1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ÔN thi HS giỏi ĐỊa lý 12Những chuyển động chính của trái đất và hệ quả

50 213 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 4,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó có 3 vận động quan trọng nhất vận động quanh trục, quanhMặt Trời và quanh tâm chung Trái ất – Mặt Trăng mà ta cảm nhận được và thấyđược qua mối quan hệ với các yếu tố tự nhiên t

Trang 1

Trong môn ịa lí, học phần Trái ất là học phần thu hút nhiều sự chú ý của họcsinh bởi tính khoa học và sự hấp dẫn của nó Trái ất, hành tinh đặc biệt nhất trong hệMặt Trời, luôn chứa đựng nhiều điều lý thú ặc biệt hình dạng, vị trí, độ nghiêng củatrục quay, vận động tự quay quanh mình và quay quanh Mặt Trời của Trái ất đã tạo

ra nhiều hệ quả đối với các hiện tượng địa lý và các quá trình tự nhiên đã và đang diễn

ra trên bề mặt đất - nơi loài người đang sinh sống Hơn thế nữa, học phần này cũngchứa đựng không ít những bài toán ịa lí hay, khó, đòi hỏi tư duy, sự sáng tạo, óc tưởngtượng của học sinh đồng thời cũng là phần chiếm số lượng điểm khá trong các kì thihọc sinh giỏi ịa lí

Kiến thức của học phần này đề cập đến những khái niệm về Vũ Trụ và các hànhtinh; đặc điểm cấu tạo, vị trí, hình dạng và kích thước của Trái ất, các vận động củaTrái ất và hệ quả địa lí của nó… Hiểu rõ nội dung kiến thức này, chúng ta sẽ dễ dànghiểu rõ hơn về đặc điểm các thành phần tự nhiên khác Kiến thức của phần Trái ất đadạng nên có thể hình thành và thiết kế nhiều dạng bài khác nhau bao gồm các dạngtính toán, giải thích các sự vật, hiện tượng đang diễn ra trên Trái ất, ví dụ như các bàitập tính giờ, tính góc nhập xạ, tính thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh, các bài tập nhậnbiết các sự vật, giải thích các hiện tượng tự nhiên khác… Trong quá trình giải các bàitập về học phần Trái ất, học sinh phải thực sự động não suy nghĩ để tìm ra cách giải;càng giải nhiều bài tập bao nhiêu thì lượng kiến thức cũng theo đó mà tăng lên bấynhiêu Rõ ràng việc giải các bài tập sẽ giúp cho học sinh hiểu cặn kẽ vấn đề, biết cáchgiải thích các hiện tượng, sự vật địa lí có liên quan đến Trái ất và có thể vận dụngchúng một cách có hiệu quả, kích thích năng lực tự học của học sinh, rèn luyện được

kĩ năng, kĩ xảo - một điều rất cần thiết đối với học sinh lớp chuyên Sử - ịa và càng

1

Trang 2

cần thiết hơn đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.

Tuy nhiên, một khó khăn không nhỏ của các giáo viên trường chuyên là khi dạyhọc phần này cũng như các phần kiến thức khác là chưa có giáo trình riêng Vì vậy,việc dạy học theo chuyên đề chủ yếu vẫn do mỗi giáo viên tự tìm tòi và biên soạn dựatrên cơ sở sách giáo khoa nâng cao và nội dung chuyên sâu nhằm đảm bảo các yêu cầu

về kiến thức và kĩ năng địa lí cho học sinh, nhất là học sinh chuyên Sử - ịa và học sinh

dự thi học sinh giỏi Từ thực tế trên, chúng tôi biên soạn chuyên đề “Những chuyển

động chính của Trái Đất và hệ quả”.

II MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU, ĐÓNG GÓP MỚI CỦA CHUYÊN ĐỀ

II.1 Mục đích

Chúng tôi biên soạn chuyên đề “Những chuyển động chính của Trái Đất và

hệ quả” để làm tư liệu trong việc giảng dạy môn ịa lí ở trường phổ thông nói chung,

trường chuyên nói riêng và đặc biệt là trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi khu vựcuyên hải đồng bằng Bắc Bộ cũng như bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia

II.3 Đóng góp mới của chuyên đề

- Hệ thống hóa kiến thức và phân tích các chuyển động chính của Trái ất và các

hệ quả của nó

- Hệ thống hóa một số dạng bài tập liên quan đến học đến những chuyển độngchính của Trái ất và những hệ quả của nó ở các mức độ khác nhau, có hướng dẫn đáp

án Phần này có ý nghĩa lớn trong việc giảng dạy môn ịa lí cho học sinh lớp chuyên Sử

- ịa, bồi dưỡng học sinh giỏi khu vực uyên hải đồng bằng Bắc Bộ, bồi dưỡng học sinhgiỏi cuộc thi Trại hè Hùng Vương và bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia

III QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

III.1 Các quan điểm nghiên cứu

III.1.1 Quan điểm tổng hợp

Trong một lãnh thổ, các yếu tố tự nhiên, kinh tế- xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo nên một thể tổng hợp thống nhất và hoàn chỉnh Vì vậy, Trái đất cần

Trang 3

phải được nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với các thành phần khác trong vũtrụ, đặc biệt là trong hệ Mặt Trời.

III.1.2 Quan điểm lịch sử

Mọi sự vật, hiện tượng đều không ngừng vận động và biến đổi theo thời gian vàkhông gian, tức là chúng luôn ở trong trạng thái động Trái ất cũng không nằm ngoàiquy luật đó Vì vậy, đề tài xem xét việc hình thành và phát triển của Trái ất thôngqua các giả thuyết về nguồn gốc Mặt Trời và các hành tinh ây có thể là những căn

cứ để giải thích một số hiện tượng tự nhiên đã và đang diễn ra trên bề mặt Trái ất

III.2 Phương pháp nghiên cứu

ể thực hiện đề tài, chúng tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

III.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu

o thời gian nghiên cứu có hạn, đối tượng nghiên cứu rộng nên đây là phươngpháp chủ đạo được sử dụng trong quá trình thực hiện chuyên đề ác nguồn tài liệu nàychúng tôi thu thập được từ:

- ác bài báo nghiên cứu về Trái ất và hệ Mặt Trời trong các tạp chí chuyênngành

- ác giáo trình, sách tham khảo, luận văn có liên quan đến Trái ất

- Các website chuyên ngành

III.2.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh số liệu thống kê.

Sau khi thu thập tài liệu, tác giả tiến hành tổng hợp, phân tích và so sánh tài liệu

để phù hợp với mục đích nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu này có tác dụng “làmsạch” tài liệu, biến tài liệu “thô” thành tài liệu “tinh”, giảm độ “vênh” giữa các tài liệu

do được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau

III.2.3 Phương pháp sử dụng bản đồ sơ đồ, hình ảnh minh họa.

