hơn”23 Như vậy, cái gốc của lễ chính lànhân, một người bất nhân thì không thể nào thực hành lễ nghiêm trang được,
một người thiếu lễ, không thể là người quân tử
Khổng Tử cũng đã nêu rõ Lễ là tiêu chuẩn cao nhất của đạo đức.Trong thiên Thái Bá, Khổng Tử nói: “Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễtắc tỉ, dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giảo Quân tử dốc vu thân, tắcdân hưng vu nhân, cố cựu bất di, tắc dân bất du – Cung kính quá thành ra laonhọc thân hình; cẩn thận quá lễ thành ra nhát gan; dũng cảm quá lễ thành raloạn nghịch; ngay thẳng quá lễ thành ra gắt gỏng, cấp bách Bậc quân tử ởngôi trên nếu giữ tròn bề tôi với cha mẹ bà con, thì ở dưới dân chúng sẽ cảmđộng mà phát khởi lòng nhân ái; nếu mình chẳng bỏ bạn bè xưa, bộ hạ cũ, thìdân chúng sẽ bắt chước mình, chẳng ăn ở bạc bẽo”24 Khổng Tử nói về cungkính, thận trọng, dũng cảm, ngay thẳng đều lấy lễ làm chuẩn tắc, làm thước
đo Nếu cung kính mà vi phạm lễ sẽ mắc bệnh mệt mỏi; thận trọng mà viphạm lễ sẽ mắc bệnh rụt rè non gan; dũng cảm mà vô lễ sẽ trở thàn kẻ làmbậy, làm loạn; ngay thẳng mà vô lễ sẽ mắc bệnh khắc bạc vô tình Nhân là nộitâm, lễ là biểu hiện ở ngoài Nhân là thế giới tinh thần, lễ là hành vi cụ thể Cónội tâm rồi mới có lễ nghĩa, lễ nghĩa mới đạt đến mức độ phù hợp Nếu không
22 Luận ngữ, Bát dật, 3.
23 Luận ngữ, Bát dật, 4.
24 Luận ngữ, Thái Bá, 2.3.
Trang 16có nhân tâm thì lễ nghĩa có ở bất cứ dạng thức nào cũng không phù hợp vớitiêu chuẩn đạo đức.
Theo Khổng Tử, người quân tử không thể hiểu lễ thì không thể lập thân
xử thế, theo lễ mà làm sẽ không trái với đạo lý Khổng Tử nói: “Quân tử báchọc ư văn; ước chi dĩ lễ; diệc khả dĩ phất bạn hỹ phù – Người quân tử trướchọc văn chương (như Kinh Thi, Kinh Thơ) đặng mở rộng tri thức mình; kế
đó, người nương theo lễ giáo mà kềm giữ lấy nết mình; nhờ vậy mà khỏi tráiđạo lý”25 Theo Khổng Tử, học Thi thì biết nói năng, học Lễ thì biết hành sự.Cuộc đối thoại giữa Trần Cang và Bá Ngư (con trai Khổng Tử): “Tha nhựt,hựu độc lập: Lý xu nhị quá đình viết: Học Lễ hồ? Đối viết: vị giã Bất học Lễ,
vô dĩ lập Lý thối nhi học Lễ Văn tư nhị giả – Một ngày khác, cha tôi lạiđứng một mình, tôi bước nhanh qua sân, cha tôi hỏi: Học Kinh Lễ chưa? Tôithưa rằng: Chưa học Cha tôi dạy rằng: “Nếu chẳng học Kinh Lễ thì chẳngbiết cách đứng đợt với đời (chẳng biết giữ vững đức mình) Tôi bèn lui về họckinh Lễ”26 đã cho thấy người quân tử nếu không dùng lễ để chế ước hành vibản thân, thì dù có nhiều phẩm chất tốt khác, cũng không hẳn là đưa đến kếtquả tốt, thậm chí còn gây ra tai hại
Thứ ba, lễ là những nghi thức mà ta phải theo, tùy theo nơi chốn, tùytheo địa vị, tùy theo tương quan giữa chúng ta với những người ta gặp Trongchương Thuật Nhi, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái
độ ta phải có khi cúng tế, khi thụ tang, khi gặp thiên tai Chính vì Khổng Tửnhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái độ mà đa số nho gia đã hiểu lễ như lànghi lễ, nghi thức, hay quy luật ta phải theo khi cúng tế, khi tổ chức hôn lễ,khi tham gia vào việc công (làm quan, triều yết), khi sinh con đẻ cái, khi cótang… “Tử viết: “Sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ; tế chi dĩ lễ” – Khổng