Tất cả các quá trình nghiên cứu địa lí đều bắt đầu bằng bản đồ và kết thúc bằngbản đồ Trong đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các bản đồ, các sơ đồ và đặc biệt là cáchình ảnh minh họa sinh động để giúp người đọc có cái nhìn trực quan về đối tượngnghiên cứu

III.2.4 Sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình nghiên cứu

ây là phương pháp không chỉ được sử dụng trong nghiên cứu địa lí mà cònđược sử dụng rất phổ biến trong các lĩnh vực khác ác phần mềm và công cụ hỗ trợđược sử dụng trong đề tài bao gồm: Microsoft Word, Internet Explorer

IV CẤU TRÚC CỦA CHUYÊN ĐỀ

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của chuyên đề gồm 2

Trang 4

- hương I: Những chuyển động chính của Trái ất và hệ quả

- hương II: Một số dạng bài tập liên quan đến đến những chuyển động chínhcủa Trái ất và hệ quả

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề, chúng tôi đã có nhiều cốgắng, song không tránh được những sai sót ngoài mong muốn Vì vậy, chúng tôi rấtmong nhận được sự đóng góp của các thầy cô, đồng nghiệp và các em học sinh!

Trang 5

Phần thứ hai NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ Chương I

NHỮNG CHUYỂN ĐỘNG CHÍNH CỦA TRÁI ĐẤT VÀ HỆ QUẢ

I.1 Chuyển động tự quay quanh trục và hệ quả

Trái ất thực hiện nhiều vận động khác nhau trong Hệ Mặt Trời, Hệ Ngân Hà vàtrong Vũ trụ Trong đó có 3 vận động quan trọng nhất (vận động quanh trục, quanhMặt Trời và quanh tâm chung Trái ất – Mặt Trăng) mà ta cảm nhận được và thấyđược qua mối quan hệ với các yếu tố tự nhiên trên Trái ất

Một câu hỏi lớn được đặt ra là “Vì sao Trái ất có thể vận động được?” Theocác nhà khoa học, là do Trái ất có động lượng góc nguyên thủy của đám khí và bụiban đầu khi co lại thành các hành tinh nên Trái ất tự vận động

Theo giả thuyết được nhiều người chấp nhận thì Hệ Mặt Trời được hình thành

từ những đám bụi khí nguyên thủy Những đám bụi khí này vốn đã có động lượnggóc Sau khi hình thành Hệ Mặt Trời, động lượng góc của nó không bị mất đi (theođịnh luật bảo toàn động lượng góc) nên tất nhiên phát sinh sự phân bố lại Các tinh thểbụi, khí trong quá trình tích tụ lần lượt nhận được động lượng góc nhất định của đámbụi khí nguyên thủy Vì động lượng góc không đổi nên các hành tinh trong quá trình

co lại sẽ chuyển động ngày càng nhanh Sự phân phối động lượng góc mà nó thu được

sẽ làm cho Trái ất tự quay và quay quanh Mặt Trời

I.1.1 Sự vận động tự quay quanh trục của Trái Đất.

Trái ất tham gia vào nhiều vận động khác nhau của hệ Mặt Trời và hệ Ngân Hàtrong vũ trụ Vận động tự quay quanh trục là một trong những sự vận động có nhiều ýnghĩa về mặt địa lí

Trước hết, Trái ất tự quay quanh trục theo hướng từ Tây sang ông tức hướngngược lại với chiều quay của kim đồng hồ (nhìn từ cực Bắc xuống)

Trong quá trình lịch sử, việc nhận thức được hiện tượng tương tự quay quanhtrục của Trái ất không phải là một điều dễ dàng ác nhà thiên văn học cổ đại đều choTrái ất là trung tâm của vũ trụ Mặt Trời và các vì sao đều quay quanh Trái ất, sinh rangày đêm Quan niệm đó được nhà thiên văn học Ptôlêmê lập thành học thuyết gọi là:thuyết ịa tâm hệ

Trang 6

Người đầu tiên trong lịch sử nhận thức đúng được hiện tượng tự quay của Trái

ất quanh trục là nhà thiên văn học Ba Lan ôpécnic (1473 - 1543) Học thuyết củaôpécnic cho Mặt Trời là trung tâm của vũ trụ gọi là thuyết Nhật tâm hệ

Phát hiện vĩ đại của ôpénic đã chống lại thế giới quan thần bí của nhà thờ ơ đốcgiáo lúc bấy giờ coi thuyết ịa tâm hệ của Ptnôlêmê là chân lí Vì vậy, nhà thờ đã lấy uyquyền tôn giáo cấm lưu hành thuyết của ông Sau ôpécnic, các nhà thiên văn học ý,Joócđanô Brunô và Galilêô Galliê cũng bị nhà thờ kết tội công nhận và truyền báthuyết Nhật tâm hệ Nhưng vận động tự quay quanh trục của Trái ất là một hiện tượngkhách quan, nên chỉ ít lâu sau, người ta đã tìm ra được những chứng cứ xác thực đểchứng minh hiện tượng đó

Năm 1851, nhà vật lí học Pháp Phucô đã dùng một con lắc nặng 28kg dài 40mtreo trong điện Pantêông ở Pari để làm một thí nghiệm nổi tiếng chứng minh hiệntượng tự quay của Trái ất Phucô đã để dưới con lắc một bàn cát và cho quả lắc daođộng theo một hướng nhất định Sau một thời gian mặt phẳng dao động của quả lắchình như chuyển hướng và vạch trên bàn cát những đường chéo với đường thẳng vạchban đầu Những đường chéo đó chuyển dần từ đông sang tây Theo nguyên lí cơ họcthì mặt phẳng dao động của quả lắc không bao giờ đổi hướng Vậy hiện tượng vạchchéo trên mặt bàn cắt không có gì khác hơn là do chính bàn cắt đã di chuyển, hay nóicách khác đi, chính mặt đất đã di chuyển iều đó chứng tỏ Trái ất đã tự quay quanh trục theo hướng ngược lại, tức từ Tây sang ông

Trái ất hoàn thành một vòng tự quay quanh trục trong khoảng thời gian mộtngày đêm (24 giờ) Khoảng thời gian đó có thể xác định bằng vị trí của Mặt Trời hailần chiếu thẳng góc trên kinh tuyến có địa điểm quan sát

Hình I.1 Trục nghiêng và hướng xoay của trái đất

o hướng chuyển động của Trái ất quanh Mặt Trời trùng với hướng tự quaycủa Trái ất cho nên một ngày đêm theo Mặt Trời dài hơn khoảng thời gian thực màTrái ất quay tròn một vòng Khoảng thời gian này được xác định không dựa vào Mặt

Trang 7

Trời mà dựa vào một ngôi sao nhất định hai lần đi qua kinh tuyến có điểm quan sát.Một ngày đêm theo sao dài 23 giờ 56 phút 4 giây.

Tốc độ góc quay của Trái ất tức là góc mà bất cứ một điểm nào trên bề mặtTrái ất, dù ở vĩ tuyến nào cũng vậy, quay được trong một đơn vị thời gian nhất định.Tốc độ góc quay của Trái ất bằng:

 =

2

TVận tốc dài của vận động tự quay của Trái ất phụ thuộc vào vĩ độ Ở xích đạo,vận tốc dài của Trái ất bằng:

v = 2RT hay v = R = 464 m/sTrong đó:

: Tốc độ góc quay

R: Bán kính Trái ất tính ra mét

T: Thời gian 1 ngày tính ra giây

àng lên các vĩ tuyến cao, vận tốc dài của Trái ất càng giảm Ở vĩ độ ,vận tốc dài : v1 = v cos hay v1 = R cos

(trong đó v là vận tốc dài do tự quay của Trái ất ở xích đạo)

Hình I.2 Vận tốc dài do vận động tự quay

I.1.2 Các hệ quả địa lí của vận động tự quay quanh trục của Trái Đất

I.1.2.1 Mạng lưới tọa độ trên Trái Đất

Sự vận động tự quay của Trái ất đã tạo cơ sở cho việc xây dựng mạng lưới tọa

độ trên bề mặt Trái ất để xác định vị trí của các địa điểm Trong khi tự quay, tất cả

Trang 8

các địa điểm trên bề mặt Trái ất đều di chuyển vị trí, duy có hai điểm chỉ quay tạichỗ, đó là 2 địa cực: cực Bắc và cực Nam ực Bắc là cực mà từ đó người ta nhìn thấyTrái ất quay theo chiều ngược kim đồng hồ, trùng với hướng quay chung của hệ Ngân

Hà ường thẳng nối hai cực đi qua tâm Trái ất gọi là Trục Trái ất Trục Trái ấtnghiêng trên mặt phẳng Hoàng đạo, cũng là mặt phẳng quỹ đạo của Trái ất quayxung quanh Mặt Trời, thành một góc 66033'

Vòng tròn lớn nhất của Trái ất nằm trong mặt phẳng vuông góc với trục quay vàphân chia Trái ất ra hai nửa cầu gọi là đường xích đạo, khoảng cách từ xích đạo đếnhai cực bằng nhau Nửa cầu có cực bắc là nửa cầu Bắc, nửa cầu có cực Nam là nửa cầuNam

Hình I.3 Hệ thống toạ độ trên Trái ất

Trên Trái ất, người ta còn tưởng tượng ra các mặt phẳng song song với mặtphẳng xích đạo, cắt bề mặt Trái ất tạo thành những vòng tròn song song với xích đạogọi là các vĩ tuyến

Khoảng cách biểu hiện bằng các cung đo từ các vĩ tuyến đến xích đạo gọi là các

vĩ độ địa lí ó cũng là độ lớn của các góc có một cạnh là đường bán kính xích đạo còncạnh kia là đường bán kính có đầu ra ở trên vĩ tuyến ách viết vĩ độ địa lí được quy ướcvới kí hiệu 

ường thẳng nằm trên bề mặt Trái ất, nối hai cực, gọi là đường kinh tuyến Haiđường kinh tuyến đối nhau tạo thành một vòng tròn đi qua hai điểm cực gọi là vòngkinh tuyến Tất cả các đường kinh tuyến trên Trái ất đều dài bằng nhau và không cóđường nào có tính chất khác biệt về mặt tự nhiên để làm tiêu chuẩn xác định kinhtuyến gốc Vì vậy trước đây, người ta thừa nhận nhiều kinh tuyến gốc khác nhau.Người Pháp cho kinh tuyến đi qua Pari là kinh tuyến gốc, người ức cho kinh tuyến điqua Beclin là kinh tuyến gốc Sau hội nghị Quốc tế 1884 người ta công nhận kinhtuyến đi qua đài thiên văn Grinuých ở ngoại ô thành phố Luân ôn là kinh tuyến gốc.Kinh tuyến đó được đánh số 0 Từ kinh tuyến gốc đi về phía đông đến kinh tuyến 180

là các kinh tuyến đông, đi về phía tây cũng đến kinh tuyến 180 là các kinh tuyến tây

Trang 9

Khoảng cách biểu hiện bằng các cung độ từ các kinh tuyến đến kinh tuyến gốc gọi làkinh độ địa lí ó cũng là độ lớn của góc nhị diện do các mặt phẳng của hai vòng kinhtuyến tạo nên, trong đó có một mặt phẳng của vòng kinh tuyến gốc.

Tất cả hệ thống các đường kinh tuyến và vĩ tuyến địa lí trên bề mặt Trái ất tạothành một mạng lưới tọa độ, nhờ đó mà người ta có thể xác định được vị trí của tất cảcác địa điểm và vẽ được bản đồ của bề mặt Trái ất

I.1.2.2 Sự luân phiên ngày, đêm.

Sự tự quay quanh trục của Trái ất đã sinh ra một đơn vị đo thời gian tự nhiên:một ngày đêm, gồm có phần thời gian được chiếu sáng là ngày và phần thời gian trongbóng tối là đêm Mỗi một phần ngày và đêm lại được chia ra 12 đơn vị thời gian nhỏhơn gọi là giờ (theo hệ đếm 12 của người i ập thời cổ) Giờ lại chia ra phút và phút ragiây

Nhờ vận động tự quay mà ở mọi địa điểm trên bề mặt Trái ất trong 24 giờ đềuluân phiên có ngày và đêm Nhịp điệu ngày đêm kế tiếp đã làm cho sự phân phối bức

xạ Mặt Trời trên bề mặt Trái ất được điều hòa

Nếu Trái ất không tự quay quanh trục mà chỉ quay quanh Mặt Trời thì trên Trái

ất cũng có ngày đêm, nhưng ngày và đêm đó sẽ rất dài Mỗi năm chỉ vẻn vẹn có 1ngày đêm Mặt đất ban ngày sẽ rất nóng, ban đêm sẽ rất lạnh iều kiện khí hậu đó cónhiều tai hại đối với sự sống của sinh vật o có sự tự quay quanh trục của Trái ất vớitốc độ tương đối lớn, nên ngày đêm trên Trái ất đều ngắn, nhiệt độ mặt đất được điềuhòa, sự sống phát triển tương đối thuận lợi

I.1.2.3 Giờ trên Trái Đất và đường chuyển ngày quốc tế.