25 Luận ngữ, Ung dã, 25.
26 Luận ngữ, Quí Thi, 13.
Trang 17Tử giải rằng: Hễ làm con, khi cha mẹ còn sống, phải phụng sự cho có lễ, khicha mẹ mãn phần, phải chôn cất cho cho có lễ; rồi những khi cúng tế, cũngphải giữ đủ lễ phép nghiêm trang”27 Và nếu như thực hiện đúng nghi thứcphép tắc thì sẽ được tôn trọng “Thượng háo lễ, tắc dân dị sử giã – Nếu ngườibậc trên chuộng lễ nhượng, thì dân chúng cảm hóa theo, mình dễ khiến họ cư
xử theo phép tắc, nghiã vụ”28 “Cư thượng bất khoan, vi lễ bất kính, lâm tangbất ai, ngô hà dĩ quan chi tai – Khổng Tử nói: Người bề trên đối với bề dướikhông khoan dung, chấp hành lễ không nghiêm túc, cử hành tang lễ không bi
ai, làm sao mà ta có thể chịu được”29 “Khuyết đảng đồng tử tương mạng.Hoặc vấn chi viết: Ích giả dư? Tử viết: Ngô kiến kỳ cư ư vị giã; kiến kỳ dữtiên sanh tịnh hành giã Phi cầu ích giả giã; dục tốn thành giả giã – Một đứacon trai ở xóm Khuyết đảng được đức Khổng dùng trong việc đi thơ từ vàmời thỉnh khách khứa Có người hỏi ngài rằng: gã đồng tử ấy học hỏi có bềtấn ích lắm sao? Đức Khổng Tử đáp: Ta thấy nó chưa biết lễ: Ngồi thì ngồinơi chỗ của người lớn; đi thì đi ngang hàng với bực trưởng thượng Gã ấychẳng muốn tấn lên từng bực, mà muốn cấp tốc thành người Cho nên ta saikhiến nó đi đây đi đó để học tập lễ nghi”30 Như vậy, có thể thấy Khổng Tửtrọng nhân, trọng đức, trọng lễ Ông suy tôn lễ nhà Chu, tôn trong kỷ cươngphép nước Chủ trương tất cả đều phải có quy tắc, quy phạm Nếu không cóquy tắc, quy phạm trái kỷ cương thì Khổng Tử không tán thành
Thứ tư, theo Khổng Tử “Lễ” là cả một lối sống toàn diện, tức lối sống
mà ta phải theo để có thể bảo tồn sự sống và xã hội Thành thử, theo lễ, tức làtheo cái lẽ phải, hợp lễ là hợp với bản tính ta vốn có Khổng Tử từng nói:
“Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỉ, dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi
27 Luận ngữ, Vi chính, 5.
28 Luận ngữ, Hiến vấn, 44.
29 Luận ngữ, Bát Dật, 26.
30 Luận ngữ, Hiến vấn, 47.
Trang 18vô lễ tắc giảo”31 Ngay từ thời Khổng Tử, đã có một số nho gia theo lối nhìnthứ ba (như trên đã nói), đặc biệt chú trọng tới lễ, nhạc coi như là nghi lễ,nghi thức và nghi pháp Ngay cả thầy Tử Lộ cũng đã hiểu nhầm Khổng Tử,khi thầy thấy Thầy mình hình như không giữ một số lễ nghi.