o Mặt Trời chỉ chiếu sáng được một nửa Trái ất, Trái ất lại tự quay quanh trục,nên ở một địa điểm quan sát, trong một ngày đêm Mặt Trời chỉ có một lần lên cao nhấttrên bầu trời, lúc đó là 12 giờ trưa ùng lúc đó, do chiều quay của Trái ất là từ Tây sangông cho nên, ở phía đông của địa điểm quan sát đã thấy Mặt Trời ngả về phía Tây, cònnhững địa điểm ở phía Tây địa điểm quan sát thì mới thấy Mặt Trời sắp tròn bóng.Như vậy là ở cùng môt thời điểm, mỗi địa phương có một giờ riêng ó là giờ địaphương Giờ địa phương được thống nhất ở tất cả các địa điểm nằm trên cùng mộtkinh tuyến Nó khác với giờ địa phương trên các kinh tuyến bên cạnh từng phút, từnggiây Giờ đó được xác định căn cứ vào vị trí của Mặt Trời trên bầu trời

Trong sinh hoạt hàng ngày của một quốc gia, nếu theo giờ địa phương thì sẽ cónhiều điều phức tạp, bởi vì hai địa điểm chỉ cần cách nhau một khoảng cách rất nhỏ là

đã có giờ địa phương khác nhau ể tránh tình trạng lộn xộn về giờ giấc, người ta phảiquy định giờ thống nhất cho từng khu vực trên Trái ất ó là giờ khu vực Bề mặt Trái ấtđược quy ước chia ra làm 24 khu vực, bổ dọc theo kinh tuyến, giống như những múicam nên còn gọi là múi giờ Mỗi múi giờ rộng 150 kinh tuyến

Trang 10

Giờ chính thức của toàn khu vực là giờ địa phương của kinh tuyến đi qua chínhgiữa khu vực Ranh giới của các khu vực về nguyên tắc, cũng là các đường thẳng dọctheo các kinh tuyến Tuy nhiên, ở trên đất liền, nó thường là những đường ngoằnngoèo, được quy định dọc theo biên giới các quốc gia ối với các nước có diện tíchnhỏ, chiều ngang hẹp, giờ chính thức thường được quy định thống nhất trong toànquốc theo giờ ở kinh tuyến đi ra thủ đô nước đó ối với những nước lớn, có thể cónhiều khu vực giờ khác nhau Thí dụ: Liên Xô có 11 khu vực giờ khác nhau.

Hình I.4 Múi giờ lý thuyết và múi giờ hiệu dụng

ể tiện việc tính toán giờ giấc trên toàn thế giới Hội nghị quốc tế năm 84 đã điđến quyết nghị phải đánh số các khu vực giờ trên toàn bộ Trái ất làm mốc tính giờ ởcác nơi Khu vực đánh số 0 được coi là khu vực gốc ó là khu vực có đường kinh tuyếngốc đi qua đài thiên văn Grinuych Ranh giới của nó nằm ở kinh độ 705 tây và 705đông Từ khu vực đó đi về phía đông là các khu vực giờ 1,2,3 Giờ tính theo giờ củakinh tuyến Grinuych (viết tắt là giờ G.M.T) Nước ta lấy giờ chính thức là giờ củakinh tuyến đi qua thủ đô Hà Nội - nằm ở khu vực số 7 Mátxcơva nằm ở khu vực 2,còn Niuyoóc nằm ở khu vực số 17

Hình I.5 ác khu vực giờ và đường chuyển ngày

Trang 11

o Trái ất có hình khối cầu nên khu vực giờ gốc số 0 trùng với khu vực giờ số

24 Giả sử giờ ở khu vực gốc là 12 giờ ngày mồng 1 tháng giêng thì giờ ở khu vực 24

là 12 giờ ngày mồng 2 tháng giêng Khu vực 0 và khu vực 12 cũng là một, giờ cũngthống nhất là 12 giờ, nhưng thuộc hai ngày khác nhau: 1- tháng giêng và 2 thánggiêng Nếu bắt đầu tính ở bất cứ một khu vực nào khác thì tình hình đó vẫn cứ xảy ra.Vậy trên Trái ất bao giờ cũng có một khu vực mà ở đó lịch có thể chỉ hai ngày khácnhau ể tránh những sự phiền phức trong vấn đề giao thông quốc tế, người ta quy ướclấy kinh tuyến 1800 ở giữa khu vực giờ số 12 trong Thái Bình ương làm đường chuyểnngày quốc tế Nếu tàu bè đi từ phía tây sang phía đông qua đường kinh tuyến này thìlùi lại một ngày lịch, còn nếu đi từ phía đông sang phía tây qua kinh tuyến 1800 thìtăng thêm một ngày lịch

I.1.2.4 Sự lệch hướng chuyển động của các vật thể

o hiện tượng tự quay quanh trục của Trái ất, nên tất cả các vật thể chuyểnđộng trên bề mặt Trái ất theo hướng kinh tuyến đều chịu một sự định hướng về bênphải ở nửa cầu Bắc và về bên trái ở nửa cầu Nam Hiện tượng này đã được các nhàkhoa học nói tới từ đầu thế kỷ XIX Năm 1853 nhà toán học Pháp ôriôlit đã nêu rađịnh luật về sự chuyển động tương đối của các vật thể trên quả cầu đang quay Lựclàm các vật thể chuyển động lệch hướng về bên phải hay bên trái đó được gọi là lựcCôriôlit

Hãy xét một vật thể chuyển động trên bề mặt Trái ất từ phía xích đạo lên cựcBắc Khi chuyển động lên các vĩ tuyến cao (ở đó mỗi điểm trên bề mặt Trái ất đều cótốc độ quay nhỏ hơn xích đạo) theo định luật quán tính vật thể vẫn giữ nguyên tốc độgóc quay từ tây sang đông ở xích đạo Kết quả là hướng chuyển động của nó, tuy vẫnthẳng so với vũ trụ nhưng có dạng lệch sang bên phải so với hướng kinh tuyến àng dichuyển lên cao, vật thể càng lệch nhiều Ở nửa cầu nam, hiện tượng xảy ra cũng tương

tự, nhưng hướng lệch chuyển về bên trái

Tóm lại, sự giữa nguyên chuyển động thẳng hướng vì quán tính do khối lượngcủa vật thể trong điều kiện bề mặt Trái ất quay đã sinh ra hiện tượng lệch hướng tươngđối về bên phải ở nửa cầu bắc và về bên trái ở nửa cầu nam, lực P làm lệch hướng vậtthể có khối lượng m và vận tốc v trên bề mặt Trái ất ở vĩ độ có thể tích theo công thứcsau:

F = 2mv sin

Trong đó:  là vận tốc quay của Trái ất Như vậy là lực F tỉ lệ thuận với khốilượng m của vật thể với vận tốc v của nó và sin của vĩ độ Ở xích đạo, lực đó bằng 0 vàtăng lên theo sự tăng của vĩ độ

Tất cả các khối vật chất chuyển động trên bề mặt Trái ất đều chịu tác dụng củalực ôriôlit như: nước của các dòng biển, các dòng sông lớn, các khối khí trong

Trang 12

quá trình tuần hoàn trong khí quyển, vật chất trong nội bộ Trái ất và cả các đường đạnbay trên mặt đất.

I.2 Chuyển động quay quanh Mặt Trời của Trái Đất và hệ quả

I.2.1 Chuyển động quay quanh Mặt Trời của Trái Đất

Trong hệ Mặt Trời, Trái ất ngoài chuyển động tự quay quanh trục, còn chuyểnđộng quanh Mặt Trời theo một đường quỹ đạo hình ellip gần tròn, có khoảng cáchgiữa hai tiêu điểm vào khoảng 5 triệu km gọi là Hoàng đạo

Trái ất chuyển động trên Hoàng đạo cùng hướng với hướng tự quay quanhtrục, tức là từ Tây sang ông với vận tốc rất lớn, trung bình 29,8km/s ể hoàn thànhtrọn một vòng quỹ đạo Trái ất phải đi mất 365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây

Vì quỹ đạo có hình ellip nên trong khi chuyển động, có lúc Trái ất ở gần, có lúc

ở xa Mặt Trời Vị trí gần Mặt Trời nhất là điểm cận nhật, xa Mặt Trời nhất là điểmviễn nhật

Hình I.6 Hoàng đạo và quỹ đạo vận động của Trái ất quanh Mặt Trời.Trái ất đến điểm cận nhật thường vào ngày mồng 3 tháng 1 lúc đó nó cách xaMặt Trời 147 triệu km, vận tốc của nó tăng lên tới 30,3km/s Trái ất đến điểm viễnnhật thường vào ngày mồng 5 tháng 7 khi đó nó cách Mặt Trời 152 triệu km và vận tốcgiảm xuống còn 29,3km/s

Trong khi chuyển động trên quỹ đạo, trục của Trái ất bao giờ cũng nghiêng vềmột phía mà không thay đổi hướng huyển động đó gọi là chuyển động tịnh tiến củaTrái ất quanh Mặt Trời

I.2.2 Hệ quả chuyển động xung quanh Mặt Trời của Trái Đất I.2.2.1 Sự chuyển động biểu kiến của Mặt Trời giữa hai chí tuyến.

Trang 13

Trong quá trình chuyển động của Trái ất trên quỹ đạo, hàng năm, vào ngày 22tháng 6 Trái ất đến một vị trí ở gần mút hoàng đạo gọi là hạ chí Lúc đó, đầu phía bắccủa trục Trái ất quay về phía Mặt Trời Ánh sáng Mặt Trời chiếu thẳng trên mặt đất ở

vĩ độ 23027 bắc Vòng vĩ tuyến 23027 bắc đó gọi là chí tuyến Bắc

Vào ngày 22 tháng 12, Trái ất lại di chuyển đến vị trí đông chí ở gần mút hoàngđạo Lúc đó, đầu phía Nam của trục lại hướng về phía Mặt Trời ánh sáng Mặt Trờichiếu thẳng trên mặt đất ở vĩ độ 23027 nam, vòng vĩ tuyến 23027 đó gọi là chí tuyếnNam

Vào ngày 21 tháng 3 và 23 tháng 9, Trái ất quay đến những vị trí trung giangiữa hai mút hoàng đạo gọi là xuân phân và thu phân Trục nghiêng của Trái ất khôngquay đầu nào về phía mặt trời Ánh sáng của mặt trời lúc bấy giờ chiếu thẳng trên mặtđất tại xích đạo

Hình I.7 hế độ chiếu sáng trong các ngày chí, phân và các vòng chí tuyến, vòng cực

Như vậy là trong khi Trái ất di chuyển trọn một vòng trên quỹ đạo, những tiasáng Mặt Trời lúc chiếu thẳng trên mặt đất ở 23027 vĩ độ Bắc (ngày 22 tháng 6), lúc ởxích đạo (ngày 21 tháng 3 và 23 tháng 9) và lúc ở 23027 vĩ độ nam (ngày 22 tháng 12).Khu vực giữa đường chí tuyến Bắc và chí tuyến Nam cũng là khu vực được các tiasáng Mặt Trời lần lượt chiếu vuông góc với mặt đất trong năm Khu vực từ các chítuyến đến 2 cực quanh năm những tia sáng chỉ chiếu chếch với mặt đất mà không baogiờ chiếu thẳng thành góc vuông àng gần 2 cực, độ chếch càng tăng

Trang 14

Nếu đứng trên mặt đất mà quan sát, thì khi những tia sáng Mặt Trời chiếu thẳnggóc vào đâu, ở nơi đó, người ta sẽ thấy Mặt Trời lúc giữa trưa (12 giờ) đúng lên đỉnhđầu.

Nếu trong một năm, những tia sáng Mặt Trời chỉ lần lượt chiếu thẳng góc trênmặt đất ở trong khu vực giữa hai chí tuyến, thì trên mặt đất, người ta sẽ quan sát thấyhình như Mặt Trời quanh năm chỉ di động ở giữa hai chí tuyến

ó là sự chuyển động biểu kiến của Mặt Trời trong một năm

ác chí tuyến Bắc và Nam cũng là những vĩ tuyến giới hạn khu vực Mặt Trời

có thể lên cao nhất o đó, có tên: hí tuyến

ường biểu diễn sự chuyển động biểu kiến của Mặt Trời cho biết trong năm ởnhững vĩ độ nào, vào những tháng nào Mặt Trời lúc giữa trưa lên cao nhất trên bầutrời

I.2.2.2 Sự thay đổi các thời kì nóng, lạnh trong năm và hiện tƣợng ngày, đêm dài ngắn khác nhau

o trục Trái ất nghiêng trên mặt phẳng hoàng đạo, cho nên khi chuyển độngtịnh tiến quanh Mặt Trời, ở nửa cầu Bắc và nửa cầu Nam có chế độ luân phiên các thời

kì nóng lạnh, tức là chế độ hấp thu nhiệt Mặt Trời của mặt đất

húng ta biết rằng: các tia Mặt Trời toả xuống Trái ất đem theo ánh sáng vànhiệt Mức độ hấp thu nhiệt của mặt đất phụ thuộc vào góc tới lớn, hay nhỏ của tiasáng Mặt Trời trên mặt đất và thời gian chiếu sáng dài hay ngắn trong một ngày Góctới càng gần góc vuông, lượng ánh sáng và nhiệt đem tới mặt đất càng lớn Thời gianchiếu sáng càng dài thì lượng ánh sáng và nhiệt cũng càng cao

Hình I.8 Ảnh hưởng của góc tới đến lượng nhiệt nhận được

Từ 21 tháng 3 đến 23 tháng 9, nửa cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời Mặt Trờichuyển động biểu kiến từ Xích đạo lên chí tuyến Bắc rồi lại trở về Xích đạo Trong