Để thực hiện được Lễ, theo Khổng Tử trước hết phải Chính danh Nếu
danh không chính thì lễ nhạc sẽ mất đi trật tự và như thế thì xã hội sẽ rối loạn.Thực tế cho thấy thời Khổng Tử các mối quan hệ trong xã hội đã bị đảo lộn,cái lễ của nhà Chu không còn nên mong ước của Khổng Tử là lập lại trật tự xãhội để quốc gia hưng thịnh như xã hội Tây Chu
Vệ Xuất Công Triếp thừa lúc phụ thân là Khoái quỳ lưu vong tại ngoại
đã đứng ra kế thừa ngôi vua Các nước chư hầu chỉ trích về việc này Vệ XuấtCông muốn nhờ Khổng Tử để ổn định cuộc thế Tử Lộ hỏi Khổng Tử: “Vệquân đãi Tử nhi vi chính, Tử tương hề tiên? Tử viết: Tất dã chính hồ Tử Lộviết: Hữu thị tai? Tử chi vu giã Hề kỳ chính? Tử viết: Dã tai Do giã! Quân tử
ư kỳ sở bất tri, cái khuyết như giã Danh bất chính tắc ngôn bất thuận; ngônbất thuận, tặc sự bất thành; sự bất thành, tắc lễ nhac bất hưng; lễ nhạc bấthưng, tắc hình phạt bất trúng; hình phạt bất trúng, tắc dân vô sở thố thủ túc –Nếu vua nước Vệ đợi Thầy về đặng giúp ngài cai trị Thầy sẽ làm gì trướchết? Đức Khổng Tử đáp: Ắt là ta sẽ là cho ra chính danh chính phận Tử Lộlại nói: Có vậy sao? Thầy nói vu khoát đó lẽ gì chỉ sửa cho danh chính phậnthôi sao? Đức Khổng Tử giải rằng: trò Do quê mùa lắm thay! Người quân tửchẳng biết điều gì thì bỏ qua mà chẳng nói Này, nếu danh mà chẳng chính,chẳng hạp nghĩa, thì lời nói chẳng thuận; lời nói chẳng thuận, thì công việcchẳng thành, thì lễ tiết và âm nhạc chẳng thịnh vượng, tức là chẳng có sự kínhtrọng và niềm hòa khí; Nếu lễ tiết và âm nhạc chẳng thịnh vượng, tức là ngườitrong nước chẳng biết kính trọng nhau và chẳng có niềm hòa khí, thì sự hình
31 Luận ngữ, Thái Bá, 2.
Trang 19phạt chẳng đúng phép; nếu sự hình phạt chẳng đúng phép, thì dân biết chỗnào đặt tay chân”32 Muốn hưng lễ pháp, trước hết phải chính danh Luậnchứng trên của Khổng Tử từ mắt xích này đến mắt xích nọ, liên hoàn chặt chẽvới nhau Nếu một mắt xích bị hỏng thì sẽ ảnh hưởng đến tất cả Nguyên nhân
cơ bản nhất của quốc gia loạn lạc là danh bất chính Khổng Tử cho rằng
Chính danh là việc vô cùng trọng yếu, vua phải ra vua, bề tôi phải ra bề tôi,
như vậy vua mới có thể ra lệnh cho bề tôi, bề tôi mới có thể tuân theo ý chỉcủa vua để hành sự Không chỉ giữa vua tôi mới nên như vậy, mà giữa chacon, anh em, vợ chồng, bạn bè cũng nên như vậy Nếu không hợp danh phận,thì lễ pháp giữa vua tôi, cha con không thể thực thi, trật tự xã hội sẽ không thểduy trì:“Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”33
Tóm lại, “Lễ” trong Luận Ngữ mang hai bản chất: “Lễ chi bẩn” và “lễchi dụng” Lễ chi bẩn nói lên lễ như là bản chất biểu tả một cách trung thựcbản tính con người, trong khi lễ chi dụng nói lên tính chất công cụ của lễtrong công việc giữ gìn trật tự, cũng như giữ được sự cân bằng trong cuộcsống, trong những giao tiếp của con người
3 QUAN ĐIỂM VỀ “NGHĨA”
Đức “Nghĩa” là một phạm trù đạo đức quan trọng trong đạo Nho, làmột yếu tố cấu thành “ngũ thường” Mạnh Tử coi nghĩa là con đường to lớnhơn hết trong thiên hạ mà người quân tử, bậc đại trượng phu phải đi theo.Khổng tử đánh giá rất cao đức nghĩa, tuy nhiên lại không đưa ra định nghĩakinh điển nào về nghĩa Tùy vào từng hoàn cảnh, đối tượng mà việc giảng giải
về nghĩa khác nhau Có thể nói, phạm trù nghĩa bao gồm những cái cao
32 Luận ngữ, Tử Lộ, 3.
33 Luận ngữ, Nhan Uyên, 11.