Trang 15

thời gian này, góc tới của ánh sáng Mặt Trời trên các vĩ độ bắc bao giờ cũng lớn hơngóc tới của ánh sáng Mặt Trời trên các vĩ độ nam tương ứng (cùng một vĩ độ, cùngmột thời điểm) Lấy một thí dụ: Vào lúc giữa trưa (12 giờ ngày 22 tháng 6, một địađiểm trên 400 vĩ độ góc có góc tới hA bằng):

Riêng các địa điểm ở xích đạo, lúc nào cũng có ngày, đêm dài bằng nhau àng

xa xích đạo, sự chênh lệch càng rõ rệt Từ 66033' vĩ độ Bắc đến cực Bắc là khu vựcnằm trước đường phân chia sáng, tối ác địa điểm trong khu vực đó suốt 24 giờ đềuđược Mặt Trời chiếu sáng không có đêm Vĩ tuyến 66033' bắc gọi là vòng cực Bắc Ởnửa cầu Nam, ngược lại, khu vực từ 66033' vĩ độ nam đến cực Nam có 24 giờ toànđêm và vĩ tuyến 66033' nam gọi là vòng cực Nam

Như vậy là từ 21 tháng 3 đến 23 tháng 9, ở bất cứ địa điểm nào trên nửa cầuBắc cũng có góc tới và độ dài của ngày lớn hơn ở địa điểm tương ứng trên nửa cầuNam ó là thời kì nóng của nửa cầu Bắc và thời kì lạnh của nửa cầu Nam

Từ 23 tháng 9 đến 21 tháng 3 tình hình hoàn toàn ngược lại Ở bất cứ địa điểmnào trên nửa cầu Nam cũng có góc tới và độ dài của ngày lớn hơn địa điểm tương ứngtrên nửa cầu Bắc ó là thời kì nóng của nửa cầu Nam và thời kì lạnh của nửa cầu Bắc

Trên quỹ đạo của Trái ất quay quanh Mặt Trời, hai vị trí xuân phân (21/3) vàthu phân (23/9) là những vị trí mốc đánh dấu sự phân chia hai thời kì nóng lạnh trongnăm, còn hai vị trí hạ chí (22/6) và đông chí (22/12) là những vị trí mốc đánh dấu thờiđiểm nóng nhất và lạnh nhất trong năm ở hai nửa cầu

Bảng I.1 Thời gian chiếu sáng ở các vĩ độ vào ngày 22 tháng 6

Trang 16

Bảng I.2 hế độ chiếu sáng tại một số vùng trong chỏm cầu gần cực.

Nửa cầu Bắc 900 850 800 750 700 Nửa cầu Nam

Số ngày được chiếu sáng

186 161 134 103 65

Số ngày bị che tối 24 giờ

Số ngày bị che tối 24 giờ

179 153 127 97 60

Số ngày được chiếu sáng

Giữa nửa cầu Bắc và nửa cầu nam số ngày có 24 giờ toàn ngày hoặc toàn đêm

có khác nhau là vì: từ 21 tháng 3 đến 23/9, Trái ất di chuyển trên quỹ đạo ở khu vựcgần điểm viễn nhật, sức hút của Mặt Trời yếu làm cho vận tốc của nó giảm, thời kỳnóng của nửa cầu Bắc dài tới 186 ngày Từ 23/9 đến 21/3 Trái ất di chuyển ở khu vựcgần điểm cận nhật, sức hút của Mặt Trời mạnh nên vận tốc của nó tăng, thời kỳ nóngcủa nửa cầu nam chỉ dài có 179 ngày

I.2.2.3 Các vành đai chiếu sáng và nhiệt trên Trái Đất.

Sự chuyển động của Trái ất trên quỹ đạo quanh Mặt Trời được hoàn thành trongmột năm Năm không những là đơn vị đo thời gian mà còn là thời gian biểu hiện tínhnhịp điệu mùa của nhiều quá trình xảy ra trên Trái ất như sự thay đổi theo mùa củathời tiết và khí hậu, chế độ chảy theo mùa của các con sông, của các lớp phủ băng,tuyết, chế độ sinh trưởng và phát triển theo mùa của sinh vật v.v Trong thiên nhiên,

có thể nói: hầu như không có hiện tượng và quá trình nào lại không chịu ảnh hưởngcủa nhịp điệu mùa

Tuy nhiên, tính chất mùa không thể biểu hiện đồng đều ở khắp mọi nơi trênTrái ất Nó chỉ rõ rệt ở những miền có chế độ chiếu sáng và tiếp thu nhiệt nhất định.Hiện nay, người ta phân bề mặt Trái ất ra các vành đai chiếu sáng và nhiệt như sau

Bảng I.3 Các vành đai chiếu sáng và vành đai nhiệtVành đai Vị trí theo vĩ độ ặc điểm

- ộ cao của Mặt Trời lúc giữa trưa xê dịch từ

Từ 0 0đến 10 0vĩ 56033’ đến 900

1 Xích đạo

độ bắc và nam - Ngày và đêm luôn luôn gần bằng nhau

- Không có hiện tượng mùa

Trang 17

- ộ cao của Mặt Trời lúc giữa trưa xê dịch từ 470

- ộ dài của ngày và đêm xê dịch từ 6 giờ đến 18

trắng mùa hạ Từ 580 đến - ó những đêm trắng gần ngày hạ chí và những

và ngày rất 33033’ vĩ độ bắc ngày rất ngắn gần ngày đông chí ở nửa cầu Bắc, ởngắn mùa và nam nửa cầu Nam ngược lại

đông - Bốn mùa biểu hiện rõ rệt Mùa đông dài hơn mùa

và nam - ó từ 1 đến 103 ngày hoặc đêm dài 24 giờ

Từ 74033’ đến - ộ cao lớn nhất của Mặt Trời ở hai cực là 23027’.

7 ực đới 900 vĩ độ bắc và - ó từ 103 đến 186 ngày hoặc đêm dài hơn 24 giờ

nam - ác mùa trong năm trùng với ngày và đêm.

Trang 18

I.2.2.4 Lịch và sự phân chia các mùa trong năm.

Trái ất chuyển động một vòng trên quỹ đạo hết 365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây,nhưng để tiện cho việc làm lịch, người ta chỉ lấy chẵn 365 ngày, gọi là một năm lịch.Năm lịch 365 ngày đã được người i ập sử dụng từ thời cổ ó là dương lịch Nhưng nhưvậy thì năm lịch ngắn hơn năm thật gần 1/4 ngày ứ 4 năm lại ngắn hơn 1 ngày Saumột thời gian sử dụng, lịch sẽ sai với chu kỳ quay thực của vòng Trái ất

Năm 45, Julie Xêda, chấp chính ở La Mã đã giao cho Sôsigen sửa lại lịch cũbằng cách cứ sau 3 năm 365 ngày lại có 1 năm nhuận có thêm 1 ngày thứ 366 Lịch đógọi là lịch Juyli Nhưng lịch của Xêda cũng không hoàn toàn đúng vì năm thật khôngphải là 365 ngày 6 giờ mà là 365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây Nếu tính chẵn 365 ngày

6 giờ thì năm lịch lại chậm mất 11 phút 14 giây Sau 384 năm sẽ chậm mất 3 ngày

Năm 325, Hội nghị ơ đốc giáo họp ở Nixia quy định lại việc áp dụng lịch Xêdavới cách tính một tuần có 7 ngày, mỗi ngày mang một vì sao Hội nghị này cũng quyđịnh lấy ngày lễ Phục sinh vào ngày 21/3 ến năm 1582 tức 1.257 năm sau, Hội nghịNixia, lịch Xêda đã lại sai mất gần 10 ngày Giáo hoàng Gơrêgoa XIII lúc ấy, quyếtđịnh sửa lại lịch cho ngày lễ Phục sinh đúng vào ngày 21/3 bằng cách lấy lịch nhanhlên 10 ngày, đổi ngày 5 tháng 10 năm 1582 làm ngày 15 tháng 10 và từ đấy cứ 100 lầnnhuận trong 400 năm lại bỏ đi 3 lần Những năm nhuận bị bỏ là những năm cuối thế kỷ

mà con số hàng trăm không chia hết cho 4 như 1700 – 1800 – 1900 v.v Lịch nàymang tên lịch Gơrêgoa và còn được dùng đến ngày nay

Lịch Nga, trước ách mạng tháng 10 vẫn theo lịch Xêda mà không sửa nên đãsai tới 13 ngày Khi ách mạng tháng 10 nổ ra, vào ngày 25 tháng 10 nhưng đúng ratheo lịch Gơrêgoa đã là ngày mồng 7 tháng 11

ương lịch hiện nay được thông dụng trên phần lớn thế giới vì nó đơn giản, chỉdựa vào chu kì quay của Trái ất quanh Mặt Trời Vả lại, nó có ưu điểm là đúng vớithời tiết và khí hậu trong năm

Ở các nước ôn đới, vì sự phân hoá về khí hậu ra 4 mùa rõ rệt nên theo dương lịch, thời gian các mùa ở nửa cầu bắc được phân chia như sau

Mùa xuân là thời gian 21 tháng 3 đến 22 tháng 6 Lúc này, Mặt trời bắt đầu dichuyển từ xích đạo lên chí tuyến bắc Lượng nhiệt dần dần tăng lên trong khi ngàycũng dài thêm ra Nhưng vì mặt đất ở bắc bán cầu vừa mới tỏa hết nhiệt trong giaiđoạn Mặt Trời ở nửa cầu nam, nay mới bắt đầu tích luỹ, nên nhiệt độ ở bắc bán cầuchưa cao

Mùa hạ là thời gian 22 tháng 6 đến 23 tháng 9 Lúc này, Mặt Trời đã lên đếnchí tuyến bắc, đang chuyển dần về xích đạo Mặt đất không những đã tích luỹ đượcnhiều nhiệt qua mùa xuân mà còn nhận thêm được một lượng bức xạ lớn nên nóng,nhiệt độ vì thế, tăng cao

Trang 19

Mùa thu là thời gian từ 23 tháng 9 đến 22 tháng 12 Lúc này Mặt Trời bắt đầu

di chuyển về chí tuyến Nam Lượng bức xạ tuy có giảm đi, nhưng mặt đất ở bắc báncầu vẫn còn lượng nhiệt dự trữ trong mùa trước, nên nhiệt độ vẫn chưa thấp lắm

Mùa đông là thời gian từ 22 tháng 12 đến 21 tháng 3 Lúc này, Mặt Trời đã từchí tuyến Nam trở về xích đạo Lượng bức xạ tuy có tăng lên chút ít, nhưng mặt đất ởbắc bán cầu đã tiêu hao hết lượng nhiệt dự trữ nên trở lên rất lạnh

Ở nửa cầu Nam, tình hình các mùa hoàn toàn ngược lại với nửa cầu bắc

Tại những nước nằm trong vùng giữa hai chí tuyến như nước ta, sự phân hoá ra

4 mùa không rõ rệt như ở các nước trong vùng ôn đới Quanh năm, hầu như lúc nào,nhiệt độ cũng cao o đó, nếu áp dụng việc phân chia các mùa theo dương lịch như ởcác nước ôn đới, thì về mặt khí hậu, không chính xác

Trước đây, nước ta cũng như một số nước ở châu Á, có thói quen sử dụng âmdương lịch Lịch này là một loại lịch phức tạp, được tính toán trên cơ sở phối hợp cácchu kì chuyển động của cả Mặt Trăng và Trái ất Mỗi năm cũng có 12 tháng, nămnhuận có 13 tháng Mỗi tháng có 29 hoặc 30 ngày, phù hợp với một vị trí của Trái ấtnên hoàng đạo ác mùa được tính sớm hơn các mùa trong dương lịch 45 ngày

Mùa xuân bắt đầu từ tiết lập xuân đến tiết Lập hạ, tức là từ ngày 5 tháng 2 đếnngày 6 tháng 5 Mùa hạ từ tiết lập hạ đến tiết Lập thu, tức là từ ngày 6 tháng 5 đếnngày 8 tháng 8 Mùa thu từ tiết lập thu đến tiết Lập đông, tức là từ ngày 8 tháng 8 đếnngày 8 tháng 11 Mùa đông từ tiết Lập đông đến tiết Lập xuân, tức là từ ngày 8 tháng

11 đến ngày 5 tháng 2 ác tiết: Xuân phân, hạ chí, thu phân, đông chí cũng là nhữngtiết chỉ vị trí giữa các mùa: Xuân, hạ, thu và đông

Hình I.9 ác mùa theo dương lịch và âm dương lịch

Dùng âm dương lịch có thể căn cứ vào tuần trăng để biết ngày và căn cứ vàocác tiết để biết thời tiết và khí hậu Việc tính toán các mùa đối với các nước ở nhiệt đớinhư nước ta, dù theo dương lịch hay âm dương lịch cũng chỉ là một thói quen có tínhchất quy ước

Trang 20

Chương II

MỘT SỐ BÀI TẬP LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG CHUYỂN

ĐỘNG CHÍNH CỦA TRÁI ĐẤT VÀ HỆ QUẢ

II.1 Nhóm I - Mô tả, nhận xét, giải thích hiện tượng, giả thuyết ngược

II.1.1 Dạng 1: hình vẽ

Câu 1: Vẽ hình mô tả chuyển động lệch hướng của các vật thể do lực Côriôlít.

Câu 2: iền hướng gió thích hợp vào hình vẽ.

Bán cầu Bắc

Bán cầu Nam

Trang 21

- Trong một năm, người ta thấy Mặt Trời như di chuyển giữa hai chí tuyến.huyển động này gọi là chuyển động biểu kiến hàng năm của Mặt Trời, thực tế khôngphải Mặt Trời chuyển động mà là Trái ất chuyển động quanh Mặt Trời với hướng nghiêng và trục không đổi.

Câu 4: Vẽ hình mô tả và giải thích sự hình thành các mùa theo dương lịch ở

Bắc Bán cầu

* Vẽ hình:

Trang 22

* Mô tả và giải thích:

+ Mùa xuân: từ ngày 21/3 => 22/6, tiết trời ấm áp vì Mặt Trời chuyển độngbiểu kiến từ xích đạo (21/3) lên chí tuyến Bắc (22/6), nửa cầu Bắc hướng về phía MặtTrời Lượng nhiệt bức xạ của Mặt Trời tăng dần, song vì mặt đất vừa bị toả nhiệt mạnhtrong mùa đông nên thời kì này mới bắt đầu tích luỹ nhiệt, nhiệt độ chưa cao

+ Mùa hạ: từ 22/6 đến ngày 23/9, Mặt Trời chuyển động biểu kiến từ chí tuyếnBắc (22/6) về xích đạo (23/9), nửa cầu Bắc hướng về phía Mặt Trời, góc nhập xạ lớn,mặt đất nhận được lượng nhiệt lớn cộng với lượng nhiệt được tích lũy trong mùa xuânnên nhiệt độ mặt đất và không khí cao ây là thời kỳ nóng nực của nửa cầu Bắc

+ Mùa thu: từ 23/9 đến 22/12, Mặt Trời chuyển động biểu kiến từ xích đạo(23/9) về chí tuyến Nam (22/12) Góc nhập xạ ở nửa cầu Bắc giảm nhưng còn lượngnhiệt dự trữ trong mùa hè nên đây là thời kỳ mát mẻ ở nửa cầu Bắc

+ Mùa đông: từ ngày 22/12 đến 21/3, tiết trời lạnh lẽo do Mặt Trời chuyển độngbiểu kiến từ chí tuyến Nam (22/12) đến xích đạo (21/3), góc nhập xạ nhỏ, mặt đất đãtiêu hao hết lượng nhiệt dự trữ

Câu 5: Vẽ hình và phân tích hiện tượng ngày đêm dài ngắn khác nhau theo mùa

Trang 23

- Vào ngày 22-12, bán cầu Nam ngả về phía Mặt Trời Lúc này ở bán cầu Nam

có ngày dài đêm ngắn, ở bán cầu Bắc có ngày ngắn đêm dài Từ vòng cực Bắc đến cựcBắc có đêm dài 24 giờ Từ vòng cực Nam đến cực Nam có ngày dài 24 giờ

Câu 6: Cho biết các hình sau thuộc vĩ độ nào? Tại sao?

Hướng dẫnHình 1: cực Bắc; Hình 2: cực Nam

Hình 3: chí tuyến Bắc; Hình 4: chí tuyến Nam

Trang 24

Hình 5: xích đạo; Hình 6: vòng cực Bắc; Hình 7: vòng cực Nam

Câu 7: Giả sử cho một luồng gió thổi từ M về N (xem hình) thì thực tế luồng

gió đó có về đến N không? Tại sao? Nếu luồng gió không về đến N thì nó sẽ về phíanào của N?

Số giờ chiếu sáng trong ngày ở một số vĩ tuyến

Vĩ tuyến Số giờ chiếu sáng trong ngày

1 Tại Xích đạo, do đường phân chia sáng tối luôn đi qua tâm Trái ất nên độ dàingày và đêm luôn bằng nhau

Trang 25

2 Vào các ngày 21/3 và 23/9, Mặt Trời lên thiên đỉnh lúc 12h trưa tại Xích đạo nên mọi nơi ở cả 2 nửa cầu đều có số giờ chiếu sáng như nhau.

3 Trong khoảng thời gian từ 21/3 đến 23/9, nửa cầu Bắc ngả về phía Mặt Trờinên góc chiếu sáng lớn và có ngày dài hơn đêm Trái lại ở nửa cầu Nam có đêm dàihơn ngày

Câu 2: ựa vào kiến thức đã học, hoàn thành bảng sau:

Bán cầu ngả về phía Vĩ độ trên Trái ất Bán cầu có lượng

900 lúc 12 giờ trưa21-3

22-12 Bán cầu Nam 23027’N Bán cầu Nam

Ngày đăng: 10/04/2018, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hữu anh - Tìm hiểu hệ Mặt Trời - Nxb giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu hệ Mặt Trời
Nhà XB: Nxb giáo dục
2. Trần Trọng Hà, Trần ức Hạnh, Nguyễn ức Toàn, Trần Bill - Hỏi và đáp về địa lí tự nhiên đại cương lớp 10 - Nxb Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp về địalí tự nhiên đại cương lớp 10
Nhà XB: Nxb Giáo dục
3. Nguyễn Trọng Hiếu (chủ biên), Phùng Ngọc ĩnh - Địa lí tự nhiên đại cương 1 (Trái đất và thạch quyển) - Nxb ại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí tự nhiên đại cương 1(Trái đất và thạch quyển)
Nhà XB: Nxb ại học Sư Phạm
4. Lê Thông (chủ biên), Nguyễn Minh Tuệ, Bùi Thị Nhiệm, Vũ Thị Hải Yến - Hướng dẫn ôn thi học sinh giỏi môn Địa lí – Nxb Giáo dục, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn ôn thi học sinh giỏi môn Địa lí
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Nguyễn Hữu Xuân, Phan Thái Lê - Giáo trình Địa lí tự nhiên đại cương (Trái Đất và thạch quyển) - Nxb ại học Quy Nhơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Địa lí tự nhiên đại cương (Trái Đấtvà thạch quyển)
Nhà XB: Nxb ại học Quy Nhơn
6. Lê Thông (chủ biên), Nguyễn ức Vũ, Nguyễn Minh Tuệ - Bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lí THPT - Nxb Giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng học sinhgiỏi Địa lí THPT
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8. Sách giáo khoa và sách giáo viên Địa lí 10, chương trình nâng cao. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa và sách giáo viên Địa lí 10
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Tuyển tập đề thi Olympic 30 tháng 4 các năm. Nxb ại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập đề thi Olympic 30 tháng 4
Nhà XB: Nxb ại học Sư phạm
7. Kỷ yếu hội thảo giáo viên cốt cán trường THPT huyên môn ịa lí năm 2011 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w